1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Văn Công Tác Xã Hội, Nhân Viên Công Tác Xã Hội, Trợ Giúp Phụ Nữ Nông Thôn.pdf

110 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai Trò Của Nhân Viên Công Tác Xã Hội Trong Việc Trợ Giúp Phụ Nữ Nặng Thễn Cể Chồng Nhiễm HIV/AIDS (Nghiên Cứu Trường Hợp Tại Huyện Phổ Yên, Tỉnh Thái Nguyên)
Tác giả Chu Thị Thu Chinh
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn An Lịch
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Công Tác Xã Hội
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU §¹i häc quèc gia hµ néi trƢỜng ®¹i häc khoa häc x héi vµ nh©n v¨n ===================== CHU THỊ THU CHINH VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC TRỢ GIÚP PHỤ NỮ NÔNG THÔN CÓ CHỒNG NHI[.]

Trang 1

Đại học quốc gia hà nội

trƯỜng đại học khoa học xã hội và nhân văn

=====================

CHU THỊ THU CHINH

VAI TRề CỦA NHÂN VIấN CễNG TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC TRỢ GIÚP PHỤ NỮ NễNG THễN Cể CHỒNG NHIỄM HIV/AIDS (NGHIấN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI HUYỆN PHỔ YấN, TỈNH

THÁI NGUYấN)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CễNG TÁC XÃ HỘI

Hà Nội – 2015

Trang 2

Đại học quốc gia hà nội

trƯỜng đại học khoa học xã hội và nhân văn

=====================

CHU THỊ THU CHINH

VAI TRề CỦA NHÂN VIấN CễNG TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC TRỢ GIÚP PHỤ NỮ NễNG THễN Cể CHỒNG NHIỄM HIV/AIDS (NGHIấN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI HUYỆN PHỔ YấN, TỈNH

Trang 3

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

****************

HỘI ĐỒNG NGHIỆM THU XÁC NHẬN

Đề tài :

“ Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc trợ giúp phụ nữ nông thôn

có chồng nhiễm HIV/AIDS (Nghiên cứu trường hợp tại huyện Phổ Yên, tỉnh

Thái Nguyên)”

Học viên thực hiện: Chu Thị Thu Chinh

Luận văn chuyên ngành: Công tác xã hội

Mã ngành: 60 90 01 01

Đã được sửa chữa theo góp ý của Hội đồng nghiệm thu

Hà Nội, ngày … tháng … năm 2016

TM HỘI ĐỒNG NGHIỆM THU

Chủ tịch Hội đồng

GS.TS Phạm Tất Dong

Xác nhận của GVHD

PGS.TS Nguyễn An Lịch

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do tôi thực hiện

Các số liệu, kết quả nghiên cứu và các kết luận được trình bày trong luận văn hoàn toàn trung thực và chưa được công bố ở bất kỳ một nghiên cứu nào khác

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Học viên

Chu Thị Thu Chinh

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tập thể thầy cô giáo Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tận tình dạy dỗ và truyền đạt cho tôi những kiến thức, kinh nghiệm cũng như lòng yêu mến, tâm huyết với nghề nghiệp

Xin trân trọng cảm ơn thầy giáo PGS.TS Nguyễn An Lịch người đã hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi rất tận tình trong suốt quá trình thực hiện đề tài Nhờ có sự chỉ bảo giúp đỡ của thầy, tôi đã có được nhiều kinh nghiệm quý báu trong việc triển khai và thực hiện đề tài nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, các phòng, ban, đoàn thể của huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, cùng các anh chị trong Phòng Lao động - Thương binh và xã hội, trung tâm Y tế dự phòng huyện Phổ Yên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành tốt công trình nghiên cứu này

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các cô, các chị - những người phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS đã hợp tác với tôi trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài

Đề tài nghiên cứu liên quan đến HIV/AIDS - lĩnh vực nhạy cảm nên tôi gặp nhiều khó khăn trong việc thu thập thông tin Hơn nữa nguồn số liệu hạn chế nên những con số về phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS trong báo cáo chỉ mang tính tương đối Mặt khác, dù đã rất cố gắng và tâm huyết với đề tài nhưng do kiến thức của bản thân về lĩnh vực nghiên cứu chưa thực sự chuyên sâu, thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ phía các thầy cô giáo để Luận văn của tôi được hoàn chỉnh và chất lượng hơn

Hà Nội, tháng 10 năm 2015

Tác giả

Chu Thị Thu Chinh

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 7

3 Ý nghĩa của nghiên cứu 10

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11

5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 12

6 Phạm vi nghiên cứu 12

7 Câu hỏi nghiên cứu 13

8 Giả thuyết nghiên cứu 13

9 Phương pháp nghiên cứu 13

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU 19

1.1 Khái niệm công cụ 19

1.1.1 HIV/AIDS 19

1.1.2 Phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS 21

1.1.3 Nông thôn 21

1.1.4 Công tác xã hội 22

1.1.5 Nhân viên công tác xã hội 23

1.2 Các lý thuyết vận dụng 26

1.2.1 Lý thuyết hệ thống - sinh thái 26

1.2.2 Lý thuyết Nhu cầu của Maslow 29

1.2.3 Thuyết thân chủ trọng tâm 31

1.2.4 Tiếp cận dựa trên thuyết về quyền con người 32

1.3 Quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến vấn đề nghiên cứu 33

1.3.1 Luật phòng chống HIV/AIDS 33

1.3.2 Những chính sách và chế độ mà phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS được hưởng 36

1.4 Khái quát chung về huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 41 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC

XÃ HỘI TRONG VIỆC TRỢ GIÚP PHỤ NỮ NÔNG THÔN CÓ CHỒNG

Trang 7

NHIỄM HIV/AIDS TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHỔ YÊN, TỈNH THÁI

NGUYÊN 44

2.1 Thực trạng phụ nữ nông thôn có chồng nhiễm HIV/AIDS tại địa bàn nghiên cứu 44

2.1.1 Khái quát chung về phụ nữ nông thôn có chồng nhiễm HIV/AIDS 44

2.1.2 Những khó khăn của người phụ nữ nông thôn có chồng nhiễm HIV/AIDS 48

2.1.3 Nhu cầu của phụ nữ nông thôn có chồng nhiễm HIV/AIDS 60

2.2 Vai trò của nhân viên công tác xã hội cấp cơ sở trong lĩnh vực trợ giúp phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 61

2.2.1 Vai trò là người tham vấn 62

2.2.2 Vai trò là người trung gian kết nối 63

2.2.3 Vai trò là nhà giáo dục 64

2.2.4 Vai trò là người biện hộ 65

2.3 Những nguyên nhân tồn tại 65

2.3.1 Trình độ của nhân viên CTXH 66

2.3.2 Sự nhận thức của cộng đồng xã hội về nghề CTXH 68

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC TRỢ GIÚP PHỤ NỮ NÔNG THÔN CÓ CHỒNG NHIỄM HIV/AIDS 70

3.1 Tạo môi trường làm việc thuận lợi, chuyên nghiệp để nhân viên CTXH phát huy được vai trò của mình trong lĩnh vực trợ giúp phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS 70

3.2 Đào tạo phát triển mạng lưới cộng tác viên CTXH cấp cơ sở 71

3.3 Thiết lập dịch vụ hỗ trợ phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 72

3.3.1 Dịch vụ trợ giúp pháp lý 72

3.3.2 Dịch vụ tham vấn tâm lý 75

KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ 78

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

PHỤ LỤC 84

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nguyên nghĩa

CTXH Công tác xã hội

ĐH/CĐ Đại học/Cao đẳng

NVXH Nhân viên xã hội

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Số phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS ở 3 xã Đắc Sơn, Vạn Phái, Hồng

Tiến – huyện Phổ Yên – tỉnh Thái Nguyên 46

Bảng 2.2 Độ tuổi của phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS 47

Bảng 2.3 Nghề nghiệp của người chồng trước khi nhiễm HIV/AIDS 47

Bảng 2.4 Trình độ học vấn của phụ nữ có chồng nhiễm HIV 48

Bảng 2.5 Sự biến đổi trong cơ cấu nghề nghiệp của phụ nữ có HIV/AIDS (lây nhiễm từ chồng) trước và sau khi nhiễm HIV/AIDS 50

Bảng 2.6 Lao động chính trang trải chi phí y tế trong gia đình phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS 52

Bảng 2.7 Tỷ lệ gia đình phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS có sổ hộ nghèo 53

Bảng 2.8 Nhận thức tiêu cực về bản thân của phụ nữ khi biết mình lây nhiễm HIV/AIDS từ chồng 54

Bảng 2.9 Cảm xúc tự kỳ thị của phụ nữ có HIV (do lây nhiễm từ chồng) 55

Bảng 2.10 Sự kỳ thị và phân biệt ảnh hưởng đến phụ nữ khi chồng họ nhiễm HIV/AIDS 56

Bảng 2.11 Hành động của những phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS khi họ phát hiện ra chồng mình nhiễm HIV 58

Bảng 2.12 Phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS không có quyền quyết định một số vấn đề trong cuộc sống hôn nhân gia đình 59

Bảng 2.13 Nhu cầu cần được hỗ trợ để cải thiện kinh tế gia đình của phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS 60

Bảng 2.14 Nhu cầu cần được hỗ trợ chăm sóc sức khỏe và các vấn đề về phòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS 61

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

HIV/AIDS hiện đang là căn bệnh chịu sự kỳ thị và phân biệt ở mức độ cao HIV/AIDS không chỉ ảnh hưởng mạnh mẽ đến cuộc sống của những người nhiễm HIV mà còn ảnh hưởng đến cả thân nhân của họ, đặc biệt là những người phụ nữ

Ở Việt Nam, đặc biệt ở các khu vực nông thôn, tình trạng bất bình đẳng giới vẫn còn tồn tại, nó đóng vai trò quan trọng trong việc phổ biến đại dịch HIV Những phụ nữ đã kết hôn có thể bị buộc quan hệ với chồng dù chồng họ dương tính với HIV Hoặc người phụ nữ không có đủ quyền lực kinh tế để thương lượng

về tình dục an toàn Tất cả những điều đó đã khiến người phụ nữ nông thôn có chồng nhiễm HIV/AIDS đứng trước những nguy cơ lây nhiễm HIV rất cao

Mặt khác do lối nghĩ rằng đại dịch này chỉ tập trung ở nhóm những người nghiện chích ma túy và những phụ nữ hành nghề mại dâm nên nhóm phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS vẫn chưa nhận được sự quan tâm thỏa đáng, thậm chí những người phụ nữ lây nhiễm HIV/AIDS từ chồng còn bị nghi ngờ có lối sống không trong sạch, bị lên án và chịu sự kỳ thị và phân biệt của cộng đồng xã hội

Nhóm phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS được chia ra làm 2 nhóm nhỏ: Thứ nhất là nhóm phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS và bị lây nhiễm từ chồng, thứ hai là nhóm phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS nhưng bản thân họ không bị lây nhiễm – nhóm này ít được xã hội quan tâm Dù bản thân họ bị lây nhiễm HIV

từ chồng mình hay không bị lây nhiễm thì họ cũng đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, trở ngại trong cuộc sống, đó là những rào cản cản trở sự phát triển của người phụ nữ Hơn nữa, sống trong khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng

xa, người phụ nữ ít có cơ hội được tiếp cận với những thông tin khoa học, nhận thức về các vấn đề xã hội còn thấp, thiếu hụt các kiến thức, kỹ năng để tự mình giải quyết những khó khăn, vướng mắc Có thể nói, nhóm phụ nữ nông thôn có chồng nhiễm HIV/AIDS đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề và họ rất cần sự cảm thông, trợ giúp của cộng đồng xã hội

Trang 11

Huyện Phổ Yên là địa bàn đứng thứ 5 về số trường hợp nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Đây là địa phương có điểm nóng về tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm Một số xã như Hồng Tiến, Vạn Phái có tỷ lệ người nghiện chích ma túy rất cao và đã mắc căn bệnh HIV/AIDS Cùng với đó, số phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS cũng đang ngày một tăng lên Theo số liệu báo cáo của Trung tâm y tế dự phòng huyện Phổ Yên, số người nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn huyện là 1.316 trường hợp, trong đó số trường hợp phụ nữ nhiễm HIV là 512 người, chiếm 38,9% Riêng các xã Đắc Sơn, Hồng Tiến và Vạn Phái là 3 xã có số người nhiễm HIV là 282 người, chiếm 21,42% trong tổng số trường hợp lây nhiễm HIV của toàn huyện, tỷ lệ cao hơn hẳn so với các địa phương khác trong huyện Phổ Yên1 Số phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS ở 3 xã này là 93 người Những người phụ nữ này đang rất cần sự quan tâm, cảm thông của cộng đồng xã hội

Hiện nay, đề án 32 đã được triển khai tại các địa phương Đội ngũ nhân viên CTXH đã được thiết lập, họ có vai trò rất quan trọng trong việc trợ giúp các nhóm yếu thế trong xã hội nói chung và nhóm phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS nói riêng

Nhận thức được vấn đề đó, tác giả mạnh dạn lựa chọn đề tài nghiên cứu

“Vai trò của nhân viên Công tác xã hội trong việc trợ giúp phụ nữ nông thôn

có chồng nhiễm HIV/AIDS (nghiên cứu trường hợp tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên” làm đề tài luận văn, nhằm tìm hiểu những khó khăn, trở ngại và

nhu cầu, nguyện vọng của nhóm đối tượng này, giúp xã hội thay đổi quan niệm và

có sự nhìn nhận khách quan đối với những người phụ nữ ở khu vực nông thôn là nạn nhân đang phải gánh chịu những hậu quả từ HIV/AIDS do bạn đời của họ mắc phải Đồng thời đánh giá được vai trò của đội ngũ nhân viên công tác xã hội (các cán bộ làm việc trong lĩnh vực công tác xã hội) tại địa phương, qua đó đề xuất một

số khuyến nghị và giải pháp nhằm nâng cao vai trò của đội ngũ này trong việc trợ giúp phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS

Trang 12

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Trên thực tế, có rất ít nghiên cứu đề cập trực tiếp đến vấn đề phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS Vấn đề này chỉ được đề cập lồng ghép trong các nghiên cứu về nhóm phụ nữ có nguy cơ lây nhiễm HIV cao hoặc các nghiên cứu về phụ

nữ nhiễm HIV/AIDS Một số ngành khoa học như Xã hội học, Y học cũng có những nghiên cứu đề cập đến vấn đề này nhưng chỉ tập trung vào nhóm phụ nữ nhiễm HIV/AIDS nói chung mà chưa chú trọng đến nhóm phụ nữ nông thôn Trong Y học, có một số nghiên cứu về nhóm phụ nữ nhiễm HIV/AIDS như

đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm HIV và kiến thức, thái độ,

thực hành về dự phòng lây nhiễm của các nữ thành viên CLB Hoa Phượng – Hải Phòng nãm 2009-2010” – Đào Việt Tuấn, TTPC HIV/AIDS nhằm đánh giá thái

độ, kiến thức của phụ nữ về việc phòng chống HIV/AIDS hay đề tài“Nghiên cứu

kiến thức, thái độ, thực hành phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS của phụ nữ có chồng lao động xa nhà và hiệu quả của một số biện pháp can thiệp tại Thái Bình, năm 2010” – TS Đỗ Huy Giang, Giám đốc trung tâm PC HIV/AIDS tại Thái

Bình cũng đã chỉ ra một thực trạng tỷ lệ lây nhiễm HIV/AIDS ở khu vực nông thôn cao hơn hẳn so với khu vực thành thị, nghiên cứu này cũng đã đưa ra biện pháp can thiệp nhưng chủ yếu tập trung vào hình thức tuyên truyền để nâng cao kiến thức, thái độ của đối tượng nghiên cứu về việc phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS

Theo báo cáo của Trung tâm công tác xã hội tỉnh Thái Nguyên tháng

05/2014 về việc“Hỗ trợ việc làm cho người nhiễm HIV/AIDS nhen nhóm những

mảnh đời bất hạnh” Theo bà Phạm Hoài Giang – Giám đốc Dự án “Hỗ trợ việc

làm và dự phòng HIV nơi làm việc cho những người có nguy cơ cao tại Việt Nam”, sau 5 năm thực hiện, đã có hơn 1.400 người sống chung hoặc bị ảnh hưởng bởi HIV tại Việt Nam đã có thể sống bằng chính nghề của mình Dự án

“Hỗ trợ việc làm và dự phòng HIV nơi làm việc cho những người có nguy cơ cao tại Việt Nam” được triển khai từ tháng 8-2008 đã tập trung vào việc phòng ngừa lây nhiễm HIV cho người lao động có nguy cơ cao tại các DN và tạo cơ hội việc làm cũng như các hoạt động cải thiện điều kiện kinh tế cho những người đang

Trang 13

nhiễm HIV/AIDS Thông qua đào tạo và hỗ trợ sắp xếp việc làm, sau 5 năm triển khai dự án đã giúp trên 1.400 người sống chung hoặc bị ảnh hưởng bởi HIV tìm được việc làm ổn định hoặc tự làm chủ

Trong báo cáo tổng kết của Dự án VIE 011 (2010), “Các cơ chế cộng đồng

trong việc giảm thiểu tác động của HIV/AIDS tại Việt Nam” do Hội Liên hiệp

phụ nữ Việt Nam, Hội Người cao tuổi, trường Đại học Y Thái Nguyên, trung tâm nghiên cứu trợ giúp người cao tuổi, Trung tâm phòng chống bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS phối hợp thực hiện (dự án được triển khai bắt đầu

từ năm 2005 ở 4 tỉnh miền Bắc: Quảng Ninh, Thái Nguyên, Hà Nội và Nam Định

là những địa phương đại diện cho vùng có số lượng người nhiễm HIV cao nhất ở phía Bắc Việt Nam) đã chỉ ra một thực trạng trong bối cảnh xã hội Việt Nam đang chuyển đổi nhanh chóng, một bộ phận phụ nữ yếu thế đang phải đối mặt với nhiều thách thức cuộc sống do chồng họ mắc phải căn bệnh thế kỷ Báo cáo dự

án cũng nêu ra thực trạng cuộc sống của những người phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS: Kinh tế gia đình sa sút, khó khăn, họ ít có cơ hội tiếp cận các dịch vụ

xã hội, trong đó có vay vốn phát triển kinh tế gia đình, họ phải hứng chịu sự xa lánh, kỳ thị của mọi người xung quanh Dự án triển khai với nhiều hoạt động như chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ vay vốn… và đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong việc trợ giúp nhóm phụ nữ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS từ những người thân trong gia đình họ

Viện nghiên cứu Phát triển xã hội (ISDS) và Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế

về phụ nữ (ICRW) phối hợp thực hiện Dự án “Can thiệp với sự tham gia nhằm

giảm kỳ thị liên quan đến HIV tại Quảng Ninh và Cần Thơ” đã cho xuất bản

“Báo cáo cộng đồng đối phó với kỳ thị liên quan đến HIV tại Việt nam” Đây là

cuốn tài liệu mô tả các hoạt động can thiệp nhằm giảm kỳ thị liên quan đến HIV

do cộng đồng thực hiện và các nguyên tắc hướng dẫn thực hiện Có thể nói, báo cáo của Dự án là tài liệu hữu ích dành cho những nhân viên Công tác xã hội có thể dùng tham khảo để vận dụng trong quá trình thực hành nghề với nhóm đối tượng này

Trang 14

Trong cuốn sách “Phụ nữ và HIV/AIDS: Đương đầu với khủng hoảng”

(2007) là báo cáo chung của UNAIDS (nhà vận động chính thức cho các hoạt động toàn cầu chống lại dịch HIV/AIDS), UNFPA (Quỹ dân số của Liên Hiệp Quốc) và UNIFEM (Quỹ phát triển dành cho phụ nữ) của Liên Hiệp Quốc đã nêu lên một vấn đề bức thiết đang đặt ra nhằm đẩy lùi được sự lan tràn của HIV/AIDS trên toàn cầu hiện nay Đó là mọi người phải ra sức cắt đứt mối liên

hệ giữa nghèo đói và sự bất bình đẳng về giới đang tiếp sức cho sự lan tràn của dịch HIV/AIDS Cuốn sách này cũng chỉ rõ: Phụ nữ có nguy cơ nhiễm HIV cao gấp 3 lần nam giới, phụ nữ cũng là người dễ bị tổn thương đối với lây truyền HIV về thể chất, xã hội và kinh tế hơn là nam giới, đồng thời phải chia sẻ gánh nặng không cân xứng trong việc chăm sóc người sống chung với HIV

Công tác xã hội là ngành khoa học và nghề chuyên môn còn khá mới mẻ ở Việt Nam.Vì vậy, các nghiên cứu về nhóm phụ nữ nông thôn có chồng nhiễm HIV/AIDS dưới góc nhìn của ngành khoa học này còn rất hạn chế Gần đây nhất, một đề tài luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Công tác xã hội của học viên cao học

Vũ Thị Thanh Phương“Hoạt động tham vấn cho phụ nữ nhiễm HIV/AIDS tại

nhóm Hoa Hướng Dương, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên” cũng đã chỉ ra phụ

nữ nhiễm HIV/AIDS là khách thể nghiên cứu của đề tài, đang gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống liên quan đến sức khỏe, kinh tế, việc làm, giao tiếp, chăm sóc và giáo dục con cái, … đặc biệt là khó khăn liên quan đến tâm lý Vì vậy, đề tài hướng đến giải pháp tham vấn tâm lý cho nhóm đối tượng này nhằm giúp họ giải quyết được phần nào đó khó khăn mà họ đang gặp phải

Bên cạnh đó tác giả còn tìm hiểu các nghiên cứu về vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc trợ giúp một số nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội Trong

đó tác giả đặc biệt quan tâm đến đề tài luận văn Thạc sỹ “Vai trò của nhân viên

công tác xã hội trong trợ giúp tâm lý cho đối tượng nhiễm HIV/AIDS tại trung tâm khám chữa bệnh Sở lao động thương binh xã hội Thái Bình – Tỉnh Thái Bình” của HVCH Trần Thị Hoa, chuyên ngành Công tác xã hội, trường Đại học

Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội (2014) Kết quả nghiên cứu của

đề tài cho thấy thông qua vai trò của nhân viên công tác xã hội – đặc biệt là vai

Trang 15

trò tham vấn, đối tượng nhiễm HIV/AIDS có thể đương đầu và vượt qua các giai đoạn của khủng hoảng, để họ tự vươn lên, hoạt động, lao động trong thời gian tiếp theo của cuộc sống và hòa nhập với đời sống xã hội tốt hơn

Nhìn chung các nghiên cứu và một số báo cáo của các dự án nêu trên đã chỉ

ra được thực trạng đời sống của phụ nữ nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam cũng như những hạn chế trong kiến thức và thái độ của họ về việc phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS, nhân viên công tác xã hội có những vai trò nhất định trong việc trợ giúp các đối tượng yếu thế Những kết quả trong các nghiên cứu trên cung cấp cho tác giả cái nhìn khách quan về vấn đề nghiên cứu của mình Tuy nhiên, đề tài

“Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc trợ giúp phụ nữ nông thôn

có chồng nhiễm HIV/AIDS (nghiên cứu trường hợp tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên” của tác giả có điểm mới hơn so với các nghiên cứu trước đây đó là

đánh giá thực trạng cuộc sống, những khó khăn/rào cản của nhóm phụ nữ nông thôn có chồng nhiễm HIV/AIDS, đặc biệt là nhóm phụ nữ chưa bị lây nhiễm (hầu hết các nghiên cứu chưa quan tâm đến nhóm đối tượng này) dưới góc nhìn của Công tác xã hội Đồng thời đề tài cũng đi sâu vào nghiên cứu và tìm hiểu vai trò của nhân viên Công tác xã hội tại địa phương trong việc trợ giúp phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS mà chưa một đề tài nào đề cập đến Từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả vai trò của nhân viên CTXH để hoạt động trợ giúp nhóm đối tượng trên được hiệu quả hơn

3 Ý nghĩa của nghiên cứu

3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài

- Đề tài vận dụng những kiến thức, kỹ năng, giá trị của CTXH áp dụng vào một nhóm đối tượng cụ thể Qua đó, góp phần làm sáng tỏ hơn mục đích, ý nghĩa và vai trò của ngành khoa học này trong lĩnh vực đời sống xã hội

- Đề tài góp phần làm phong phú thêm những vấn đề xã hội mà CTXH quan tâm và có thể can thiệp một cách hiệu quả Qua đó, gợi mở những hướng nghiên cứu mới ở khía cạnh khác của vấn đề hoặc ở một quy mô rộng hơn, sâu hơn

Trang 16

3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

- Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp cộng đồng xã hội có cái nhìn khách quan hơn đối với thực trạng cuộc sống, những khó khăn/rào cản và nhu cầu của phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS ở khu vực nông thôn, từ đó giảm thái độ kỳ thị và có những hoạt động trợ giúp nhóm đối tượng này một cách hiệu quả hơn Đồng thời đánh giá vai trò của nhân viên CTXH tại địa phương trong việc trợ giúp phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS

- Đề tài đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả vai trò nhân viên công tác xã hội cấp cơ sở trong việc trợ giúp phụ nữ nông thôn có chồng nhiễm HIV/AIDS

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở tìm hiểu và phân tích thực trạng cuộc sống của những phụ nữ nông thôn có chồng nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, tác giả tiến hành nhận định, phân tích, đánh giá, từ đó nêu bật được thực trạng, những khó khăn mà họ gặp phải, những nguyên nhân dẫn đến những khó khăn đó, những nhu cầu của phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS Đồng thời tác giả còn tìm hiểu, đánh giá vai trò của nhân viên công tác xã hội trong hoạt động trợ giúp dành cho đối tượng này

Trên cơ sở đó, tác giả còn đề xuất một số khuyến nghị, giải pháp nhằm nâng cao vai trò của nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Khái quát những khái niệm liên quan đến đề tài: Công tác xã hội, phụ nữ,

HIV/AIDS, nông thôn và các khái niệm khác có liên quan

Thông qua khảo sát tại địa phương, tiến hành tìm hiểu thực tiễn cuộc sống, hoàn cảnh của từng phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS Phân tích và đánh giá những rào cản/khó khăn từ phía bên ngoài tác động, gây trở ngại đến cuộc sống của họ, cũng như những rào cản từ bản thân, từ gia đình của người phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS; nguyên nhân của vấn đề đó

Trang 17

Đồng thời, tiến hành thu thập thông tin để kiểm chứng giả thuyết, từ đó đề xuất một số giải pháp dưới góc độ công tác xã hội nhằm trợ giúp cho một nhóm phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS tại địa bàn nghiên cứu

5 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu

5.1.Đối tượng nghiên cứu

Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc trợ giúp phụ nữ nông thôn có chồng nhiễm HIV/AIDS

5.2 Khách thể nghiên cứu

Phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS đang sinh sống trên địa bàn huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên Trong đó bao gồm cả 2 nhóm: Phụ nữ bị lây nhiễm HIV/AIDS từ chồng và nhóm phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS nhưng bản thân

họ không mắc căn bệnh này Đối với nhóm phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS nhưng bản thân nghiện ma túy hoặc đã, đang hành nghề mại dâm không thuộc khách thể nghiên cứu của đề tài

Nhóm khách thể thứ hai là đội ngũ nhân viên công tác xã hội tại địa phương Trên thực tế, tại huyên Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên chưa có đội ngũ nhân viên CTXH chuyên nghiệp, vì vậy trong phạm vi của đề tài, tác giả chỉ nghiên cứu đến nhóm khách thể là các cán bộ đang làm việc hoặc phụ trách những công việc có liên quan đến công tác xã hội tại địa bàn nghiên cứu

6 Phạm vi nghiên cứu

6.1 Phạm vi về mặt không gian

Đề tài nghiên cứu tập trung vào 3 xã thuộc khu vực nông thôn của huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên Đó là các xã: Xã Hồng Tiến, xã Đắc Sơn và xã Vạn Phái Đây là 3 xã với đặc thù kinh tế nông nghiệp và có số lượng người có HIV chiếm tỷ lệ khá cao trong huyện Phổ Yên

6.2 Phạm vi về mặt thời gian

Đề tài được nghiên cứu từ tháng 1/2015 – tháng 10/2015

6.3 Phạm vi về mặt nội dung

- Thực trạng người phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS tại địa bàn nghiên cứu

- Những khó khăn của người phụ nữ nông thôn có chồng nhiễm HIV/AIDS

Trang 18

- Nhu cầu của nhóm phụ nữ nông thôn có chồng nhiễm HIV/AIDS

- Vai trò của nhân viên công tác xã hội tại địa bàn nghiên cứu trong việc trợ giúp phụ nữ nông thôn có chồng nhiễm HIV/AIDS; Những tồn tại và nguyên nhân

7 Câu hỏi nghiên cứu

- Những rào cản/khó khăn của những người phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS đang phải đối mặt là gì?

- Nhóm phụ nữ nông thôn có chồng nhiễm HIV/AIDS có những nhu cầu nào cần được đáp ứng?

- Nhân viên công tác xã hội có vai trò như thế nào trong việc trợ giúp nhóm phụ nữ nông thôn có chồng nhiễm HIV/AIDS?

8 Giả thuyết nghiên cứu

- Giả thuyết 1: Người phụ nữ nông thôn có chồng nhiễm HIV/AIDS đang

phải đối mặt với rất nhiều khó khăn trong cuộc sống cả về vật chất, tinh thần và sức khỏe

- Giả thuyết 2: Chính quyền địa phương và cộng đồng xã hội chưa có sự

nhìn nhận đúng đắn về những khó khăn/trở ngại của nhóm đối tượng này Vì vậy, người phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS nhận được rất ít sự quan tâm, hỗ trợ từ phía chính quyền và cộng đồng dân cư địa phương

- Giả thuyết 3: Vai trò của nhân viên công tác xã hội cấp cơ sở chưa thể hiện rõ

nét trong việc trợ giúp nhóm phụ nữ nông thôn có chồng nhiễm HIV/AIDS Nếu nhân viên công tác xã hội được đào tạo bài bản, nắm chắc những kiến thức chuyên môn và vận dụng tốt các kỹ năng và giá trị của công tác xã hội thì các hoạt động trợ giúp phụ nữ nông thôn có chồng nhiễm HIV/AIDS ở địa phương sẽ đạt hiệu quả hơn, giúp nhóm đối tượng này giảm bớt khó khăn/rào cản, ổn định cuộc sống và hòa nhập cộng đồng xã hội

9 Phương pháp nghiên cứu

Trang 19

triển Vận dụng những quan điểm đó, trong quá trình nghiên cứu, vấn đề của

những phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS luôn được xem xét một cách toàn diện

- cả về phương diện khách quan cũng như khía cạnh chủ quan; đặt vấn đề trong một bối cảnh không gian, thời gian cụ thể, trong những điều kiện lịch sử cụ thể

và có mối quan hệ biện chứng với các điều kiện khác trong bối cảnh ấy

9.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

9.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Phân tích tài liệu là phương pháp nghiên cứu dựa trên các tư liệu, các văn bản, các tác phẩm (sách, báo, công trình nghiên cứu) liên quan nhằm phục vụ cho công việc nghiên cứu

Tài liệu được tác giả sử dụng để phục vụ cho đề tài nghiên cứu của mình

là các công trình nghiên cứu về vấn đề phụ nữ nông thôn, phụ nữ nhiễm HIV/AIDS trước đó thuộc các lĩnh vực như y học, xã hội học, công tác xã hội Bên cạnh đó, tác giả nghiên cứu các báo cáo của phòng Lao động - Thương binh

và xã hội, Hội liên hiệp phụ nữ, chi cục thống kê, trung tâm y tế dự phòng huyện phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên Qua tìm hiểu và phân tích các tài liệu kể trên sẽ giúp tác giả có những cơ sở căn cứ khoa học bổ sung cho cho nghiên cứu của mình

được hiệu quả và chính xác hơn

9.2.2 Phương pháp quan sát

Để thu thập được những thông tin cần thiết, đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu của đề tài, tác giả đã sử dụng phương pháp quan sát Quát sát trong nghiên cứu xã hội được hiểu là quá trình tri giác và ghi chép mọi yếu tố có liên quan đến đối tượng nghiên cứu phù hợp với đề tài và mục tiêu nghiên cứu Đây cũng là một phương pháp nhằm kiểm tra tính xác thực của những thông tin thu được trước đó hoặc những thông tin thu được từ những phương pháp khác nhau

Phương pháp quan sát được vận dụng trong quá trình gặp gỡ với phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS, với các cán bộ… nhằm xem xét thái độ, cách ứng xử, giao tiếp, hành vi của họ để có những đánh giá đúng đắn hơn Phương pháp này nhằm đánh giá thông tin chung, mang tính tổng quát, khái quát, giúp cho quá trình thực hiện đề đài được sáng rõ và chính xác

Trang 20

9.2.3 Trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi (anket)

Trưng cầu ý kiến là phương pháp thu thập thông tin, dựa trên tác động về mặt tâm lý trực tiếp hay gián tiếp giữa nhà khoa học và người được hỏi ý kiến để tìm ra các quan điểm phổ biến nhất trong đám đông

Đây là phương pháp thường được sử dụng trong các nghiên cứu xã hội học thực nghiệm Trong quá trình trưng cầu, người được hỏi trả lời theo cách tự viết vào bảng hỏi mà họ nhận được từ điều tra viên Nguồn thông tin thu được ở đây

là các câu trả lời của người được hỏi thể hiện quan điểm, thái độ và ý thức của người trả lời

Đây là một phương pháp được sử dụng trong quá trình thu thập thông tin và

nó mang tính chất là một phương pháp bổ trợ Bảng hỏi được sử dụng trong quá trình thu thập thông tin bao gồm bộ câu hỏi 25 câu nhằm tìm hiểu thông tin về cá nhân như: tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, kinh tế gia đình, tâm lý và nhu cầu

hỗ trợ của phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS,…

Tác giả tiến hành trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi với lượng mẫu n = N = 93

9.2.4 Phương pháp phỏng vấn sâu

Tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu kết hợp với phương pháp quan sát nhằm mục đích thu được những thông tin mang tính chiều sâu Phương pháp này giúp tác giả hiểu kỹ, hiểu sâu hơn về một vấn đề nào đó phục vụ cho đề tài nghiên cứu

Tác giả tiến hành phỏng vấn sâu 3 phụ nữ bị lây nhiễm HIV từ chồng và 3 phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS nhưng bản thân họ không mắc căn bệnh này

để thu thập, khai thác các thông tin liên quan đến nhu cầu, mong muốn của đối tượng hay những khó khăn mà họ gặp phải trong đời sống, nguyên nhân của những khó khăn đó…, phỏng vấn sâu 2 cán bộ phụ trách các công việc liên quan đến công tác xã hội tại địa phương Ngoài ra, tác giả còn tiến hành phỏng vấn sâu người dân, lãnh đạo cơ quan, đại diện chính quyền địa phương để thu thập thông tin nhằm đánh giá nhận thức của cộng đồng xã hội về nghề CTXH và các hoạt động trợ giúp phụ nữ nông thôn có chồng nhiễm HIV/AIDS Đồng thời, quá trình phỏng vấn sâu còn giúp tác giả hiểu được bản chất của vấn đề, từ đó có định

Trang 21

hướng cho việc đề xuất giải pháp phù hợp với điều kiện và nguyện vọng của đối

tượng, của địa bàn nghiên cứu

9.2.5 Phương pháp thảo luận nhóm

Phương pháp này giúp chúng ta thu thập thông tin từ những người tiếp xúc nhằm mục đích đánh giá thực trạng đời sống và nhu cầu của những phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS

Đề tài tiến hành thảo luận với 3 nhóm:

+ Nhóm 1: Nhóm phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS tại xã Đắc Sơn, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (7 phụ nữ)

+ Nhóm 2: Nhóm phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS tại xã Vạn Phái, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (7 phụ nữ)

+ Nhóm 3: Nhóm phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS tại xã Hồng Tiến, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (7 phụ nữ)

9.3 Kỹ năng Công tác xã hội

9.3.1 Kỹ năng lắng nghe

Đây là một trong những kỹ năng cơ bản trong Công tác xã hội, đòi hỏi người nhân viên CTXH phải rèn luyện để vận dụng một cách có hiệu quả Lắng nghe không chỉ đơn giản là quá trình tri giác để thu nhận thông tin từ người nói mà còn

là sự lắng nghe bằng mọi giác quan, nghe bằng tai, bằng mắt, bằng cả trái tim, và phải biết tránh các yếu tố gây nhiễu trong quá trình lắng nghe cũng như biết nghe

có chọn lọc, đồng thời nhân viên CTXH phải loại bỏ hoàn toàn những định kiến

và những suy nghĩ chủ quan của bản thân về thân chủ để có thể hiểu suy nghĩ và lời nói của họ một cách chính xác Đó cũng chính là việc nhân viên CTXH thực hiện nguyên tắc chấp nhận thân chủ

Với những phụ nữ nông thôn có chồng nhiễm HIV/AIDS cũng vậy, khi khai thác những vấn đề nhạy cảm mà họ cảm thấy khó trả lời, việc lắng nghe tích cực

sẽ tạo cảm giác được tôn trọng và như vậy thân chủ sẽ tin tưởng và chia sẻ những vấn đề của mình một cách sâu sắc hơn

9.3.2 Kỹ năng phân tích và nhận diện vấn đề

Trang 22

Khi thu thập những thông tin về đời sống của người phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS, thông tin về công tác hỗ trợ của địa phương đối với nhóm đối tượng này, NVCTXH phải biết sàng lọc thông tin Trên cơ sở đó, NVCTXH tiến hành đánh giá và nhận diện xem đâu là vấn đề bức thiết nhất cần hỗ trợ giải quyết cho họ.Khi đánh giá và nhận diện vấn đề của thân chủ, NVXH cần phải phân tích, sắp xếp nhu cầu ưu tiên cần giải quyết của thân chủ và xem xét đánh giá khả năng của thân chủ cũng như các nguồn lực có thể hỗ trợ thân chủ giải quyết vấn

đề của họ

9.3.3 Kỹ năng vấn đàm

Vấn đàm là một trong những công cụ của Công tác xã hội nhằm mục đích thu thập thông tin hay chia sẻ thông tin, để khảo cứu và đánh giá vấn đề của thân chủ hay để đưa ra sự giúp đỡ cho thân chủ Trong giới hạn của đề tài này, tác giả

sử dụng vấn đàm như một công cụ để thu thập thông tin và chia sẻ thông tin Khi sử dụng vấn đàm, tác giả thu được các thông tin mang tính chiều sâu như: Các dữ kiện liên quan đến các vấn đề, những rào cản trong đời sống và những nhu cầu cần được hỗ trợ của nhóm phụ nữ nông thông có chống nhiễm HIV/AIDS… cũng như để tìm hiểu về các mối quan hệ, các nguồn lực trợ giúp

cho họ

9.3.4 Kỹ năng thấu cảm

Tác giả vận dụng một số kỹ năng tham vấn trong quá trình làm việc với thân chủ như: Kỹ năng thấu cảm (giúp NVXH thấu hiểu thân chủ, tạo dựng được mối quan hệ gần gũi với thân chủ và tìm thấy ở thân chủ những sức mạnh tiềm ẩn), kỹ năng lắng nghe tích cực (khuyến khích thân chủ chia sẻ và giãi bày tâm

sự của họ), kỹ năng đặt câu hỏi (đây là kỹ năng vô cùng quan trọng, đặt câu hỏi phù hợp với trạng thái tâm lý của thân chủ, sử dụng những câu hỏi gián tiếp để tránh cho thân chủ có cảm giác bị tra vấn chuyện riêng tư)

Mục đích của tham vấn là giúp những người phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS tăng cường khả năng tự ứng phó với những hoàn cảnh khó khăn ở hiện tại và tương lai

Trang 24

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm công cụ

1.1.1 HIV/AIDS

* Khái niệm HIV, AIDS

Theo cục phòng chống HIV/AIDS Việt Nam – Bộ y tế về chăm sóc sức HIV/AIDS tại cộng đồng thì HIV, AIDS được định nghĩa như sau:

- Khái niệm HIV:

HIV là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Human immunodeficiency Virus” dịch ra tiếng Việt: Vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người, làm cho cơ thể suy giảm khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh

HIV thuộc nhóm Lentivirus, và giống như mọi virus thuộc tuýp này, nó sẽ tấn công hệ miễn dịch của con người Lentivirus lại thuộc vào 1 nhóm virus lớn hơn gọi là Retrovirus Lentivirus có nghĩa là virus chậm cần có nhiều thời gian

để gây ra tác dụng có hại cho cơ thể HIV là 1 virus có tính thay đổi cao, đột biến

dễ dàng Điều này có nghĩa là ngay trong cơ thể của người bị nhiễm cũng có nhiều chủng HIV khác nhau Dựa trên những điểm tương tự về di truyền, ta có thể phân loại vô số các chủng virus khác nhau đó thành từng tuýp, nhóm và phân tuýp Có 2 tuýp HIV là: HIV-1 và HIV-2.Cả hai đều gây bệnh cho người

Cả 2 tuýp này đều có thể lây truyền qua quan hệ tình dục, qua đường máu,

và từ mẹ sang con Cả 2 tuýp này dường như đều gây bệnh cảnh lâm sàng AIDS khá giống nhau nên rất khó để mà phân biệt Tuy nhiên, HIV-2 lại không dễ lây như HIV-1, và thời gian kể từ lúc mới bắt đầu nhiễm cho đến khi xuất hiện bệnh thường dài hơn

Nhưng trên toàn thế giới hiện nay, HIV-1 chính là nhóm gây đại dịch AIDS, và khi nói nhiễm HIV mà không kèm theo tuýp, tức là đang nói tới HIV-1 Trên thực tế HIV-2 rất ít gặp, chủ yếu loại này thường khu trú tại Tây Phi, ít khi thấy ở nơi khác

Người mang HIV trong máu thường được gọi là người nhiễm HIV

- Khái niệm AIDS:

Trang 25

AIDS là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Acquired immune deficiency syndrome” dịch ra tiếng Việt: Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do HIV gây ra, thường được biểu hiện thông qua các nhiễm trùng cơ hội, các ung thư và

có thể dẫn đến tử vong

AIDS là một bệnh mãn tính do HIV gây ra HIV phá huỷ các tế bào của hệ miễn dịch, cơ thể không còn khả năng chống lại các virus, vi khuẩn và nấm gây bệnh Do đó cơ thể bị một số loại bệnh ung thư và nhiễm trùng cơ hội mà bình thường có thể đề kháng được

AIDS được coi là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV Tuy nhiên, mỗi người khi mắc AIDS sẽ có những triệu chứng khác nhau, tuỳ theo loại bệnh nhiễm trùng cơ hội mà người đó mắc phải và khả năng chống đỡ của hệ miễn dịch mỗi người

*Một số khái niệm liên quan

Theo chương 1, điều 1 về Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng được

quy định trong luật phòng chống nhiễm vi rút gây ra hội chướng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) cho rằng:

+ Kỳ thị người nhiễm HIV là thái độ khinh thường hay thiếu tôn trọng người khác vì biết hoặc nghi ngờ người đó nhiễm HIV hoặc vì người đó có quan

hệ gần gũi với người nhiễm HIV hoặc bị nghi ngờ nhiễm HIV

+ Phân biệt đối xử với người bị nhiễm HIV là hành vi xa lánh, từ chối, tách biệt, ngược đãi, phỉ báng, có thành kiến hoặc hạn chế quyền của người khác

vì biết hoặc nghi ngờ người đó bị nhiễm HIV hoặc vì người đó có quan hệ gần gũi với người nhiễm HIV hoặc nghi ngờ bị nhiễm

Hội chứng: Tập hợp nhiều triệu chứng và dấu hiệu bệnh Suy giảm miễn dịch: Hệ miễn dịch là hệ thống phòng ngự bảo vệ cơ thể chống lại các mầm bệnh từ ngoài xâm nhập vào cơ thể Suy giảm miễn dịch là tình trạng hệ miễn dịch trở nên yếu, giảm hoặc không có khả năng chống lại sự tấn công của các tác nhân gây bệnh

Mắc phải: Không phải do nguyên nhân di truyền mà do bị lây nhiễm từ bên ngoài

Trang 26

Miễn dịch: Con người luôn luôn sống giữa vô số những mầm bệnh độc hại s n sàng gây bệnh cho cơ thể như: vi trùng, virus, vi nấm, ký sinh trùng và cả một số tế bào ung thư sinh sản lẻ tẻ trong cơ thể Tuy nhiên, cơ thể cũng có một hàng rào phòng vệ rất hiệu quả khiến cho phần lớn các mầm bệnh không thể gây bệnh được đó chính là hệ miễn dịch

1.1.2 Phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS

Khái niệm này được tác giả sử dụng để chỉ những người phụ nữ có chồng nhiễm virut HIV (hay nói cách khác chồng của họ dương tính với HIV) trong đó được chia ra làm hai nhóm nhỏ: Phụ nữ lây nhiễm HIV từ chồng (chồng +HIV,

vợ +HIV) và nhóm phụ nữ có chồng nhiễm HIV nhưng bản thân họ không mắc căn bệnh này (vợ -HIV, chồng +HIV) Trong khuôn khổ của đề tài nghiên cứu, tác giả không đề cập đến nhóm phụ nữ có chồng nhiễm HIV nhưng bản thân họ hành nghề mại dâm hay nghiện ma túy

1.1.3 Nông thôn

Hiện nay trên thế giới vẫn chưa có định nghĩa chuẩn xác về nông thôn, còn nhiều quan điểm khác nhau Có quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, có nghĩa vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng vùng đô thị Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hoá để xác định vùng nông thôn

vì cho rằng nông thôn có trình độ sản xuất hàng hoá và khả năng tiếp cận thị trường so với đô thị là thấp hơn Cũng có ý kiến nên dùng chỉ tiêu mật độ dân cư

và số lượng dân trong vùng để xác định Theo quan điểm này, vùng nông thôn thường có số dân và mật độ dân thấp hơn vùng thành thị

Một quan điểm khác nêu ra, vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức là nguồn sinh kế chính của cư dân trong vùng là từ sản xuất nông nghiệp Những ý kiến này chỉ đúng khi đặt trong bối cảnh cụ thể của từng nước, phụ thuộc vào trình độ phát triển, cơ cấu kinh tế, cơ chế áp dụng cho từng nền kinh tế Đối với những nước đang thực hiện công nghiệp hoá, đô thị hoá, chuyển từ sản xuất thuần nông sang phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ, xây dựng các khu đô thị nhỏ, thị trấn, thị tứ rải rác ở các vùng nông thôn

Trang 27

thì khái niệm về nông thôn có những đổi khác so với khái niệm trước đây Có thể hiểu nông thôn hiện nay bao gồm cả những đô thị nhỏ, thị tứ, thị trấn, những trung tâm công nghiệp nhỏ có quan hệ gắn bó mật thiết với nông thôn, cùng tồn tại, hỗ trợ và thúc đẩy nhau phát triển2

Theo quy định tại Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21-8-2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, khái niệm nông thôn lại được định

nghĩa như sau: "Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các

thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã"

Trong khuôn khổ của đề tài, tác giả sử dụng khái niệm nông thôn để chỉ những khu vực có tỷ lệ người dân làm nông nghiệp cao và là khu vực lãnh thổ được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã

1.1.4 Công tác xã hội

Có rất nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau về công tác xã hội Có quan điểm nhấn mạnh đến sự trợ giúp khó khăn, có quan điểm nhấn mạnh đến các kỹ năng nghề nghiệp, có quan điểm nhấn mạnh đến cơ sở khoa học, cơ sở giá trị, phương pháp và kỹ năng của CTXH Sở dĩ có nhiều quan điểm về CTXH là vì CTXH là một ngành nghề rất rộng, thâm nhập vào nhiều lĩnh vực trong đời sống

xã hội, bao phủ nhiều đối tượng thân chủ khác nhau và liên quan đến nhiều ngành nghề trong xã hội

Trong khuôn khổ của luận văn, tác giả chỉ đưa ra một khái niệm tiêu biểu về CTXH thường được sử dụng trong nghiên cứu và giảng dạy tại Việt Nam hiện nay

Theo định nghĩa của Hiệp hội quốc gia nhân viên xã hội Mỹ (NASW-

1970): "Công tác xã hội là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc

cộng đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ

và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó” Hay theo

định nghĩa của Hiệp hội nhân viên công tác xã hội Quốc tế thông qua tháng 7

2

TS Mai Thanh Cúc – TS Quyền Đình Hà, Giáo trình Phát triển nông thôn, trường Đại học Nông nghiệp

Hà Nội, 2005

Trang 28

năm 2000 tại Montreral, Canada (IFSW) thì : "Nghề Công tác xã hội thúc đẩy sự

thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực và giải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, Công tác xã hội tương tác vào những điểm giữa con người với môi trường của họ Nhân quyền và Công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề"

Hiệp hội CTXH quốc tế và các trường đào tạo CTXH quốc tế (2011) thống

nhất một định nghĩa về CTXH như sau: Công tác xã hội là nghề nghiệp tham gia

vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng sống của con người CTXH sử dụng các học thuyết về hành vi con người và lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với với môi trường sống

Các định nghĩa trên đã khẳng định CTXH là một nghề chuyên môn có tính

chuyên nghiệp cao Bên cạnh đó, CTXH còn là một khoa học “CTXH là một

khoa học có đối tượng nghiên cứu của mình là những tính quy luật, quy luật trong việc tăng cường các chức năng xã hội của cá nhân, của nhóm, của cộng đồng và những phương pháp, kỹ năng giải quyết các vấn đề xã hội đang tác động vào đời sống của họ, mang lại hạnh phúc, công bằng cho họ cùng sự tiến bộ xã hội CTXH không chỉ tìm giải pháp, tăng cường chức năng của từng thân chủ mà còn tìm giải pháp thay đổi môi trường cho phù hợp với nhu cầu tồn tại và phát triển của con người”3

1.1.5 Nhân viên công tác xã hội

Trên thực tế, khái niệm nhân viên công tác xã hội thường được sử dụng bằng các thuật ngữ khác nhau như: Cán bộ xã hội, nhân viên xã hội, nhân viên công tác xã hội Nhân viên CTXH (social worker) được Hiệp hội các nhà công

tác xã hội chuyên nghiệp Quốc tế – IASW định nghĩa: “nhân viên CTXH là

người được đào tạo và trang bị các kiến thức và kỹ năng trong công tác xã hội,

3

Giáo trình Nhập môn CTXH, PGS.TS Nguyên An Lịch, NXB Lao động, 2013

Trang 29

họ có nhiệm vụ: trợ giúp các đối tượng nâng cao khả năng giải quyết và đối phó với vấn đề trong cuộc sống; tạo cơ hội để các đối tượng tiếp cận được nguồn lực cần thiết; thúc đẩy sự tương tác giữa các cá nhân, giữa cá nhân với môi trường tạo ảnh hưởng tới chính sách xã hội, các cơ quan, tổ chức vì lợi ích của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng thông qua hoạt động nghiên cứu và hoạt động thực tiễn”

Như vậy, theo quy định của Hiệp hội quốc tế về nghề CTXH thì nhân viên công tác xã hội phải được đào tạo, trang bị các kiến thức và kỹ năng trong công tác xã hội một cách nghiêm túc Ngoài ra, nhân viên CTXH còn phải thể hiện trình độ và trách nhiệm của mình trợ giúp có hiệu quả những đối tượng có nhu cầu để nâng cao năng lực giải quyết các vấn đề trong cuộc sống của họ.4

Tại Việt Nam, nhân viên CTXH được coi là những người hoạt động trong khu vực nhà nước và phi chính phủ, cung cấp các dịch vụ trợ giúp các nhóm yếu thế

Theo Thông tư 08/2010/TT – BNV ngày 25 tháng 8 năm 2010 của Bộ Nội vụ về tiêu chuẩn nghiệp vụ của cán bộ, viên chức CTXH (người làm CTXH thuộc khu vực nhà nước), nhân viên CTXH được chia thành: Nhân viên công tác xã hội, công tác xã hội viên, công tác xã hội viên chính với những yêu cầu và tiêu chuẩn cụ thể

Theo Thông tư 07/2013/TT – BLĐTBXH ngày 24 tháng 5 năm 2013 của Bộ LĐ – TB&XH về cộng tác viên CTXH, Việt Nam còn có chức danh cộng tác viên, những người làm việc trong lĩnh vực bán chuyên nghiệp tại cộng đồng

Như vậy có thể thấy rằng nhân viên CTXH là những người được đào tạo bài bản, có kiến thức, kỹ năng chuyên môn để làm việc trong các cơ quan cung cấp dịch vụ trợ giúp các cá nhân, nhóm, cộng đồng5

4

Nguyễn An Lịch (2013),Giáo trình Nhập môn Công tác xã hội, NXB Lao động, Hà Nội

QGHN

Trang 30

- Vai trò của nhân viên CTXH

Khi nhân viên CTXH ở những vị trí khác nhau thì vai trò và các hoạt động của họ cũng rất khác nhau, tùy theo chức năng và nhóm đối tượng họ làm việc

Theo quan điểm của Feyerico (1973) nhân viên CTXH có những vai trò như: Nhà giáo dục, người vận động nguồn lực, biện hộ, kết nối, nhà vận động xã hội, người trao quyền Và những vai trò của nhân viên CTXH không thể hiện theo một khuôn mẫu nhất định Tùy vào vấn đề của đối tượng, điều kiện, hoàn cảnh khác nhau của từng thân chủ, vai trò của nhân viên CTXH cũng thể hiện theo các cách khác nhau

Trong việc trợ giúp phụ nữ nông thôn có chồng nhiễm HIV/AIDS, nhân viên CTXH cần thể hiện được một số vai trò sau đây:

- Vai trò là người vận động nguồn lực: Nhân viên CTXH tìm kiếm và vận động các nguồn lực trong và ngoài cộng đồng cũng hỗ trợ giải quyết vấn đề của thân chủ

- Vai trò là người kết nối các dịch vụ, chính sách và giới thiệu cho phụ nữ

có chồng nhiễm HIV về các chính sách, dịch vụ, nguồn tài nguyên đang s n có

- Vai trò là người biện hộ: là người bảo vệ quyền lợi cho đối tượng để họ được hưởng những dịch vụ, chính sách, quyền lợi của họ đặc biệt trong những trường hợp họ bị từ chối Với vai trò là người biện hộ, nhân viên CTXH phải bảo

vệ những quyền và lợi ích chính đáng cho người phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS

- Vai trò là người giáo dục: là người cung cấp kiến thức kỹ năng liên quan tới vấn đề phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS cần giải quyết, nâng cao năng lực cho cá nhân người phụ nữ, gia đình phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS hay cộng đồng thông qua các hình thức như tập huấn, giáo dục cộng đồng

- Vai trò là người vận động xã hội: Nhân viên CTXH là người vận động mọi tầng lớp xã hội hiêu rõ về trách nhiệm đối với thân chủ, tìm mọi giải pháp tạo nên sự thay đổi, đảm bảo sự công bằng, bình đẳng và tạo mọi điều kiện cho thân chủ tham gia vào sự phát triển xã hội Ví dụ nhân viên CTXH vận động sự giúp đỡ của cộng đồng trong việc hỗ trợ phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS vượt

Trang 31

qua khó khăn,giảm kỳ thị và phân biệt đối xử với người phụ nữ, chồng và những người thân trong gia đình họ

- Vai trò người tạo sự thay đổi: Nhân viên CTXH tham gia vào các hoạt động phát triển cộng đồng để tạo nên sự thay đổi về đời sống cũng như tư duy của người dân đối với vấn đề HIV/AIDS

- Vai trò là người tư vấn: Nhân viên CTXH tư vấn, cung cấp thông tin cho

cá nhân, gia đình cộng đồng, làm việc với những nhà chuyên môn khác để giúp

họ có được những dịch vụ tốt hơn

- Vai trò là người tham vấn: Nhân viên CTXH trợ giúp gia đình và cá nhân người phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS tự mình xem xét vấn đề, và tự thay đổi Ví dụ như nhân viên CTXH tham gia tham vấn giúp phụ nữ lây nhiễm HIV/AIDS từ chồng vượt qua khủng hoảng

- Vai trò là người trợ giúp xây dựng và thực hiện kế hoạch

- Vai trò là người trao quyền: Nhân viên CTXH trao quyền cho thân chủ trong việc lựa chọn giải pháp và thực hiện kế hoạch nhằm tăng cường khả năng

tự ứng phó, giải quyết các vấn đề mà thân chủ đang gặp phải

hệ thống và ngược lại cũng là một phần của các hệ thống lớn hơn

“Hệ thống được hiểu là một tập hợp các bộ phận cấu thành và các quá trình trong mối liên hệ qua lại theo trật tự năng động bao gồm cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng Lý thuyết hệ thống chỉ ra sự tác động mà các tổ chức cơ sở, nhóm, cộng đồng ảnh hưởng lên cá nhân Và trong công tác xã hội thì lý thuyết này nhấn mạnh đến việc xem xét đối tượng không chỉ là yếu tố tách biệt, riêng lẻ

mà như là một hệ thống bao gồm nhiều hệ thống nhỏ hơn và có mối quan hệ mật thiết bên trong các hệ thống đó cũng như giữa các hệ thống với nhau”

Trang 32

Vận dụng lý thuyết hệ thống để xem xét một cách toàn diện các hệ thống tác động, ảnh hưởng đến cuộc sống người phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS hiện nay tại địa bàn huyện Phổ Yên, Thái Nguyên Bản thân người phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS là một hệ thống bao gồm nhiều tiểu hệ thống như: Cấu trúc sinh học, tình cảm, … đồng thời là một phần của hệ thống lớn hơn như: Gia đình, bạn bè, cộng đồng, tổ chức đoàn thể, cơ sở y tế, cơ quan làm việc… Việc tìm hiểu và xem xét các hệ thống xung quanh thân chủ, xem xét mối quan hệ tác động qua lại giữa các hệ thống với nhau giúp nhân viên CTXH có cái nhìn tổng quát, tránh phiến diện về vấn đề của người phụ nữ nông thôn có chồng nhiễm HIV/AIDS

b Thuyết hệ thống sinh thái

Lý thuyết sinh thái là một tập hợp con của lý thuyết hệ thống Thuyết này nhấn mạnh đến sự tương tác giữa con người và môi trường họ đang sống, tìm kiếm nguyên nhân từ phía môi trường và đề ra phương hướng giải quyết vấn đề Môi trường trong quan điểm sinh thái được biểu thị ở 3 cấp độ sau:

+ Cấp độ vi mô: Hệ thống này đề cập đến một cá nhân là phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS và sự kết hợp các hệ thống sinh học, tâm lý, xã hội tác động lên cá nhân đó Vận dụng cấp độ này giúp cho chúng ta thấy những đặc điểm tâm sinh lý của phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS hiện nay như thế nào

+ Cấp độ trung mô: Hệ thống này đề cập đến các nhóm nhỏ ảnh hưởng đến cá nhân phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS như con cái, anh em, họ hàng, bạn bè Xem xét mối quan hệ giữa người phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS với chồng, con và bạn bè của thân chủ, các mối quan hệ này có nảy sinh các vấn đề tác động đến người phụ nữ hay không

+ Cấp độ vĩ mô: Hệ thống này đề cập đến các nhóm, hệ thống lớn hơn gia đình như các tổ chức xã hội ở địa phương mà phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS hiện nay đang tham gia, các thiết chế kinh tế, chính trị, y tế, cộng đồng xã hội và nền văn hóa đặc trưng của khu vực họ đang sinh sống có sự tác động ảnh hưởng như thế nào đến cuộc sống của người phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn

Trang 33

Lý thuyết hệ thống sinh thái đòi hỏi nhân viên CTXH cần hiểu rõ về các

hệ thống xung quanh thân chủ và môi trường sống của họ Bởi vấn đề HIV/AIDS ảnh hưởng đến thân chủ đều xuất phát từ môi trường sống của họ (tệ nạn xã hội, nghèo đói, không có việc làm, nhận thức yếu kém…) nên nhân viên CTXH phải tác động nhằm không chỉ thay đổi con người thân chủ mà còn tác động thay đổi môi trường sống của người phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS theo chiều tích cực

Quan trọng hơn, thông qua việc tìm hiểu hệ thống - sinh thái của thân chủ giúp nhân viên CTXH tìm ra điểm yếu, những khó khăn rào cản của phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS Trên cơ sở đó nhân viên CTXH sẽ tìm ra nguồn lực trợ giúp và điểm mạnh của đối tượng này nhằm:

Giúp thân chủ sử dụng và phát huy tối đa khả năng của mình để giải quyết vấn đề

Xây dựng mối quan hệ giữa phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS với các hệ thống trợ giúp trong xã hội như trung tâm y tế dự phòng và dạy nghề huyện Phổ Yên, các hội, tổ chức đoàn thể tại địa phương đặc biệt là hội liên hiệp phụ nữ, hội nông dân giúp cho họ thấy được ở nơi này họ luôn được chào đón, không bị phân biệt đối xử, tạo mọi điều kiện để hòa nhập cộng đồng

Giúp tăng cường khả năng tương tác của con người và các hệ thống ví dụ như giúp cho phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS được khám và kiểm tra sức khỏe định kỳ tại cơ sở y tế gần nhất, được sử dụng thuốc kháng ARV một cách thường thuyên khi họ nhiễm bệnh theo đúng chính sách ưu đãi của Đảng và Nhà nước đã quy định cho đối tượng nhiễm HIV/AIDS

Hơn nữa vận dụng lý thuyết này để cải tạo được mối quan hệ giữa những con người trong cùng một hệ thống như gia đình, giúp cho các thành viên trong gia đình phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS thấy được họ vẫn là một thành viên trong gia đình, có những quyền con người nhất định các thành viên trong gia đình không nên xa lánh, kỳ thị, có các hành vi phân biệt đối xử mà phải yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ nhau trong mọi hoàn cảnh

Trang 34

1.2.2 Lý thuyết Nhu cầu của Maslow

Thuyết này do nhà tâm lí học người Mĩ Abraham Masslow xây dựng vào những năm 50 của thế kỉ XX

Hệ thống cấp bậc nhu cầu của Masslow được thể hiện dưới dạng một hình kim tự tháp, các nhu cầu ở bậc thấp (Nhu cầu cho sự tồn tại) thì xếp phía dưới, trong khi những nhu cầu cho sự phát triển, sự hoàn thiên cá nhân được coi là quan trọng hơn, giá trị hơn, chúng được xếp ở thang bậc cao hơn của kim tự tháp Trong hệ thống thứ bậc nhu cầu của Masslow, ông cho rằng mỗi nhu cầu của con người đều phụ thuộc vào nhu cầu trước đó Nếu một nhu cầu không được đáp ứng, cá nhân sẽ gặp những cản trở trong việc theo đuổi những nhu cầu cao hơn và đó cũng là những nguyên nhân gây ra những khó khăn về tâm lí Năm nhu cầu này bao gồm:

 Nhu cầu cơ bản ((basic needs): bao gồm các nhu cầu cơ bản của con

người như ăn, uống, ngủ, không khí để thở, tình dục…Đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người Trong hình kim tự tháp, chúng ta thấy những nhu cầu này được xếp vào bậc thấp nhất: bậc cơ bản nhất Maslow cho rằng, những nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện trừ khi những nhu cầu

cơ bản này được thỏa mãn và những nhu cầu cơ bản này sẽ chế ngự, hối thúc, giục giã một người hành động khi nhu cầu cơ bản này chưa đạt được Nhu cầu

cơ bản này phù hợp với quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng: Con người trước hết phải được đáp ứng các các nhu cầu ăn, mặc ở

 Nhu cầu về an toàn, an ninh (safety needs): Nhu cầu an toàn và an ninh

này thể hiện trong cả thể chất lẫn tinh thần Con người mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống c n của mình khỏi các nguy hiểm Nhu cầu này sẽ trở thành động cơ hoạt động trong các trường hợp khẩn cấp, nguy khốn đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai, lũ lụt, hoả hoạn

 Nhu cầu về xã hội (social needs): Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu

mong muốn thuộc về một bộ phận, một tổ chức nào đó (belonging needs) hoặc nhu cầu về tình cảm, tình thương (needs of love) Nếu nhu cầu này không được thoả mãn, đáp ứng, nó có thể gây ra các bệnh trầm trọng về tâm lý

Trang 35

 Nhu cầu được quý trọng (esteem needs): Nhu cầu này còn được gọi là nhu

cầu tự trọng v nó thể hiện 2 cấp độ: nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân, và nhu cầu cảm nhận, quý trọng chính bản thân, danh tiếng của mình, có lòng tự trọng, sự tự tin vào khả năng của bản thân

 Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs): Khi nghe về nhu cầu

này: “thể hiện mình” chúng ta khoan vội gán cho nó ý nghĩa tiêu cực Không phải ngẫu nhiên mà nhu cầu này được xếp đặt ở mức độ cao nhất Nhu cầu của một cá nhân mong muốn được là chính mình, được làm những cái mà mình “sinh

ra để làm” Nói một cách đơn giản hơn, đây chính là nhu cầu được sử dụng hết khả năng, tiềm năng của mình để tự khẳng định mình, để làm việc, đạt các thành quả, cống hiến cho cộng đồng xã hội

Hình 1: Tháp nhu cầu của Maslow

Vận dụng lý thuyết vào đề tài có vai trò quan trọng trong việc đánh giá những nhu cầu của nhóm phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS, mỗi thân chủ khác nhau sẽ có những nhu cầu khác nhau Chẳng hạn, người phụ nữ lây nhiễm HIV

từ chồng có nhu cầu cơ bản là được chăm sóc và có chế độ ăn uống dinh dưỡng

để nâng cao sức khỏe, nhu cầu cần được mọi người tôn trọng và không phân biệt đối xử là những nhu cầu được xếp hạng ưu tiên nhưng ở nhóm phụ nữ chưa lây nhiễm HIV/AIDS từ chồng thì nhu cầu an toàn, tránh được các nguy cơ lây nhiễm lại trở nên cấp bách Điều đó có nghĩa nhu cầu của thân chủ rất đa dạng và

Trang 36

phức tạp Nhân viên CTXH cần phải phát hiện nhu cầu cho đúng và phân loại nhu cầu theo các cấp độ khác nhau.Đặc biệt khi đánh giá nhu cầu của phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS nhân viên CTXH cần dựa trên cơ sử tông trọng ý kiến của thân chủ chứ không thể áp đặt Mặt khác phải kết hợp giữa việc đáp ứng nhu cầu thân chủ với khả năng của tổ chức, của xã hội

1.2.3 Thuyết thân chủ trọng tâm

Lý thuyết thân chủ trọng tâm là một trong những lí thuyết căn bản của ngành Công tác xã hội do nhà tâm lí học người Mĩ Carl Rorgers sáng lập Lí thuyết này nhấn mạnh sự tự do, những giá trị, khuynh hướng tự chủ, sáng tạo, những kinh nghiệm và sự hài hước của con người

Lý thuyết này luôn nhìn nhận thân chủ theo một hướng tích cực, mỗi cá nhân con người trong quá trình tồn tại luôn tự hoàn thiện mình, vì thế bản thân

họ cần được trao quyền để chủ động trong giải quyết vấn đề Theo Rogers mọi cá nhân đều có những tiềm năng riêng để họ có thể phát triển một cách tích cực Nếu như một cá nhân gặp phải khó khăn về tâm lư, có những hành vi không phù hợp là do họ sống trong môi trường không lành mạnh, không có điều kiện để họ phát huy tiềm năng của họ Vì vậy, con người cần được giúp đỡ để phát triển tiềm năng tâm lý một cách phù hợp

Lý thuyết thân chủ trọng tâm còn nhấn mạnh đến việc đặt thân chủ vào vị trí trung tâm của tiến trình CTXH, từ khi tiếp cận đến quá trình tìm hiểu, chẩn đoán, trị liệu, nhân viên CTXH phải luôn đặt thân chủ là mối quan tâm hàng đầu, gạt bỏ những mặc cảm, tự ti hay những cảm xúc tiêu cực Đồng thời lí thuyết này nhấn mạnh đến sự tự chủ của cá nhân, làm chủ cuộc sống Nhân viên CTXH chỉ đóng vai trò là chất xúc tác, trợ giúp cho thân chủ trong quá trình giải quyết vấn

đề, quyền quyết định thuộc về thân chủ

Với những người phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS, trong cuộc sống họ luôn phải đối mặt với những khó khăn thử thách, sự phân biệt, kỳ thị và tự kỳ thị,… những rào cản đó đã khiến người phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS thu mình trong “vỏ bọc” Vì vậy vận dụng lý thuyết thân chủ trọng tâm vào đề tài nghiên cứu cho thấy nhiệm vụ của nhân viên CTXH là giúp những người phụ nữ

Trang 37

có chồng nhiễm HIV/AIDS tháo bỏ những rào cản trong môi trường xã hội, giúp

họ hiểu được chính mình, chấp nhận hoàn cảnh và tự điều chỉnh bản thân để đạt được trạng thái cân bằng Theo thuyết này thì người nhân viên CTXH khi làm việc với những phụ nữ có HIV không phải là chữa trị cho thân chủ hoặc tìm kiếm những nguyên nhân từ quá khứ Thay vào đó họ cần khuyến khích thân chủ

tự hiện thực hóa những tiềm năng của bản thân mình Phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS phải được xem như là một chủ thể có hiểu biết, họ phải được hiểu, được chấp nhận để nhân viên CTXH có thể cung cấp những loại hình giúp đỡ được tốt hơn Nhân viên CTXH cần phải khuyến khích thân chủ khẳng định năng lực cá nhân của họ trong tiến trình giải quyết vấn đề của chính mình

1.2.4 Tiếp cận dựa trên thuyết về quyền con người

Tiếp cận dựa trên quyền con người là một khung lý thuyết có chứa đựng các nguyên tắc, tiêu chuẩn và mục tiêu của hệ thống quyền con người trong quá trình lập kế hoạch và tiến trình thực hiện các hoạt động công tác xã hội

Cách tiếp cận dựa trên quyền lấy nền tảng cơ bản chính là hệ thống quyền con người đã được pháp luật quốc tế bảo vệ Với cách tiếp cận theo quyền, nhân viên CTXH cần dựa trên hệ thống quyền con người để xây dựng các phương pháp và hoạt động của những mô hình phát triển xã hội

Theo cách tiếp cận này, nhân viên CTXH thực hiện việc trao quyền cho con người thực hiện các quyền của mình đồng thời đảm bảo những bên có nghĩa

vụ thực hiện nghĩa vụ của mình

Trên phương diện vĩ mô, cách tiếp cận dựa trên quyền có bàn đến tầm quan trọng của nhà nước và chính phủ trong mối quan hệ tương quan với công dân của họ về mặt quyền và nghĩa vụ

Cũng giống như những cách tiếp cận khác, tiếp cận dựa trên quyền nhằm hướng đến việc cải thiện hoàn cảnh của con người, tập trung vào nhu cầu, vấn đề

và tiềm năng của họ Theo cách này, cách tiếp cận dựa trên quyền có đề cập đến những vấn đề luôn được coi là trọng yếu đối với sự phát triển, như là thực phẩm, nước, nhà ở, y tế, giáo dục, an toàn, tự do

Trang 38

Với cách tiếp cận dựa trên quyền, nhân viên CTXH là người thực hiện vai trò biện hộ, ngay cả khi đối tượng có hoặc chưa nhận thức được những quyền của

họ Đối với nhóm phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS, họ thường bị xã hội kỳ thị, xa lánh, họ gặp khó khăn trong vấn đề lao động, việc làm, vấn đề tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe Đôi khi bản thân người phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS lại tự kỳ thị và có những nhận thức tiêu cực về bản thân, điều này cũng là rào cản trong việc tìm kiếm nguồn lực trợ giúp Hoặc cũng có thể họ không nhận ra những quyền lợi mà mình được hưởng Vì vậy, nhân viên CTXH cần biện hộ giúp họ có thể thực hiện được những quyền và nghĩa vụ của cá nhân

họ, đảm bảo sự công bằng với tất cả những mọi người trong xã hội

1.3 Quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Hiện nay, các chính sách của Nhà nước không đề cập trực tiếp đến nhóm phụ

nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS mà tập trung chủ yếu vào nhóm phụ nữ nhiễm HIV/AIDS nói chung, trong đó có liên quan đến nhóm đối tượng phụ nữ lây nhiễm HIV/AIDS từ chồng mà đề tài nghiên cứu Vì vậy, khi tìm hiểu về quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước liên quan đến nhóm khách thể mà đề tài nghiên cứu, tác giả chỉ đề cập đến luật pháp, chính sách đối với người nhiễm HIV (trong đó bao hàm cả nhóm phụ nữ lây nhiễm HIV/AIDS từ chồng)

1.3.1 Luật phòng chống HIV/AIDS

Luật phòng chống nhiễm virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người ( HIV/AIDS) số 64/2006/QH11 ngày 29/6/2006, có hiệu lực từ ngày 1/1/2007( sau đây gọi là Luật phòng, chống HIV/AIDS) Luật quy định các biện pháp phòng chống HIV/AIDS; chăm sóc, điều trị, hỗ trợ người nhiễm HIV

và các điều kiện đảm bảo thực hiện phòng chống HIV

Quyền và nghĩa vụ của người nhiễm HIV/AIDS

Người nhiễm vẫn có quyền và nghĩa vụ Thực hiện tốt quyền đối với người nhiễm sẽ giúp họ sống có ích hơn và nâng cao chất lượng cuộc sống!

Chống phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS là trách nhiệm toàn thể cộng đồng và bản thân người nhiễm HIV/AIDS Xác định được quyền và

Trang 39

nghĩa vụ của người nhiễm HIV sẽ từng bước tháo gỡ được rào cản của sự kỳ thị,

xa lánh và phân biệt đối xử

Theo qui định của pháp luật hiện hành, những người bị nhiễm HIV/AIDS

có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định Theo Luật phòng chống HIV/AIDS và Nghị ðịnh số 108/CP ngày 01/06/1996 của chính phủ hướng dẫn thi luật, người bị nhiễm HIV/AIDS có các quyền và nghĩa vụ như sau:

Quyền được khám chữa bệnh:

Đây là một quyền rất quan trọng và cần thiết Điều 28, khoản3 qui định:

"Thầy thuốc và nhân viên y tế có trách nhiệm chăm sóc bệnh nhân AIDS… Người bị nhiễm HIV/AIDS mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội thuộc chuyên khoa nào thì được cứu chữa tại chuyên khoa đó hoặc tại chuyên khoa riêng " Về vấn

đề này, điều 7, Nghị định 108/2007/NĐ-CP quy định cụ thể như sau: "Người bị nhiễm HIV/AIDS khi mắc bệnh nhiễm trùng xảy ra nhân cơ hội cơ thể bị suy giảm miễn dịch, được điều trị tại các cơ sở y tế của Nhà nước Các cơ sở Y tế của Nhà nước có trách nhiệm nhận người bệnh AIDS vào điều trị, không được từ chối hoặc phân biệt đối xử với bất kỳ trường hợp nào" Điều 13, khoản 3 còn quy định "Mọi người trong gia đình của người bị nhiễm HIV/AIDS có trách nhiệm cùng xã hội chăm sóc sức khỏe, động viên tinh thần người bị nhiễm HIV/AIDS để họ được hòa nhập trọng gia đình và cộng đồng"

Quyền được giữ bí mật:

Đây cũng là một quyền quan trọng đối với người bị nhiễm HIV/AIDS vì quyền này đảm bảo cho họ không bị xa lánh, phân biệt đối xử hoặc bị kỳ thị… Điều 30 quy định: "cán bộ xét nghiệm và các cơ sở xét nghiệm của nghành y tế

có trách nhiệm giữ bí mật tên, tuổi, địa chỉ của người đến xét nghiệm phát hiện nhiễm HIV/AIDS Chỉ người có trách nhiệm của cơ sở Y tế mới được quyền thông báo kết quả xét nghiệm của người bị nhiễm HIV/AIDS cho vợ, chồng hoặc người thân trong gia đình của người đó và cho cơ quan, tổ chức, người có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc sức khỏe cho người nhiễm HIV/AIDS Nghiêm cấm việc đưa thông tin công khai về tên, tuổi, địa chỉ, hình ảnh của người bị nhiễm HIV/AIDS, trừ trường hợp được sự đồng ý của người đó"

Trang 40

Quyền không bị phân biệt, đối xử:

Quyền này được quy định tại điều 8 và điều 10: "Người bị nhiễm HIV/AIDS không bị phân biệt đối xử nhưng phải thực hiện các biện pháp phòng, chống lây truyền bệnh để bảo vệ sức khỏe cộng đồng theo quy định của Pháp luật" Nội dung quy định này thể hiện cụ thể nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật

Quyền lao động:

Quyền lao động là một trong những quyền cơ bản của con người Người

bị nhiễm HIV nhưng chưa đến giai đoạn AIDS vẫn còn khoẻ mạnh, do đó Luật không quy định hạn chế quyền lao động của người bị nhiễm HIV/AIDS Theo quy định tại điều 14 thì chủ sử dụng lao động có trách nhiệm bố trí, tạo điều kiện

để người nhiễm HIV làm việc phù hợp và không dược chấm dứt hợp đồng lao động cũng như từ chối nâng lương hay đề bạt, đồng thời người bị nhiễm HIV/AIDS không được làm việc trong một số nghành, nghề dễ lây truyền HIV/AIDS Danh mục ngành, nghề này do Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội phối hợp với Bộ Y tế quy định

Quyền về quyết định xét nghiệm HIV/AIDS:

Ngoại trừ các trường hợp đặc biệt đã được bộ Y tế qui định, bệnh viện

không có quyền đòi hỏi bệnh nhân phải xét nghiệm HIV nếu họ không đồng ý làm điều đó vì theo quy định tại Điều 27 của việc xét nghiệm HIV phải dựa tręn

cơ sở tự nguyện: “ Người tự nguyện xét nghiệm HIV phải từ đủ 16 tuổi trở lên,

có năng lực hành vi dân sự Việc xét nghiệm HIV đối với người dưới 16 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý bằng văn bản của cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó.” Tuy nhiên, khoản 2 Điều 28

qui định rằng:“Bộ trưởng Bộ Y tế quy định việc xét nghiệm HIV bắt buộc trong

một số trường hợp cần thiết để chẩn đoán và điều trị cho người bệnh”

Quyền tự do đi lại:

Điều 68, Hiến pháp năm 1992, quy định: "Công dân có quyền tự do đi lại

và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy đinh của Pháp luật" Trên cơ sở đó, pháp luật hiện hành về phòng, chống

Ngày đăng: 26/06/2023, 14:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Tô Thu Hà (2007), Tìm hiểu Luật Phòng, chống nhiễm virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV – AIDS),NXB Lao Động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu Luật Phòng, chống nhiễm virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV – AIDS)
Tác giả: Tô Thu Hà
Nhà XB: NXB Lao Động
Năm: 2007
12. Nguyễn Thị Hằng (1997), Vấn đề xóa đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề xóa đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Hằng
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1997
13. Khuất Thu Hồng và cộng sự (2004), Tìm hiểu vấn đề Kỳ thị và Phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS ở Việt Nam. ICRW. Washington, D.C Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu vấn đề Kỳ thị và Phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS ở Việt Nam
Tác giả: Khuất Thu Hồng, cộng sự
Nhà XB: ICRW
Năm: 2004
14. Ngô Thị Mai Hiên, Quyền của phụ nữ theo pháp luật Việt Nam, luận văn thạc sỹ, Khoa Luật, trường Đại học QGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền của phụ nữ theo pháp luật Việt Nam
Tác giả: Ngô Thị Mai Hiên
Nhà XB: Khoa Luật, trường Đại học QGHN
15. Nguyễn Thị Thái Lan, Bùi Thị Xuân Mai (2011), Giáo trình Công tác xã hội với cá nhân và gia đình, NXB Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Công tác xã hội với cá nhân và gia đình
Tác giả: Nguyễn Thị Thái Lan, Bùi Thị Xuân Mai
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội
Năm: 2011
16. Nguyễn An Lịch (2013), “Nhập môn công tác xã hội”, NXB Đại học Công Đoàn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn công tác xã hội
Tác giả: Nguyễn An Lịch
Nhà XB: NXB Đại học Công Đoàn
Năm: 2013
17. Bùi Thị Xuân Mai (2010), Giáo trình nhập môn Công tác xã hội, NXB Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nhập môn Công tác xã hội
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội
Năm: 2010
18. Lưu Thị Mận (2014), Tác động của HIV/AIDS đối với phụ nữ, Tạp chí AIDS và cộng đồng số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của HIV/AIDS đối với phụ nữ
Tác giả: Lưu Thị Mận
Nhà XB: Tạp chí AIDS và cộng đồng
Năm: 2014
19. Vũ Thị Thanh Phương (2014)“Hoạt động tham vấn cho phụ nữ nhiễm HIV/AIDS tại nhóm Hoa Hướng Dương, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên”(Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Công tác xã hội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động tham vấn cho phụ nữ nhiễm HIV/AIDS tại nhóm Hoa Hướng Dương, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Vũ Thị Thanh Phương
Nhà XB: Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Công tác xã hội
Năm: 2014
20. Phạm Văn Quyết – Nguyễn Quý Thanh (2001), Phương pháp nghiên cứu xã hội học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu xã hội học
Tác giả: Phạm Văn Quyết, Nguyễn Quý Thanh
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
21. Lê Thi (2011), Vài nét bàn về việc thực thi công bằng, dân chủ và bình đẳng nam nữ ở Việt Nam hiện nay, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét bàn về việc thực thi công bằng, dân chủ và bình đẳng nam nữ ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Lê Thi
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2011
22. Lê Thi (1998), Chính sách xã hội với phụ nữ nông thôn – Quá trình xây dựng và thực hiện, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách xã hội với phụ nữ nông thôn – Quá trình xây dựng và thực hiện
Tác giả: Lê Thi
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1998
23. Lê Thi (1998), Phụ nữ nông thôn và việc phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ nông thôn và việc phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp
Tác giả: Lê Thi
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1998
24. Đào Việt Tuấn, Báo cáo nghiên cứu khoa học“Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm HIV và kiến thức, thái độ, thực hành về dự phòng lây nhiễm của các nữ thành viên CLB Hoa Phượng – Hải Phòng năm 2009-2010”, TTPC HIV/AIDS Hải Phòng.III. Tài liệu địa phương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm HIV và kiến thức, thái độ, thực hành về dự phòng lây nhiễm của các nữ thành viên CLB Hoa Phượng – Hải Phòng năm 2009-2010
Tác giả: Đào Việt Tuấn
Nhà XB: TTPC HIV/AIDS Hải Phòng
Năm: 2009-2010
25. Báo cáo tổng kết công tác hội và phong trào phụ nữ năm 2014, phương hướng nhiệm vụ năm 2015, Hội LHPN huyện Phổ Yên, 2014 Khác
26. Báo cáo danh sách hộ nghèo, cận nghèo huyện Phổ Yên năm 2014 Khác
27. Báo cáo tổng kết chương trình phòng chống HIV/AIDS – 2015, Trung tâm y tế huyện Phổ Yên Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1:  Tháp nhu cầu của Maslow - Luận Văn Công Tác Xã Hội, Nhân Viên Công Tác Xã Hội, Trợ Giúp Phụ Nữ Nông Thôn.pdf
Hình 1 Tháp nhu cầu của Maslow (Trang 35)
Bảng 2.1 Số phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS ở 3 xã Đắc Sơn, Vạn Phái, - Luận Văn Công Tác Xã Hội, Nhân Viên Công Tác Xã Hội, Trợ Giúp Phụ Nữ Nông Thôn.pdf
Bảng 2.1 Số phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS ở 3 xã Đắc Sơn, Vạn Phái, (Trang 51)
Bảng 2.2. Độ tuổi của phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS - Luận Văn Công Tác Xã Hội, Nhân Viên Công Tác Xã Hội, Trợ Giúp Phụ Nữ Nông Thôn.pdf
Bảng 2.2. Độ tuổi của phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS (Trang 52)
Bảng 2.4 Trình độ học vấn của phụ nữ có chồng nhiễm HIV - Luận Văn Công Tác Xã Hội, Nhân Viên Công Tác Xã Hội, Trợ Giúp Phụ Nữ Nông Thôn.pdf
Bảng 2.4 Trình độ học vấn của phụ nữ có chồng nhiễm HIV (Trang 53)
Bảng 2.5 Sự biến đổi trong cơ cấu nghề nghiệp của phụ nữ có  HIV/AIDS (lây nhiễm từ chồng) trước và sau khi nhiễm HIV/AIDS - Luận Văn Công Tác Xã Hội, Nhân Viên Công Tác Xã Hội, Trợ Giúp Phụ Nữ Nông Thôn.pdf
Bảng 2.5 Sự biến đổi trong cơ cấu nghề nghiệp của phụ nữ có HIV/AIDS (lây nhiễm từ chồng) trước và sau khi nhiễm HIV/AIDS (Trang 55)
Bảng 2.6 Lao động chính trang trải chi phí y tế  trong gia đình phụ nữ có - Luận Văn Công Tác Xã Hội, Nhân Viên Công Tác Xã Hội, Trợ Giúp Phụ Nữ Nông Thôn.pdf
Bảng 2.6 Lao động chính trang trải chi phí y tế trong gia đình phụ nữ có (Trang 57)
Bảng 2.7 Tỷ lệ gia đình phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS có sổ hộ nghèo - Luận Văn Công Tác Xã Hội, Nhân Viên Công Tác Xã Hội, Trợ Giúp Phụ Nữ Nông Thôn.pdf
Bảng 2.7 Tỷ lệ gia đình phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS có sổ hộ nghèo (Trang 58)
Bảng 2.11. Hành động của những phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS khi họ - Luận Văn Công Tác Xã Hội, Nhân Viên Công Tác Xã Hội, Trợ Giúp Phụ Nữ Nông Thôn.pdf
Bảng 2.11. Hành động của những phụ nữ có chồng nhiễm HIV/AIDS khi họ (Trang 63)
Bảng 2.13 Nhu cầu cần đƣợc hỗ trợ để cải thiện kinh tế gia đình của phụ nữ - Luận Văn Công Tác Xã Hội, Nhân Viên Công Tác Xã Hội, Trợ Giúp Phụ Nữ Nông Thôn.pdf
Bảng 2.13 Nhu cầu cần đƣợc hỗ trợ để cải thiện kinh tế gia đình của phụ nữ (Trang 65)
Bảng 2.14 Nhu cầu cần đƣợc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe và các vấn đề về - Luận Văn Công Tác Xã Hội, Nhân Viên Công Tác Xã Hội, Trợ Giúp Phụ Nữ Nông Thôn.pdf
Bảng 2.14 Nhu cầu cần đƣợc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe và các vấn đề về (Trang 66)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w