PHẦN MỞ ĐẦU ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN MAI THỊ HIỆP LIÊN KẾT CÁC HỆ THỐNG NGUỒN LỰC DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG NHẰM HỖ TRỢ GIÁO DỤC CHO HỌC SINH THUỘC CÁC HỘ GIA ĐÌN[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
MAI THỊ HIỆP
LIÊN KẾT CÁC HỆ THỐNG NGUỒN LỰC DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG NHẰM HỖ TRỢ GIÁO DỤC CHO HỌC SINH THUỘC CÁC HỘ GIA ĐÌNH TÁI ĐỊNH CƯ VÙNG LÒNG HỒ THỦY ĐIỆN TUYÊN QUANG
(Nghiên cứu tại xã Phúc Thịnh - huyện Chiêm Hóa - tỉnh Tuyên Quang)
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Công tác xã hội
Hà Nội – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-*** -
MAI THỊ HIỆP
LIÊN KẾT CÁC HỆ THỐNG NGUỒN LỰC DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG NHẰM HỖ TRỢ GIÁO DỤC CHO HỌC SINH THUỘC CÁC HỘ GIA ĐÌNH TÁI ĐỊNH CƯ VÙNG LÒNG HỒ THỦY ĐIỆN TUYÊN QUANG (Nghiên cứu tại xã Phúc Thịnh - huyện Chiêm Hóa - tỉnh Tuyên Quang)
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Thu Hương
Hà Nội - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn: “Liên kết các hệ thống nguồn lực dựa vào
cộng đồng nhằm hỗ trợ giáo dục cho học sinh thuộc các hộ gia đình tái định cư vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang” (Nghiên cứu tại xã Phúc Thịnh – Chiêm
Hóa – Tuyên Quang) là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn
khoa học của PGS.TS Hoàng Thu Hương và những kết quả nghiên cứu ở trong luận văn này là hoàn toàn trung thực
Ngày 15 tháng 08 năm 2014
Tác giả luận văn
Mai Thị Hiệp
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp chuyên ngành công tác xã hội
với đề tài: “Liên kết các hệ thống nguồn lực dựa vào cộng đồng nhằm hỗ trợ giáo
dục cho học sinh thuộc các hộ gia đình tái định cư vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang” (Nghiên cứu tại xã Phúc Thịnh – Chiêm Hóa – Tuyên Quang), bên
cạnh sự nỗ lực và cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn và chỉ bảo nhiệt tình của các thầy cô cùng với sự quan tâm, động viên từ phía người thân, gia đình và bạn bè
Để hoàn thành được luận văn tốt nghiệp này, trước tiên bản thân tôi xin được
gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc nhất tới cô giáo, PGS.TS Hoàng
Thu Hương đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình hoàn thành
luận văn Nhờ có sự giúp đỡ nhiệt tình và tâm huyết của cô mà bản thân tôi đã từng bước làm tốt và hoàn thành được đề tài nghiên cứu, đồng thời ghi nhận lại kết quả cùng những cố gắng của bản thân qua bài báo cáo này Bên cạnh đó, tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa xã hội học nói chung và bộ môn công tác xã hội nói riêng đã tận tình giảng dạy, cung cấp cho học viên những hệ thống kiến thức bổ ích, chuyên sâu và nâng cao hơn, qua đó học viên có thể vận dụng được nhưng kiến thức đó vào để hoàn thành tốt luận văn này
Hơn nữa, đi cùng tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn là các cán bộ xã, thôn và các giáo viên, phụ huynh và các em học sinh tại địa bàn nghiên cứu Họ đã nhiệt tình cùng tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc tới họ Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn của mình đến gia đình, bạn bè, đây là nguồn động lực lớn đối với tôi, họ đã luôn bên cạnh, động viên, quan tâm đến tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Đối với tôi bản báo cáo là một thành quả đáng khích lệ cho sự cố gắng của bản thân sau thời gian học tập và nghiên cứu Nhưng vì thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế cho nên báo cáo này không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, các bạn và những người quan tâm đến đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, Tháng 8/2014
Học viên Mai Thị Hiệp
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài: 1
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa của nghiên cứu: 7
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: 8
5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu: 8
6 Câu hỏi nghiên cứu: 9
7 Giả thuyết nghiên cứu: 9
8 Phương pháp nghiên cứu 10
NỘI DUNG CHÍNH 13
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU 13
1.1 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu: 13
1.2 Các khái niệm công cụ: 15
1.2.1 Liên kết: 15
1.2.2 Nguồn lực dựa vào cộng đồng 16
1.2.3 Giáo dục và hỗ trợ giáo dục 17
1.2.4 Học sinh: 18
1.2.5 Gia đình: 18
1.2.6 Tái định cư: 19
1.3 Các cách thức tiếp cận trong phát triển cộng đồng 19
1.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu: 22
1.4.1 Bối cảnh địa bàn xã Phúc Thịnh: 22
1.4.2 Khái quát về công tác TĐC dự án thủy điện Tuyên Quang tại xã Phúc Thịnh 25
Chương 2: KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN SỐNG VÀ HỌC TẬP CỦA NHÓM HỌC SINH THUỘC CÁC HỘ GIA ĐÌNH TĐC TẠI XÃ PHÚC THỊNH 30
2.1 Khái quát về điều kiện sống của các hộ gia đình TĐC 30
2.1.1 Một số đặc điểm về tổ chức cuộc sống, hòa nhập cộng đồng của các hộ gia đình TĐC 30
Trang 62.1.2 Tình trạng nghèo khó của các hộ gia đình TĐC 32
2.2 Khái quát về điều kiện sống của các hộ gia đình TĐC có con trong độ tuổi đi học 34
2.2.1 Số lượng học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC 34
2.2.2 Đặc điểm nghèo khó của các hộ gia đình TĐC có con trong độ tuổi đi học 35 2.2.3 Một số khó khăn về điều kiện sống của các hộ gia đình TĐC có con trong độ tuổi đi học 38
2.3 Thực trạng hoạt động học tập của nhóm học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC 40
2.3.1 Ý thức học tập và kết quả học tập: 40
2.3.2 Tình trạng nghỉ học, bỏ học và chuyển trường của nhóm học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC 44
2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động học tập của nhóm học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC 49
2.4.1 Sự quan tâm của gia đình 49
2.4.2 Điều kiện học tập 53
2.4.3 Đặc điểm nhận thức, lối sống của nhóm học sinh 55
2.4.4 Sự hòa nhập với môi trường học tập 58
Chương 3: XÁC ĐỊNH NHU CẦU VÀ HỆ THỐNG NGUỒN LỰC NHẰM HỖ TRỢ GIÁO DỤC CHO NHÓM HỌC SINH THUỘC CÁC HỘ GIA ĐÌNH TĐC TẠI XÃ PHÚC THỊNH 60
3.1 Xác định nhu cầu cần hỗ trợ chung của nhóm học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC 60
3.1.1 Nhu cầu vật chất: 63
3.1.2 Nhu cầu được thừa nhận, yêu thương: 65
3.1.3 Nhu cầu được tự khẳng định mình: 66
3.1.4 Nhu cầu an toàn xã hội: 67
3.1.5 Nhu cầu được tôn trọng: 68
3.2 Xác định các nhu cầu ưu tiên cần được hỗ trợ 68
3.2.1 Sắp xếp thứ tự ưu tiên các nhu cầu: 68
3.2.2 Cân đối và lựa chọn nhu cầu: 72
Trang 73.3 Đánh giá các hệ thống nguồn lực nhằm hỗ trợ giáo dục cho học sinh thuộc
các hộ gia đình TĐC 73
3.3.1 Nguồn lực vật chất và khả năng tài chính của địa phương 777
3.3.2 Các thiết chế, tổ chức chính trị - xã hội: 80
3.3.3 Nguồn nhân lực: 833
3.4 Đề xuất hoạt động liên kết các hệ thống nguồn lực nhằm hỗ trợ giáo dục cho học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC 877
3.4.1 Cách thức tiếp cận sử dụng trong nghiên cứu: 877
3.4.2 Hoạt động liên kết các hệ thống nguồn lực: 888
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 999
1 Kết luận: 99
2 Khuyến nghị: 101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1044
PHỤ LỤC 1077
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Trang Bảng 1.1: Các cách thức tiếp cận trong phát triển cộng đồng 20 Bảng 1.2: Số lượng các hộ, khẩu TĐC dự án thủy điện Tuyên Quang 26 Bảng 1.3: Đặc điểm đời sống các hộ gia đình TĐC dự án thủy điện
Bảng 3.1: Nhóm vấn đề và các yếu tố ảnh hưởng đối với nhóm học
sinh thuộc các hộ gia đình TĐC
61
Bảng 3.2: Các nhu cầu do nhóm học sinh xác định 70 Bảng 3.3: Thứ tự các nhu cầu ưu tiên do nhóm học sinh xác định 71 Bảng 3.4: Bảng tổng hợp sắp xếp thứ tự ưu tiên các nhu cầu do 04
nhóm xác định
71
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Tuyên Quang là một tỉnh miền núi nghèo với trên 20 dân tộc anh em cùng sinh sống như Tày, Nùng, Dao, H'Mông Theo các số liệu báo cáo, thống kê của tỉnh thì hiện nay tại Tuyên Quang còn rất nhiều các hộ gia đình thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo và các hộ gia đình dân tộc thiểu số có điều kiện sống khó khăn Do đó, học sinh thuộc các hộ gia đình này còn gặp rất nhiều vấn đề khó khăn, thiếu thốn và nhiều nhu cầu cơ bản chưa được đáp ứng
Đặc biệt tại một số địa phương trong tỉnh còn một bộ phận dân cư là các gia đình thuộc vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang di dân, TĐC tại địa phương mới để phục vụ cho việc xây dựng nhà máy thủy điện Tuyên Quang Theo kết quả thống kê của ban di dân thì tổng số có 4.193 hộ, 20.138 khẩu phải di chuyển TĐC thuộc 88 thôn bản, tổ dân phố chiếm 29,5% so với tổng số 298 thôn, bản của toàn huyện Na Hang (nơi xây dựng thủy điện Tuyên Quang) Việc di dời, TĐC tại nơi ở mới kéo theo rất nhiều những thay đổi về phong tục, tập quán, nguồn sinh kế, lối sống, môi trường, văn hóa, giáo dục
Thực tế cho thấy đời sống của các hộ gia đình sau TĐC gặp khó khăn về nhiều mặt: việc làm, thu nhập, học hành của con em các hộ gia đình, việc học nghề của đa số người dân TĐC Nguyên nhân là do các dự án, các chương trình TĐC chỉ mới quan tâm chăm lo cho vấn đề nhà ở của người dân mà chưa chú trọng đến yếu tố kinh tế, văn hóa, giáo dục, xã hội và môi trường khác
Trong đó vấn đề hỗ trợ giáo dục nhằm cải thiện trình độ học vấn và giải quyết các vấn đề khác tồn tại trong học đường của học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC vẫn chưa thực sự được quan tâm nhiều Hiện nay, tại một số trường có điểm TĐC trong tỉnh vấn đề học vấn và các vấn đề tồn tại trong học đường đang diễn ra thực trạng cấp bách, rất đáng được quan tâm giải quyết như: tình trạng nghỉ học, bỏ học sớm, chuyển trường, kết quả học tập kém hay vấn đề hòa nhập ở trường Do
đó rất cần những chương trình, chính sách hộ trợ của tỉnh và chính quyền địa
Trang 11phương, và hơn hết là sự quan tâm đặc biệt của các hệ thống nguồn lực trong cộng đồng nhằm giải quyết tình trạng này
Nhận thấy, công tác xã hội có thể ứng dụng phương pháp phát triển cộng đồng để hỗ trợ các hoạt động học tập, giải quyết các vấn đề tại học đường, đồng thời cải thiện tình trạng học vấn cho nhóm học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC Cùng với việc sử dụng cách thức tiếp cận dựa vào cộng đồng, tác giả đã lựa chọn đề
tài nghiên cứu “Liên kết các hệ thống nguồn lực dựa vào cộng đồng nhằm hỗ trợ
giáo dục cho học sinh thuộc các hộ gia đình tái định cư vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang” (Nghiên cứu tại xã Phúc Thịnh – Chiêm Hóa – Tuyên Quang)
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Tại Việt Nam, từ khi chính sách đổi mới kinh tế năm 1986 của Đảng và Nhà nước được đưa vào thực hiện và có hiệu quả đã xuất hiện tình trạng di dân và số lượng di dân tăng đột biến vào những năm 1990 trở lại đây Quá trình di dân tại Việt Nam đã kéo theo rất nhiều hệ quả Trước hết là mặt tích cực, các loại hình di dân đã có tác dụng trong việc thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế – xã hội như tạo việc làm, tăng thu nhập, góp phần cải thiện đời sống cho người di cư cũng như gia đình của họ rất nhiều hộ gia đình ở nông thôn có cuộc sống rất khó khăn, không có việc làm, nhưng sau khi di dân lên thành phố họ đã giải quyết được vấn đề việc làm, thu nhập và ổn định cuộc sống hơn Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm thì quá trình di cư này cũng đã để lại nhiều hậu quả đáng tiếc cho xã hội Trước hết, vấn đề
di cư đã gây xáo trộn dân cư cho cả nơi xuất cư và nhập cư, đồng thời việc di cư từ nông thôn lên thành phố tăng nhanh kéo theo các vấn đề về việc làm, nhà ở, các công trình công cộng cùng với nhiều tệ nạn xã hội khác Đây là những vấn đề bức xúc cho toàn xã hội Trước những thực trạng đó, đã có rất nhiều nhà khoa học đã tiến hành các nghiên cứu về vấn đề di cư trong nước để đưa ra những biện pháp hữu hiệu nhất cho sự phát triển bền vững Cho đến nay ở Việt Nam đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu khoa học về di dân Nhìn chung, những công trình này
đã nghiên cứu di dân trên nhiều lĩnh vực
Trang 12Trước hết phải kế đến những nghiên cứu đưa ra được cái nhìn tổng quan nhất
về di dân ở Việt Nam Đầu tiên là nghiên cứu “Di dân của người Việt từ thế kỷ X
đến thế kỷ XIX” của Đặng Thu được đăng trên phụ san tạp chí nghiên cứu lịch sử,
Hà Nội, khoa học xã hội, năm 1993; hay nghiên cứu của Guest, Philip về “Động lực
di dân nội địa ở Việt Nam” năm 1998; và cũng phải kể đến nghiên cứu “Nghiên cứu
di dân ở Việt Nam” do Đỗ Văn Hòa – Trịnh Khắc Thẩm cùng tiến hành nghiên cứu
vào năm 1999 Tuy nhiên, những nghiên cứu này chủ yếu chỉ xoay quanh những vấn đề như : Nguyên nhân, thực trạng, hệ quả của di cư, đặc biệt là những nghiên cứu về nguyên nhân chỉ mới xem xét trên góc độ kinh tế việc làm mà chưa đề cập nhiều đến những tác động về mặt văn hoá - xã hội hay vai trò của mạng lưới xã hội trong quá trình di dân
Về sau đã có thêm nhiều nghiên cứu về di cư xem xét đến những góc độ khác như ảnh hưởng của yếu tố văn hóa – xã hội đối với di cư Nổi bật trong số đó
là nghiên cứu: “Vai trò của mạng lưới xã hội trong di dân” của tác giả Đặng nguyên
Anh, đăng trên tạp chí xã hội học số 2 năm 1998 Có thể nói mạng lưới xã hội là một nhân tố quan trọng quyết định đến toàn bộ quá trình di cư Ảnh hưởng của mạng lưới xã hội đối với di cư khác nhau theo đặc điểm cá nhân và hộ gia đình, cũng như khác biệt giữa nam và nữ Do đó, nghiên cứu về vai trò của mạng lưới xã hội đối với di cư đã chỉ ra được nguyên nhân, xu hướng di cư và sự hòa nhập của cư
dân tại nơi chuyển đến Liên quan đến vấn đề nghiên cứu này còn có đề tài “nhóm
không chính thức của người lao động ngoại tỉnh ở Hà Nội” của tác giả Vũ Dũng
đăng trên tạp chí tâm lý học Một điều đáng quan tâm ở đây là những nghiên cứu này mới chỉ đề cập đến vai trò của mạng lưới xã hội như một nguyên nhân cũng như chức năng trợ giúp về chỗ ở, việc làm, thu nhập…lại rất ít hay chưa đề cập nhiều dến vấn đề tác động về mặt văn hoá xã hội như tác động về mặt nhận thức, tâm lý,
tư tưởng, truyền thống, phong tục tập quán…
Song song với vấn đề di dân thì việc TĐC tại nơi đến cũng được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Do đó, cũng đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến TĐC được tiến hành:
Trang 13Đầu tiên phải kể đến nghiên cứu “Tái định cư bắt buộc” của Ngân hàng phát
triển châu Á thực hiện năm 1995 Theo nghiên cứu này thì việc TĐC bắt buộc được xác định như là chính sách đền bù và hỗ trợ ổn định lại cuộc sống Một nghiên cứu
nữa về vấn đề TĐC cũng rất đáng được quan tâm đó là “Tái định cư trong các dự
án phát triển: chính sách và thực tiễn” của tiến sỹ Phạm Mộng Hoa và tiến sỹ Lâm
Mai Lan, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội, 2000 Đây là những nghiên cứu về các cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng TĐC nói chung
Ngoài ra cũng có những nghiên cứu về sinh kế của người nghèo TĐC Cụ thể, năm 2007, Trung tâm Hành động vì Sự phát triển Đô thị thực hiện dự án
"Nghiên cứu về sinh kế của người nghèo sau tái định cư tại Hà Nội” với sự tài trợ
của Mennonite Central Committee (MCC) Nghiên cứu này xem xét việc làm thế nào người dân nghèo thích nghi với cuộc sống mới này, những khó khăn họ phải đối diện và họ cần được hỗ trợ như thế nào để phát triển sinh kế bền vững Bằng phương pháp tiếp cận nhân chủng học, nghiên cứu đã có được một cái nhìn sâu vào đời sống của người nghèo thông qua những câu hỏi về cuộc sống hàng ngày của họ trước và sau khi TĐC Hiểu được những điều này là nền tảng để xây dựng nên các chương trình phát triển hỗ trợ người nghèo TĐC Nghiên cứu hướng tới đối tượng độc giả là các tổ chức chính phủ và phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực phát triển đô thị Đồng thời, các kết quả nghin cứu cũng sẽ là cơ sở để trung tâm hành động vì sự phát triển Đô thị xây dựng nên các chương trình hỗ trợ người nghèo ổn định TĐC
Những năm gần đây nước ta có nhiều công trình có quy mô lớn như thuỷ điện Sơn La, thuỷ điện Hoà Bình, thuỷ điện Bản Vẽ (Nghệ An), thuỷ điện Tuyên Quang đòi hỏi phải di chuyển cả cộng đồng dân cư, làm ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống kinh tế, xã hội, truyền thống văn hoá của cộng đồng Đời sống của các hộ gia đình sau khi di dời, TĐC tại nơi ở mới tồn tại rất nhiều vấn đề cần được nghiên cứu, xem xét Chính vì vậy trong nước đã có nhiều nghiên cứu, đánh giá riêng liên
quan đến nhóm hộ gia đình di dân do các dự án thủy điện
Trước hết là một số nghiên cứu, đánh giá, bài viết chung về thực trạng đời sống
Trang 14của các hộ dân sau khi TĐC tại nơi ở mới, như nghiên cứu “Chính sách di dân tái
định cư các công trình thuỷ điện ở việt nam từ góc độ nghiên cứu xã hội” của
PGS.TS Đặng Nguyên Anh được đăng trên tạp chí DS&PT (số 6/2007) Nghiên cứu đưa ra cái nhìn chung nhất về thực trạng công tác TĐC tại các dự án thủy điện, những khó khăn trong quá trình quy hoạch và công tác chuyển dân; đồng thời đề cập đến một số vấn đề về cơ chế quản lý và chính sách bồi thường, hỗ trợ TĐC; đề xuất một số giải pháp khắc phục được các bất cập nói trên và đảm bảo di dân TĐC bền vững
Bên cạnh đó, cũng có nhiều nghiên cứu nhằm tìm hiều thực trạng, nhu cầu và giải quyết một số vấn đề, khía cạnh riêng của nhóm gia đình sau khi di dân- TĐC của các dự án thủy điện Điển hình nhất là các nghiên cứu về sinh kế, nhằm điều tra, đánh giá, tìm hiểu các thông tin về hoạt động kinh tế, nguồn thu nhập… như nghiên
cứu “sinh kế của cộng đồng dân tái định cư vùng lòng hồ sông Đà, huyện Phù Yên,
tỉnh Sơn La” của nhóm nghiên cứu thuộc Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1,
nghiên cứu đã thực hiện điều tra đánh giá hiện trạng kinh tế xã hội, tìm các thông tin về kinh tế hộ gia đình, nguồn thu nhập từ nông nghiệp hay khai thác nuôi trồng thủy sản và các nguồn lực sẵn có tại địa phương ở cộng đồng dân tái định cư vùng lòng hồ sông Đà, Phù Yên, Sơn La Qua đó, chỉ ra được những khó khăn của người dân TĐC, chỉ ra được giải pháp cải thiện sinh kế và bảo tồn bền vững nguồn lợi
thủy sản cho cộng đồng này Hay nghiên cứu “ Tác động của các dự án thủy điện
Tây Nguyên đến sinh kế và văn hóa của người dân tái định cư” của PGS.TS Trần
Văn Đạo được công bố trên Tạp chí Dân tộc học, số 2-2011, tr.11-19 Bài viết hạn
chế trong việc đánh giá ban đầu tác động tích cực và tiêu cực của thuỷ điện Tây Nguyên đến sinh kế và văn hoá của các cộng đồng TĐC là người dân tộc thiểu số,
đề xuất một số kiến nghị, giải pháp làm cơ sở cho hoạch định và xây dựng chính sách tái định cư thủy điện Tây Nguyên thời gian tới…
Ngoài ra cũng có những nghiên cứu phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý, xã hội đến sự thích ứng với môi trường sống của các hộ gia đình di cư trong các dự án thủy điện, hệ thống hóa các lý luận về thích ứng, phân tích và làm sáng tỏ
Trang 15sự thích ứng của dân di cư vùng thủy điện Sơn La, đề xuất kiến nghị nhằm giúp dân
di cư thích ứng nhanh với điều kiện sống mới, như: luận văn tiến sĩ của Nguyễn
Văn Hồng – năm 2012 “nghiên cứu sự thích ứng với điều kiện sống mới của dân di
cư vùng thủy điện Sơn La” bài viết “Ảnh hưởng của thủy điện Sơn La đến công tác
tổ chức quản lý và cố kết cộng đồng của người Thái” của tác giả Vũ Hải Vân được
công bố trên tạp chí dân tộc học số 3- 2011, nghiên cứu nhấn mạnh đến vai trò của các yếu tố văn hóa truyền thống của người dân tộc thái
Đối với nhóm khách thể nghiên cứu là các hộ gia đình di dân – TĐC thủy điện Tuyên Quang nói chung và học sinh thuộc các hộ gia đình này nói riêng, mặc
dù chưa có những nghiên cứu, đánh giá riêng nhằm phân tích, tìm hiểu và giải quyết những vấn đề khó khăn của họ nhưng học sinh thuộc các hộ gia đình cũng phần nào nhận được những chính sách quan tâm, hỗ trợ của Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương về giáo dục Như việc triển khai thực hiện có hiệu quả và đúng quy định Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ về miễn giảm học phí,
hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc
hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010-2011 đến năm học 2014-2015 Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho các trường học để trẻ em nói chung và trẻ em con
hộ nghèo, cận nghèo và hộ dân tộc thiêu số nghèo nói riêng có điều kiện học tập thuận lợi; ưu tiên đầu tư trước cho các cơ sở trường, lớp học ở các xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn đạt chuẩn theo tiêu chí nông thôn mới, mở rộng “Quỹ khuyến học” các cấp…con em một số hộ gia đình TĐC cũng được áp dụng chính sách giáo dục đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo
Đề tài nghiên cứu “Liên kết các hệ thống nguồn lực dựa vào cộng đồng
nhằm hỗ trợ giáo dục cho học sinh thuộc các hộ gia đình tái định cư vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang” (Nghiên cứu tại xã Phúc Thinh – Chiêm Hóa – Tuyên
Quang), mặc dù không phải là một vấn đề nghiên cứu hoàn toàn mới nhưng có thể nhận thấy một số điểm khác biệt đối với các đề tài nghiên cứu về di dân, di cư và TĐC trước đây như sau:
Trang 16Thứ nhất là sự khác biệt về khách thể nghiên cứu, nghiên cứu được tiến hành
với nhóm học sinh dân tộc thiểu số thuộc các hộ gia đình TĐC vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang
Thứ hai, là khác biệt về đối tượng nghiên cứu, đây là nghiên cứu tập trung
đến việc hỗ trợ giáo dục nhằm cải thiện được trình độ học vấn, giải quyết những vấn
đề khác tồn tại trong học đường đối với nhóm học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC
Thứ ba, hoạt động trợ giúp cho nhóm đối tượng được xây dựng bằng cách
khai thác, sử dụng chính những nguồn lực sẵn có trong cộng đồng để trợ giúp
3 Ý nghĩa của nghiên cứu:
Đối với các hộ gia đình TĐC có con em trong độ tuổi đi học: Đề tài nghiên cứu giúp các hộ gia đình TĐC thực hiện được vai trò giáo dục, bảo vệ, quan tâm và chăm sóc trẻ em, mở ra cơ hội thay đổi cuộc sống gia đình sau này
Đối với nhóm học sinh nghèo, dân tộc thiểu số ở miền núi: Đề tài nghiên cứu cũng giúp ích trong việc chỉ ra những thách thức, khó khăn, thiếu thốn chung và những nhu cầu cần được hỗ trợ của những học sinh dân tộc thiểu số nghèo ở miền núi Nghiên cứu cũng chỉ ra được một số hoạt động hỗ trợ giáo dục có thể trợ giúp
Trang 174 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
4.1 Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu hướng tới việc tìm ra cách thức để liên kết các hệ thống nguồn lực trong cộng đồng nhằm cải thiện trình độ học vấn và giải quyết các vấn đề khác tồn tại trong học đường cho học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Mô tả thực trạng hoạt động học tập và nhận diện những khó khăn trong học đường của học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang tại xã Phúc Thịnh, Chiêm Hóa, Tuyên Quang
Xác định nhu cầu cần hỗ trợ đối với hoạt động học tập của học sinh và các
hộ gia đình TĐC
Đánh giá các hệ thống nguồn lực hiện có trong cộng đồng có khả năng hỗ trợ giáo dục cho học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC
Đề xuất hoạt động liên kết các hệ thống nguồn lực dựa vào cộng đồng nhằm
hỗ trợ giáo dục cho học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC
5 Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu:
5.1 Đối tuợng nghiên cứu:
Liên kết các hệ thống nguồn lực nhằm hỗ trợ giáo dục cho học sinh thuộc các
hộ gia đình TĐC vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang (Nghiên cứu trường hợp học
sinh thuộc các hộ gia đình vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang di dân, TĐC tại xã Phúc Thịnh - Chiêm Hóa - Tuyên Quang)
5.2 Khách thể nghiên cứu:
Học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang tại hai thôn: An Thịnh và An Quỳnh thuộc xã Phúc Thịnh, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
Các nguồn lực hỗ trợ giáo dục cho học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang, bao gồm:
- Các hộ gia đình TĐC có con em trong độ tuổi đi học
Trang 18- Các hộ gia đình bản địa tại xã Phúc Thịnh
- Chính quyền và các ban, đoàn thể xã Phúc Thịnh; cán bộ 02 thôn An Thịnh
đường cho học sinh thuộc các gia đình TĐC vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang
Phạm vi về địa bàn nghiên cứu: Nghiên cứu trường hợp học sinh thuộc các
hộ gia đình vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang di dân, TĐC tại xã Phúc Thịnh -
Chiêm Hóa - Tuyên Quang
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 2/2014 - tháng 8/2014
6 Câu hỏi nghiên cứu:
Hoạt động học tập và các vấn đề khó khăn tại học đường của nhóm học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang TĐC tại xã Phúc Thịnh, Chiêm Hóa, Tuyên Quang hiện nay như thế nào?
Những nhu cầu cơ bản nào cần được đáp ứng cho hoạt động học tập của nhóm học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC?
Có những hệ thống nguồn lực nào trong cộng đồng có thể tham qua vào quá trình hỗ trợ giáo dục cho nhóm học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC?
Hoạt động liên kết các hệ thống nguồn lực nhằm hỗ trợ giáo dục cho học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC được thực hiện như thế nào?
7 Giả thuyết nghiên cứu:
Học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang
có một số khó khăn trong hoạt động học tập như: nhận thức chậm, ý thức học tập chưa tốt, kết quả học tập kém
Để cải thiện điều kiện học tập, hỗ trợ để phát triển trí tuệ, đáp ứng các hoạt động học tập, học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC vùng lòng hồ thủy điện Tuyên
Trang 19Quang cần được đáp ứng nhu cầu chăm sóc cả về vật chất và tinh thần Trong cộng đồng, các nguồn lực dựa vào cộng đồng như: Phòng giáo dục huyện Chiêm Hóa, chính quyền địa phương, cán bộ thôn, nhà trường, hội khuyến học và một số nguồn nhân lực khác có thể liên kết để hỗ trợ giáo dục cho nhóm học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp luận:
Cơ sở phương pháp luận của triết học mácxít giúp cho chúng ta một cách nhìn tổng quát chung nhất về sự sinh ra, tồn tại và biến đổi của các sự kiện, các quá trình, các mối quan hệ xã hội mà là đối tượng của nghiên cứu Vì vậy trong nghiên cứu sử dụng hai phương pháp luận điển hình là phương pháp luận duy vật biện chứng và phương pháp luận duy vật lịch sử Đây kim chỉ nam cho toàn bộ công trình nghiên cứu
8.2 Phương pháp thu thập thông tin:
8.2.1 Phương pháp quan sát:
Mục đích của phương pháp quan sát:
- Quan sát môi trường sống, sinh hoạt của nhóm học sinh và các hộ gia đình TĐC nhằm tìm hiểu thực trạng, điều kiện sống, các mối quan hệ; điều kiện và hoạt động học tập của nhóm học sinh
- Quan sát tại trường học nhằm tìm hiểu thực trạng hoạt động học tập, sự hòa đồng và các mối quan hệ của nhóm học sinh với bạn bè và thầy cô giáo
Địa điểm quan sát:
- Quan sát tại gia đình các hộ TĐC; quan sát tại buổi họp thôn
- Quan sát tại trường học (bao gồm trường Tiểu học Phúc Thịnh và trường
THCS Phúc Thịnh)
Cách thức tiến hành quan sát: quan sát không tham dự; nhiều lần
8.2.2 Phương pháp phân tích tài liệu:
Sử dụng phương pháp này nhằm mục đích nắm rõ được các số liệu về số lượng các hộ di dân- TĐC, số hộ nghèo, cận nghèo; số lượng học sinh; thực trạng
Trang 20đời sống, các hoạt động hỗ trợ đối với nhóm học sinh và các hộ gia đình TĐC; đồng thời thông qua các tài liệu của nhà trường nắm được thực trạng hoạt động học tập của nhóm học sinh
Các nguồn tài liệu chính được sử dụng để phân tích: các chương trình, quyết định, báo cáo công tác di dân của Tỉnh Tuyên Quang; báo cáo tổng của ban di dân TĐC huyện Chiêm Hóa; báo cáo, theo dõi của xã Phúc Thịnh, các biên bản họp thôn; báo cáo của nhà trường…
8.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu:
Mục đích của phương pháp phỏng vấn sâu: Thu thập thông tin về thực trạng đời sống của các hộ gia đình TĐC; thực trạng hoạt động học tập của nhóm học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC, nắm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động học tập của nhóm học sinh Xác định được các nhu cầu cần được đáp ứng nhằm hỗ trợ giáo dục cho nhóm học sinh và gia đình; đồng thời xác định được các nguồn lực sẵn có tại cộng đồng có tiềm năng và khả năng tham gia vào quá trình hỗ trợ giáo dục cho nhóm học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC
Số lượng phỏng vấn sâu được tiến hành: 23 phỏng vấn sâu, cụ thể:
- 5 học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC: 2 học sinh đã bỏ học, 2 học sinh
THPT, 1 học sinh THCS
- 4 PHHS các hộ gia đình TĐC: 1 PHHS có con đã bỏ học, 1 PHHS Tiểu
học, 1 PHHS THCS, 1 PHHS THPT
- 3 PHHS tại địa phương
- 2 học sinh tại địa phương: 1 học sinh THCS, 1 học sinh THPT
- 4 giáo viên: 2 giáo viên Tiểu học, 2 giáo viên THCS
- 5 cán bộ (xã, thôn): 2 cán bộ xã, 2 trưởng thôn, 1 cán bộ phụ nữ thôn
8.2.4 Thảo luận nhóm tập trung:
Mục đích của thảo luận nhóm: Nhằm tìm hiểu thực trạng đời sống, hoạt động học tập của nhóm học sinh Xác định được các nhu cầu cần được hỗ trợ của nhóm học sinh và gia đình; đặc biệt thông qua thảo luận nhóm xác định được thứ tự ưu tiên các nhu cầu cần hỗ trợ cho hoạt động học tập, qua đó lựa chọn được các nhu
Trang 21cầu ưu tiên cần giải quyết Đồng thời, phương pháp này còn được sử dụng để đánh giá các nguồn lực hỗ trợ chính tại địa phương, xây dựng được kế hoạch trợ giúp cho nhóm học sinh
Số lượng nhóm : 04 nhóm (Từ 04 – 06 người/ nhóm), bao gồm:
- Nhóm học sinh (Học sinh THPT và THCS): 06 người / nhóm
- Nhóm PHHS ( Thảo luận với nhóm mẹ học sinh): 06 người / nhóm
- Điểm được xác định sẵn dựa trên từng mức độ mong muốn thứ tự 1, 2, 3, 4, 5 Sau khi những người tham gia thảo luận nhóm đã lựa chọn xong, thu lại mảnh giấy đó và cộng điểm Từ tổng điểm xác định được thứ tự ưu tiên các nhu cầu Đây chính là cách thức để có được bảng sắp xếp thứ tự các vấn đề cần ưu tiên giải quyết
do mỗi nhóm xác định
Trang 22NỘI DUNG CHÍNH Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU
1.1 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu:
1.1.1 Lý thuyết nhu cầu:
Nhu cầu là yếu tố tất yếu, cần thiết để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân, nhóm và cộng đồng Nếu nhu cầu được thoả mãn thì sẽ tạo nên cảm giác thoải mái và an toàn cho sự phát triển Ngược lại nếu không được đáp ứng thì sẽ gây nên sự căng thẳng và có thể dẫn đến những hậu quả nhất định Nhu cầu khác với ý muốn Ý muốn là điều mà ta mong muốn, còn nhu cầu là cái gì đó mà khi thiếu thì sẽ dẫn đến những hạn chế trong quá trình phát triển con người Chính vì vậy
mà mục tiêu của công tác xã hội là tăng cường khả năng hoạt động cá nhân hay tổ chức thông qua đáp ứng nhu cầu của đối tượng
Vì khách thể được trực tiếp nghiên cứu trong đề tài này là nhóm học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang nên việc xem xét, đánh giá các nhu cầu của đối tượng là vô cùng quan trọng Với mục đích là hỗ trợ giáo dục cho nhóm trẻ em này nên nên việc tìm hiểu và đánh giá nhu cầu sẽ là cơ sở
để đưa ra được những hoạt động hỗ trợ phù hợp nhất, mang lại hiệu quả nhất đối với nhóm trẻ
Có rất nhiều cách phân loại nhu cầu khác nhau, nhưng với đề tài nghiên cứu
“Liên kết các hệ thống nguồn lực nhằm hỗ trợ giáo dục cho học sinh thuộc các hộ
gia đình tái định cư vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang” có thể sử dụng thang nhu
cầu của Maslow để chỉ ra được những nhu cầu cơ bản mà các em học sinh và gia đình cần được đáp ứng Theo Maslow, con người có những nhu cầu được sắp xếp theo thứ
tự bậc thang từ thấp đến cao, từ nhu cầu thiết yếu đến nhu cầu thứ yếu Sự thoả mãn nhu cầu của con người cũng theo các bậc thang đó Cụ thể trong nghiên cứu này, đối với nhóm học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC thì việc đánh giá nhu cầu theo bậc thang nhu cầu của Maslow cần lưu ý đến những nhu cầu cơ bản sau:
Trang 23- Nhu cầu cơ bản (basic needs): thực phẩm, nước uống, điều kiện chăm sóc sức khoẻ Đây là những nhu cầu cơ bản mà bất cứ ai cũng cần được đáp ứng
- Nhu cầu an toàn (safety needs): Đó là tình yêu thương của mọi người trong gia đình, họ hàng, bạn bè , giúp các em biết cách cho và nhận tình yêu thương của nhân loại, học cách gánh vác trách nhiệm của cha mẹ, anh chị
- Nhu cầu về xã hội (social needs): nhu cầu được hoà nhập, được thuộc về nhóm nào đó
- Nhu cầu về được quý trọng (esteem needs): được chấp nhận có vị trí trong một nhóm người, cộng đồng, xã hội…
- Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs): nhu cầu được hoàn thiện, phát triển trí tuệ, được thể hiện khả năng và tiềm lực của mình…[20]
Nhìn chung với nghiên cứu về hỗ trợ giáo dục cho học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC trước hết cần tìm hiểu kỹ những vấn đề tồn tại đối với nhóm trẻ Qua đó xác định được những nhu cầu còn thiếu của các em, từ những nhu cầu vật chất cơ bản nhất đến nhu cầu được hòa nhập, nhu cầu phát triển được thể hiện bản thân Vì đây là giai đoạn các em cần được đáp ứng đầy đủ các điều kiện để việc phát triển được hoàn thiện nhất, đặc biệt là phát triển trí tuệ
1.1.2 Lý thuyết hệ thống:
Đây là một thuyết quan trọng được vận dụng trong công tác xã hội nhằm chỉ cho thân chủ, nhóm thân chủ và cộng đồng những gì họ thiếu và những hệ thống nguồn lực nào họ có thể tiếp cận và tham gia, hội nhập Bởi trọng tâm của hệ thống là hướng đến cái tổng thể và mang tính hoà nhập Nguyên tắc về cách tiếp cận này chính là các cá nhân phụ thuộc vào hệ thống trong môi trường xã hội trung gian của họ nhằm thoả mãn được cuộc sống riêng Do đó, công tác xã hội phải nhấn mạnh đến các hệ thống như vậy trong quá trình trợ giúp cho nhóm đối tượng
Theo định nghĩa của Lý thuyết công tác xã hội hiện đại [26, tr.192-193]: “Hệ
thống là một tập hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau để hoạt động thống nhất.” Theo lý thuyết này, con người phụ thuộc vào những hệ
Trang 24thống trong môi trường xã hội trực tiếp của họ Có rất nhiều cách phân loại hệ thống, theo tính chất thì công tác xã hội chú ý đến 3 hệ thống:
- Các hệ thống phi chính thức hay còn gọi là các hệ thống thân tình hay tự nhiên như gia đình, bạn bè, người thân hay đồng nghiệp
- Các hệ thống chính thức như các cơ quan, tổ chức của nhà nước, hay các tổ chức công đoàn…
- Các hệ thống tập trung như của các tổ chức xã hội như bệnh viện, trường học… Hay phân loại theo cấp độ thì hệ thống cũng được chia làm ba cấp độ:
- Vĩ mô: Cá nhân
- Trung mô: Gia đình, cộng đồng, cơ quan nhà nước tại cộng đồng
- Vĩ mô: Các hệ thống xã hội, chính sách, các cơ quan nhà nước…
Đối với khách thể là nhóm học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC cần lưu ý đến các hệ thống như: gia đình, bạn bè, nhà trường (giáo viên), chính quyền địa phương Đây là những hệ thống gần gũi và tiếp xúc thường xuyên nhất với nhóm học sinh này Cần thu thập thông tin và khai thác nguồn lực từ chính các hệ thống này để nhận diện rõ vấn đề và có thể trợ giúp cho đối tượng Bên cạnh đó cũng cần chú ý đến các chức năng của hệ thống như: tính thích ứng, hội nhập của các tiểu
hệ thống trong một hệ thống lớn để có thể phát huy, sử dụng tối đa các hệ thống nguồn lực trong cộng đồng Cụ thể là trong nghiên cứu này có thể liên kết tối đa các
hệ thống để hỗ trợ giáo dục cho các em học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC
1.2 Các khái niệm công cụ:
Trang 251.2.2 Nguồn lực dựa vào cộng đồng
Trước khi tìm hiểu khái niệm nguồn lực dựa vào cộng đồng, cần hiểu rõ hai khái niệm “nguồn lực” và “cộng đồng”
Thứ nhất, đối với khái niệm “nguồn lực”: Theo định nghĩa chung nhất,
nguồn lực là một hệ thống các nhân tố mà mỗi nhân tố đó có vai trò riêng nhưng có mối quan hệ với nhau tạo nên sự phát triển của sự vật hiện tượng nào đó Tuy nhiên
có một số cách hiểu về nguồn lực như sau:
Trước hết, tham khảo theo quan niệm của Ngân hàng thế giới nguồn lực của
con người gồm có:
- Nguồn lực tự nhiên: Tài nguyên thiên nhiên (khoảng sản, đất đai, rừng,
nước, khí hậu…); vị trí địa lý (đường bộ, đường thủy, đường không)
- Nguồn lực vốn: nội lực (ngân sách nhà nước, đóng góp của nhân dân); ngoại lực (đầu tư thông qua con đường hợp tác chính phủ)
Hay theo quan niệm của các nhà khoa học Việt Nam thì nguồn lực con người
là tổng thể những yếu tố thuộc về thể chất, tinh thần, phẩm chất, đạo đức, trình độ tri thức, vị thế xã hội… tạo nên năng lực của con người, của cộng đồng có thể sử dụng, phát huy trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và trong các hoạt động xã hội khác
Thứ hai là khái niệm “cộng đồng”: Khái niệm cộng đồng rất mở và phong
phú, ít khi bị giới hạn bởi địa lý Đây là một khái niệm rất quan trọng, cần được hiểu rõ trước khi sử dụng cách thức tiếp cận dựa vào cộng đồng để xây dựng kế hoạch hỗ trợ cho nhóm đối tượng Có một số định nghĩa khác nhau về cộng đồng như sau:
1)Cộng đồng là một thực thể xã hội có cơ cấu tổ chức (chặt chẽ hoặc không
chặt chẽ), là một nhóm người cùng chia sẻ và chịu rằng buộc bởi các đặc điểm và lợi ích chung được thiết lập thông qua tương tác và trao đổi giữa các thành viên [21, tr.43]
Trang 262)Theo Từ điển tiếng Anh của trường đại học OXFORD, định nghĩa: i)Cộng
đồng là tập thể người sống trong cùng một khu vực, một tỉnh hoặc một quốc gia và
được xem như một khối tương đối đồng nhất; ii) Cộng đồng là một nhóm người có
cùng tín ngưỡng, cùng chủng tộc, cùng loại hình nghề nghiệp…hoặc cùng các mối
quan tâm; iii) Là một tập thể cùng chia sẻ, hoặc có tài nguyên chung, hoặc có tình
trạng tương tự nhau về một khía cạnh nào đó [15]
Đối với nghiên cứu này cộng đồng được hiểu là tập hợp nhóm người sống cùng một khu vực, có cùng đặc điểm, nguồn tài nguyên và cùng nhau chia sẻ mối quan tâm chung
Như vậy, dựa trên hai khái niệm “nguồn lực” và “cộng đồng” trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, khái niệm nguồn lực dựa vào cộng đồng được hiểu là những hệ thống nguồn lực sẵn có trong cộng đồng bao gồm nguồn lực vật chất, các thiết chế, tổ chức chính trị xã hội, nguồn nhân lực tại địa phương; các nguồn lực này có mối liên kết với nhau cùng hỗ trợ, chia sẻ những mối quan tâm chung của cộng đồng
1.2.3 Giáo dục và hỗ trợ giáo dục
Đối với khái niệm về giáo dục, có một số định nghĩa như sau:
Về cơ bản, các giáo trình về giáo dục học ở Việt Nam đều đưa ra định nghĩa:
"Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người…” [17, tr.9] Định nghĩa nhấn mạnh đến sự truyền đạt và lĩnh hội giữa các thế hệ, nhấn mạnh đến yếu tố dạy học của giáo dục
Theo Từ điển Tiếng Việt [12, tr 379] đưa ra định nghĩa: 1)Giáo dục là hoạt
động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một nhóm đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm
chất và năng lực như yêu cầu đề ra 2) Giáo dục là hệ thống các biện pháp và cơ
quan giảng dạy – giáo dục của một nước (nền giáo dục, ngành giáo dục…)
Quá trình giáo dục là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức của giáo viên và học sinh, hình thành những quan điểm, niềm tin, giá trị, động cơ, thái độ, hành vi, thói quen phù hợp với những chuẩn mực chính trị, đạo đức, pháp luật, thẩm
Trang 27mĩ, văn hóa, làm phát triển nhân cách học sinh theo mục đích giáo dục của nhà trường và xã hội
Mục đích giáo dục có vai trò định hướng cho sự vận động, phát triển của các thành tố khác của quá trình giáo dục (nội dung, phương pháp, phương thức giáo dục…) và định hướng cho toàn bộ quá trình giáo dục [11, tr.8]
Đối với đề tài nghiên cứu này thì Hỗ trợ giáo dục được tác giả luận văn cho
là những hỗ trợ về vật chất và tinh thần của các hệ thống nguồn lực trong cộng đồng nhằm cải thiện trình độ học vấn (tình trạng đi học, nhận thức, kết quả học tập) và giải quyết các vấn đề tại học đường (hòa nhập) cho học sinh Nhằm đáp ứng được
sự phát triển về thể chất, tinh thần, trí tuệ cho các em học sinh
1.2.4 Học sinh:
Học sinh được hiểu với tư cách là khách thể của quá trình giáo dục, nhận sự tác động có định hướng, có kế hoạch, có phương pháp, có tổ chức, có hệ thống của giáo viên và nhà giáo dục.[11,tr.9]
1.2.5 Gia đình:
Tuỳ thuộc vào quan điểm và các phương pháp tiếp cận, người ta có thể đưa
ra những khái niệm khác nhau về Gia đình Tuy nhiên, nhiều quốc gia đồng thuận
một cách hiểu chung nhất theo như Tuyên bố của Liên hợp quốc về tiến bộ xã hội
trong phát triển đã nêu ra: “Gia đình là đơn vị cơ bản của tổ chức xã hội và là môi
trường tự nhiên cho sự phát triển và hạnh phúc của mỗi thành viên, nhất là trẻ em"
Ở Việt Nam, một định nghĩa về Gia đình được nhiều nhà xã hội học thừa nhận: "Gia đình là một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở các quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng Các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn hoá, tình cảm) Giữa họ là những ràng buộc có tính pháp lý được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ, đồng thời có những qui định rõ ràng về quyền được phép và những cấm đoán trong quan hệ tình dục giữa các thành viên gia đình" [18,tr.190]
Ngoài ra, theo Chương 1- Điều 8- Khoản 10- Những qui định chung, Luật
Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 định nghĩa: Gia đình là tập hợp những
Trang 28người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo qui định [33]
1.2.6 Tái định cư:
Theo quy định tại điều 4 Nghị định 197/2004/NĐ–CP ngày 03/12/2004 của
Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất có quy định về “tái
định cư” như sau: “Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại
Nghị định này mà phải di chuyển chỗ ở thì được bố trí TĐC bằng một trong các hình thức sau:
1 Bồi thường bằng nhà ở
2 Bồi thường bằng giao đất ở mới
3 Bồi thường bằng tiền để tự lo chỗ ở mới.” [32]
Như vậy mặc dù Pháp luật Việt Nam không giải thích khái niệm TĐC; có thể khái quát rằng, TĐC là việc bố trí chỗ ở mới cho người bị thu hồi đất mà không còn chỗ ở nào khác trong phạm vi cấp xã nơi có đất bị thu hồi và phải di chuyển chỗ ở
Hình thức TĐC bao gồm: bằng nhà ở, bằng đất ở hoặc bằng tiền
Đối với đề tài nghiên cứu đề cập đến vấn đề di dân - TĐC dự án thủy điện Tuyên Quang, thì đây cũng là một hình thức TĐC bắt buộc dưới sự quản lý, quy hoạch và giám sát của nhà nước Người dân di chuyển, được bố trí TĐC bằng việc
giao đất ở mới và tiền bồi thường để lo chỗ ở mới
1.3 Các cách thức tiếp cận trong phát triển cộng đồng
Trong phát triển cộng đồng có nhiều các mô thức hay cách thức tiếp cận cộng đồng Những cách thức này được sử dụng nhằm làm rõ, phân tích các khía cạnh sau khi làm phát triển cộng đồng:
hình hay cách thức liên kết [25, tr.194-195]
Trang 29Dưới đây xin chỉ ra 5 mô thức hay cách thức tiếp cận thường được sử dụng trong phát triển cộng đồng:
Bảng 1.1: Các cách thức tiếp cận trong phát triển cộng đồng
Cách tiếp cận Hệ thống
thân chủ Các mục tiêu
Hệ thống hành động
Hệ thống mục tiêu Cách tiếp cận 1:
- Người cư trú trong cộng đồng
- Trợ giúp
- Hỗ trợ lẫn nhau
- Thúc đẩy cộng đồng
- Phát triển sự kiểm soát người cư trú
- Sự liên quan trong cộng đồng
- Các thành viên
- Người cư trú
trong cộng đồng
- Các thành viên trong cộng đồng
- Những thành viên nắm giữ nguồn lực
- Nhà hoạch định chính sách
đồng
- Phát triển những chính sách sẵn có và thông tin, vấn đề dịch vụ
- Thiết lập các ưu tiên và mục tiêu cho phát triển quy mô rộng hơn
- Các nhà nghiên cứu, nhà thu thập
dữ liệu
- Người ra quyết định
- Người nắm giữ thông tin
- Quản lý tài sản/ nguồn lực
- Xây dựng các mục tiêu chung và nền tảng giá trị, tìm kiếm những
- Các nhà gây quỹ và hoạch định chính sách
- Các thành viên cộng đồng
- Những thành
Trang 30vụ
tác nhân trụ cột có ảnh hưởng…
- Ảnh hưởng tới những thay đổi chính sách
- Tìm/ chia sẻ các nguồn lực
- Thúc đẩy hiệu quả
quan
viên nắm giữ nguồn lực
- Nhà hoạch định chính sách
viên
- Mở rộng hay tái định hướng dịch vụ
- Phát triển dịch vụ mới
- Thúc đẩy hiệu quả
- Cộng đồng bao
người sử dụng dịch vụ
- Người quản lý,
cơ quan, tổ chức
cung cấp dịch vụ
- Người sử dụng dịch vụ
- Giảm kì thị, phân biệt và lạm dụng
- Giáo dục cộng đồng
- Tiếp cận các nguồn lực
- Các thành viên cộng đồng
- Các thành viên trong gia đình
- Những thành viên khác quan tâm
- Nhà hoạch định chính sách ở mọi cấp
- Cộng đồng nói chung
- Nhà nắm giữ/ quản
lý tài sản/ nguồn lực địa phương
(Tổng hợp từ các nguồn: Pincus và Minahan (1973) [25, tr.194-195] và [9]
Trang 311.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu:
1.4.1 Bối cảnh địa bàn xã Phúc Thịnh:
Bản đồ hành chính
Về vị trí, địa lý và địa hình thì xã Phúc Thịnh nằm ở cửa ngõ phía tây của huyện Chiêm Hóa, bám theo trục đường tỉnh lộ và liền kề với trung tâm huyện lỵ Phía bắc giáp xã Tân An, xã Xuân Quang; phía nam giáp xã Tân Thịnh, xã Trung Hòa; phía đông giáp thị trấn Vĩnh Lộc và phía tây giáp xã Tân Thịnh Tính từ các điểm tận cùng theo hướng bắc – nam, đông – tây chiều rộng của xã khoảng 4km, chiều dài khoảng 8km Địa hình xã có thung lũng nhỏ tương đối bằng phẳng, bao bọc bởi các dãy núi cao, độ dốc lớn và nhiều đồi cao thấp kế tiếp, chia cắt địa hình bằng các khe, suối Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 2.127,52 ha, trong đó đất đất nông nghiệp 471,31 ha = 22,15%, đất canh tác trồng lúa 226,43 ha = 11,6 % Toàn xã có 11 thôn, 1052 hộ = 4.393 khẩu gồm 11 dân tộc cùng chung sống đoàn kết, trong đó chủ yếu là dân tộc Tày, Kinh và Nùng Đại bộ phận nhân dân trong xã
Trang 32chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí không đồng đều
Hiện nay, cơ cấu ban lãnh đạo xã bao gồm: Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, UBND, mặt trận tổ quốc và các đoàn thể Trong đó bao gồm các đoàn thể: Hội cựu chiến binh; hội phụ nữ; hội nông dân; hội Đoàn thanh niên; hội khuyến học; hội chữ thập đỏ Ngoài
ra, tại địa phương còn có một số câu lạc bộ đang tiến hành sinh hoạt định kỳ như: Câu lạc bộ thể dục thể thao, câu lạc bộ thơ, câu lạc bộ văn hoá- văn nghệ…
Về các hoạt động kinh tế, thu nhập của dân trên địa bàn xã chủ yếu vẫn từ sản
xuất nông nghiệp Theo Số liệu thu được từ báo cáo tổng kết năm 2013 của UBND xã
Phúc Thịnh thì trong năm 2013 tổng sản lượng lương thực đạt 3.011/2.779 tấn =
108% kế hoạch, tăng so với cùng kỳ 2012 là 174,9 tấn; thu nhập bình quân đầu người 1.100.000đ/người/tháng; hệ số sử dụng đất 2,68/2,71 lần = 98,8% Số hộ khá, giàu chiếm 2,47%; số hộ trung bình chiếm 83,02%; số hộ nghèo theo chuẩn mới chiếm 14,51% Xã Phúc Thịnh cũng có nhiều hoạt động văn hóa – xã hội được tổ chức như
triển khai thực hiện có hiệu quả phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn
hoá ở khu dân cư”, phong trào đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá được nhân dân tích
cực hưởng ứng Các tệ nạn xã hội, hủ tục lạc hậu được đẩy lùi; đời sống văn hoá của nhân dân đã có nhiều đổi thay tiến bộ, tỷ lệ thôn bản và hộ gia đình văn hoá đạt trên 85% Hàng năm tổ chức tốt các buổi hội diễn văn nghệ quần chúng và giao lưu văn hóa văn nghệ
Bên cạnh đó thì hoạt động giáo dục, y tế và chăm sóc sức khỏe của người dân cũng rất được chú trọng Trước hết dối với hoạt động giáo dục thì hiện nay tại địa phương quy mô trường, lớp các bậc học phát triển Huy động trẻ em trong độ tuổi đến trường đạt tỷ lệ 100%; học sinh lên lớp và tốt nghiệp các cấp học hàng năm đạt trên 90% Ngoài ra, đại phương cũng duy trì tốt phổ cập tiểu học đúng độ tuổi
và phổ cập trung học cơ sở và phổ cập giáo dục cho trẻ bậc mầm non 5 tuổi và thực hiện có hiệu quả công tác xã hội hóa giáo dục Hiện nay, trong xã có 01 trường mầm non: gồm 230 học sinh/ 10 lớp/10 phòng học; 01 trường tiểu học được công nhận đạt chuẩn quốc gia và 1 số phòng học ở dưới thôn đã được xây dựng lâu và đa số là phòng
Trang 33cấp 4 Tổng Số học sinh hiện có của trường 247 học sinh/14 lớp học, 21 cán bộ, giáo viên Tại địa phương cũng có 01 trường THCS tại trung tâm xã trường mới được đầu tư xây dựng nhà 2 tầng gồm 11 lớp học/220 học sinh Hội khuyến học xã Phúc Thịnh hoạt động rất thường xuyên, với nhiều hội viên tham gia và đã sử dụng quỹ để cấp học bổng và trao thưởng cho một lượng lớn số học sinh trong xã Về công tác y tế- chăm sóc sức khỏe thì tại xã mạng lưới y tế được củng cố từ xã đến thôn, 11/11 thôn có cán bộ y tế Công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân luôn được duy trì và thực hiện tốt
Ngoài ra, vấn đề giải quyết việc làm, tăng thu nhập của người lao động chính quyền xã luôn quan tâm bằng cách tạo việc làm cho bộ đội xuất ngũ, thanh niên học xong không có việc làm, đối tượng sau cai nghiện ma tuý…đã góp phần tích cực vào hoàn thành các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương, nhằm góp phần ổn định cuộc sống gia đình Xã đã tập trung lãnh đạo trong công tác xoá đói giảm nghèo bằng nhiều hình thức; chỉ đạo rà soát, đánh giá, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến nghèo của từng hộ, từ đó để có biện pháp giúp đỡ thích hợp, xây dựng các
mô hình thoát nghèo điển hình, bền vững để nhân rộng; xây dựng, duy trì, quản lý
tốt quỹ Vì người nghèo; tạo điều kiện cho các hộ nghèo vay vốn sản xuất, tập huấn
kỹ thuật sản xuất; huy động cán bộ, đảng viên, nhân dân và cộng đồng dòng họ giúp các hộ nghèo làm nhà, sửa nhà; đảm bảo các hộ nghèo có nhà ở ổn định an tâm sản xuất, ổn định đời sống
Hoạt động an sinh xã hội – công tác xã hội tại xã Phúc Thịnh cũng rất được quan tâm thực hiện Các chế độ chính sách theo quy định được thực hiện đầy đủ,
kịp thời, có thể kể đến một số hoạt động như sau: Theo số liệu thống kê về công tác
hỗ trợ người nghèo của UBND xã Phúc Thịnh thì trong năm 2013 xã đã tiến hành
hỗ trợ được cho 22 hộ nghèo (trong đó có 17 hộ dân tộc thiểu số) Một số hoạt động
hỗ trợ được thực hiện như: trợ cấp cho hộ nghèo hàng tháng; hỗ trợ kinh phí làm nhà; hỗ trợ quà tết nguyên đán…
Hiện nay toàn xã Phúc Thịnh có tổng số 65 người khuyết tật, trong đó có 51/65 người khuyết tật đã được hưởng chính sách Cụ thể có 02 người khuyết tật được
Trang 34hưởng chính sách người có công; 02 người được hưởng bảo hiểm xã hội (tai nạn lao động); còn lại 47 người được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng theo nghị định 67 và
nghị định 28 của Chính Phủ (Theo báo cáo rà soát việc thực hiện chính sách đối với
người khuyết tật năm 2013) Cán bộ UBND xã Phúc Thịnh đã cố gắng rà soát, kiểm
tra đúng đối tượng, tuyên truyền tới từng nhóm đối tượng người khuyết tật để họ biết đến các chính sách hỗ trợ và được nhận hỗ trợ theo đúng quy định
Đối với người cao tuổi thì hiện nay đã toàn xã có 205/206 người cao tuổi được hưởng các chính sách trợ giúp, được hưởng trợ cấp hàng tháng trong xã Trong đó
có 116 người cao tuổi (từ 60 tuổi đến 79 tuổi) đang được hưởng trợ cấp BHXH (91 người), trợ cấp người cao tuổi (16 người) và trợ cấp BTXH (9 người); và có 89 người cao tuổi từ 80 tuổi trở lên đang được hưởng trợ cấp BHXH (14 người), trợ
cấp người cao tuổi (14 người) và trợ cấp BTXH (61 người) (Theo báo cáo công
tác trợ giúp người cao tuổi tính đến tháng 7/2013 của UBND xã Phúc Thịnh)
Ngoài ra cán bộ phụ trách mảng đối tượng chính sách xã hội cũng luôn tham gia các khóa tập huấn về hỗ trợ người cao tuổi của tỉnh, để có thêm nhiều kiến thức, kinh nghiệm và cập nhật được nhiều thông tin hơn trong hoạt động hỗ trợ người cao tuổi
1.4.2 Khái quát về công tác TĐC dự án thủy điện Tuyên Quang tại xã Phúc Thịnh
1.3.2.1.Vài nét về công tác di dân, TĐC dự án thủy điện Tuyên Quang:
Khi dự án đầu tư xây dựng công trình nhà máy thủy điện Tuyên Quang được tiến hành khởi công, xây dựng đã phải di dời và bố trí TĐC cho một bộ phận lớn nhân dân thuộc khu vực lòng hồ và mặt bằng công trình nhà máy thủy điện Có thể chỉ ra một số nét khái quát chung về công tác di dân, TĐC dự án thủy điện Tuyên Quang thực hiện trên địa bàn toàn tỉnh như sau:
Trước hết là về công tác di dân, theo số liệu thu được từ kết quả điều tra,
thống kê của ban di dân tỉnh Tuyên Quang thì toàn bộ vùng lòng hồ và mặt bằng công trình chính có 4.139 hộ, 20.138 khẩu phải di chuyển TĐC thuộc 88 thôn, bản,
tổ dân phố chiếm 29,5% so với tổng số 298 thôn, bản của toàn huyện Na Hang Trong đó có 04 xã phải di chuyển 100% số bản khỏi địa bàn xã; có 07 xã, 01 thị trấn
Trang 35bị ảnh hưởng, có một phần dân số phải chuyển đi Nhân dân trong vùng ngập và vùng bị ảnh hưởng bởi dự án thủy điện chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 89,8% gồm: Tày 54,8%; Dao 29,2%; H’Mông 5,8%, còn lại dân tộc Kinh là 10,2% Nghề nghiệp chủ yếu là sản xuất nông nghiệp (chiếm 92%) Trong 11 xã vùng lòng
hồ thủy Tuyên Quang có quyết định di chuyển vào năm 2003 thì số hộ giàu chiếm 1,2%; hộ khá chiếm 10,4%; hộ trung bình 80,3% và hộ nghèo chiếm 11,35% cao gấp 1,74 lần bình quân chung toàn tỉnh (6,54%) [20, tr.8]
Còn về công tác bố trí TĐC thì tính đến năm 2010 tỉnh Tuyên Quang đã tổ
chức bố trí di chuyển và sắp xếp TĐC cho 4.113 hộ, 20.423 khẩu, được bố trí ở 125 điểm thuộc 42 tại 04 huyện Na Hang, Chiêm Hóa, Hàm Yên và Yên Sơn Nhìn vào bảng thống kê dưới đây có thể thấy được số lượng các hộ gia đình, khẩu di chuyển theo từng năm như sau:
Bảng 1.2: Số lƣợng các hộ, khẩu TĐC dự án thủy điện Tuyên Quang STT Năm Số hộ di chuyển Số khẩu di chuyển
Để nắm bắt về đời sống của người dân TĐC, UBND các huyện Na Hang, Chiêm Hóa, Hàm Yên, Yên Sơn đã tiến hành điều tra tại 3.688 hộ/ 3.923 hộ TĐC vào tháng 4/2010, kết quả thu được như sau:
Trang 36Bảng 1.3: Đặc điểm đời sống các hộ gia đình TĐC dự án thủy điện
930 hộ (25,22% )
577 hộ (15,65%)
Nhìn vào bảng 1.3 ta thấy đời sống của các hộ gia đình TĐC chủ yếu ở mức
độ trung bình Trong đó tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo trong cộng đồng nhân dân TĐC vẫn còn cao, phân bố đồng đều tại các huyện Điều này cho thấy việc lồng ghép mục tiêu xóa đói, giảm nghèo với chính sách bồi thường của dự án chưa đạt hiệu quả cao Đời sống nhân dân còn thiếu bền vững, tiềm ẩn nhiều rủi ro, tỷ lệ hộ nghèo có thể tăng đột biến chỉ với các biến cố thông thường như khô hạn, dịch bệnh ảnh hưởng xấu đến sản xuất chỉ trong một hoặc hai vụ
1.3.2.2.Vài nét về công tác TĐC tại xã Phúc Thịnh:
Dựa trên những số liệu thu được từ các Quyết định của UBND tỉnh Tuyên Quang về công tác TĐC tại xã Phúc Thịnh, huyện Chiêm Hóa thì tính từ tháng 4/2005 đến tháng 11/2009 tại địa bàn xã Phúc Thịnh đã tiếp nhận tổng số 109 hộ gia đình, tương ứng với 539 khẩu từ xã Đà Vị, huyện Na Hang Tuy nhiên đến tháng 11/2009 UBND tỉnh Tuyên Quang đã quyết định cho 14 hộ; 61 khẩu được tự di chuyển trên địa bàn huyện Na Hang Như vậy tính đến thời điểm hiện tại số hộ gia đình TĐC trên địa bàn còn lại là 95 hộ, TĐC tại 03 điểm riêng biệt thuộc thôn An Thịnh (01 điểm – 31 hộ) và thôn An Quỳnh (02 điểm – 64 hộ) của xã Phúc Thịnh, mỗi một điểm TĐC cách nhau từ 0,5km – 1km
Trang 37Sau khi tiến hành bố trí TĐC cho các hộ gia đình, chính quyền địa phương cũng đã thực hiện nhiều chương trình, chính sách hỗ trợ cho các điểm và các hộ TĐC Trước hết các hộ đều được giao đất ở và đất sản xuất Cụ thể: đất ở bình quân
Các hộ TĐC đều được thanh toán đầy đủ các khoản đền bù, hỗ trợ theo đúng quy định của Nhà nước Mỗi hộ TÐC được đền bù bình quân 105 triệu đồng [21]
Ngoài ra việc xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật tại các điểm TĐC cũng đã được tiến hành Trước hết là Xây dựng đường giao thông, các tuyến
đường trong khu vực đến các điểm TĐC đều đã được đầu tư xây dựng mới và mở rộng nâng cấp với tổng chiều dài là 7.264 km theo tiêu chuẩn đường nông thôn loại
A, các tuyến đường liên thôn, đường từ các điểm TĐC đi khu sản xuất cũng được đầu tư xây dựng mới và mở rộng nâng cấp với tổng chiều dài 3,61km, theo tiêu
chuẩn đường giao thông nông thôn loại B Ngoài ra các công trình thủy lợi cũng
được tiến hành xây dựng như đập và kênh tưới nước; tu sửa, nâng cấp các công trình thủy lợi trong địa bàn có đất sản xuất của các hộ TĐC để đảm bảo nước tưới
tiêu cho cây trồng Xây dựng các hệ thống cấp điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất
cho khu như: Xây dựng và lắp đặt trạm biến áp; xây dựng mới một số km đường dây điện tại 03 điểm TĐC; lắp đặt hoàn chỉnh đường dây cấp điện tới đầu nhà cho các hộ TĐC gồm có hộp đựng công tơ, công tơ, dây băng, cầu giao, cầu chì Hệ
thống cấp nước sinh hoạt cũng được tiến hành xây dựng theo tiêu chuẩn cấp nước
sinh hoạt khu TĐC thủy điện Tuyên Quang bao gồm giếng khoan, trạm bơm nước,
bể lọc và hệ thống đường ống bơm nước lên bể lọc; đường ống nước từ bể lọc về khu dân cư, từ hệ thống cấp nước đến bể trữ nước của các hộ TĐC cấp nước cho 03 điểm TĐC trong xã và dân sở tại lân cận sử dụng ; mỗi hộ TĐC 01 bể chứa nước
trình hạ tầng xã hội cũng được xây dựng, bao gồm: Hỗ trợ kinh phí xây dựng 02
nhà lớp học 2 tầng gồm 12 phòng học tại trường tiểu học và trường THCS trung tâm xã theo đúng tiêu chuẩn xây dựng khu TĐC thủy điện Tuyên Quang Đồng thời trạm y tế của xã cũng được cải tạo, nâng cấp, xây thêm phòng khám, chữa bệnh và
Trang 38phòng bệnh cho bệnh nhân, tuyển thêm các cán bộ y tế xã để phục vụ tốt cho công tác y tế, chăm sóc sức khỏe cho người dân sau khi số hộ gia đình trong xã tăng lên Xây dựng 02 nhà văn hóa thôn tại thôn An Thịnh và thôn An Quỳnh, 01 lớp học mầm non thôn bản tại điểm TĐC thôn An Quỳnh với quy mô và mua sắm trang thiết bị theo đúng tiêu chuẩn xây dựng khu TĐC thủy điện Tuyên Quang Hỗ trợ san nền 01 sân thể thao phục vụ chung cho 02 điểm TĐC An Thịnh và An Quỳnh Ngoài ra cũng có chính sách hỗ trợ về giáo dục cho các học sinh thuộc các hộ TĐC trong vòng 03 năm đầu mới chuyển xuống Nhóm học sinh này được miễn toàn bộ các khoản đóng góp ở trường, được hỗ trợ sách vở, đồ dùng học tập đến trường Đây là chính sách nhằm tạo điều kiện cho con em các hộ TĐC đến trường đầy đủ
Trang 39Chương 2: KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN SỐNG VÀ HỌC TẬP CỦA NHÓM HỌC SINH THUỘC CÁC HỘ GIA ĐÌNH TĐC TẠI XÃ PHÚC THỊNH
2.1 Khái quát về điều kiện sống của các hộ gia đình TĐC
2.1.1 Một số đặc điểm về tổ chức cuộc sống, hòa nhập cộng đồng của các
hộ gia đình TĐC
Trước khi tìm hiểu thực trạng điều kiện sống của nhóm học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC, tác giả xin đưa ra những khái quát chung nhất về điều kiện sống của các hộ gia đình TĐC tại xã Phúc Thịnh Sau một thời gian dài TĐC tại nơi ở mới, đời sống của một số ít hộ gia đình TĐC đã có sự thay đổi theo hướng tích cực Họ
đã ổn định được cuộc sống và tập trung phát triển kinh tế Tuy nhiên, vẫn còn một phần lớn các hộ TĐC tồn tại rất nhiều vấn đề khó khăn, cấp bách, cần được quan tâm, giải quyết Thông qua hình thức xâm nhập cộng đồng tại các điểm TĐC, quan sát, tiếp xúc, trò truyện trực tiếp với người dân sống ở đây, có thể nhận thấy một số nhóm vấn đề chính còn tồn tại trong địa bàn các hộ TĐC như sau:
Trước hết là tình trạng tổ chức, ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng Tính
từ thời điểm năm 2005 các hộ mới di chuyển từ huyện Na Hang xuống điểm TĐC
xã Phúc Thịnh đến nay đã được 9 năm Đây là khoảng thời gian đủ để các hộ gia đình TĐC có thể làm quen, thích ứng với môi trường sống mới, với các hộ dân tại địa phương và phong tục tập quán của mọi người nơi đây Tuy nhiên, qua quan sát môi trường sống và theo thông tin thu được qua tiếp xúc với cán bộ xã, thôn thì có thể nhận định rằng phần lớn các hộ gia đình TĐC vẫn chưa thực sự ổn định được cuộc sống tại nơi ở mới, họ vẫn duy trì theo nếp sống và quan điểm sống như trước kia khi ở địa phương cũ
Cụ thể, đối với vấn đề tổ chức, ổn định cuộc sống Khi mới tiến hành TĐC tại nơi ở mới, các hộ nhận được các khoản đền bù, hỗ trợ khá lớn của dự án, trung bình mỗi hộ gia đình được 105 triệu [23] Theo các báo cáo của UBND xã Phúc Thịnh đã khẳng định rằng chỉ một số ít hộ dân TĐC sử dụng tiền đền bù để đầu tư phát triển kinh tế như trồng rừng, chăn nuôi, học nghề hoặc mở cơ sở kinh doanh,
Trang 40dịch vụ Còn phần lớn các hộ gia đình sau khi nhận tiền đền bù, không đầu tư vào sản xuất mà sử dụng với mục đích mua sắm và hưởng thụ Rất nhiều hộ mua sắm hàng loạt phương tiện sinh hoạt có giá trị trong gia đình như: Xe máy, ti vi, điện thoại…,có hộ mua sắm một lúc 2 đến 3 chiếc xe máy Đây là những thông tin cụ thể
tác giả đã thu thập được sau khi tiến hành PVS với trưởng thôn: “Các hộ TĐC ở
đây nói chung là chi tiêu không hợp lý đâu cháu ạ Lúc mới xuống mỗi hộ nhận hơn một trăm triệu tiền đền bù mà gần như là tiêu hết trong khoảng thời gian ngắn Các
hộ chủ yếu là mua sắm ti vi, xe cộ Bác đã chứng kiến nhiều hộ mua liền một lúc 2,3
xe máy cho cả nhà mỗi người một chiếc làm phương tiện đi lại Chỉ có được 2,3 hộ biết để dành tiền mua máy cày, mở cửa hàng tạp hóa nhỏ…thôi cháu ạ” (trích PVS
số 9, nam, 57 tuổi, trung cấp, đã kết hôn) Với cách chi tiêu như vậy thì số tiền hỗ trợ không được đầu tư, sinh lời nên nhanh chóng “vơi” đi Và khi không có tiền sinh hoạt, chi tiêu họ lại bán dần những đồ đạc đã sắm sửa được trong nhà đi để lấy tiền
sử dụng Vì vậy, qua các buổi quan sát tác giả nhận thấy rằng, hiện tại ở phần lớn các hộ TĐC không có bất cứ một đồ vật gì giá trị trong nhà, cuộc sống của họ dĩ nhiên hiện gặp không ít những khó khăn Đây chính là vấn đề trong cách lập kế hoạch, tổ chức để ổn định cuộc sống của các hộ TĐC
Một vấn đề nữa chính là việc hòa nhập với người dân sở tại Mặc dù TĐC được 9 năm nhưng các hộ gia đình này sống tập trung tại một khu nhất định Do vậy, mọi sinh hoạt hàng ngày, giao tiếp hàng ngày và ngay cả hoạt động lao động, sản xuất họ cũng chỉ tham gia cùng nhau Quy mô chỉ trong các điểm TĐC với nhau hoặc rộng hơn là có sự giao lưu giữa điểm TĐC này với điểm TĐC khác Còn các hoạt động giao tiếp, hòa nhập với người dân sở tại thường diễn ra ít và phạm vi rất hẹp, chỉ ở một số nhỏ các hộ gia đình Cán bộ thôn (bí thư, trưởng thôn) và đặc biệt
là hội phụ nữ thôn đã nhiều lần vận động, kêu gọi mọi người tham gia những hoạt động chung của thôn như làm đường, các hoạt động văn hóa, văn nghệ…nhưng hầu
như không đạt kết quả, vì số lần tham gia của các hộ TĐC vẫn rất hạn chế “Ngay
cả việc đi họp thôn, bác chỉ cần họ đi đầy đủ, đúng giờ thôi, chứ không cần họ phải tham gia phát biểu ý kiến hay xây dựng gì Vậy mà kêu gọi mãi, một số hộ còn phải