1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN PHAN THỊ THU HỖ TRỢ DẠY NGHỀ CHO NGƢỜI KHUYẾT TẬT HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG Chuyên ngành Công tác xã hội Mã số 60 90 01 01 L[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2Đồng thời, tôi xin cảm ơn cán bộ, nhân viên của các cơ quan, tổ chức: Phòng Lao động- Thương binh và Xã hội huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, Trung tâm chăm sóc trẻ khuyết tật, Trung tâm dạy nghề 19/5, Trung tâm bảo trợ xã hội Thành Đạt đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thu thập thông tin và hoàn thành nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Khoa Xã hội học thuộc Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đặc biệt là các thầy cô trong Bộ môn Công tác xã hội- những người đã cung cấp nền tảng kiến thức và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn của mình
Hà Nội, ngày 24 tháng03 năm 2015
Học viên
Phan Thị Thu
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu 7
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 8
6 Phạm vi nghiên cứu 8
7 Câu hỏi nghiên cứu 8
8 Giả thuyết nghiên cứu 9
9 Phương pháp nghiên cứu 9
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU 12
1.1 Một số khái niệm công cụ 12
1.2 Một số lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 13
1.2.1 Lý thuyết nhu cầu 13
1.1.2 Lý thuyết sinh thái học 15
1.1.3 Lý thuyết hệ thống 17
1.3 Cơ sở khoa học của công tác dạy nghề cho người khuyết tật 19
1.3.1 Văn bản pháp lý về dạy nghề cho người khuyết tật 19
1.3.2 Cơ sở tâm sinh lý 22
1.3.3 Cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội 23
1.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu (huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang) 24
1.4.1 Khái quát về huyện Lạng Giang và về các cơ sở dậy nghề cho người khuyết tật trên địa bàn huyện Lạng Giang 24
1.4.2 Đặc điểm của người khuyết tật ở huyện Lạng Giang 26
Tiểu kết chương 1 26
Chương 2 THỰC TRẠNG DẠY NGHỀ CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG VÀ VAI TRÕ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG DẠY NGHỀ CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT 28
2.1 Khái quát về tình hình dạy nghề 28
Trang 52.1.1 Tình hình dạy nghề trong cả nước 28
2.1.2 Tình hình dạy nghề cho người khuyết tật huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang 30
2.2 Hoạt động dạy nghề cho người khuyết tật tại huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang 33
2.2.1 Dạy nghề cho người khuyết tật vận động 34
2.2.2 Dạy nghề cho người khuyết tật ngôn ngữ, người khiếm thính 37
2.2.3 Dạy nghề cho người khuyết tật khiếm thị và khuyết tật trí tuệ 38
2.3 Đánh giá nhu cầu học nghề của người khuyết tật 41
2.4 Thuận lợi và khó khăn trong việc dạy nghề cho người khuyết tật 47 2.4.1 Những thuận lợi 47
2.4.2 Khó khăn trong dạy nghề cho người khuyết tật 50
2.5 Vai trò của công tác xã hội trong dạy nghề cho người khuyết tật 60 2.5.1 Huy động các nguồn lực trong cộng đồng 60
2.5.2 Liên kết các trung tâm dạy nghề và các doanh nghiệp 62
2.5.3 Tư vấn chương trình dạy nghề 64
Tiểu kết chương 2 68
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY NGHỀ CHO NGƯỜI KHUYẾT TẠI HUYỆN LẠNG GIANG 69
3.1 Một số mô hình dạy nghề cho người khuyết tật 69
3.1.1 Dạy nghề gắn với tạo việc làm 69
3.1.2 Dạy nghề ngắn hạn 72
3.1.3 Một số kinh nghiệm về hoạt động dạy nghề cho người khuyết tật 75 3.2 Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên dạy nghề cho người khuyết tật 77
3.3 Đầu tư cơ sở vật chất cho hoạt động dạy nghề 79
3.4 Phát huy vai trò của nhân viên công tác xã hội trong dạy nghề cho người khuyết tật 81
Tiểukếtchương3 83
KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
NKT từ lâu đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học Trong y học, sức khỏe cộng đồng, thông tin điện tử, thiết kế kỹ thuật, NKT được quan tâm dưới góc độ làm giảm bớt ảnh hưởng của dạng tật để cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của họ bớt khó khăn hơn Trong các ngành xã hội học, CTXH, NKT được hướng đến như những đối tượng yếu thế trong xã hội cần được hỗ trợ để hòa nhập cộng đồng Theo Báo cáo của Bộ Lao động – Thương binh và xã hội hiện nay Việt Nam có 6,7 triệu NKT, khoảng 60 % NKT trong độ tuổi lao động NKT nữ là 3,6 triệu người, khoảng 1,2 triệu là
trẻ em, hơn 5 triệu người sống ở nông thôn [38, tr1] Nhiều NKT không có
việc làm, thu nhập, sống bằng trợ cấp xã hội và gia đình
Dạy nghề cho NKT là vấn đề nhận được sự quan tâm sâu sắc của Đảng
và Nhà nước ta trong nhiều năm qua Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiều chủ chương chính sách đào tạo nghề và tạo việc làm cho NKT giúp họ có được công việc tăng thêm thu nhập cho bản thân, xóa bỏ mặc cảm tự ti để hòa nhập vào cộng đồng xã hội Những chính sách chủ chương đó đã được thể bằng pháp luật Tuy nhiên, trong nhiều năm qua việc áp dụng các chính sách pháp luật vào trong thực tiễn đời sống vẫn chưa có sự đồng bộ, khả thi và hiệu quả Điều này dẫn tới giữa lý luận và thực tiễn thiếu khách quan, chưa phù hợp Trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh còn e dè khi nhận NKT vào làm việc mặc dù NKTcó thể làm công việc đó tốt Giải quyết được vấn đề việc làm cho NKT sẽ phát huy được nhân tố con người, phát triển kinh tế, ổn định
xã hội, đảm bảo được quyền cơ bản của con người, quyền được lao động và hòa nhập cộng đồng và các quyền lợi chính đáng khác của NKT Chính vì vậy, đặt ra yêu cầu phải đào tạo được NKT có những thế mạnh riêng chuyên
về làm những công việc phù hợp với bản thân họ Việc phát hiện những ưu điểm riêng của từng người và đào tạo việc làm cho họ là rất khó khăn, sau đó
Trang 7cần phải liên kết huy động tất cả các nguồn lực để tạo việc làm cho NKT không đơn giản, đòi hỏi người cán bộ phụ trách phải có tấm lòng yêu nghề và tinh thần trách nhiệm cao Xuất phát từ thực trạng trên tôi chọn đề tài: “ Hỗ trợ dạy nghề cho NKT huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang” làm đề tài nghiên cứu của mình
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung và các chính sách, quy định pháp luật hiện hành cho NKT, luận văn làm rõ thực trạng hỗ trợ dạy nghề cho NKT trên địa bàn huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, từ đó đưa ra các mô hình can thiệp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động dạy nghề cho NKT
2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Việc nghiên cứu về NKT nói chung, dạy nghề đối với NKT nói riêng
đã được đề cập trong nghiên cứu khoa học xã hội, chủ đề về NKT cũng được báo chí đặc biệt quan tâm Có thể kể ra những nghiên cứu liên quan đến NKT như:
Nghiên cứu nước ngoài: Disability and social inclusion in Ieland, Brenda Gannon and Brian Nolan, 2011 (khuyết tật hoà nhập xã hội ở Ieland,
Brenda Gannon and Brian Nolan, 2011) Nghiên cứu đã xem xét NKT có hoàn cảnh khó khăn khi hoà nhập xã hội, trong nghiên cứu đã thu thập trình
độ học vấn, kinh tế và tham gia xã hội…Đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra mặc cảm tự ti là một trong những yếu tố cản trở NKT tham gia hoà nhập xã hội và cuộc sống hàng ngày Báo cáo còn chỉ ra sự khác biệt giữa NKT và người bình thường trong việc tham gia hoà nhập cộng đồng Thông qua việc thống kê các số liệu thu thập được để đánh giá mức độ nghèo, sự tham gia vào giáo dục, y tế, việc làm… của NKT Nghiên cứu còn nhấn mạnh tới yếu tố NKT ảnh hưởng tới đời sống của mình, thiết kế nơi làm việc không phù hợp, sự kỳ thị của cộng đồng, sự tiếp cận các phương tiện đi lại gây khó khăn cho NKT…
Giáo trình công tác xã hội với người khuyết tật, (2014) Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội-Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Giáo trình đã khái quát những vấn đề cơ bản về NKT và nêu nên các loai hình chăm sóc trợ giúp
Trang 8NKT và vai trò của NV CTXH với NKT Giáo trình còn đề cập đến những kỹ năng, nguyên tắc cần thiết của một NV CTXH khi làm việc với NKT Về hướng thực hành, giáo trình nêu các phương pháp làm việc cá nhân, làm việc nhóm, làm việc với gia đình, cũng như các nguồn lực trong quá trình trợ giúp NKT
Tiến sĩ Nguyễn Tiến Dũng (2011) “Phát triển Dạy nghề đáp ứng nhu cầu trong giai đoạn mới”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, (số 4) Bài báo chỉ ra
yêu cầu cần phải đào tạo nghề trong giai đoạn hiện nay, không chỉ đào tạo nghề đòi hỏi lượng chất xám cao mà còn phải đào tạo những nghề giản đơn nhằm đáp ứng xu thế hội nhập với khu vực và quốc tế, để tạo ra những sản phẩm tốt nhất đáp ứng với nhu cầu thị trường
Tổ chức Lao động quốc tế (2010) “Báo cáo khảo sát về đào tạo nghề
và việc làm cho NKT tại Việt Nam” Báo cáo cung cấp một cách nhìn tổng thể
về các tổ chức đại diện cho NKT và các dịch vụ đào tạo nghề, việc làm và phát triển doanh nghiệp cho NKT, đặc biệt tập trung vào các tổ chức của phụ
nữ khuyết tật và các dịch vụ dành riêng cho phụ nữ khuyết tật Báo cáo cũng phân tích kết quả khảo sát NKT ít được đào tạo nghề, hướng dẫn về việc làm cũng như phát triển doanh nghiệp Rất nhiều tổ chức trong và ngoài nước cũng nhận thấy việc đào tạo nghề và các dịch vụ bố trí việc làm cho NKT là rất quan trọng Vì vậy, báo cáo đề xuất Chính phủ cần có những chính sách riêng khuyến khích các đào tạo nghề cho NKT Báo cáo cũng nêu lên thực trạng hiện nay cũng có một số Trung tâm dạy nghề dành riêng cho NKT được thành lập, nhưng chỉ phục vụ các khu vực thành thị, các vùng nông thôn việc tiếp cận đào tạo nghề rất bị hạn chế Các dịch vụ bố trí việc làm thường gắn liền với cơ sở đào tạo nghề Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp kiếm được việc làm sau đào tạo còn khá thấp và phần lớn những học viên tốt nghiệp chủ yếu tìm được việc làm tại các cơ sở dành riêng cho NKT chứ không phải các doanh nghiệp thông thường
Trang 9Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Người khuyết tật ở Việt Nam: sinh kế, việc làm và bảo trợ xã hội” diễn ra ngày 27/09/2007 do Trung tâm Nghiên cứu
Châu Á – Thái Bình Dương (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
ĐH Quốc Gia Hà Nội) phối hợp với Trung tâm hợp tác Quốc Tế (Đại học Osaka và Đại học Ochanomizu, Nhật Bản) tổ chức tại Trung tâm thư viện trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn bao gồm nhiều tham luận liên quan đến NKT 20 tham luận của các nhà khoa học, nhà hoạt động từ thiện,
xã hội trong và ngoài nước được trình bày tại hội thảo đều hướng vào vấn đề tìm giải pháp hỗ trợ hiệu quả cho NKT hòa nhập cộng đồng, đào tạo việc làm
và hỗ trợ việc làm ổn định đời sống có đóng góp cho xã hội, lý giải cho cách dùng khái niệm “NKT” thay thế cho khái niệm “người tàn tật”
T.S Mai Thị Phương (2014), Đề tài “Vấn đề CTXH với NKT” Đề tài
đã nêu lên vai trò của công tác xã hội đối với NKT trên tất cả các phương diện, đặc biệt là vấn đề dạy nghề và tìm việc làm Đề tài viết về những tồn tại yếu kém trong công tác dạy nghề cho NKT ở nước ta Nội dung, chương trình, nghề đào tạo, hình thức đào tạo chưa hợp lý về kết cấu, quá nặng về lý thuyết, thiếu thực hành, chưa có những giáo trình và các thiết bị dạy nghề dành riêng cho NKT, đội ngũ giáo viên dạy nghề cho NKT còn yếu cả về kiến thức, kỹ năng và nhận thức về các lĩnh vực sư phạm và quản lý Đồng thời việc thực hiện chính sách về việc làm với NKT chưa nghiêm, hoạt động kiểm tra giám sát chưa thường xuyên, vì vậy NKT chịu nhiều thiệt thòi trong việc tiếp cận dạy nghề và việc làm
Huỳnh Viết Thiên Ân, Nguyễn Thị Thanh Tâm (2012), “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề cho NKT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”, Tuyển tập báo cáo Hội sinh viên nghiên cứu khoa học lần thứ
8 Đại học Đà Nẵng năm 2012 Báo cáo đã phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề cho NKT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, tìm ra ảnh hưởng và tác động của từng nhân tố trong việc cải thiện chất lượng đào
Trang 10tạo nghề cho NKT, nhằm nâng cao hiệu quả công tác dạy nghề, thu hút việc tham gia đào tạo nhiều hơn trong nhóm người yếu thế
Nghiên cứu của Bộ LĐTB & XH với đề tài: “Vai trò của tổ chức người tàn tật trong việc xây dựng các chính sách, chương trình quốc gia về dạy nghề và việc làm cho NKT của bộ thương binh lao động và xã hội (1993- 75tr) Nghiên cứu này nói về việc xây dựng các chương trình, chính sách và
thực hiện các chính sách cho NKT để NKT có thể tìm được việc làm cho chính mình NKT sẽ được tư vấn hỗ trợ về dạy nghề, những nghề phù hợp với khả năng và sở thích của mình Qua quá trình tư vấn NKT tìm được những nơi có thể nhận mình vào làm việc, để có thể tìm được một công việc phù hợp với bản thân mình
Báo cáo khoa học của nhóm sinh viên Vũ Trung Hiền, Nguyễn Thị Kim Nga, Trần Vũ Mạnh Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn về
đề tài: “Biện hộ thực hiện chính sách xây dựng công trình phúc lợi công cộng phù hợp với NKT vận động dựa vào cộng đồng Nghiên cứu tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội”(2014-200tr) Báo cáo này đã tiến hành nghiên cứu mức độ
tiếp cận của NKT vận động với các công trình phúc lợi công cộng tại hai trường Nghiên cứu cũng nói lên nhu cầu của NKT vận động trong vấn đề biện hộ các chính sách xây dựng công trình phúc lợi công cộng Ngoài ra, báo cáo còn phân tích rõ các nguồn lực cộng đồng, xã hội như nguồn lực về kinh
tế, con người, các văn bản pháp luật trong và ngoài nước, đặc biệt báo cáo nêu cao vai trò của NV CTXH trong quá trình biện hộ Từ đó nêu ra những phương án tốt nhất để biện hộ cho NKT
Luận văn thạc sĩ: Vũ Ngọc Ly “Thực trạng pháp luật về NKT Việt Nam hiện nay” (2013 -97tr ) Luận văn nghiên cứu và đánh giá chính xác thực
trạng công tác thực hiện pháp luật về NKT ở nước ta hiện nay Trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp khả thi nhằm nâng cao hoạt động thực hiện pháp luật
Trang 11về NKT, góp phần bảo đảm việc thực hiện các quyền của NKT, tạo cơ hội cho NKT bình đẳng và hoà nhập cộng đồng xã hội Luận văn đã hệ thống hoá, khái quát hoá một số nội dung cả về lý luận và thực tiễn liên quan đến NKT, đưa ra một số văn bản pháp luật về NKT ở một số nước trên thế giới Phân tích các hình thức và vai trò thực hiện pháp luật về NKT đồng thời giới thiệu khái quát kinh nghiệm quốc tế trong lĩnh vực xây dựng văn bản pháp luật và
tổ chức thực hiện pháp luật về NKT Ngoài ra tác giả cũng phân tích, đánh giá những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân, thực trạng việc thực hiện pháp luật
về NKT hiện nay Từ đó tác giả đưa ra những giải pháp xây dựng mang tính chất tổng thể và phù hợp với tình hình thực tiễn ở nước ta
Hội thảo “Phát triển dạy nghề và tạo việc làm đối với NKT còn nhiều khó khăn và thách thức” (ngày 29/6/2013) tại thành phố Bắc Giang Nội dung
hội thảo đã đề cập tới các vấn đề liên quan tới thực trạng dạy nghề và tạo việc làm cho NKT, những quy định và chính sách đối với các doanh nghiệp sử dụng lao động là NKT, đối với người lao động khuyết tật và vai trò của tổ chức công đoàn Các mô hình phục hồi chức năng cũng như tình hình thị trường lao động dành cho NKT Hội thảo cũng nêu lên việc NKT chưa được đào tạo chuyên môn, đây là một trong những cản trở NKT tiếp cận học nghề, tìm việc làm và trên thực tế NKT vẫn có thể đóng góp cho xã hội nếu họ có
kỹ năng, việc làm và được trợ giúp thích hợp Hội thảo chỉ ra rằng muốn đẩy mạnh dạy nghề và tạo việc làm cho NKT, hàng năm hệ thống Trung tâm giới thiệu việc làm cần thu hút một lượng lớn NKT tham gia học nghề, có nhiều quy định pháp luật hỗ trợ NKT để NKT tự tìm kiếm việc làm Chính quyền địa phương cần có nhiều chính sách hỗ trợ, khuyến khích cụ thể đối với các
cơ sở sản xuất kinh doanh tiếp nhận NKT vào làm việc, khuyến khích họ tạo
ra hay tổ chức các công việc phù hợp với khả năng lao động của mình
Trang 123 Ý nghĩa của việc nghiên cứu
- Ý nghĩa khoa học của đề tài
Nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ thêm những lý luận của CTXH khi ứng dụng vào nghiên cứu một vấn đề cụ thể: Hỗ trợ dạy nghề cho NKT Nghiên cứu vận dụng những kiến thức của CTXH và hệ thống lý thuyết, các phương pháp, kỹ năng, mô hình để tìm hiểu, nghiên cứu hoạt động hỗ trợ dạy nghề cho đối tượng là NKT Từ đó, nghiên cứu góp phần làm rõ vai trò nhân viên CTXH trong hỗ trợ dạy nghề cho NKT
- Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Nghiên cứu định giá thực trạng, đề ra giải pháp hỗ trợ dạy nghề cho NKT huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang; Cung cấp một số mô hình, cách thức hoạt động giúp cho NV CTXH hoạt động hiệu quả hơn trong lĩnh vực liên kết nguồn lực để dạy nghề, sau đó tìm việc làm cho NKT
Những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần giúp các nhà chuyên môn xây dựng, bổ sung các mô hình góp phần hoàn thiện hơn hệ thống chính sách dạy nghề và việc làm dành cho NKT Mặt khác, tác giả cũng hy vọng đề tài sẽ trở thành một tài liệu tham khảo giúp ích được trong việc học tập, nghiên cứu của sinh viên ngành CTXH
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu về hỗ trợ dạy nghề để nắm được thực trạng hoạt động dạy cho NKT tại địa bàn huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, những kết quả đạt được trong quá trình dạy nghề, những hạn chế, bất cập, nguyên nhân của tình trạng này Từ đó đề xuất các giải pháp thể hiện vai trò của CTXH trong hỗ trợ dạy nghề cho NKT trên địa bàn huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Trang 13Về mặt lý luận: Nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan tới dạy nghề, việc làm, thất nghiệp của NKT, các khái niệm công cụ, các lý thuyết vận dụng, vai trò của NV CTXH trong dạy nghề cho NKT
Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu, định giá thực trạng hỗ trợ dạy nghề cho NKT tại huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, từ đó đề xuất một số mô hình, biện pháp hỗ trợ hỗ trợ dạy nghề cho NKT huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
5 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hỗ trợ dạy nghề cho NKT Khách thể nghiên cứu: Giáo viên, NKT, nhân viên có trách nhiệm trong
công tác dạy nghề cho NKT
Giới hạn nội dung nghiên cứu: Đề tài đi sâu nghiên cứu vấn đề hỗ trợ
dạy nghề cho NKT huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang từ đó đề ra những mô hình, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy nghề cho NKT
7 Câu hỏi nghiên cứu
Dạy nghề cho NKT ở huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang được hỗ trợ như thế nào? Những nghề nào đã và đang được triển khai tại Huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang? Đã đạt được những kết quả gì? Những hạn chế và nguyên nhân?
CTXH có vai trò như thế nào trong việc hỗ trợ dạy nghề cho NKT trên địa bàn huyện Lạng Giang?
Cần có những biện pháp hỗ trợ nào về dạy nghề cho NKT ở huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang để đạt được hiệu quả cao hơn?
Trang 148 Giả thuyết nghiên cứu
Dạy nghề cho NKT đã nhận được sự quan tâm của Đảng và nhà nước, chính quyền địa phương
Huyện Lạng Giang đã và đang triển khai dạy các nghề như làm tăm tre, làm chiếu, may, thêu, điện, hàn, tin học, chăn nuôi, thú y Công tác dạy nghề
đã đạt được một số kết quả, tuy nhiên, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra do những nguyên nhân từ phía người khuyết tật, giáo viên dạy nghề và cơ sở vật chất, trang thiết bị và phía doanh nghiệp
NV CTXH huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang chưa phát huy hết vai trò của mình trong việc liên kết, huy động nguồn lực, trợ giúp xây dựng các
mô hình dạy nghề và hoạt động hòa nhập cộng đồng cho NKT
9 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tài liệu
Số liệu được tác giả sử dụng trong luận văn lấy từ số liệu gốc của các báo cáo theo dõi tình hình và số lượng NKT của Ủy ban nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang trong hai năm 2012 và 2013, Báo cáo công tác dạy nghề năm 2013 và phương hướng nhiệm vụ năm 2014 của Trung tâm chăm sóc trẻ khuyết tật, Báo cáo kết quả công tác dạy nghề và những hạn chế trong dạy nghề năm 2013 của Trung tâm dạy nghề 19/5 Ngoài ra còn có các báo cáo, khảo sát khác của các tổ chức trong và ngoài nước Trong luận văn tác giả sử dụng số liệu từ nguồn này và có những phần sử dụng dữ liệu khác (đã
có trích dẫn nguồn đầy đủ)
Tác giả sử dụng phương pháp phân tích tài liệu nhằm tìm hiểu, bổ sung
và tích lũy vốn tri thức lý luận liên quan đến luận văn ở nhiều góc độ: Tâm lý học, CTXH, xã hội học, giáo dục đặc biệt, đồng thời tác giả nghiên cứu những chính sách, văn bản pháp luật trong nước và quốc tế về dạy nghề cho NKT, các công trình nghiên cứu khoa học về mảng NKT và dạy nghề, tạo việc làm
Trang 15cho NKT Đây là cơ sở cho việc xây dựng phương pháp điều tra, phân tích tâm lý NKT, tìm hiểu thực trạng dạy nghề tại huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
Ngoài ra luận văn còn sử dụng phân tích tài liệu từ nguồn tài liệu thu thập được như internet, sách, báo,…trên cơ sở đó tác giả phân tích và sàng lọc những thông tin liên quan đến vấn đề nghiên cứu từ đó kết hợp với việc tham khảo một số đề tài nghiên cứu khoa học, luận văn có liên quan đến vấn đề NKT và dạy nghề cho NKT để tham khảo thêm về phương pháp nghiên cứu làm cơ sở bổ sung cho luận văn của mình
- Phương pháp thảo luận nhóm (Xem phụ lục, mẫu 1 bảng thảo luận nhóm dành cho NKT)
Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu tác giả đã sử dụng phương pháp thảo luận nhóm với NKT Tác giả thực hiện 5 cuộc thảo luận nhóm với 25 đối tượng là nhóm NKT, đang sinh sống trên địa bàn huyện Lạng Giang tỉnh Bắc Giang Đối tượng khảo sát là 25 NKT có khả năng nhận thức tốt có các dạng tật nhẹ là khuyết tật vận động, khiếm thị, khiếm thính, khuyết tật ngôn ngữ
Độ tuổi từ 18 đến 40 và đang học những nghề khác nhau tại Trung tâm dạy nghề 19/5 Qua thảo luận nhóm tác giả muốn tìm hiểu việc học nghề cho NKT được thực hiện như thế nào, các yếu tố nào ảnh hưởng đến NKT khi họ học nghề, những khó khăn và thuận lợi ảnh hưởng đến NKT khi học nghề
- Phương pháp phỏng vấn sâu (Xem phụ lục, mẫu 2 bảng phỏng vấn sâu)
Để có kết quả nghiên cứu chính xác, khách quan toàn diện, tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu dành cho những người hướng dẫn, phụ trách trực tiếp NKT Tác giả đã thực hiện 17 cuộc phỏng vấn sâu với các đối tượng khác nhau bao gồm: 01 cán bộ xã hội làm việc tại Trung tâm chăm sóc trẻ khuyết tật, 01 nhân viên hành chính tại Trung tâm bảo trợ xã hội Thành Đạt, 01 nhân viên hành chính tại Trung tâm chăm sóc trẻ khuyết tật, 01 giám
Trang 16đốc cơ sở dạy nghề 19/5, 01 đại diện công ty nhận NKT vào làm việc, 05 giáo viên dạy nghề, 06 đại diện NKT, 01 cán bộ lao động thương binh xã hội phụ trách mảng NKT trên địa bàn huyện nhằm tìm hiểu quá trình hỗ trợ dạy nghề đối với NKT trên địa bàn huyện, ngoài ra còn tìm ra các nguồn lực khác tạo việc làm cho NKT để thêm thu nhập
Trang 17Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU 1.1 Một số khái niệm công cụ
Khái niệm người khuyết tật
Trên thế giới cũng như tại Việt Nam có nhiều định nghĩa về NKT: Theo Pháp lệnh người tàn tật của Việt Nam ban hành 1/11/1998: Người tàn tật không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật là người khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau là suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn [9, tr 18]
Theo Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật năm 2006: NKT bao gồm những người có những khuyết điểm lâu dài về thể chất trí tuệ, thần kinh hoặc giác quan mà khi tương tác với các rào cản khác nhau có thể cản trở
sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ trong xã hội trên một nền tảng công
bằng như những người khác trong xã hội [9, tr 18]
Theo Luật NKT Việt Nam năm 2010: NKT là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện
dưới tạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn [9, tr.18]
Như vậy, có nhiều cách hiểu khác nhau về “NKT”, trong nghiên cứu này, tôi lựa chọn cách hiểu về NKT theo quy định của Luật NKT của Việt
Nam năm 2010
Phân loại khuyết tật
Theo điều 3 Luật NKT Việt Nam năm 2010, các dạng tật được chia thành các nhóm sau: Khuyết tật vận động, Khuyết tật nghe – nói, Khuyết tật nhìn, Khuyết tật thần kinh - tâm thần, Khuyết tật trí tuệ, Khuyết tật khác
Khái niệm dạy nghề: Theo Luật dạy nghề năm 2006, dạy nghề là hoạt
động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần
Trang 18thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học” [34].
Dạy nghề cho NKT là sự truyền lại tri thức hoặc kỹ năng về công việc nào đó để những người có các dạng khuyết tật khác nhau (khiếm thính, khiếm thị, thiểu năng trí tuệ, vận động…), với những đặc điểm phát triển đặc thù của
cá nhân, có thể học được, nhằm hoàn thiện nhân cách, phát triển kỹ năng xã hội, tìm kiếm việc làm, sống tự lập và hoàn thiện xã hội [6, tr 19]
Khái niệm CTXH: CTXH có lịch sử từ lâu đời, hệ thống lý thuyết được
hình thành ra đời sau các mô hình thực hành Do đó, để xem xét khái niệm CTXH và để có một khái niệm chung nhất về CTXH hiện nay rất khác nhau
Theo F.Lulu Pablo – Bộ trưởng Bộ Xã hội Philippin: CTXH vừa là một nghệ thuật, vừa là một môn khoa học, là một nghề chuyên môn giúp con người giải quyết những vấn đề của cá nhân, của nhóm (đặc biệt gia đình), của cộng đồng và để đạt được những mối quan hệ thỏa đáng về cá nhân, nhóm, cộng đồng thông qua các hoạt động xã hội như: CTXH, cá nhân, CTXH nhóm, tổ chức cộng đồng, quản lý xã hội và nghiên cứu [16, tr 5]
CTXH với NKT về dạy nghề: Là hoạt động chuyên nghiệp của NV
CTXH giúp đỡ những NKT tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ, huy động nguồn lực, xác định những dịch vụ cần thiết để hỗ trợ NKT, gia đình và cộng đồng triển khai hoạt động chăm sóc trợ giúp họ một cách hiệu quả, vượt qua những rào cản, đảm bảo sự tham gia đầy
đủ vào các hoạt động xã hội trên nền tảng sự công bằng như những người khác trong xã hội trong dạy nghề và tìm việc làm [33]
1.2 Một số lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
1.2.1 Lý thuyết nhu cầu
Abraham Maslow (1908-1970), nhà tâm lý học người Mĩ đã xây dựng học thuyết phát triển về nhu cầu của con người vào những năm 50 của thế kỷ XX
Trang 19Lý thuyết nhu cầu của Maslow cho rằng mỗi nhu cầu của con người trong hệ thống thứ bậc phải được thỏa mãn trong mối tương quan với môi trường để con người có thể phát triển khả năng cao nhất của mình Thuyết nhu cầu của Maslow nêu ra 5 bậc thang Bậc thang thứ nhất đó là nhu cầu vật chất, bậc thang thứ hai là nhu cầu về sự an toàn, bậc thang thứ ba là nhu cầu được thừa nhận, được yêu thương và được chấp nhận, thứ tư là nhu cầu về tôn trọng và tự trọng Cuối cùng là nhu cầu về sự phát triển cá nhân Trong hệ thống thứ bậc của A Maslow, ông cho rằng mỗi nhu cầu của con người đều phụ thuộc vào nhu cầu trước Nếu như nhu cầu trước cá nhân không được đáp ứng sẽ gặp khó khăn trong nhu cao hơn
Maslow là người đầu tiên đưa ra lý thuyết về hệ thống nhu cầu của con người Tuy nhiên lý thuyết Maslow đưa ra cũng có một số hạn chế do sự tuyệt đối hóa nhu cầu của con người qua mỗi bậc thang của sự phát triển Không phải cứ phải thỏa mãn nhu cầu ở nấc thang trước thì con người mới thỏa mãn
và nảy sinh nhu cầu ở nấc thang trên Có những chuẩn mực xã hội hay khuôn mẫu xã hội dẫn dắt hành vi con người không bị điều khiển bởi các nhu cầu có tính tồn tại
Vào những năm 1970 nhu cầu của Maslow được điều chỉnh thành 7 bậc
và cuối cùng 8 bậc (năm 1990) Nhu cầu cơ bản: Nhu cầu về an toàn; Nhu cầu
về xã hội; Nhu cầu được quý trọng; Nhu cầu nhận thức; Nhu cầu thẩm mỹ; Nhu cầu thể hiện mình; Sự siêu nghiệm [13, tr.34].Tuy nhiên 5 bậc thang nhu cầu của Maslow vẫn được sử dụng phổ biến trong các hoạt động có liên quan đến nhu cầu của con người Trong mỗi người cũng đều tồn tại và mong muốn đạt tới 5 bậc thang của Maslow
NKT cũng có những nhu cầu ăn, mặc, ở như những người bình thường,
họ cũng muốn xã hội thừa nhận, muốn mọi người trong cộng đồng yêu thương Họ cũng mong muốn được mọi người tôn trọng mình, không phân biệt kỳ thị, đối xử, và mong muốn được tạo điều kiện phát triển toàn diện
Trang 20Như vậy, những nhu cầu trên hoàn toàn chính đáng, dạy nghề cho người NKT
sẽ giúp họ tự chủ về kinh tế, họ có thể nuôi sống chính bản thân mình, được thể hiện và làm việc với năng lực của chính mình Từ đó họ có điều kiện nâng cao tay nghề và phát triển trong điều kiện tốt nhất
1.1.2 Lý thuyết sinh thái học
Lý thuyết hệ thống sinh thái là luận điểm về mối tương tác qua lại giữa
cá nhân và môi trường sống Môi trường tự nhiên khách quan có ảnh hưởng sâu sắc tới chế độ xã hội và tư tưởng của con người
Để hiểu về tính cách, lối sống của cá nhân, chúng ta phải hiểu về môi trường sống của cá nhân: Cá nhân tồn tại trong một gia đình - Gia đình tồn tại trong cộng đồng Cá nhân, gia đình và cộng đồng tồn tại trong môi trường văn hóa, chính trị, kinh tế nhất định Môi trường sống có tác động đến hành động, niềm tin và những sự chọn lựa của cá nhân
Theo lý thuyết này tất cả các vấn đề con người phải được nhìn nhận một cách tổng thể trong mối quan hệ với các yếu tố khác, chứ không được nhìn nhận một cách độc lập riêng lẻ Nói cách khác, trong hoàn cảnh sống, mỗi người đều có những ảnh hưởng ít nhiều từ yếu tố xung quanh [19, tr.48] Vì thế trong CTXH trợ giúp NKT cần phải xem xét trên nhiều phương diện, nhiều mức độ khác nhau Khi
NV CTXH làm việc trong quá trình tư vấn học nghề phải nhìn nhận dưới góc độ các dạng tật mà họ gặp phải cũng như môi trường gia đình NKT đó đang sống VD: Đối với NKT vận động NV CTXH tư vấn học nghề may, thêu, trồng nấm…Xét môi trường sống của NKT khá thuận lợi cho nghề trồng nấm vì nhà họ có nhiều đất vườn, gần chợ, lại có giao bán thì tư vấn cho họ nghề trồng nấm Đối với NKT khác xét trong môi trường gia đình họ có cửa hàng ngoài mặt đường thuận tiện cho học may…Tùy với từng NKT sống trong môi trường khác nhau mà NV CTXH tư vấn
họ học nghề khác nhau
Trên phương diện các dạng tật mà NKT gặp phải thì sự phân biệt NKT với người không khuyết tật chỉ mang tính chất tương đối về sức khỏe thể chất và
Trang 21tinh thần Một NKT bị khuyết tật thị giác không nhìn thấy với NKT thị giác một mắt sẽ là khác nhau, vì vậy họ sẽ có những đánh giá nhìn nhận về xã hội
là khác NKT khi họ bị khuyết một bộ phận nào đó trên cơ thể mọi sinh hoạt của
họ trong gia đình đều khó khăn vất đều nhờ vào sự trợ giúp từ phía gia đình, gia đình luôn là yếu tố giúp mỗi người có động lực tiếp tục sống Trong gia đình
có NKT, nếu các thành viên giúp đỡ NKT hòa nhập xã hội sớm bao nhiêu thì việc giao lưu tiếp xúc với xã hội bên ngoài thành công bấy nhiêu Vẫn lấy ví
dụ về trẻ khiếm thính, trẻ được gia đình cho đi học trường chuyên biệt, được hướng dẫn và tự thực hiện được các hành vi chăm sóc bản thân và giúp đỡ người khác, gia đình yên tâm để em giao tiếp và tham gia vào các hoạt động bên ngoài môi trường gia đình Như vậy, gia đình thực hiện tốt chức năng giáo dục của gia đình trong sự phát triển của xã hội
Để thực hiện được chức năng của gia đình đối với một người không khuyết tật đã khó việc thực hiện với NKT còn khó hơn Do đó, gia đình phải nhờ đến sự hỗ trợ của những tổ chức khác trong xã hội Thực tế đã chứng minh, nhiều gia đình có NKT thường phải trải qua cảm giác lo lắng, sợ hãi, không chấp nhận, không dám đối diện với thực thế là con cháu mình là NKT Tình trạng này xảy ra trong thời gian dài thì việc chăm sóc, hỗ trợ cho sự phát triển của cá nhân NKT không được đảm bảo và cá nhân ấy phải chịu sự phân biệt đối xử trong chính gia đình mình Hơn nữa, không phải gia đình nào cũng biết cách chăm sóc, hỗ trợ đúng cho NKT nên việc nhờ tới sự giúp đỡ về y tế, phục hồi chức năng, giáo dục của các Trung tâm tổ chức bên ngoài là việc làm không thể thiếu
Đặt trong sự phát triển của xã hội, gia đình và cá nhân trong gia đình
đó đều chịu sự tác động của môi trường văn hóa, kinh tế, chính trị NKT và gia đình của họ trong những môi trường sống khác nhau chịu sự tác động của môi trường văn hóa, kinh tế, chính trị khác nhau Và các yếu tố văn hóa, kinh
tế, chính trị trong môi trường sống ảnh hưởng đến suy nghĩ và hành động của
Trang 22cá nhân sống trong môi trường đó Ví dụ: NKT ở nông thôn khác với NKT ở thành thị Nhóm NKT ở thành thị và gia đình của họ nhận được nhiều thông tin, sự giúp đỡ hơn những NKT và gia đình của họ ở nông thôn NKT trong môi trường sống nhận được nhiều sự quan tâm của người thân và những người khác trong cộng đồng sẽ có nhiều kỹ năng sống, khả năng lao động, không bị phụ thuộc vào người khác, tự tin vào bản thân hơn là những NKT không nhận được sự quan tâm đúng của người thân và những người xung quanh,
họ có xu hướng tự ti với chính bản thân mình và phụ thuộc vào người khác hơn
1.1.3 Lý thuyết hệ thống
Thuyết hệ thống được phát triển vào những năm 30 và 40 của thế kỷ XX do nhà sinh học Ludvig Von Bertalanffy khởi xướng Thuyết hệ thống bao quát mọi lĩnh vực như tin học, sinh học, kinh tế, xã hội học Một hệ thống được định nghĩa là một tổng thể phức hợp gồm nhiều yếu tố liên quan với nhau và mỗi biến động trong một yếu tố nào đó đều tác động lên những yếu tố khác và cũng tác động lên toàn bộ
hệ thống Một hệ thống có thể gồm nhiều tiểu hệ thống, đồng thời là một bộ phận của một đại hệ thống Có những hệ thống khép kín, không trao đổi với hệ thống xung quanh [10, tr 61] Hệ thống bao gồm các tiểu hệ thống và các thành phần Hệ thống các phức tạp thì tổng hợp các tiểu hệ thống và các thành phần càng đa dạng Trong hoạt động dạy nghề cho NKT tại huyện Lạng Giang cũng là một hệ thống dạy học Hệ thống dạy nghề tại các trung tâm sẽ là những nhánh nhỏ thuộc trong hệ thống dạy nghề tại huyện Lạng Giang và dạy nghề cho NKT huyện Lạng Giang thuộc vào hệ thống dạy nghề của Tổng cục Dạy nghề trong phạm vi cả nước Hoạt động dạy nghề trong phạm vi cả nước có những thay đổi (như các dự án của tổ chức phi chính phủ) thì sẽ tác động đến hoạt động dạy nghề tại huyện Lạng Giang
Ví dụ, tại huyện đang học nghề may nhưng có dự án cho NKT học nghề xoa bóp, bấm huyệt thì một số NKT sẽ được chuyển từ nghề may sang học nghề xoa bóp,
Trang 23bấm huyệt Và ngược lại nếu hoạt động dạy nghề tai huyện Lạng Giang có những thay đổi cũng ảnh hưởng đến các hoạt động của tỉnh và của cả nước
Trong dạy nghề cho NKT cách tiếp cận hệ thống sẽ bảo đảm hiệu quả của hoạt động dạy nghề Có thể nói đến ba hệ thống chính sau đây:
Hệ thống không chính thức hay hệ thống tự nhiên như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp Khi NKT sinh ra môi trường gia đình là quen thuộc nhất đối với họ, những người thân trong gia đình là người trực tiếp giúp đỡ động viên NKT trong suốt quá trình họ học nghề, vì vậy hệ thống gia đình có ảnh hưởng lớn đến NKT Ngoài ra trong môi trường học nghề họ được giao lưu với bạn bè, có sự tương tác trong quá trình học nghề sẽ giúp NKT có những tiến bộ Đối với giáo viên dạy nghề thì đồng nghiệp, gia đình là nguồn động viên lớn nhất để họ hoàn thành công việc và tiếp tục dạy nghề cho NKT
Hệ thống chính thức như cộng đồng, tổ chức công cộng: Mỗi cá nhân đều sống trong một cộng đồng, nếu như cộng đồng đó có cái nhìn nhận tích cực về NKT thì hoạt động dạy nghề cho NKT sẽ có điều kiện phát triển, và NKT sau khi được học nghề sẽ có nhiều cơ hội việc làm hơn
Hệ thống xã hội như trường học, bệnh viện: Đối với NKT thì trường học như ngôi nhà thứ hai của họ Ở đó họ không những được học tập, học nghề mà họ còn được giao lưu giao tiếp với giáo viên, nhân viên, bạn bè, các tình nguyện viên Chính nhờ có hệ thống trường học mà nhiều NKT có cơ hội đến với nhiều tổ chức công cộng mà trước đó họ không biết đến Nhờ việc học nghề mà nhiều NKT đến với các doanh nghiệp NKT được đến với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe miễn phí được lắp những dụng cụ trợ giúp cho sinh hoạt và làm việc
Ba hệ thống trên trên đều có sựu tương tác qua lại và tác động trực tiếp đến việc học nghề của NKT Hiểu được sự ảnh hưởng của các hệ thống trên không những giúp quá trình dạy nghề đạt được nhiều kết quả mà còn tạo được việc làm cho NKT sau khi học nghề
Trang 241.3 Cơ sở khoa học của công tác dạy nghề cho người khuyết tật
1.3.1 Văn bản pháp lý về dạy nghề cho người khuyết tật
Một số văn bản của nước ngoài
Theo pháp luật Malaysia quy định: Các cơ quan chức năng có liên quan
tổ chức các dự án xúc tiến việc làm cho NKT như tạo nghề và phổ biến nghề nghiệp phù hợp cho những NKT, thiết kế và xây dựng các nhà xưởng và nơi làm việc phù hợp để những NKT thuộc các dạng tật khác nhau có thể tiếp cận được, hỗ trợ sử dụng các công nghệ mới, phát triển và sản xuất các phương tiện và phương pháp hỗ trợ NKT để họ có việc làm và duy trì công việc của mình Cung cấp các khóa đào tạo và việc làm phù hợp và tiếp tục trợ giúp cá nhân, các dịch vụ phiên dịch, thiết kế, xây dựng các chiến dịch nâng cao nhận thức cho công chúng nhằm loại bỏ các thái độ tiêu cực hay các định kiến về các công nhân, nhân viên là NKT, có các biện pháp cải thiện môi trường làm việc để phòng ngừa các tai nạn hay các bệnh nghề nghiệp và phải có các biện pháp giáo dục, phục hồi chức năng cho những người bị tại nạn nghề nghiệp
Các cơ quan chức năng có liên quan xây dựng các chương trình sau nhằm khuyến khích NKT đứng ra thành lập các doanh nghiệp nhỏ cho NKT làm chủ, tạo nguồn vốn cho vay, có các hình thức kinh doanh mà NKT các dạng khác nhau có thể tiếp cận đến Có các hợp đồng dành riêng cho NKT hoặc các quyền sản xuất ưu đãi, các cơ quan đặc biệt tiếp thị các sản phẩm do NKT làm ra [13,tr.18]
Theo pháp luật về NKT ở nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa: Nhà nước bảo vệ quyền của NKT được làm việc thông qua việc xây dựng các kế hoạch tổng thể việc làm, thành lập hệ thống các doanh nghiệp phúc lợi xã hội cho NKT, đưa ra các chi tiêu về tỷ lệ việc làm cho NKT và có các chính sách
ưu đãi đối với các doanh nghiệp, tổ chức tuyển dụng NKT như giảm thuế, hỗ trợ khoa học công nghệ, cho vay vốn, địa điểm [13,tr.20]
Trang 25Theo pháp luật về NKT ở Mỹ: Đạo luật Phục hồi Chức năng năm 1973 của Hoa Kỳ có các điều khoản quy định các chương trình đào tạo nghề cho NKT trong đó quy định của Hoa Kỳ cho tất cả các tiểu bang phải có một kế hoạch cá nhân về tuyển dụng cho từng NKT [13,tr.21]
Văn bản trong nước
Luật NKT
Điều 32 của Luật NKT quy định dạy nghề đối với NKT: Nhà nước bảo đảm để NKT được tư vấn học nghề miễn phí, lựa chọn và học nghề theo khả năng, năng lực bình đẳng như những người khác
Cơ sở dạy nghề có trách nhiệm cấp văn bằng, chứng chỉ, công nhận nghề đào tạo khi NKT học hết chương trình đào tạo và đủ điều kiện theo quy định của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề
Cơ sở dạy nghề tổ chức dạy nghề cho NKT phải bảo đảm điều kiện dạy nghề cho NKT và được hưởng chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật
NKT học nghề, giáo viên dạy nghề cho NKT được hưởng chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật
Điều 33 Luật NKT quy định việc làm đối với NKT: Nhà nước tạo điều kiện để NKT phục hồi chức năng lao động, được tư vấn việc làm miễn phí, có việc làm và làm việc phù hợp với sức khỏe và đặc điểm của NKT
Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân không được từ chối tuyển dụng NKT có đủ tiêu chuẩn tuyển dụng vào làm việc hoặc đặt ra tiêu chuẩn tuyển dụng trái quy định của pháp luật nhằm hạn chế cơ hội làm việc của NKT
Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động là NKT tùy theo điều kiện cụ thể bố trí sắp xếp công việc, bảo đảm điều kiện và môi trường làm việc phù hợp cho NKT
Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động là NKT phải thực hiện đầy đủ quy định của pháp luật về lao động đối với lao động là NKT
Trang 26Tổ chức giới thiệu việc làm có trách nhiệm tư vấn học nghề, tư vấn và giới thiệu việc làm cho NKT
NKT tự tạo việc làm hoặc hộ gia đình tạo việc làm cho NKT được vay vốn với lãi suất ưu đãi để sản xuất kinh doanh, được hướng dẫn về sản xuất, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm theo quy định của Chính phủ
Tại Điều 34 Luật NKT quy đinh về cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng nhiều lao động là NKT
Cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là NKT được hỗ trợ cải tạo điều kiện, môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật; được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp; được vay vốn với lãi suất
ưu đãi theo dự án phát triển sản xuất kinh doanh; được ưu tiên cho thuê đất, mặt bằng, mặt nước và miễn, giảm tiền thuê đất, mặt bằng, mặt nước phục vụ sản xuất, kinh doanh theo tỷ lệ lao động là NKT, mức độ khuyết tật của người lao động và quy mô doanh nghiệp
Điều 35 Luật NKT quy định chính sách nhận NKT vào làm việc: Nhà nước khuyến khích cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp nhận NKT vào làm việc Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động là NKT được hưởng chính sách
ưu đãi theo quy định tại Điều 34 của Luật này
Chính phủ quy định chi tiết chính sách khuyến khích cơ quan, tổ chức
và doanh nghiệp nhận NKT vào làm việc quy định tại khoản 1 Điều này [31]
Trang 27Các chính sách, quy định hiện nay về dạy nghề, giải quyết việc làm cho NKT đã thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước là khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho NKT thực hiện bình đẳng các quyền về chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội và phát huy khả năng của mình để ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng, tham gia các hoạt động xã hội
1.3.2 Cơ sở tâm sinh lý
Trong xã hội đa phần mọi người có sự phát triển tốt về trí tuệ và thể lực, họ lao động sản xuất phục vụ cho những nhu cầu của mình và đóng góp cho xã hội Bên cạnh những đó vẫn còn nhiều người có những hạn chế về sự phát triển thể lực và trí tuệ Tuy nhiên dù thể lực và trí tuệ có phát triển hay không thì sinh lý con người vẫn phát triển theo đúng quy luật tự nhiên NKT phát triển cũng không tách rời khỏi quy luật đó Dù họ có gặp những khó khăn về vận động, giác quan hoặc nhận thức, thiểu năng trí tuệ thì họ vẫn có nhu cầu tự phục vụ bản thân, sống tự lập và cống hiến cho xã hội [6, tr 23] Tâm lý chủ yếu của NKT là mặc cảm, tự đánh giá thấp bản thân mình so với những người không khuyết tật Ở những NKT vận động - họ có các biểu hiện tâm lý giống nhau như mặc cảm ngoại hình tức là sự chú trọng quá mức đến khiếm khuyết cơ thể đến nỗi gây khổ đau lớn - mặc dù vậy trong tâm lý học, mặc cảm ngoại hình không được chẩn đoán cho người có khiếm khuyết cơ thể nghiêm trọng, rối loạn tâm lý này chỉ hướng tới những người có khiếm khuyết nhỏ nhưng lại cứ cường điệu chúng lên Tiếp đến một ảnh hưởng khác cần xét đến là ám ảnh sợ xã hội, một kiểu trốn tránh và sợ hãi khi thực hiện các hoạt động mang tính cộng đồng như giao lưu gặp gỡ ở chỗ đông người Tuy nhiên điều này không phải luôn luôn đúng với tất cả, người ta nhận thấy ở nhiều NKT nỗ lực tồn tại và phát triển đặc biệt cao Hiểu được tâm lý trên của NKT gia đình và xã hội nên tạo mọi điều kiện để NKT chứng tỏ khả năng tự lập, trong công việc dù là việc nhỏ nhất cũng làm cho NKT thấy tự tin vui vẻ và muốn phấn đấu
Trang 281.3.3 Cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội
Đất nước ta trải qua nhiều cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm để giữ nước Chiến tranh đã đi qua nhưng để lại hậu quả vô cùng nặng nề, gây thiệt hại về kinh tế, tàn phá cơ sở hạ tầng của đất nước và đã góp phần tăng thêm số lượng NKT Nhân dân ta luôn có tinh thần đoàn kết, chia sẻ với những người gặp hoàn cảnh khó khăn, NKT Họ luôn nhận được sự thông cảm của cộng đồng, không bị miệt thị, xa lánh và luôn được sự hỗ trợ để họ tìm được công việc và sống tự lập trong cộng đồng
Ngày nay trong xã hội có nhiều nghề truyền thống phù hợp với NKT được truyền lại thông qua lớp học, qua dòng tộc hoặc người thân người quen Nhiều NKT có tài năng, phẩm chất đạo đức đã nhận được sự giúp đỡ của mọi người, họ được truyền nghề, hỗ trợ học tập và có những tiến bộ đáng ghi nhận
Cùng với sự phát triển của kinh tế, Nhà nước cũng đang hoàn thiện các luật cơ bản để đảm bảo mọi người không tính đến dân tộc tôn giáo, hoàn cảnh xuất thân, địa vị hiện tại đều được bình đẳng về cơ hội học tập và tìm kiếm việc làm Sự kỳ thị, cô lập đối với những người có hoàn cảnh khó khăn nói chung và NKT nói riêng đã dần được xóa bỏ Thay vào quan niệm sai lầm, tiêu cực về khả năng nhận thức của NKT là sự hiểu biết, cảm thông, tạo điều kiện và hợp tác của cộng đồng Nhận thức của bộ phận lớn nhân dân về quyền được bình đẳng về cơ hội của NKT đã được nâng cao và chuyển biến thành hành động cụ thể [6, 24]
Nghề nghiệp chọn để đào tạo cho NKT cần đảm bảo được sự tham gia của NKT Những nghề dạy phải phù hợp với tình hình kinh tế, văn hóa của từng địa phương và nhận được sự ủng hộ của xã hội để khi học xong NKT có thể tìm được việc làm và nhận được sự ủng hộ của cộng đồng
Trang 291.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu (huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang)
1.4.1 Khái quát về huyện Lạng Giang và về các cơ sở dậy nghề cho người khuyết tật trên địa bàn huyện Lạng Giang
Huyện Lạng Giang hiện nay là một trong 04 huyện, thành phố của tỉnh được xác định là vùng trọng điểm phát triển kinh tế - xã hội (Việt Yên, Yên Dũng, Lạng Giang và thành phố Bắc Giang) Trong những năm gần đây huyện Lạng Giang đã hình thành một số cụm công nghiệp Huyện Lạng Giang là huyện miền núi nên diện tích đất nông nghiệp không nhiều chủ yếu
là đất đồi núi do 8 loại chủ yếu hình thành do sự phong hóa của đá gốc sa thạch, phiếm thạch nên tính chất đất thường có thành phần cơ giới thịt trung bình đến thịt nặng, đất chua, nghèo chất dinh dưỡng Diện tích đất trồng lúa
và các cây nông sản chủ yếu có nguồn gốc từ Feralitic bị bạc màu, thành phần
cơ giới chủ yếu nhẹ đến trung bình, đất chua nghèo dinh dưỡng Tài nguyên đất huyện Lạng Giang phong phú, đa dạng thích nghi với nhiều loại cây trồng, chủ yếu là đất phù xa ít được bồi đắp Địa hình có độ dốc nên đất bị sói mòn, rửa trôi bạc màu và nghèo dinh dưỡng
Huyện Lạng Giang có mạng lưới song ngòi dày đặc, có nhiều con sông lớn chảy qua Hệ thống đê vững chắc tránh được mùa mưa lũ gây thiệt hại cho hoa màu Hệ thống ao hồ chứa nước tạo điều kiện tưới tiêu về mùa khô
Kinh chủ yếu của huyện dựa trên hoạt động sản xuất nông nghiệp như trồng lúa, rau màu vụ đông, các sản phẩm nông sản như sắn, lạc… Một số hoa quả nổi tiếng trong vùng được trồng khá nhiều trong những năm gần đây như vải thiều đem lại nguồn thu nhập đáng kể Huyện có Hồ Cấm Sơn dung tưới tiêu nước cho các xã phía Bắc, cũng là nơi tham quan du lịch của huyện
Trung tâm dạy nghề 19-5
Trung tâm dạy nghề tư thục 19-5 được thành lập từ năm 1997 mặc dù chưa được cấp đầy đủ kinh phí đầu tư máy móc, trang thiết bị, đồ dùng học tập phục vụ cho công tác dạy nghề Song với tâm huyết của lãnh đạo, đội ngũ
Trang 30cán bộ, trung tâm vẫn đào tạo cho nhiều đối tượng học nghề là NKT hoặc với hoàn cảnh khó khăn và tạo được việc làm cho NKT Trung tâm đã tự vận động vay mượn kinh phí đầu tư nhà xưởng, máy móc, trang thiết bị cơ sở vật chất dạy nghề, từng bước củng cố đội ngũ giáo viên Trong những năm qua trung tâm phối hợp với Sở LĐTB &XH tỉnh Bắc giang, Phòng LĐTB & XH huyện Lạng Giang, đã đào tạo nghề hoàn toàn miễn phí cho nhiều NKT trong
và ngoài huyện Lạng Giang NKT được đào tạo là con em thương bệnh binh, người nhiễm chất độc da cam điôxin và con em nông dân Trung tâm luôn tích cực đầu tư thêm trang thiết bị máy móc, cơ sở vật chất hoàn thiện phòng học lý thuyết, phòng học thực hành theo dự án đã được phê duyệt từng bước
xây dựng trung tâm vững mạnh, toàn diện đào tạo nghề cho NKT [22, tr.2]
Trung tâm bảo trợ xã hội Thành Đạt
Trung tâm bảo trợ xã hội Thành Đạt được thành lập vào ngày 17/3/2013 tại Tân Mỹ, TP Bắc Giang Đây là đơn vị sự nghiệp ngoài công lập có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng chịu sự quản lý nhà nước về lĩnh vực hoạt động của sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Giang Trung tâm gồm một giám đốc và hai phó giám đốc, các phòng ban có nhiệm vụ nuôi dạy, chăm sóc và dạy nghề cho NKT
Trung tâm có chức năng tiếp nhận các đối tượng là NKT, trẻ em mồ côi, trẻ có hoàn cảnh khó khăn và các đối tượng tự nguyện khác để nuôi dưỡng tập trung, chăm sóc và phục hồi chức năng, dạy nghề, học văn hóa và tìm kiếm việc làm tạo điều kiện tái hòa nhập cộng đồng
Trung tâm chăm sóc trẻ khuyết tật Bắc Giang
Trung tâm chăm sóc trẻ khuyết tật Bắc Giang nằm trên địa bàn huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang được thành lập năm 2009 với nhiệm vụ là nuôi dưỡng, phục hồi chức năng cho trẻ em khuyết tật, trẻ bị dị tật bởi nhiễm chất độc hóa học màu da cam do chiến tranh để lại thuộc những gia đình khó khăn Bồi dưỡng giáo dục nhân cách, giáo dục văn hóa, nâng cao kiến thức, hướng
Trang 31nghiệp dạy nghề cho trẻ em khuyết tật Làm công tác tư vấn cho cộng đồng và các gia đình có trẻ em khuyết tật biết cách chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật [23, tr.2]
1.4.2 Đặc điểm của người khuyết tật ở huyện Lạng Giang
Tổng dân số huyện Lạng Giang là 210.000 người, trong đó NKT là
2354 người chiếm 1,12% tổng dân số huyện Số NKT đặc biệt nặng là 522, mức trung bình là 1420, khuyết tật dạng nhẹ là 412 [26, tr1] NKT nhẹ đều được học nghề tại các trung tâm dạy nghề nhà nước và trung tâm dạy nghề tư nhân
NKT trên địa bàn huyện Lạng Giang chủ yếu là con em của thương binh tham gia chiến tranh bị nhiễm chất độc màu da cam Ngoài ra còn có khuyết tật do bị rủi ro tai nạn lao động, khuyết tật bẩm sinh Các dạng tật như khuyết tật vận động, khiếm thính, khiếm thị, khuyết tật miệng, down, đơ, thiểu năng
Các nghề NKT được đào tạo là : May công nghiệp, thêu, làm mi mắt giả, điện, tin học cơ bản, sửa chữa xe máy, chăn nuôi, làm tăm tre, chổi quét, chiếu Hầu hết NKT đều thuộc hộ nghèo, cận nghèo và chưa có việc làm ổn định Trong huyện có một xưởng may dành riêng cho NKT, ngoài ra còn có các công ty may khác như Công ty may Bắc Giang – Chi nhánh Lạng Giang Tuy nhiên số lượng NKT được nhận vào các công ty này rất ít chủ yếu NKT nhẹ và khéo tay, NKT khác thì được nhận vào nhặt chỉ Ngoài ra nghề thêu cũng đang phát triển với các ngành thêu truyền thống, hiện nay có thêm thêu chữ thập phù hợp với NKT thính giác và khuyết tật nói Huyện còn có các xưởng mộc, hàn, điện tư nhận NKT có tay nghề cao, thạo việc vào làm việc Một số NKT tự tạo công ăn việc làm cho mình như mở quán sửa chữa quần
áo ngay tại nhà hay xây dựng mô hình vườn ao chuồng tăng gia sản xuất, tuy nhiên số lượng này rất ít Số NKT huyện Lạng Giang tham gia vào quá trình sản xuất và làm việc khoảng 1130 người chiếm khoảng 48% tổng số NKT trên toàn huyện Những người có khả năng làm việc và xin việc là NKT dạng
Trang 32nhẹ và trung bình, có khả năng nhận thức tốt, số còn lại là trẻ em và những NKT nặng không có khả năng làm việc Vì vậy NKT sống chủ yếu dựa vào gia đình, một số NKT may mắn xây dựng được gia đình và sống hạnh phúc
Tỷ lệ NKT nam xây dựng gia đình nhiều hơn NKT nữ Số NKT không xây dựng gia đình chủ yếu ở một mình hoặc ở với bố mẹ Một số NKT nữ có con nhưng không có chồng do người chồng bỏ đi hay ly dị
Sự hòa nhập của NKT với các hoạt động xã hội là rất thấp, chỉ bó hẹp trong gia đình và hàng xóm lân cận Chính quyền địa phương cũng đã có những biện pháp để giúp đỡ NKT hòa nhập xã hội, nhưng những biện pháp đó mới chỉ dừng ở việc đưa NKT có thể tự phát triển kinh tế cho bản thân như:
mở rộng cho các đối tượng vay vốn, liên hệ với các Trung tâm dạy nghề để đào tạo việc làm cho NKT, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho NKT chưa quan tâm đến hòa nhập xã hội cho NKT Hiện tại huyện Lạng Giang cũng có hội dành cho NKT như Hội người mù huyện Lạng Giang, Hội những người có con em nhiễm chất độc hóa học Phụ trách NKT nói chung huyện Lạng Giang được giao cho phòng lao động thương binh xã hội quản lý và phụ trách trực tiếp
Tiểu kết chương 1: Trong chương 1 tác giả nêu nên cơ sở lý luận và cơ
sở thực tiễn cho việc nghiên cứu dạy nghề cho NKT Tác giả nêu nên một số khái niệm công cụ có liên quan nhằm làm rõ trong quá trình nghiên cứu Tác giả sử dụng lý thuyết nhu cầu của Maslow và lý thuyết sinh thái học của Ecologycal theory làm cơ sở để phân tích nhu cầu, mong muốn và mối quan
hệ giữa NKT với môi trường xã hội Dạy nghề cho NKT cần phải dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật và vận dụng một cách linh hoạt vào điều kiện hoàn cảnh của địa phương mình Tác giả nêu ra văn bản pháp lý trong và ngoài nước về dạy nghề cho NKT Cơ sở về kinh tế, văn hóa, xã hội cho dạy nghề Cuối cùng tác giả nêu nên tình hình kinh tế xã hội huyện Lạng Giang, một số trung tâm đang triển khai dạy nghề cho NKT và đặc điểm NKT tại huyện làm cơ sở cho việc nghiên cứu các chương sau
Trang 33Chương 2 THỰC TRẠNG DẠY NGHỀ CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG VÀ VAI TRÒ
CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG DẠY NGHỀ
CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT 2.1 Khái quát về tình hình dạy nghề
2.1.1 Tình hình dạy nghề trong cả nước
Dạy nghề cho NKT là hoạt động trợ giúp NKT, tạo tiền để cơ hội việc làm và góp phần hỗ trợ NKT hòa nhập cộng đồng Ở nhiều địa phương trên cả nước đã chú trọng vào công tác dạy nghề cho NKT, đưa ra nhiều giải pháp dựa trên các cơ chế chính sách dạy nghề phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của địa phương và NKT Cả nước ta có 265 cơ sở dạy nghề tham gia dạy nghề cho NKT, trong đó có 55 cơ sở dạy nghề chuyên biệt [36] Hệ thống quản lý nhà nước về dạy nghề được kiện toàn, đầu tư cơ sở vật chất, kinh phí đào tạo được miễn giảm Đối với các cơ sở tư nhân dạy nghề cho NKT nâng cao trình
độ tay nghề sẽ được ưu tiên đầu tư, bảo đảm các định mức kinh phí đào tạo Còn đối với bản thân NKT học nghề được xét cấp học bổng, trợ cấp xã hội, miễn, giảm học phí căn cứ vào mức độ khuyết tật và khả năng suy giảm lao động Hiện nay cơ sở dạy nghề cho NKT ở nươc ta tăng lên cả về số lượng, quy mô và chất lượng đào tạo Công tác dạy nghề cho NKT ngày càng thu hút được sự tham gia của khu vực tư nhân, số lượng NKT được học nghề ngày càng nhiều
Theo báo cáo năm 2013, Tổng cục Dạy nghề (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội) hỗ trợ 3 tỷ đồng để thí điểm mô hình dạy nghề gắn với giải quyết việc làm cho gần 925 NKT tại các tỉnh Bắc Giang, Nam Định, Thanh Hóa và các thành phố Hải Phòng, Đà Nẵng, với các nghề phù hợp như: Xoa bóp, bấm huyệt, may công nghiệp, mây tre đan, chăn nuôi gia súc, trồng nấm, mộc dân dụng Hội Bảo trợ người tàn tật và trẻ mồ côi Việt Nam và các thành viên đã dạy nghề cho 2.900 người khuyết tật, trong đó tạo việc làm cho
Trang 341.100 người với tổng kinh phí là 10,3 tỷ đồng Trung ương Hội đã phối hợp tổ chức xây dựng mô hình dạy nghề gắn với giải quyết việc làm cho NKT tại các
cơ sở sản xuất kinh doanh với 33 lớp dạy nghề cho 572 học viên ở 23 đơn vị thuộc 16, tỉnh, thành với tổng kinh phí hơn 3 tỷ đồng Nét nổi bật của chương trình là đã giải quyết được 82% người học nghề có việc làm Hội Chữ thập đỏ Việt Nam triển khai dự án “Hỗ trợ hòa nhập kinh tế xã hội và việc làm cho người khuyết tật’’ do Hội Chữ thập đỏ Tây Ban Nha hỗ trợ tại 51 xã của 6 tỉnh, thành phố: Hưng Yên, Hà Nam, Hải Dương, Bình Thuận, Lâm Đồng và
Hà Nội Có gần 800 người khuyết tật được dạy nghề tại 162 cơ sở dạy nghề
và doanh nghiệp Hội Người mù đã mở được 91 lớp, cho 1.316 hội viên, với tổng kinh phí hơn 4,9 tỷ đồng Riêng đối với nguồn kinh phí thực hiện dạy nghề thí điểm được Tổng cục Dạy nghề trực tiếp ký hợp đồng với các Trung tâm dạy nghề cho người mù là 4 lớp, đào tạo cho 110 người với kinh phí gần
576 triệu đồng Trong năm 2013 cả đước đã dạy nghề cho khoảng 80000 NKT từ các chương trình mục tiêu quốc gia dạy nghề và việc làm [37]
Các đề án, hoạt động dạy nghề cho NKT nêu trên đã khẳng định được sự quan tâm của Nhà nước, các tổ chức trong xã hội trong và ngoài nước vào việc hỗ trợ dạy nghề cho NKT ở nước ta hiện nay Đối tượng học nghề đã dạng các dạng tật từ khuyết tật vận động, khiếm thính, khiếm thị, khuyết tật ngôn ngữ Các nghề được dạy cũng phù hợp với các dạng tật mà NKT gặp phải Hoạt động dạy nghề không tập trung vào một hoặc hai tỉnh mà được triển khai sâu rộng trong cả nước tạo được sự công bằng giữa các địa phương Tuy nhiên hoạt động dạy nghề cho NKT vẫn còn nhiều hạn chế chưa được tháo gỡ Trong những năm qua công tác dạy nghề cho NKT đã nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước nhưng số lượng NKT được học nghề còn ít, chất lượng dạy nghề chưa cao Giáo viên dạy nghề cho NKT tốt nghiệp trung cấp trở lên, thường xuyên được tập huấn nâng cao nghiệp vụ sư phạm để giảng dạy cho NKT tuy nhiên số lượng giáo viên qua đào tạo chuyên môn còn
Trang 35ít, đa số đội ngũ giáo viên dạy nghề cho NKT từ các bộ môn khác chuyển sang nên chưa qua lớp đào tạo chính quy do nhà nước mở, họ mới được học các lớp bồi dưỡng ngắn hạn, các giáo viên tự học hỏi lẫn nhau do vậy họ yếu
cả về chuyên môn và nghiệp vụ, dẫn đến việc chuyển tải nội dung chương trình học đến NKT không được trọn vẹn, nhiều khi NKT còn hiểu sai về bài học Chương trình dạy nghề chưa phù hợp với các đối tượng học trong lớp, vì mức độ nặng nhẹ giữa các dạng tật mà NKT gặp phải là khác nhau với từng người trong một lớp, gây khó khăn cho giáo viên trong việc giảng dạy Cơ sở vật chất cho hoạt động dạy nghề còn thiếu thốn ở nhiều trung tâm dạy nghề chủ yếu là các trung tâm thuộc vùng nông thôn Việc dạy nghề cho NKT đã khó, tìm được việc làm cho họ còn khó hơn Doanh nghiệp không muốn nhận NKT vào làm việc họ sợ làm ảnh hưởng đến năng suất lao động, chất lượng lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh Dẫn đến tỷ lệ tìm được việc làm sau đào tạo nghề còn thấp những người có việc làm không ổn định, làm các công việc tạm thời, lao động chân tay, làm việc trong các tổ chức cơ sở mang tính nhân đạo, từ thiện thu nhập của NKT cũng tương đối thấp, không ổn định Vì vậy, mỗi địa phương trong cả nước cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ hoạt động dạy nghề cho NKT đạt hiệu quả cao hơn
2.1.2 Tình hình dạy nghề cho người khuyết tật huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
Nghiên cứu tình hình dạy nghề cho NKT tại huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, thu thập thông tin về sức khỏe, dạng tật, số lượng và chất lượng học nghề, từ đó tìm hiểu những nhu cầu của NKT đặc biệt là nhu cầu học nghề, tìm hiểu những thuận lợi trong học nghề để phát huy và những khó khăn cần giải quyết, khắc phục Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng tác giả đưa
ra những mô hình giải pháp để trợ giúp hiệu quả cho NKT Đồng thời, tác giả nghiên cứu vai trò của NV CTXH đối với NKT và việc thực hiện vai trò đó trong dạy nghề với NKT tại huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
Trang 36Huyện Lạng Giang đã và đang nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước về hoạt động dạy nghề cho NKT Theo số liệu của Phòng LĐTB &
XH huyện Lạng Giang tình hình dạy nghề cho NKT có sự chuyển biến về số lượng và chất lượng theo từng năm
Số lượng học nghề NKT: Dạy nghề dài hạn (6-8 tháng) Bảng 1
Năm
Số lượng (Người) Nghề
may, thêu
Điện dân dụng, hàn
Chăn nuôi, nông nghiệp
Điện dân dụng, hàn
Chăn nuôi, nông nghiệp
Nguồn số liệu của Hội Chữ thập đỏ huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang năm 2013
Nhìn vào bảng số liệu (Bảng 1) trên thấy số lượng NKT được dạy nghề dài hạn không nhiều so với tổng số NKT sống trên địa bàn huyện Mỗi năm
có khoảng 9,6 % trong số tổng NKT được dạy nghề và đào tạo lại nghề tại các cơ sở dạy nghề cho NKT Số lượng học nghề được tăng lên hàng năm nhưng không nhiều, tuy nhiên điều này cũng chứng tỏ huyện Lạng Giang
Trang 37ngày càng có nhiều chính sách quan tâm đến NKT nhiều hơn Các nghề NKT được đào tạo cũng thay đổi theo hàng năm đáp ứng nhu cầu của thị trường, nhu cầu của xã hội NKT đi học nghề dựa trên nhu cầu của bản thân mình, nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp, nhu cầu thị trường và chính sách từ huyện để mở các lớp
Đào tạo nghề ngắn hạn do hội chữ thập đỏ phối hợp với các hội khác như hội nông dân, hội cựu chiến binh, hội phụ nữ, đoàn thanh niên để thực hiện Nhìn vào bảng số liệu (bảng 2) trên thấy NKT được đào tạo ngắn hạn tại
xã, nơi NKT sinh sống Tuy nhiên, số lượng xã có NKT đào tạo ngắn hạn không nhiều, do có nhiều bất cập trong quá trình cán bộ xuống xã đào tạo và
số lượng NKT học nghề còn ít nên ảnh hưởng không nhỏ đến việc dạy và học
Trong các nghề đã và đang dạy tại huyện thì nghề thêu và nghề may là nghề được dạy nhiều nhất vì tại huyện có các doanh nghiệp may tư nhân vừa
và nhỏ hàng năm vẫn tuyển chọn NKT trong huyện vào làm việc Nghề thêu chữ thập đang được dạy nhiều vì dễ học, có thị trường tiêu thụ, một số cửa hàng đang thu mua tranh để bán cho người dân trong huyện và các huyện khác Dạy nghề chăn nuôi, nông nghiệp cho NKT chiếm tỷ lệ không nhỏ do huyện Lạng Giang là huyện miền núi, thuận tiện cho việc trồng trọt và chăn nuôi Dạy nghề nông nghiệp, chăn nuôi cho họ thì họ sẽ áp dụng vào làm việc ngay tại gia đình mình Nghề điện dân dụng và hàn ít được học do thị trường việc làm ít và khả năng tự làm việc, kinh doanh không cao bằng các nghề khác
Trong những năm gần đây, huyện Lạng Giang đang tăng cường công tác dạy nghề và đào tạo việc làm cho NKT tổ chức các hình thức tuyên truyền sâu rộng về chế độ học nghề, chế độ dạy nghề, tạo việc làm Tuyên truyền rộng rãi các chương trình dạy nghề, học nghề, việc làm để họ có thêm thông tin và cơ hội tiếp cận các chính sách Ngoài ra, tại các xã trong huyện còn biểu dương qua loa vào các buổi chiều những tấm gương NKT vượt lên tự tạo việc làm, làm việc trong các doanh nghiệp, hòa nhập với cộng đồng
Trang 38Chất lượng dạy nghề NKT
Theo báo cáo của Phòng LĐTB & XH huyện cả huyện có khoảng 48 % NKT trong độ tuổi lao động có việc làm, trong đó chủ yếu là việc làm ở khu vực nông nghiệp chiếm khoảng 60 %, còn lại làm việc trong các nhà máy, các tiệm may, các cửa hàng sửa chữa… Điều này đánh giá chất lượng dạy nghề tại huyện chưa cao, chưa ứng dụng được vào trong công việc, nhiều NKT được học nghề nhưng sau khóa đào tạo lại không sử dụng đến do không đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng Vì vậy, sau khi được đào tạo họ lại quay trở về làm nông nghiệp tại địa phương cùng với gia đình Một số người học nghề trồng trọt, chăn nuôi sẽ áp dụng được một số kiến thức ít ỏi vào công việc, phần còn lại họ dựa vào gia đình, phụ giúp gia đình và làm việc theo kinh nghiệm của bản thân Hiện nay tại huyện nghề được đánh giá sử dụng nhiều nhất sau khóa học đào tạo áp là nghề thêu chữ thập Tuy nghiên, nghề thêu chỉ phù hợp với không có khuyết tật về tay và mắt, phù hợp với phụ
nữ Thu thập của họ với nghề thêu chữ thập không nhiều nhưng so với các nghề khác thì khá ổn định và có công việc để làm ở hiện tại Họ có thể làm cả các công việc về nông nghiệp, tranh thủ thêu trong thời gian rảnh rỗi Nghề may cũng nhận được hỗ trợ của cơ sở may tư nhân nhưng số lượng NKT được nhận vào làm việc ít, do không đáp ứng được yêu cầu công việc Những hạn chế về chất lượng dạy nghề và học nghề cho NKT tồn tại nhiều nguyên nhân,
có cả khách quan và chủ quan Do vậy, cơ quan, các tổ chức và cán bộ làm việc trong lĩnh vực này đều cố gắng sắp xếp cho dạy cho NKT những nghề phù hợp với các dạng tật, tạo mọi điều kiện để họ học tốt nhất, đồng thời giảm thiểu những khó khăn gặp phải trong quá trình học nghề
2.2 Hoạt động dạy nghề cho người khuyết tật tại huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
Người có dạng khuyết tật khác nhau thì cũng sẽ có những khả năng và nhu cầu khác nhau trong việc học nghề và tham gia lao động Vì vậy, những
Trang 39nghề được chọn để dạy cho NKT cần dựa trên đặc điểm của NKT sao cho phát huy được điểm mạnh và hạn chế được điểm yếu sau khi học xong họ tìm được việc làm và làm việc với hiệu quả lao động cao [6, tr 46]
2.2.1 Dạy nghề cho người khuyết tật vận động
NKT vận động là những người có khiếm khuyết về cấu tạo, rối loạn về chức năng của các bộ máy vận động trong cơ thể gây khó khăn trong các hoạt động cần phải di chuyển, cử động Bộ máy vận động của người gồm có hệ cơ xương và hệ thống thần kinh điều khiển vận động [6, tr 17]
Tùy theo khả năng vận động còn lại mà NKT vận động cần nhận được những phương tiện trợ giúp phù hợp hoặc sự hỗ trợ của những người xung quanh để tham gia các hoạt động sinh hoạt, lao động, học nghề Nếu như NKT vận động không có các dạng tật kèm theo như khiếm thính, khiếm thị, khuyết tật trí tuệ thì NKT vận động có thể học tốt những nghề mà người không khuyết tật học được trừ những nghề phải đi lại nhiều
Trong danh mục đề xuất những nghề dành cho NKT vận động gồm: Nghề vật lý thiên văn học, khí tượng học, hóa học, địa chất vật lý, toán học, thống kê học lập trình, kiến trúc quy hoạch, xây dựng, điện tử viễn thông, hóa chất…[6, tr 47- 59] Tuy nhiên, do điều kiện đặc tình hình kinh tế và đặc điểm số lượng NKT huyện Lạng Giang nên dạy nghề cho NKT vận động đã
và đang được triển khai những nghề sau: nghề may, nghề thêu, chăn nuôi, nông nghiệp, tin học, điện
Các cơ sở dạy nghề cho NKT vận động gồm 3 trung tâm: Trung tâm 19/5 và Trung tâm bảo trợ xã hội Thành Đạt, Trung tâm chăm sóc trẻ khuyết tật Công tác dạy nghề cho NKT đang được triển khai mạnh nhất tại Trung tâm dạy nghề 19/5 với nghề may là chủ yếu Đây là trung tâm đã có lịch sử dạy nghề từ lâu đời tại huyện Lạng Giang Tại Trung tâm có 2 lớp học may dành cho NKT với số lượng 20 máy/ lớp Đa phần lớp máy may trong lớp là máy cũ từ những năm trước, một số máy thường xuyên bị trục trặc hỏng
Trang 40Trong lớp học đã trang bị đầy đủ trang thiết bị như quạt trần, đèn điện đảm bảo đủ ánh sáng phục vụ cho hoạt động dạy nghề Tuy nhiên, mái che của lớp học lợp bằng tôn nên gây nóng lực vào mùa hè, lớp có nhiều cửa sổ làm bằng
gỗ nên mùa đông thường gió lùa vào không đủ ấm áp Năm 2013 Trung tâm
đã triển khai đào tạo đã mở được những lớp cho học viên là NKT sinh sống trên địa bàn tỉnh Bắc Giang Đào tạo được 03 lớp may công nghiệp dành cho NKT với số lượng là 90 trong đó đa số là NKT vận động và giải quyết việc làm sau đào tạo cho 50 NKT (có sự giúp đỡ của Công ty may Bắc Giang, Chi nhánh Lạng Giang, Công ty may Thanh Hùng và một số công ty khác trên địa bàn tỉnh) [22, tr.3]
Đội ngũ giáo viên: May công nghiệp, may dân dụng có 04 giáo viên cơ hữu trong đó đều là những giáo viên có tay nghề cao và có kinh nghiệm may trong nhiều năm Bên cạnh đó còn có 05 giáo viên hợp đồng thỉnh giảng khi cần thiết hoặc thiếu giáo viên sẽ lên dạy Chăn nuôi thú y, hiện tại có 06 giáo viên trong đó có 01 giáo viên chính còn 05 giáo viên hợp đồng thỉnh giảng khi cần thiết, tất cả đều có trình độ trung cấp trở lên [22, tr.5] Với đội ngũ giáo viên có trình độ tay nghề cao và đã giảng dạy cho NKT trong nhiều năm
họ dễ thông cảm hơn với NKT và rút ra nhiều kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy, giao tiếp tuyền đạt kiến thức cho NKT vận động dễ dàng hơn các dạng tật khác Ngoài nghề may trung tâm triển khai thêm nghề chăn nuôi và trồng trọt Năm 2013 trung tâm đào tạo 06 lớp chăn nuôi, trong đó có 01 lớp nuôi ong, 01 lớp chăn nuôi thỏ Trung tâm đã có xây dựng mô hình VAC để NKT vừa dạy lý thuyết vừa dạy thực hành Nghề tin học và điện ít được NKT nói chung và NKT vận động nói riêng lựa chọ vì vậy trong những năm gần đây NKT có nhu cầu học hai nghề này trung tâm thường gửi về trường trung cấp nghề Bắc Giang hoặc trường dạy nghề số 2 tại thị trấn vôi, huyện Lạng Giang Tại trung tâm cũng dạy thêm nghề điện nhưng ở mức độ đơn giản, thời