I ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TẠ THỊ NGỌC BÍCH VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ HÒA NHẬP CHO TRẺ CHẬM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ TẠI TRƢỜNG MẦM NON (Ứ[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TẠ THỊ NGỌC BÍCH
VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ HÒA NHẬP CHO TRẺ CHẬM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ TẠI TRƯỜNG MẦM NON
(Ứng dụng phương pháp Công tác xã hội với cá nhân nghiên cứu trên hai trường hợp trẻ chậm phát triển
ngôn ngữ Nguyễn M và Lưu T.Đ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TẠ THỊ NGỌC BÍCH
VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ HÒA NHẬP CHO TRẺ CHẬM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ TẠI TRƯỜNG MẦM NON
(Ứng dụng phương pháp Công tác xã hội với cá nhân nghiên cứu trên hai trường hợp trẻ chậm phát triển
ngôn ngữ Nguyễn M và Lưu T.Đ)
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trần Thu Hương
Hà Nội - 2015
Trang 3MỤC LỤC
1 Lý do lựa chọn vấn đề can thiệp 8
2 Tổng quan về những nghiên cứu, can thiệp liên quan đến đề tài 8
2.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu, can thiệp về trẻ chậm phát triển
ngôn ngữ trên thế giới
8
2.2 Tổng quan lịch sử nghiên cứu, can thiệp về trẻ chậm phát triển
ngôn ngữ tại Việt Nam
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 20
1.1.1 Khái niệm Chậm phát triển ngôn ngữ 20 1.1.2 Khái niệm Vai trò của Nhân viên Công tác xã hội trong hỗ
trợ hòa nhập cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ
20
1.1.3 Sự khác nhau giữa Nhân viên Công tác xã hội với một số ngành
nghề trong hoạt động can thiệp cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ
Trang 41.2.1 Lý thuyết nhận thức – hành vi 32 1.2.2 Lý thuyết học tập xã hội 33 1.2.3 Lý thuyết Công tác xã hội với cá nhân 33
CHƯƠNG 2: CÁC HOẠT ĐỘNG CAN THIỆP 36 2.1 Vài nét về địa bàn can thiệp 36
2.3 Kết quả can thiệp của bé Nguyễn M 38
2.3.3 Tiến trình thực hiện hỗ trợ hòa nhập b Nguy n M 46
2.3.3.1 Nhân viên Công tác xã hội can thiệp với vai trò là giáo viên 46 2.3.3.2 Nhân viên Công tác xã hội với vai trò là người kết nối nguồn lực 59
2.4 Kết quả can thiệp của bé Lưu T.Đ 61
2.4.1 Mô tả trường hợp 61
2.4.2 Kết quả sàng lọc 61
2.4.3 Tiến trình thực hiện hỗ trợ hòa nhập b Lưu T 65 2.4.3.1 Nhân viên Công tác xã hội can thiệp với vai trò là giáo viên 65 2.4.3.2 Nhân viên Công tác xã hội với vai trò là người kết nối nguồn lực 77 2.5 Lý giải lý do sử dụng phương pháp Công tác xã hội với cá nhân để can thiệp cho thân chủ 79 2.6 Phân tích và đánh giá các kỹ năng Công tác xã hội đã ứng dụng 79
2.7 Mối liên hệ giữa kiến thức, lý thuyết, phương pháp ứng dụng và kiến thức thực tế trong quá trình can thiệp 80 2.8 Những thuận lợi, khó khăn trong quá trình can thiệp 81
2.8.1 Những thuận lợi trong quá trình can thiệp 81 2.8.2 Những khó khăn trong quá trình can thiệp 82 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 84
KẾT LUẬN 84
KHUYẾN NGHỊ 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC 90
Trang 5- ABA (Applied Behevior Analysis): Ứng dụng phân tích hành vi
- CARS (Childhood Autism Rating Scale): Bảng đánh giá mức độ tự kỷ ở trẻ em
- DSM (Diagnostic and Statical Manual of Mental Disorders): Sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần
- DENVER (Denver Developmental Screening Test): Trắc nghiệm Đánh giá
sự phát triển tâm lý - vận động cho trẻ nhỏ
- ICD (Internetional Classification of Diseases): Bảng phân loại bệnh quốc tế
- TTK: Trẻ tự kỷ
- TTNM: Trung Tâm Nắng Mai
- GD & ĐT: Giáo Dục và Đào Tạo
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Các giai đoạn phát triển ngôn ngữ của trẻ (từ 0 – 6 tuổi)
Bảng 1.2: Sự phát triển v h nh thức ngôn ngữ của trẻ từ 8 tháng tuổi – 9 tuổi Bảng 1.3: Sự phát triển v s dụng ngôn ngữ của trẻ từ 8 tháng tuổi – 9 tuổi Bảng 1.4: Sự phát triển v nội dung ngôn ngữ của trẻ từ 8 tháng tuổi – 9 tuổi Bảng 2.1: Bảng đánh giá sự phát triển của trẻ mẫu giáo (3– 4 tuổi) Bé Nguyễn M Bảng 2.2: Bảng đánh giá sự phát triển của trẻ mẫu giáo (3 – 4 tuổi) Bé Lưu T.Đ
Trang 7LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với đ tài: “Vai trò của nhân viên Công tác xã hội trong hỗ trợ hoà nhập cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ tại trường mầm non (Ứng dụng phương pháp Công tác xã hội với cá nhân nghiên cứu trên hai trường hợp trẻ chậm phát triển ngôn ngữ Nguyễn M và Lưu T.Đ)” là công tr nh nghiên cứu của cá nhân tôi Những kết quả nghiên cứu là hoàn toàn trung thực, phù hợp với đ tài nghiên cứu của tôi
Tác giả luận văn
Tạ Thị Ngọc Bích
Trang 8Tôi cũng xin g i lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy cô trong khoa Xã hội học, đặc biệt là các thầy cô bộ môn Công tác xã hội, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân Văn đã đào tạo, cung cấp những kiến thức, phương pháp, kỹ năng để tôi có thể hoàn thành nghiên cứu của m nh một cách thuận lợi nhất
Tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban quản lý Trung tâm Nắng Mai và ban giám hiệu trường Mầm non Kid’s Color cùng toàn thể các cô giáo đã tạo đi u kiện cho tôi được tham gia trực tiếp vào các hoạt động học tập cùng thân chủ của m nh để thực hiện quá tr nh can thiệp trong thời gian 1 năm học
Do kiến thức và kỹ năng còn hạn chế nên luận văn sẽ còn những thiếu sót Rất kính mong các thầy cô, các bạn độc giả đóng góp ý kiến để luận văn của tôi hoàn chỉnh hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn vấn đề can thiệp
Nhắc đến nhóm trẻ chậm phát triển ngôn ngữ (CPTNN) hầu hết các bậc phụ huynh cũng như đa số mọi người đ u có những hiểu lầm rằng những đứa trẻ này bị bệnh tự kỷ Bởi lẽ những trẻ CPTNN cũng có nhi u điểm tương đồng với trẻ tự kỷ Hay nói một cách khác, việc CPTNN ở trẻ có thể chỉ là một biểu hiện nhỏ trong tập hợp các dấu hiệu của hội chứng tự kỷ
Hiện nay số lượng trẻ CPTNN ngày một tăng nhanh (trong đó có cả nhóm trẻ CPTNN tự kỷ và một tỷ lệ rất nhỏ trẻ CPTNN thông thường), đặc biệt là ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh… Tại các Trung tâm, các trường chuyên biệt dạy trẻ tự kỷ (TTK) có một số lượng không ít những trẻ CPTNN đang được trị liệu ngôn ngữ với chương tr nh can thiệp chuyên biệt
Theo thống kê của Vụ giáo dục Mầm non – Bộ Giáo Dục & Đào Tạo (GD & ĐT) cho thấy tỷ lệ trẻ khuyết tật tham gia giáo dục hòa nhập chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ so với tổng số trẻ cùng lứa tuổi Thực tế cho thấy rằng trẻ CPTNN khi được nhận vào môi trường học hòa nhập còn gặp nhi u khó khăn trong việc giao tiếp, nhận thức hay các kỹ năng xã hội khác… Bên cạnh những khó khăn mang tính chủ quan là xuất phát từ chính bản thân trẻ có rất nhi u những nguyên nhân khách quan khác từ môi trường giáo dục hòa nhập Việc thiếu giáo viên chuyên môn hỗ trợ cho trẻ CPTNN hòa nhập tại các trường mầm non (MN) là một trong những nguyên nhân khách quan đó
Tại một số cơ sở giáo dục chuyên biệt đã cung cấp thêm mảng dịch vụ giáo viên (GV) hỗ trợ trẻ CPTNN tại các trường MN nhưng con số này còn khá eo hẹp
Và hầu như GV hỗ trợ đ u gặp cản trở từ môi trường làm việc không chuyên biệt này Những GV làm công việc hỗ trợ trẻ CPTNN học hoà nhập không chỉ cần kiến thức chuyên môn mà còn cần có những kỹ năng m m khác để vừa hỗ trợ trẻ học tập vừa không làm ảnh hưởng tới công việc của các GV trong trường hòa nhập
Ở nước ta, việc chẩn đoán là do bác sĩ chuyên khoa v tâm thần hoặc tâm lý trẻ em, ngoài ra, không có sự phối hợp theo dõi của những nhân viên công tác xã hội (NV CTXH) hay GV chuyên biệt Việc trị liệu cho trẻ CPTNN có thể có sự góp mặt của bác sĩ tâm lý, bác sĩ tâm thần, GV chuyên biệt Tuy nhiên sự phối hợp giống như một ê kíp trị liệu của những thành viên này hầu như chưa có hoặc không khăng khít, đặc biệt là hầu như không có những NV CTXH đóng vai trò là người quản lý ca, người kết nối các mối quan hệ trong nhóm trị liệu Mặc dù hiện nay vai
Trang 10trò của các nhân viên công tác xã hội (NV CTXH) đã có mặt hầu hết trong các lĩnh vực xã hội Tuy nhiên, tại các trung tâm chuyên biệt hay các trường khuyết tật vị trí, vai trò của những NV CTXH chưa thực sự được chú ý và phát huy hết hiệu quả
“Thực ra, đây là một vị trí góp phần quan trọng vào việc gắn kết các mối quan hệ của các thành viên trong gia đ nh trẻ với nhau, và trẻ với cơ sở trị liệu Nói một cách khác, người nhân viên xã hội chính là người liên kết và thống nhất các quan điểm , tạo nên sự thông hiểu lẫn nhau” [2, tr.105] Ngoài ra, ở mỗi một vị trí khác nhau th
NV CTXH sẽ đóng những vai trò khác nhau và giúp đem lại lợi ích cao nhất cho thân chủ của m nh
Trong đi u kiện thực tế ở nước ta việc trị liệu, hỗ trợ TTK nói chung và trẻ CPTNN hòa nhập nói riêng, NV CTXH thường giữ vai trò vừa là một GV chuyên biệt vừa là người hỗ trợ trẻ và gia đ nh trẻ
Xuất phát từ thực tế trên, tác giả xin chọn đ tài nghiên cứu “ Vai trò của
nhân viên Công tác xã hội trong hỗ trợ hòa nhập cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ tại trường mầm non” để thấy được vai trò của NV CTXH khi làm việc với trẻ
CPTNN tại trường mầm non
2 Tổng quan về những nghiên cứu, can thiệp liên quan đến đề tài
2.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu, can thiệp về trẻ chậm phát triển ngôn ngữ trên thế giới
Theo Saussure, hoạt động lời nói của cá nhân bao gồm năng lực ngôn ngữ và ngôn ngữ như hệ thống Cả hai yếu tố này đ u được hiện thực hóa trong lời nói Nói
cách khác, lời nói là “hành vi hiện thực hóa năng lực của cá nhân nhờ các điều kiện
xã hội, tức nhờ ngôn ngữ và ngôn ngữ trong nghĩa rộng của từ này (tức là hoạt động lời nói) nếu tách riêng ra là không thể hiểu được, bởi vì nó có tính không đồng nhất” [11, tr.12 – 13]
Khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ khiến con người khác các loài động vật khác Ngôn ngữ nói giúp con người truy n đạt thông tin, biểu đạt cảm xúc và biểu thị các mối quan hệ xã hội; đồng thời, nó cung cấp cho con người phương tiện tổ chức tư duy, trí nhớ, cho phép h nh thành nên những ranh giới phức tạp của lí trí và giúp con người suy ngẫm v những sự kiện diễn ra trong quá khứ, tương lai và mang tính giả thuyết, hơn là giữ chúng trong hiện tại
Humboldt nói tới hoạt động lời nói và ngôn ngữ của con người như sự kết nối giữa con người và xã hội Steintal G cho rằng hoạt động lời nói cá nhân có ba yếu tố căn bản: cơ cấu cơ học của cơ thể, cơ cấu tâm lý và nội dung khái niệm hay thế giới quan được biểu hiện Lời nói có mục đích là biểu đạt và phản ánh nội dung
Trang 11dựa trên cơ cấu tâm lý và cơ thể [11]
Sự CPTNN trong 3 năm đầu đời có thể dẫn đến những khó khăn trong giao tiếp và xã hội hóa các h nh tượng quan trọng của trẻ ở thời thơ ấu Việc CPTNN là nguyên nhân chung khiến các bậc cha mẹ đi t m lời khuyên từ các bác sĩ của gia
đ nh hoặc từ các bác sĩ nhi khoa Do sự giao tiếp ở con người là phức tạp, nên việc đánh giá và chẩn đoán những khó khăn của trẻ v ngôn ngữ và lời nói thường là vấn
đ có nhi u thách thức, đòi hỏi ý kiến của chuyên gia thuộc nhi u lĩnh vực khác nhau như: ngôn ngữ học, thính học, phát triển trẻ em, tâm lý học thần kinh, thần kinh học nhi và tâm thần học
Ở những trẻ b nh thường, khả năng nắm vững ngôn ngữ diễn ra theo 3 giai đoạn căn bản sau [22, tr.138]:
- Giai đoạn tiền ngôn ngữ (từ 0 cho đến 12, 13 tháng, đôi khi là 18 tháng):
bắt đầu từ những tiếng kêu không có ý nghĩa nào khác ngoài biểu đạt sự khó chịu v mặt sinh lý, dần dần những ti n đ của giao tiếp giữa trẻ và môi trường xung quanh được h nh thành Trên thực tế, những tiếng kêu này biểu đạt một sắc thái cảm giác của trẻ đòi mẹ phải đáp ứng (giận dữ, đau đớn, bứt rứt, thỏa mãn, khoái cảm)
- Giai đoạn ngôn ngữ của trẻ bé (từ 10 tháng đến 2 tuổi rưỡi – 3 tuổi):
những từ đầu tiên thường xuất hiện trong t nh huống “lắp lời nói”, nghèo nàn v ý, nghĩa nhưng dễ phát âm Vào khoảng 12 tháng tuổi, một đứa trẻ
có thể học được 5 đến 10 từ; đến 2 tuổi, vốn từ vựng của trẻ có thể đạt đến 200 từ Số lượng từ được tích lũy gia tăng theo độ tuổi Việc hiểu bị động luôn xảy ra trước sự biểu đạt chủ động; có nghĩa là, trẻ có thể hiểu được một số lượng từ lớn hơn rất nhi u so với việc trẻ nói các từ
Ở giai đoạn “từ-câu”, trẻ dùng một từ mà ý nghĩa của nó phụ thuộc vào điệu bộ, c chỉ hay hoàn cảnh cụ thể Ngôn ngữ luôn đi kèm với hành động, củng cố hành động, nhưng vẫn chưa thay thế được hành động Khoảng 18 tháng tuổi, các câu đầu tiên xuất hiện; trẻ bắt đầu học nói phủ định
Ở giai đoạn này, vai trò của gia đ nh là rất quan trọng bởi nó là nơi trẻ được tắm m nh trong “biển ngôn ngữ” và học nói ngôn ngữ Nếu thiếu vắng sự tác động ngôn ngữ, vốn từ của trẻ trở nên nghèo nàn hoặc trẻ trở nên chậm trễ trong việc học nói
- Giai đoạn ngôn ngữ (bắt đầu từ 3 tuổi): là giai đoạn dài nhất và phức tạp
Trang 12nhất trong việc nắm vững ngôn ngữ, được đánh dấu bởi sự phong phú cả
v chất lượng và số lượng (khoảng từ 3 tuổi rưỡi đến 5 tuổi, trẻ có thể sở hữu 1.500 từ mà không phải lúc nào cũng biết chính xác ý nghĩa của từ) Đồng thời, ngôn ngữ dần trở thành phương tiện để hiểu biết, một sự thay thế kinh nghiệm trực tiếp Sự rườm rà cùng với hành động và/hoặc c chỉ, điệu bộ dần dần biến mất
Nói cách khác, các rối loạn ngôn ngữ ở trẻ em thường đóng vai trò quan trọng cả v ý nghĩa lẫn lý do đến thăm khám của gia đ nh, đặc biệt là những gia
đ nh có trẻ từ 4 đến 8 tuổi Đây là giai đoạn trẻ học ngôn ngữ nói và chuẩn bị cho việc học đọc và học viết Sự ảnh hưởng tới những tương tác giữa trẻ và môi trường (gia đ nh, trường học, bạn bè) bỗng nhiên có thể xảy đến nếu các rối loạn trở nên nghiêm trọng và dẫn tới các khó khăn tâm lý khác nhau Do đó rất khó kể đến các rối loạn phản ứng thứ phát và những khó khăn ban đầu
Nghiên cứu v CPTNN ở trẻ em đòi hỏi phải có một n n tảng kiến thức v sự phát triển ngôn ngữ b nh thường, ở cả khía cạnh sinh lý thần kinh (cơ quan cấu âm, cấu trúc não, cơ quan thính giác b nh thường) và khía cạnh tâm lý Trong CPTNN, một mặt, các lỗi gặp phải là không cố định; mặt khác, mỗi âm vị có thể được phát
âm chính xác nếu đứng một m nh Khi đối diện với những rối loạn v biểu đạt này,
sự phản ứng của gia đ nh là rất quan trọng, hoặc yêu cầu trẻ nhắc lại một cách kiên
tr , ngăn cản lời nói tự phát của trẻ, hoặc ngược lại không biết đến rối loạn này và
để cho trẻ tiếp tục chậm phát triển ngôn ngữ
Trong các trường hợp trẻ CPTNN, người ta t m thấy một sự kém tích hợp các
âm vị khác nhau cấu thành nên một từ: số lượng, thuộc tính và sự nối tiếp của chúng
có thể bị thay đổi Không có ý nghĩa cho tới tận 5 tuổi, sự dai dẳng của việc kém tích hợp khi trẻ trên 5 tuổi báo hiệu một rối loạn v tích hợp và học lời nói, và cần thiết phải có một tiếp xúc trị liệu đối với trẻ V mặt lý thuyết, CPTNN không đi kèm những bất thường v cú pháp, mà thực tế, nó thường kết hợp với sự chậm ngôn ngữ
Chậm ngôn ngữ đơn thuần được đặc trưng bởi sự tồn tại những rối loạn ngôn ngữ ở một đứa trẻ không có dấu hiệu chậm phát triển trí tuệ, cũng không có tật điếc nặng hoặc bị loạn thần Cấu trúc câu, tổ chức cú pháp thường bị nhiễu loạn V mặt lâm sàng, yếu tố căn bản chính là việc chậm xuất hiện câu nói đầu tiên ở khoảng sau 3 tuổi, tiếp theo một giai đoạn “nói theo kiểu trẻ sơ sinh” kéo dài Những bất thường được t m thấy thường đa dạng: rối loạn trong trật tự các từ của một câu, các lỗi cấu trúc ngữ pháp, động từ dùng ở nguyên
Trang 13thể, khó khăn trong dùng đại từ nhân xưng Người ta cũng t m thấy sự bỏ sót từ, các lỗi liên kết, các từ ngữ phản quy tắc, V mặt nguyên tắc, việc hiểu đi u trẻ muốn diễn đạt không khó, nhưng việc đánh giá mức độ phát triển ngôn ngữ ở trẻ bé đôi khi khó khăn
Phần lớn các thuật ngữ được dùng để mô tả những trẻ có rối loạn lời nói là: loạn khớp nối chức năng và loạn phát triển âm vị, rối loạn đa âm vị, CPTNN Theo một số tác giả, có hai dạng căn bản trong rối loạn lời nói ở trẻ mà cho đến giờ vẫn chưa t m được nguyên nhân: đó là CPTNN và những lỗi dôi dư không chắc chắn, trong đó CPTNN có tính di truy n, còn lỗi dôi dư không chắc chắn gia tăng do tác động của các biến môi trường, [21] Trên thực tế, đã có nhi u tác giả nghiên cứu v CPTNN ở trẻ trên khắp thế giới như Beitchman, Nair, Clegg, Patel (1986); St Louis, Ruscello và Lundeen (1992); Silva, Justin, McGee và Williams (1984), [17;26;24]… Những phê phán v phương pháp luận bao gồm các vấn đ liên quan tới mẫu khách thể nghiên cứu, phương pháp đánh giá hoạt động lời nói, cũng như
hệ thống và các tiêu chí phân loại trẻ có rối loạn lời nói có ý nghĩa v mặt lâm sàng
Theo Beitchman và cs (1986), “sự thiếu một hệ thống phân loại phổ quát về các rối loạn lời nối và ngôn ngữ là một rào cản lớn đối với việc phát triển các đánh giá thường gặp hữu ích và chính xác” [17, tr.98] Các nghiên cứu ở Mỹ, Canada, New
Zealand và Anh được thực hiện trên trẻ từ 5 đến 8 tuổi Kết quả của các nghiên cứu này cho thấy rằng CPTNN thường đi kèm với các thiếu hụt đặc hiệu v ngôn ngữ
Tỷ lệ trẻ CPTNN giảm dần theo độ tuổi: 11% ở trẻ 5 tuổi, 9,7% ở trẻ 6 tuổi, 6,5% ở trẻ 7 tuổi và chỉ còn 2-3% ở trẻ 8 tuổi, trong đó, tỷ lệ những trẻ sống ở thành thị bị CPTNN cao hơn những trẻ sống ở nông thôn [17], [19], [24], [21, tr.1461-1481]
Một nghiên cứu của Ishikawa, Kajii, Sakuma & Saitoh (1982) trên 155 trẻ CPTNN ở Nhật cho thấy, v mặt bản chất, việc đánh giá tổng thể hiện tượng CPTNN ở trẻ liên quan đến các vấn đ v thần kinh, thính giác, xúc cảm và xã hội Các trẻ này đ u ở độ tuổi từ 3 đến 8 tuổi, tuy nhiên, phần lớn các trẻ khi được bố
mẹ đưa đến thăm khám tại bệnh viện do nhi u nguyên nhân khác nhau thường là dưới 3 tuổi Nguyên nhân chính khiến bố mẹ đưa con đến khám thường là chậm phát triển tâm thần hoặc không rõ bệnh căn, còn lại là các nguyên nhân khác như tự
kỷ, nghe kém, hội chứng giảm chức năng não, ), trong số này có những trẻ phát triển b nh thường Đối với những trẻ phát triển b nh thường, khi xem xét tiểu s sinh, các tác giả này phát hiện có 33% trường hợp CPTNN cho thấy những rắc rối ở thời kỳ thứ hai của thai kỳ (bị ngạt, hút chân không, cân nhẹ, ).[20, tr 57- 61]
Theo bảng phân loại bệnh DSM – IV của Hội tâm thần học Hoa Kỳ, một
Trang 14tương phản rõ ràng được rút ra giữa các rối loạn phát triển đặc hiệu và các rối loạn phát triển lan tỏa khi nói tới sự CPTNN và lời nói Có hai đặc trưng quan trọng dẫn đến sự phân biệt này Đặc trưng thứ nhất chính là đặc trưng v sự suy yếu: trong các rối loạn phát triển đặc hiệu, người ta t m thấy sự suy yếu của một lĩnh vực cụ thể, trong khi các rối loạn phát triển lan tỏa cho thấy sự suy yếu ở nhi u vùng chức năng Đặc trưng thứ hai đó là bản chất của sự suy yếu: rối loạn phát triển đặc hiệu
có nguyên nhân từ sự chậm phát triển chứ không phải từ sự bất thường, trong khi các rối loạn phát triển lan tỏa xuất phát từ những lệch chuẩn hành vi vốn không bình thường ở bất kỳ giai đoạn phát triển nào
Theo cách phân biệt này, sự chẩn đoán v rối loạn phát triển ngôn ngữ đặc hiệu là thích hợp khi ngôn ngữ của trẻ chậm hơn so với độ tuổi, sự phát triển của trẻ vẫn diễn ra b nh thường ở những lĩnh vực khác và không có yếu tố được quan sát thấy cho sự chậm ngôn ngữ (chẳng hạn môi trường gia đ nh hoàn toàn bất thường, chậm phát triển nói chung, mất thính giác hoặc tổn thương thần kinh)
Các yếu tố nguy cơ gây ra CPTNN ở trẻ được một số tác giả liệt kê như sau:
- CPTNN thường xuất hiện ở trẻ trai nhi u hơn ở trẻ gái: cứ 3, 4 trẻ trai CPTNN th có một trẻ gái CPTNN
- Tiểu s gia đ nh của những trẻ CPTNN: 30% trẻ CPTNN có bố/mẹ CPTNN Có khoảng 3% đến 10% trẻ CPTNN trong tổng dân số nói chung.[27, tr.297 – 324]
- Trẻ CPTNN thường là những trẻ được sinh ra muộn hơn trong một gia
đ nh lớn
- Một số tác động v yếu tố y học cũng có thể ảnh hưởng đến sự CPTNN như bệnh viêm tai giữa, cân nặng tăng chậm, nhưng vẫn không có đủ bằng chứng chứng minh chúng là những yếu tố chính gây ra rối loạn phát triển ngôn ngữ đặc hiệu Ngoài ra, cũng có những yếu tố liên quan đến gen di truy n trong gia đ nh Bên cạnh đó là cả yếu tố môi trường cũng có tác động tới việc CPTNN ở trẻ
- Những khó khăn v lời nói thường tương đối dễ nhận biết, nhưng lại đòi hỏi phải có các chuyên gia đánh giá
- Ở trẻ trước tuổi đến trường, các bệnh lý v ngôn ngữ nói tạo nên một nhóm tương đối lớn trong số các rối loạn phát triển nhận thức; nó chiếm
tỷ lệ từ 2% đến 12% Ở đây cần phân biệt nhóm rối loạn này với các rối
loạn phát triển phân ly (hoặc rối loạn đặc hiệu, hoặc chứng khó đọc, viết)
Trang 15và các rối loạn thứ phát (như trong một hoàn cảnh nhất định, đó là rối loạn cảm xúc thần kinh có nguồn gốc trước, trong và sau sinh, hoặc từ các dạng châm phát triển hoặc thiếu hụt cảm giác)
Ở những trẻ bé, sự chẩn đoán sai biệt này có thể khó h nh thành Trên thực
tế, đối với phần lớn trẻ, và theo một cách hoàn toàn b nh thường, việc nắm vững ngôn ngữ không phải là một quá tr nh phát triển liên tục; nó bao gồm những bước tiến triển, bước thụt lùi, những giai đoạn tăng trưởng lúc nhanh, lúc chậm và thường bao gồm cả những thoái lui, là kết quả của “việc làm ổn định có lựa chọn các khớp nối” [19, tr 268 – 293]
Theo một nghiên cứu mới đây v trẻ CPTNN, cha mẹ cần chú ý rằng trẻ không theo kịp bạn bè cùng tuổi là do bởi hiện tượng thiểu năng ngôn ngữ kéo dài liên quan tới các vấn đ sức khỏe tâm thần Andrew Whitehouse và đồng nghiệp tại Đại học Tây Úc (2011) đã theo dõi những trẻ CPTNN cho đến tuổi thiếu niên và nhận thấy rằng những đứa trẻ này không còn cảm thấy e thẹn, trầm cảm hay hung hăng so với bạn bè cùng trang lứa khi chúng lớn lên Theo nhóm nghiên cứu này,
“Hiện tượng chậm diễn đạt bằng từ vựng khi trẻ lên hai tuổi không phải là một yếu
tố nguy cơ gây ra những vấn đề rắc rối về hành vi và cảm xúc sau này” Đi u này
đồng nghĩa với phương pháp tiếp cận “chờ xem” có thể mang lại những kết quả tốt đẹp với những bé CPTNN nếu chúng phát triển b nh thường trong các lĩnh vực khác Trong một số kiểu tự kỷ, các rối loạn hành vi như rối loạn ngôn ngữ có thể xuất hiện muộn chỉ vào khoảng 2 đến 3 tuổi, dưới dạng một thoái lui những thành
tích đạt được Một yếu tố sai biệt quan trọng nằm trong khái niệm khoảng trống;
cho phép tách biệt một mặt là những trẻ mà ngôn ngữ và thậm chí là cả ti n ngôn ngữ đã sai lệch ngay từ đầu, [21]; mặt khác là những trẻ mà ngôn ngữ cho thấy t nh trạng hư hại, thậm chí là đứt gãy quá tr nh nắm vững ngôn ngữ, diễn ra đột ngột và thường có nguồn gốc thương tổn Phần lớn các rối loạn ngôn ngữ xuất hiện sau khoảng trống được h nh thành bởi một nhóm các chứng mất ngôn ngữ ở trẻ
Khoảng 7 – 18% trẻ em bị CPTNN lúc hai tuổi, mặc dù đến tuổi bắt đầu đi học, hầu hết trẻ trong diện này sẽ theo kịp bạn bè Một số nghiên cứu cho rằng những bé CPTNN có thể gặp các vấn đ tâm lý Tuy nhiên, việc các vấn đ này có ảnh hưởng tới tương lai trẻ hay không vẫn còn chưa được xác định rõ Nhóm nghiên cứu của Whitehouse đã tiến hành theo dõi hơn 1400 trẻ hai tuổi Bố mẹ chúng đã
đi n một phiếu khảo sát v những từ ngữ trẻ tự nói ra Theo Whitehouse và cộng sự, những dấu hiệu cho thấy nguyên nhân những trẻ CPTNN hơn có các vấn đ v hành
Trang 16vi ở giai đoạn đầu đời có lẽ là do chúng cảm thấy thất vọng v không thể giao tiếp hiệu quả, chứ không phải do chúng có vấn đ v sức khỏe
Trong mọi trường hợp, giai đoạn từ 3 đến 6 tuổi đánh dấu nguy cơ cắm chốt các rối loạn ngôn ngữ Để đánh giá và can thiệp trị liệu các trường hợp CPTNN ở trẻ, phần lớn các tác giả đ u đ cập đến các thang đo, trắc nghiệm đánh giá mức độ phát triển ngôn ngữ ở trẻ như: thang phát triển ngôn ngữ Bristol, trắc nghiệm Vineland, bảng tổng kê sự phát triển giao tiếp của McArthur…
2.2 Tổng quan lịch sử nghiên cứu, can thiệp về trẻ chậm phát triển ngôn ngữ tại Việt Nam
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, theo các thống kê chưa đầy đủ, xu hướng trẻ CPTNN có chi u hướng gia tăng mạnh, đặc biệt ở các thành phố lớn Tại các bệnh viện Nhi, số trẻ CPTNN, mắc bệnh tự kỷ hoặc tăng động giảm chú ý phải
đi u trị bán trú thường xuyên rơi vào t nh trạng quá tải, cao gấp đôi so với quy định
Ở các bệnh viện tai mũi họng, lượng bệnh nhi CPTNN cũng khá cao, khoảng 100 trẻ/tháng, trong đó, 30% trường hợp bị CPTNN do yếu tố tâm lý
Khi trẻ CPTNN, các bậc cha mẹ thường chủ quan, không đưa con đến các cơ
sở y học - tâm lý để thăm khám và đi u trị, mà tự ứng phó bằng những phương thức
cá nhân Các phương thức ứng phó tâm lý được các bậc cha mẹ s dụng nhi u nhất khi con CPTNN là:
- Cho rằng trước sau con cũng sẽ nói được nên để con tự phát triển
- Mời chuyên gia v dạy nói cho con và trông cậy toàn bộ vào các chuyên gia
- Khi con bị CPTNN, nhi u bố mẹ thường tin vào những ý nghĩ nguyện ước Cầu nguyện hoặc tín ngưỡng cũng được xem như những chiến lược ứng phó Ni m tin tôn giáo cũng có liên quan rõ rệt đến việc s dụng phương thức ứng phó tích cực
- Tăng cường nhận thức, t m kiếm thông tin: phương thức này làm tăng thêm thông tin, giúp bố mẹ nâng cao kiến thức v y học, thường rất hiển nhiên tập trung xoay quanh chẩn đoán v bệnh của đứa trẻ
- Dự đoán và quy gán bệnh cho con: như con bị tự kỷ, tăng động, Đây là phương thức mà các bố mẹ thường làm
Một đứa trẻ CPTNN có thể phải đấu tranh để nói ra nhu cầu của m nh và mong muốn được biết đến thông qua điệu bộ, c chỉ, hành vi hoặc khóc CPTNN khiến bố mẹ chịu đựng sự ngăn cách của đứa trẻ và cảm thấy bất lực khi cố gắng xác định những mong muốn của trẻ
Trang 17CPTNN ở trẻ em được chia thành hai loại, CPTNN đơn thuần và CPTNN tự
kỷ Hiện tượng CPTNN đơn thuần là do bị rối loạn trong phát triển ngôn ngữ Còn trẻ tự kỷ thường bị CPTNN, không hiểu ngôn ngữ, sống với một thế giới riêng, tách biệt với thế giới xung quanh
Đối với các nhà chuyên môn Việt Nam, CPTNN đơn thuần là chứng suy giảm ngôn ngữ và khả năng phát triển ngôn ngữ khá phổ biến ở trẻ em Đây là một trạng thái rối nhiễu tâm lý thường để lại nhi u hậu quả; đồng thời, ở một góc độ nào đó, chứng CPTNN ở trẻ g i tới người lớn một thông điệp ngầm ẩn v những khó chịu, v sự đau khổ tâm trí mà trẻ đang phải chịu đựng Mặc dù trẻ CPTNN có trí tuệ phát triển b nh thường, nhưng do không thể biểu hiện hay bộc lộ ra bằng ngôn ngữ thông thường nên dễ cáu giận và căng thẳng Sự thiếu hụt chăm sóc và những giao tiếp hàng ngày của bố mẹ với trẻ được xem là nguyên nhân hàng đầu v mặt tâm lý dẫn tới việc CPTNN ở trẻ em
Giống như mọi dạng khuyết tật khác, nguyên nhân của CPTNN tương đối khó nhận dạng Tuy nhiên, khi đánh giá y khoa những trẻ này, các bác sĩ t m hiểu quá
tr nh người mẹ mang thai cũng như sự phát triển của trẻ và t m ra những yếu tố bất thường Có trẻ CPTNN vốn là một đứa trẻ được sinh non, có trẻ do bị sốt cao co giật,
bị ngã chấn thương hoặc bị bất cứ một vấn đ g gây rối loạn, tổn thương thực thể (vỏ não, hoặc cơ quan phát âm “tai, mũi, họng”), thiếu vắng giao tiếp hai chi u trong giai đoạn từ 0 -2 tuổi …
Bên cạnh đó, có nhi u yếu tố tác động khác khiến cho quá tr nh phát triển ngôn ngữ của trẻ chậm lại:
- Trẻ xem ti vi quá nhi u, bố mẹ ít nói chuyện với con, khiến cho trẻ chỉ nhận thông tin một chi u, không có sự phản hồi lại những thông tin nhận được từ ti vi, như vậy trong một thời gian dài sẽ làm trẻ CPTNN;
- Trẻ suy dinh dưỡng, thiếu t nh thương của bố mẹ, trẻ bị ngược đãi;
- Bố mẹ phó mặc con cho người giúp việc, v lo làm công việc trong nhà nên không có thời gian trò chuyện với trẻ, trẻ không có cơ hội được nói;
- Trẻ bị tách ra khỏi môi trường xung quanh, không có cơ hội giao lưu, bắt chước;
- Trẻ xuất thân từ gia đ nh có “truy n thống” chậm phát triển ngôn ngữ Thực trạng chẩn đoán bệnh cho trẻ em khuyết tật tinh thần nói chung và trẻ
em CPTNN nói riêng ở Việt Nam còn mang tính h nh thức, mang tính kinh nghiệm
và chưa chính xác Các công cụ chẩn đoán mới chỉ dựa vào một số trắc nghiệm có sẵn, chủ yếu là trắc nghiệm Denver – trắc nghiệm đo sự phát triển tâm vận động ở
Trang 18trẻ Test Denver là công cụ nhằm đánh giá sự phát triển toàn diện của trẻ so với thang tuổi của trẻ dựa trên 4 lĩnh vực: (1) Cá nhân-xã hội → (2) Vận động tinh tế → (3) Ngôn ngữ → (4) Vận động thô sơ Với trẻ CPTNN mà khả năng nhận thức của trẻ như những trẻ b nh thường ta chỉ cần đánh giá sự phát triển ngôn ngữ của trẻ ở lĩnh vực thứ 3: ngôn ngữ để xác định lại mức độ và vấn đ của trẻ
Theo chuyên viên tâm lý Lê Khanh - Biên soạn theo tài liệu của Gs Nguyễn Văn Thành – Thụy Sĩ có 12 nguyên tắc cơ bản mà các bậc phụ huynh tùy theo t nh trạng chậm nói của trẻ có thể áp dụng:
1 Giúp trẻ xây dựng mối quan hệ gắn bó
2 Giúp trẻ bày tỏ nhu cầu
3 Giúp trẻ tham gia các hoạt động Tâm vận động
4 Trò chơi “Bập bẹ - líu lo” vận dụng các cơ quan phát âm của trẻ
5 Lặp lại một số âm thanh và từ ngữ có trong ngôn ngữ bình thường
6 Giúp trẻ biết cách lắp ráp, kết hợp và sắp xếp các dụng cụ, hình ảnh và ngôn từ lại với nhau
7 Giúp trẻ nghe và hiểu một số từ thông thường, qua việc thi hành những mệnh lệnh đơn sơ
8 Giúp trẻ gọi tên từ 25 – 100 đồ dùng và các hoạt động thường ngày
9 Giúp trẻ hiểu biết và nói về các hoạt động trong gia đình
10 Biết trả lời các câu hỏi
11 Giúp trẻ nhận biết và sử dụng chữ và số
12 ây dựng mối quan hệ tốt và giúp trẻ biết chơi đùa với bạn b
Việc chẩn đoán phân biệt chưa được xem trọng nên đôi khi những trẻ chỉ CPTNN do thiếu hụt môi trường giao tiếp hai chi u ở giai đoạn từ 0 đến 2 tuổi đã có thể bị liệt kê vào t nh trạng của trẻ tự kỷ
Việc CPTNN ở trẻ gây những lo lắng không nhỏ cho gia đ nh và ảnh hưởng nhi u đến sự phát triển tâm lý của trẻ Thêm nữa, các nghiên cứu ở góc độ khoa học tâm lý
v trẻ chậm phát triển ngôn ngữ hiện nay chưa nhi u và thường dừng ở góc độ các nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục đặc biệt do quan niệm trẻ CPTNN là trẻ khuyết tật
3 Ý nghĩa của vấn đề can thiệp
Quá trình và kết quả can thiệp cho thấy các nỗ lực của NV CTXH trong hoạt động hỗ trợ trẻ CPTNN trong môi trường hòa nhập tại các cơ sở giáo dục Từ kết quả nghiên cứu của đ tài để thấy được mặt tích cực của NV CTXH trong vai trò hỗ trợ hòa nhập cho trẻ CPTNN tại các trường mầm non
Trang 194 Mục đích can thiệp
T m hiểu những khó khăn của trẻ CPTNN được nghiên cứu thực tiễn trong
đ tài và ứng dụng phương pháp CTXH với cá nhân để can thiệp hỗ trợ cho trẻ CPTNN để thấy được vai trò của NV CTXH trong hoạt động hỗ trợ hòa nhập cho trẻ CTPNN Từ đó NV CTXH có biện pháp hỗ trợ trẻ phù hợp và đưa ra một số đ xuất cho việc giáo dục hòa nhập cho nhóm trẻ này
6 Phương pháp can thiệp
- Phương pháp CTXH với cá nhân: Tác giả tiến hành can thiệp cá nhân trên 2 trẻ CPTNN Từ kết quả thực nghiệm, tác giả tổng kết vai trò hỗ trợ của NV CTXH đối với việc giáo dục hòa nhập cho trẻ CPTNN Tiến tr nh can thiệp của phương pháp CTXH với cá nhân gồm 7 bước sau:
Bước 1: Tiếp cận thân chủ:
Tiếp cận thân chủ là bước đầu tiên có thể là thân chủ tự t m đến với nhân viên
xã hội khi họ gặp vấn đ và cần sự giúp đỡ, song trong một chừng mực nào đó cũng
có thể chính nhân viên xã hội lại là người t m đến với thân chủ trong phạm vi hoạt động theo chức năng của m nh Ở bước tiếp cận này nếu nhân viên xã hội tạo được
ấn tượng tốt với thân chủ th những bước sau sẽ thuận lợi hơn
Bước 2: ác định vấn đề:
Sau khi tiếp cận với thân chủ nhân viên xã hội phải xác định được vấn đ thân chủ đang gặp khó khăn trong việc t m ra hướng giải quyết Trong giai đoạn này nhân viên xã hội cần thu thập thông tin nhằm xác định 3 yếu tố liên quan tới vấn đ của thân chủ và có ảnh hưởng tới kết quả của quá tr nh can thiệp cho thân chủ đó là: yếu tố rào cản, yếu tố rủi ro nguy cơ và yếu tố bảo vệ Giai đoạn này bao gồm:
- Thu thập các dữ liệu, thông tin liên quan để t m hiểu hoàn cảnh và vấn đ
- Phân tích các thông tin, dữ liệu (v tính chất, đặc điểm của vấn đ , phân tích nguyên nhân, yếu tố tác động, mức độ trầm trọng )
- Kết hợp ghi chép, lưu giữ những thông tin cần thiết v đối tượng và vấn đ
Trang 20Bước 3: Thu thập dữ liệu:
Nhân viên xã hội có thể dựa vào 4 nguồn tin:
- Chính thân chủ là nguồn tin trực tiếp (lời kể, hành vi, c chỉ, ngôn ngữ )
- Những nguời có quan hệ thân thiết như gia đ nh, bạn bè thân, đồng nghiệp, hàng xóm
- Tài liệu, biên bản, hồ sơ v thân chủ có liên quan đến vấn đ
- Trắc nghiệm tâm lý để xác định chức năng xã hội,nguyên nhân, thông tin
ti m ẩn mà quan sát b nh thường không có được của thân chủ
Bước 4: Chuẩn đoán:
Gồm 3 bước: Chẩn đoán, phân tích và thẩm định
Bên cạnh đó còn s dụng các phương pháp như: phương pháp thu thập thông tin tại cơ sở, phương pháp quan sát địa bàn và các nhóm thân chủ tại cơ sở thực tập, tham vấn cá nhân và các kỹ năng trong công tác xã hội như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng quan sát, kỹ năng tự bộc lộ, kỹ năng hỗ trợ tâm lý, tham vấn, x lý khủng hoảng
Bước 5: Lên kế hoạch can thiệp:
Trong giai đoạn này NV CTXH sẽ xác định mục đích trị liệu và các mục tiêu
cụ thể để đạt được mục đích dựa trên những yếu tố liên quan tới vấn đ và quá tr nh giải quyết vấn đ cho thân chủ
Bước 6: Can thiệp:
NV CTXH cùng với thân chủ thực hiện các hoạt động cụ thể để đi đến mục tiêu đ ra
Bước 7: Lượng giá:
Xem xét lại toàn bộ những bộ phận trong tiến tr nh công tác xã hội với cá nhân
để thẩm định kết quả Sau khi lượng giá phải nh n v tương lai gần để phục vụ cho việc h nh thành một số kế hoạch sâu hơn giúp đỡ của công tác xã hội trong tiến
tr nh công tác xã hội cá nhân
- Phương pháp xin ý kiến chuyên gia: Xin ý kiến chuyên gia trong lĩnh vực trẻ CTPNN nhằm kiểm định lại các phương pháp mà tác giả đã s dụng để hoàn thành đ tài nghiên cứu
- Phương pháp quan sát thực tiễn: Phương pháp này được s dụng trong đ tài nghiên cứu nhằm quan sát những hành vi, kỹ năng, sự tương tác của trẻ với bạn học, cô giáo, người hỗ trợ khi tham gia các hoạt động học tập, vui chơi trong môi trường mẫu giáo để phát hiện khả năng giao tiếp, tương tác của trẻ
Trang 21- Phương pháp trò chuyện: Phương pháp này giúp NV CTXH có thể trò chuyện, trao đổi thông tin với nhóm cha mẹ trẻ và những giáo viên dạy trẻ, giao tiếp với trẻ nhằm t m hiểu thông tin v trẻ CPTNN để thấy được mức độ hòa nhập của trẻ đang ở mức độ nào từ đó có biện pháp hỗ trợ tích cực đồng thời thu thập dữ liệu cần thiết cho quá tr nh nghiên cứu
- Các thang đánh giá: Test CARS, test DENVER II, PEP 3 , BAYLEY ( em thêm phần phụ lục)
7 Phạm vi của vấn đề can thiệp
7.1 Phạm vi thời gian
- Thời gian tiến hành can thiệp từ tháng 9 năm 2013 đến hết tháng 6 năm 2014
- NV CTXH trực tiếp đến trường cùng trẻ để hỗ trợ các hoạt động học và chơi với thời gian 3 buổi/ tuần
7.2 Phạm vi không gian
- Nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn thành phố Hà Nội và tập trung tại khu vực Mỹ Đ nh – Từ Liêm – Hà Nội
7.3 Giới hạn nội dung can thiệp
Do hạn chế v thời gian nghiên cứu, thực nghiệm nên trong đ tài này tác giả xin tập trung vào hai vai trò của Nhân viên Công tác xã hội là người giáo viên can thiệp trực tiếp và vai trò là người kết nối các nguồn lực trong quá tr nh can thiệp cho thân chủ, áp dụng phương pháp Công tác xã hội với cá nhân thông qua các hoạt động như ngôn ngữ giao tiếp, kỹ năng xã hội (kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng chơi độc lập, kỹ năng chơi nhóm…)
Nghiên cứu được tiến hành trên 2 trẻ (Nguyễn M – bé gái và Lưu T.Đ – bé trai) được chẩn đoán CPTNN đã từng học chuyên biệt tại Trung tâm Nắng Mai – Từ Liêm – Hà Nội và có kết quả học tập tiến bộ và hiện nay đang theo học hòa nhập tại
là trường Mầm non Kid’s Color (Mỹ Đ nh)
Tác giả lựa chọn 2 trẻ là nam và nữ có cùng độ tuổi để can thiệp v sự phát triển v ngôn ngữ giữa bé trai và bé gái có sự khác nhau Ở bé gái kỹ năng ngôn ngữ thường tốt hơn bé trai Nhi u chuyên gia đã chứng minh được rằng ở cùng một độ tuổi nhưng não của bé trai và bé gái có tốc độ phát triển khác nhau Ở bé gài vùng kiểm soát ngôn ngữ và cảm xúc phát triển mạnh hơn, v các bé gái thường rất nhạy cảm, đặc biệt là sự vận động tinh tế của các ngón tay, hay sự c động của cơ miệng Còn ở các bé trai khả năng thị lực lại có phần phát triển mạnh mẽ hơn Bé trai thích vận động, chạy nhảy, nô đùa hơn là việc tập trung vào ngôn ngữ
Trang 22NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Các khái niệm công cụ
1.1.1 Khái niệm Chậm phát triển ngôn ngữ
Ngôn ngữ là hệ thống ký hiệu (âm thanh hoặc chữ viết) dưới dạng từ ngữ chứa đựng ý nghĩa nhất định (tượng trưng cho sự vật, hiện tượng cũng như thuộc tính và các mối quan hệ của chúng) được con người quy ước và s dụng trong quá tr nh giao tiếp [3, tr.222]
Ngôn ngữ có hai dạng chính là ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
Đối với một trẻ b nh thường sẽ bắt đầu bập bẹ một số từ đơn lúc 12 -15
tháng Chậm phát triển ngôn ngữ là sau 16 tháng trẻ chưa nói được từ đơn và sau 24
tháng trẻ chưa nói được câu 2-3 từ Trẻ cũng có thể bắt đầu nói muộn hơn khi bắt đầu nói từng từ đơn lúc 4-5 tuổi Những từ đầu tiên của trẻ nhi u khi không rõ, ngọng nghịu Trẻ càng bị chậm phát triển trí tuệ th học nói càng muộn
1.1.2 Khái niệm Vai trò của Nhân viên Công tác xã hội trong hỗ trợ hòa nhập cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ
Có rất nhi u khái niệm v các vai trò khác nhau của NV CTXH với mỗi vị trí khác nhau trong hoạt động can thiệp Tuy nhiên mỗi thân là một trường hợp có những đặc điểm riêng do vậy chưa có một khái niệm cụ thể nào cho mỗi vai trò cụ thể của NV CTXH Ví dụ, đối với vai trò là giáo viên chúng ta có thể hiểu NV CTXH sẽ là người tham gia trực tiếp vào quá tr nh giáo dục cho thân chủ với tư cách như là một giáo viên
có đủ kỹ năng và được đào tạo chuyên môn trong lĩnh vực cụ thể đó Vậy trong đ tài này, NV CTXH với vai trò là giáo viên sẽ trực tiếp lên lớp và tiến hành dạy học, hướng dẫn thân chủ v kiến thức, kỹ năng cho thân chủ của m nh tại trường mầm non
Tuy nhiên do thân chủ xuất phát điểm là trẻ chậm phát triển ngôn ngữ đi học hoà nhập tại môi trường b nh thường nên không thể tránh khỏi những khó khăn mà bản thân trẻ chưa thể ứng phó ngay được Chính v vậy, trẻ cần sự hỗ trợ hoà nhập từ phía giáo viên, NV CTXH, nhà trường, gia đ nh và các bạn học Như thế sự hỗ trợ hoà nhập
có thể hiểu “là thay đổi thái độ và thói quen của các cá nhân tổ chức và hiệp hội để các em có thể tham gia một cách đầy đủ, b nh đẳng và đóng góp vào cuộc sống của cộng đồng m nh, n n văn hóa của m nh Một xã hội hòa nhập là một xã hội trong đó mọi sự khác biệt đ u được tôn trọng và có giá trị, và xã hội đó có các chính sách và chương tr nh nhằm xóa bỏ sự phân biệt đối x thành kiến”, “giáo dục hòa nhập là một quá tr nh bắt đầu từ việc xác định mọi rào cản trong và xung quanh nhà trường,
Trang 23những g cản trở việc học của các em, tới việc giảm bớt và xóa bỏ những trở ngại này” [14, tr.16]
Giáo dục hòa nhập là hệ thống giáo dục bao gồm tất cả các đối tượng học
sinh khác nhau Đi u này đồng nghĩa với việc nhóm trẻ khuyết tật và và TTK cũng
là một trong những đối tượng của giáo dục hòa nhập “Đi u này có nghĩa là tất cả trẻ em có quy n được giáo dục mà không phải chịu bất kỳ sự phân biệt đối x nào;
và mọi trẻ em phải có cơ hội học tập và phát triển như nhau, bất kể cha mẹ hay người bảo hộ của các em thuộc chủng tộc g , màu da g , giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, quốc tịch, nguồn gốc dân tộc, ( ), khuyết tật, thành phần xuất thân Giáo viên đứng lớp có nhiệm vụ phải t m ra những phương pháp sư phạm thích hợp để giúp mọi trẻ em học theo khả năng tối đa của các em.” Năm 1994 tại Hội nghị Quốc tế v giáo dục đặc biệt của UNESCO: “Những nước không có hoặc
có rất ít trường chuyên biệt nên thành lập các trường hòa nhập chứ không nên thành lập trường chuyên biệt” [1, tr.12], [7, tr.29]
Với những lý giải cụ thể v CPTNN, về vai trò và giáo dục hoà nhập chúng ta
có thể hiểu ngắn gọn v khái niệm “Vai trò của Nhân viên Công tác xã hội trong hỗ trợ hòa nhập cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ” là các tác động của những nhân viên
xã hội có tr nh độ chuyên môn, hoạt động có cơ sở khoa học nhằm trợ giúp/giúp đỡ trẻ chậm biết nói có thể học tập, vui chơi, phát triển ngôn ngữ và các kỹ năng xã hội một cách tự chủ, linh hoạt trong môi trường giáo dục b nh thường với các trẻ cùng lứa tuổi
1.1.3 Sự khác nhau giữa Nhân viên Công tác xã hội với một số ngành nghề trong hoạt động can thiệp cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ
Ở nước ngoài việc trị liệu cho trẻ tự kỷ hoặc trẻ CPTNN thường có ít nhất 4 thành viên chính Đó là: bác sĩ tâm thần Nhi, chuyên gia Tâm lý, giáo dục viên đặc biệt, và NV CTXH Ngoài ra có thể có thêm 2 vị trí của chuyên viên tâm lý lâm sàng và chuyên viên chỉnh âm Hiện nay, nhi u gia đ nh còn nhờ tới sự trợ giúp của các chuyên gia dinh dưỡng để hỗ trợ trị liệu cho trẻ
Bác sĩ tâm thần Nhi có trách nhiệm theo dõi tiến tr nh can thiệp của trẻ để trao đổi, động viên hay nhắc nhở các thành viên trong nhóm trị liệu và chia sẻ các vấn đ của trẻ với phụ huynh Đây cũng được coi là người chị trách nhiệm chính v kết quả của việc trị liệu [5,tr.104]
Chuyên viên Tâm lý là người hiểu biết và có khả năng vận dụng các phương pháp can thiệp với sự thống nhất của nhóm Chuyên viên này sẽ chịu trách nhiệm
Trang 24trước nhóm v kết quả can thiệp của m nh, cũng như có quy n đưa ra các yêu cầu cần thiết cho hoạt động can thiệp [5,tr.104]
Giáo dục viên đặc biệt là người dạy trẻ, theo dõi và hướng dẫn cho trẻ trong các buổi học có thể được tổ chức trong nhà trường hay trong bệnh viện Giáo dục viên đặc biệt này là người có trách nhiệm củng cố những kết quả đạt được sau các buổi can thiệp tâm lý, trao đổi với nhà Tâm vận động những thông tin v trẻ trong
thời gian trẻ sinh hoạt tại lớp và nhắc nhở, động viên phụ huynh của trẻ [5,tr.104]
Nhân viên CTXH là người liên kết và thống nhất các quan điểm, tạo nên sự thông hiểu giữa các thành viên NV CTXH sẽ đến thăm gia đ nh trẻ, quan sát môi trường sống của trẻ và đưa ra những góp ý v tổ chức, cách chăm sóc trẻ dựa trên lịch hoạt động, đồng thời ghi nhận thái độ, phản ứng, mối tương tác giữa các thành viên trong gia đ nh trẻ, để cùng với ê kíp trị liệu xây dựng kế hoạch can thiệp gia
sẽ đảm nhận những vai trò cụ thể khác nhau và đ u hướng tới mục đích là bảo vệ lợi ích cao nhất của thân chủ, giúp thân chủ tự đương đầu và giải quyết vấn đ
1.1.4 Nhận biết trẻ chậm phát triển ngôn ngữ Nguyên nhân trẻ chậm phát triển ngôn ngữ
1.1.4.1 Nhận biết trẻ chậm phát triển ngôn ngữ
a Các giai đoạn phát triển b nh thường v ngôn ngữ của trẻ từ 0 – 9 tuổi Bảng 1.1: Các giai đoạn phát triển ngôn ngữ của trẻ (từ 0 – 6 tuổi)
Giai đoạn tuổi
Đặc điểm
0 – 5 tháng
-Trẻ chăm chú nh n vào người nói chuyện;
- Quay đầu v phía có tiếng động phát ra; Phân biệt được các tiếng động khác nhau phát ra từ các vị trí khác nhau; Phát ra các âm thanh khi được hỏi chuyện Có thể đáp lại các âm thanh khi được hỏi: mỉm cười
-Tự chơi một m nh với các âm thanh
Trang 256 – 11 tháng
-Biết phối hợp các hoạt động -Theo dõi sự chuyển động của các vật theo các hướng khác nhau -Hiểu một vài từ
- Nối kết các âm thanh để tạo nên vần -Bắt chước gần đúng âm của người khác -Dùng c chỉ, điệu bộ nét mặt để giao tiếp -Tạo ra được một vài âm gần giống với các phụ âm -Tùy theo mỗi trẻ nhưng khi được khoảng mười một tháng hay một tuổi trẻ nói được khoảng hai ba từ đơn khá rõ, có thể là: bố, bà Thông thường các trẻ thường bắt đầu bằng các âm phát ra bằng âm đầu môi như các p,
m, k Và thông thường ở trẻ em gái độ tuổi nói thường xuất hiện sớm hơn khoảng khi trẻ được tầm tám chín tháng tuổi Còn ở trẻ em trai thường nói chậm hơn trung b nh trẻ nói được từ đầu tiên khi trẻ được khoảng một tuổi thậm chí khi trẻ được mười ba, mười bốn tháng tuổi mới bập bập bẹ nói ê a các âm không rõ Các từ đầu tiên trẻ nói được thường là các từ thường có liên quan đến người, đồ vật hoặc sự kiện xung quanh liên quan đến trẻ hoặc các nhu cầu bản thân của trẻ ví dụ: gọi bố, mẹ; ạ, dạ, xin; ô tô, bíp bíp hoặc tiếng kêu các con vật: meo meo, con chó, con mèo, gà Tùy vào bản thân mỗi trẻ cũng như tùy vào môi trường, vùng văn hóa mà trẻ sống mà trẻ phát âm ra
các từ đầu tiên có khác nhau ở các trẻ khác nhau
1 – 1,5 tuổi
-Khi trẻ được 18 tháng tuổi trẻ bắt đầu nói và tự nối ghép được hai từ với nhau Ở giai đoạn này trẻ nói bắt đầu h nh thành các trật tự câu Trẻ biết chỉ được ít nhất là sáu bộ phận trên cơ thể, chỉ được một hai h nh ảnh quen thuộc khi cho trẻ nh n tranh như: h nh bố,h nh con cá hoặc h nh con chó…
-Thực hiện các mệnh lệnh đơn giản: “ném bóng cho mẹ, cầm cốc cho bố”… -Phân biệt được các đồ vật thường dùng
-Nhận ra được một số bức tranh v các đồ vật ở xung quanh Ví dụ: tranh
v cái cốc, bàn -Nói một vài từ -Biết khởi xướng các trò chơi -Tạo ra chuỗi âm không có nghĩa với các ngữ điệu khác nhau -Có khả năng bắt chước được từ đơn
2 – 3 tuổi
-Trẻ hiểu các khái niệm v vị trí trong không gian: phái trước, bên phải, bên ngoài, hiểu một vài chức năng công dụng của đồ vật và các bộ phận của cơ thể như: cốc để uống nước, lược để chải đầu, hay mũi để ng i,
Trang 26miệng để ăn…
-Hiểu một vài đại từ, hiểu các từ mô tả: To/bé, ướt/khô -Trẻ bắt đầu hiểu v khái niệm số lượng, quan hệ bộ phận, tổng thể Trẻ hiểu các hành động trong tranh: đang tắm, đang ăn, các đại từ: cô bé,em
bé, cậu bé -Trẻ biết s dụng các câu đơn giản, đặt câu hỏi đơn giản -Trẻ trả lời được các câu hỏi như: cái g , ở đâu? Có/ không
-Trẻ nói được các câu đơn giản: có chủ, vị, và bắt đầu dùng từ sở hữu: của con…
- Đến 3 tuổi trẻ tạo ra một cụm từ có đầy đủ thành phần chủ vị Sau giai đoạn này trẻ sẽ nói được và sẽ tạo đà cho trẻ phát triển được rất nhi u các câu phức tạp và tiếp sau đó là trẻ h nh thành nên các câu chuyện dài với nội dung khá logic
- Từ 3,5 tuổi - 4, 5, 6 tuổi không những trẻ nói được các câu phức tạp trẻ bắt đầu s dụng các ngôn ngữ ấy một cách khá tốt Tự kiểm soát được cường độ giọng nói, xây dựng ngữ điệu như người lớn, thường hỏi cái g ,
ở đâu, tại sao Trẻ phân biệt và hiểu được các câu với nghĩa khá đa dạng
và phức tạp trái nghĩa nhau và chúng có thể biết phát triển và duy tr được hội thoại khá dài
Bảng 1.2: Sự phát triển v h nh thức ngôn ngữ của trẻ từ 8 tháng tuổi – 9 tuổi
Giai đoạn tuổi
Đặc điểm
8 – 12 tháng
6- 10 tháng phát âm bập bẹ có nghĩa (bà bà bà, mạ mạ…)
12 – 18 tháng
Có 50 từ dầu tiên
18 – 24 tháng
Phát ngôn 2 tiếng một, từ 2 tiếng; n định trật tự từ trong phát ngôn; Phát ngôn kiểu “điện tín” với ít nhi u lỗi cú pháp
Lời của trẻ 50% có thể hiêut được; phát âm đúng 70% các phụ âm
24 – 30
tháng
Bắt đầu xuất hiện ý thức v cấu tạo từ
S dụng thể phủ định hông , không có, không thể
Đặt câu hỏi chỉ bằng cách thay đổi ngữ điệu Nhận thức v vần điệu
Trang 2730 – 36 tháng
Đồng hóa mọi thời v hiện tại ( chưa nhận thức và phân biệt được đã, đang, s )
Có lời nói dễ hiểu với mức 75% ở 36 tháng
Có khả năng nhớ , nhắc lại các đoạn đồng dao có vần điệu
36 – 42 tháng
Lần đầu tiên xuất hiện dạng thức câu ghép đằng lập Đặt đúng vị trí từ phủ định và từ để hỏi trong câu phủ định và câu hỏi Bắt đầu hiểu và s dụng được từ chỉ thời quá khứ
42 – 48 tháng
Bắt đầu xuất hiện dạng câu ghép chính phụ, câu có nhi u mệnh đ Vẫn còn lỗi phát âm một số phụ âm như : s, r, l, th
5 – 7 tuổi
Bắt đầu hiểu và s dụng được câu bị động Bắt đầu biết các ngoại lệ của quy tắc ngữ pháp cơ bản
Có khả năng phân tích tiếng thành các âm vị Phân biệt được các từ /khái niệm với cái mà từ/khái niệm đó biểu đạt
7 – 9 tuổi
Bắt đầu phát triển khả năng ngữ pháp ngôn ngữ viết
Đôi khi còn mắc lỗi với cụm danh từ (ví dụ: những nước mưa)
Hầu như không còn lỗi phát âm Kiến thức v chữ và âm được áp đầy đủ trong đánh vần và đọc trơn từ
Bảng 1.3: Sự phát triển v s dụng ngôn ngữ của trẻ từ 8 tháng tuổi – 9 tuổi
Giai đoạn tuổi
Đặc điểm
8 – 12 tháng
Dùng c chỉ, điệu bộ và phát ra âm thanh để biểu hiện ý muốn: đòi các đồ vật hoặc hành động, từ chối, trò chơi, giao tiếp
Thường bộc lộ các hành động hành vi giao tiếp với tần suất đến 2,5 lần/phút khi chơi tự do
12 - 18 tháng
Bắt đầu dùng từ thay cho hành vi c chỉ để biểu hiện ý muốn Tần suất khi chơi tự do lên đến 5 lần/phút
18 – 24 tháng
Từ ngữ s dụng trong giao tiếp tăng lên trong việc dùng c chỉ, điệu bộ giảm xuống
Diễn tả được nhi u mục đích mới dạng đ nghị/cầu khiến và trả lời câu hỏi
Tần suất hành vi giao tiếp khi chơi tự do lên đến khoảng 7,5 lần/phút
Trang 2824 – 30
tháng
Bước đầu biết cách đ nghị khéo léo (Ví dụ: nài nỉ…đi bố)
Hướng đến thêm những mục đích mới như chơi với biểu tượng, nói với đồ vật vắng mặt
Kể v sự vật, sự việc gọi tên – mô tả
30 – 36 tháng
Biết nêu yêu cầu để người khác giải thích lại Việc s dụng ngôn trong vui chơi tăng lên
Kể chuyện theo chủ đ nhưng không giữ được cốt chuyện
36 – 42 tháng
Linh hoạt hơn trong thể hiện đ nghị, biết xin phép và đ nghị một cách gián tiếp; kiểu yêu cầu trực tiếp giảm xuống
Kể chuyện theo chủ đ và ít nhi u biết sắp xếp các chi tiết theo trật tự thời gian
42 – 48 tháng
S dụng được ngôn ngữ trong nhi u mục đích mới như tường thuật lại sự việc đã xảy ra, lập luận, suy đoán, thể hiện sựu thông cảm, tưởng tượng sắm vai, và duy tr tương tác
48 – 60 tháng
Khả năng đưa ra yêu cầu giải thích chi tiết và cụ thể tăng lên
Kể lại chuyện ít nhi u phản ánh được cốt truyện nhưng không rõ điển nút hoặc sự phân giải
5 – 7 tuổi
Kể chuyện thể hiện được trọng tâm chính, điểm nút hoặc sự phân giải
7 – 9 tuổi
S dụng ngôn ngữ trong thiết lậpvà duy tr vị thế xã hội
Kỹ năng thuyết phục tăng lên, đưa đến nhi u thành công hơn trong hành động thuyết phục
Có khả năng s a chữa và hỏi đáp trong đàm thoại: giải thích từ ngữ, đưa
ra thông tin phản hồi Bắt đầu hiểu những truyện cười và câu đối dựa trên tính đồng âm Thực hiện được các nhiệm vụ giao tiếp có tham chiếu đơn giản
Bảng 1.4: Sự phát triển v nội dung ngôn ngữ của trẻ từ 8 tháng tuổi – 9 tuổi
Giai đoạn tuổi
Đặc điểm
8 – 12 tháng
Hiểu từ 30 – 50 từ;
Những từ đầu tiên dùng để chỉ người và đồ vật thân quen; trò chơi giao tiếp và rập khuôn; nói v sự xuất hiện, biến mất và trở lại
Trang 2912 - 18 tháng
Có vốn từ diễn đạt từ 50 - 100 tưở 18 tháng tuổi Hiểu và diễn đạt câu tiếng một v chủ thể, hành động, đối tượng, vị trí, sở hữu, sự loại bỏ, sự biến mất, sự không tồn tại, sự từ chối
18 – 24 tháng
Có vốn diễn đạt 20 – 300 ở 24 tháng tuổi Diễn đạt các mối quan hệ phổ biến: chủ thể – hành động, chủ thể – đối tượng, hành động – đối tượng, hành động – vị trí, thực thể – vị trí, chủ sở hữu – sở hữu, chỉ định – thực thể, thuộc tính – thực thể
24 – 30
tháng
Hiểu và s dụng câu hỏi v đối tượng (cái g ?), con người (ai?) và các sự
kiện chính ( đang làm gì đang đi đâu )
30 – 36 tháng
Hiểu và s dụng câu hỏi tại sao
Hiểu và s dụng các từ chỉ vị trí trong không gian (trong, ngoài, trên, dưới )
36 – 42 tháng
Hiểu và s dụng các câu kế tiếp nhau có mối quan hệ thời gian, nhân quả, đối lập
Hiểu các từ chỉ màu sắc cơ bản Hiểu và s dụng các từ thuộc cùng một lớp
42 – 48 tháng
Hiểu và s dụng các câu hỏi hi nào, như thế nào?
Hiểu các từ chỉ h nh dạng cơ bản (tròn, vuông, tam giác…) Hiểu và s dụng từ cơ bản chỉ kích thước
48 – 60 tháng
Biết các chữ cái và âm Biết các chữ số và phép tính (cộng, trừ)
S dụng các từ nối khi, nên, bởi vì, nếu
5 – 7 tuổi
Tổ chức lại vốn từ từ dạng rời sang dạng mạng liên kết nghĩa Vốn từ diễn đạt khoảng 5000 từ
7 – 9 tuổi
Bắt đầu phát triển khả năng ngữ pháp ngôn ngữ viết
Đôi khi còn mắc lỗi với cụm danh từ (Ví dụ: những nước mưa)
Hầu như không mắc lỗi phát âm Kiến thức v chữ và âm được áp dụng đầy đủ trong đánh vần và đọc trơn
Trang 30- Trẻ có âm mũi: mm, nn
- Trẻ phát âm hoặc cười to để đáp ứng với chú ý của người nói
- Trẻ tạo ra ít nhất 2 âm khác biệt, phân biệt với nguyên âm
11 tháng tuổi:
- Trẻ cố tạo ra sự chú ý của bạn hoặc của người khác
- Trẻ có 2 âm khác nhau, có phụ âm
- Trẻ có ít nhất một c chỉ, điệu bộ để thể hiện cái mà trẻ muốn
13,5 tháng tuổi:
- Trẻ bắt trước nói ít nhất là một âm bao gồm cả phụ âm và nguyên âm kết
hợp: vd: ba ba, da da, măm măm, ma ma
- Trẻ tham gia vào trò chơi quen thuộc: vd: chi chành, kéo cưa
- Trẻ phát âm bập bẹ như muốn thể hiện một đi u g đó
- Trẻ có ít nhất 4 âm bao gồm cả phụ âm và nguyên âm kết hợp: vd: ba ba, da
da, măm măm, ma ma
16,5 tháng tuổi:
- Trẻ phát âm ít nhất 1 từ gần giống: có thể là tên người, đồ vật, đồ chơi
- Trẻ chỉ tay vào hoặc cho bạn xem ít nhất một đồ vật (dụng cụ mẫu: sách, cốc, thìa, bóng, búp bê)
- Trẻ bắt chước ít nhất một từ
19,5 tháng tuổi:
- Trẻ bắt trước ít nhất một hoạt động tương tác khi chơi
- Trẻ nói được ít nhất 2 từ phù hơp – không phải là nhại lại
- Trẻ dùng ít nhất một từ để thể hiện cái mà trẻ muốn
- Trẻ trả lời “có” hoặc “không” phù hợp: vd: Con có thích ăn kẹo không? Con
có muốn đi chơi không?
- Trẻ bắt chước nói câu 2 từ: vd: mẹ mua, để đây, ăn kẹo
Trang 31- Nói câu 2 từ trở lên có nghĩa
có một số vấn đ với con trẻ, buộc phải ghi nhận để t m hiểu
Trẻ có một số dấu hiệu bất thường v ngôn ngữ trong những tháng đầu đời như: + Không đáp ứng với giọng nói hay những âm thanh to khi bé 6 - 8 tuần tuổi + Không cười với giọng nói của cha mẹ lúc 2 tháng
+ Không quan tâm đến người và vật xung quanh lúc 3 tháng
+ Không quay đầu theo hướng âm thanh lúc 4 tháng
+ Không cười tự phát lúc 6 tháng
+ Không bập bẹ lúc 8 tháng
Trẻ có một số dấu hiệu đáng quan tâm như: Gọi tên không quay lại khi trẻ đã trên 6 tháng tuổi; ăn khó, không thể thay đổi món ăn, không biết nhai; trẻ không giao tiếp mắt, không tương tác với người khác; trẻ chậm phát triển vận động Đặc biệt, ngôn ngữ của trẻ chậm so với trẻ cùng tuổi Trẻ có ti n s sinh non; trẻ thường
bị bệnh viêm tai mũi họng, viêm tai giữa, trẻ bị tật chẻ vòm… đây cũng là những nguy cơ có thể dẫn tới trẻ CPTNN
Trẻ chỉ có thể chỉ trỏ vào đối tượng để thể hiện mong muốn và nhu cầu hơn là tạo ra âm thanh hay lời nói, những âm thanh trẻ phát ra thường là những âm vô nghĩa Đôi khi, những đứa trẻ chỉ có thể khóc hoặc diễn tả hành vi và không có khả năng thể hiện bản thân một cách thích hợp Bên cạnh đó cha mẹ gặp khó khăn khi
cố gắng để xác định những g con trẻ đang cố gắng giao tiếp với m nh Khi thấy sự chậm trễ của cha mẹ trong việc hiểu và đáp ứng nhu cầu cho m nh, trẻ thường có những hành vi như cáu giận, la hét, khóc, hờn dỗi hoặc kéo tay cha mẹ tới đối tượng
Trang 32mà trẻ mong muốn được thực hiện và giao tiếp với cha mẹ bằng những âm thanh của riêng trẻ nhưng thường là âm vô nghĩa
Một đứa trẻ có hành vi khác thường có thể có một nguy cơ lớn bị CPTNN Nếu đứa trẻ bộc lộ các vấn đ v cảm giác, chẳng hạn như quá nhạy cảm với âm thanh hay ánh sáng, có ác cảm với một số thức ăn hoặc phòng thủ của xúc giác (không thích người khác tiếp xúc), có thể có nhi u khả năng bị CPTNN và kém phát triển ngôn ngữ Những dấu hiệu này "phất cờ đỏ" cảnh báo các bậc cha mẹ là có một số vấn đ với con trẻ, buộc phải ghi nhận để t m hiểu
Các dấu hiệu đáng quan tâm của trẻ từ 12 tháng đến 24 tháng tuổi như sau:
- Trẻ 12 tháng tuổi mà không làm một c chỉ, điệu bộ nào, chẳng hạn như động tác chỉ trỏ hoặc vẫy tay tạm biệt
- Trẻ 18 tháng tuổi thích giao tiếp bằng điệu bộ và động tác hơn lời nói Hoặc 18 tháng tuổi trẻ gặp khó khăn khi bắt chước âm thanh
- Trẻ khó hiểu các câu yêu cầu đơn giản bằng lời
Nếu trẻ trên 2 tuổi có các dấu hiệu sau đây th cha mẹ cũng nên quan tâm và kiểm tra cho trẻ như:
- Trẻ chỉ có thể bắt chước các hoạt động hoặc lời nói mà không h tự nói các từ hoặc cụm từ một m nh được
- Trẻ chỉ có thể nói được một vài từ hoặc một vài âm thanh nào đó một cách lặp đi lặp lại và không giao tiếp được bằng lời để truy n đạt những nhu cầu cơ bản nhất của mình
- Trẻ không hiểu được các lời chỉ dẫn đơn giản
- Trẻ có giọng nói khác thường (chẳng hạn như âm thanh the thé hoặc âm mũi)
- Trẻ khó tiếp nhận, khó hiểu nhi u hơn so với lứa tuổi của m nh Bố mẹ và người chăm sóc trẻ thường xuyên chỉ hiểu được phân n a đi u trẻ muốn nói lúc 2 tuổi và hiểu được khoảng ngôn từ của bé khi bé lên 3 Khi trẻ lên 4 tuổi th người khác có thể hiểu hầu hết các đi u trẻ muốn nói, thậm chí là những người không quen biết với chúng
1.1.4.2 Nguyên nhân trẻ chậm phát triển ngôn ngữ
Có khá nhi u nguyên nhân được cho là tác nhân gây nên sự CPTNN ở trẻ nhỏ Trong những nguyên nhân dẫn tới CPTNN có 2 nguyên nhân đáng lưu ý đó là trẻ mắc hội chứng tự kỷ và trẻ chậm phát triển tâm thần dẫn tới t nh trạng trẻ chậm phát triển ngôn ngữ Tuy nhiên trẻ CPTNN từ 2 nguyên nhân trên thường có rất nhi u vấn đ phức tạp phải can thiệp trên nhi u lĩnh vực và đòi hỏi phải kết hợp nhi u
Trang 33chuyên gia trong quá tr nh trị liệu và việc can thiệp thường kéo dài, phức tạp V vậy trong phạm vi nghiên cứu của đ tài này, tôi xin lựa chọn thân chủ là trẻ CPTNN do nguyên nhân từ môi trường xã hội, sau khi đã được can thiệp đặc biệt trẻ có những tiến bộ vượt trội v ngôn ngữ, nhận thức có khả năng học hoà nhập tại trường mầm non để hỗ trợ với tư cách là một nhân viên xã hội
Hai nhóm nguyên nhân cơ bản dẫn tới sự CPTNN ở trẻ nhỏ:
- Trẻ sinh ra trong một gia đ nh có “truy n thống” CPTNN hoặc trong gia đ nh
có ti n s có người CPTNN
Trang 34- Trẻ có bệnh lý v hệ thống nghe, nghe khó, bị điếc v thế bị rối loạn ngôn ngữ
- Trẻ CPTNN gặp các vấn đ v cơ vận động miệng, nghĩa là sự giao tiếp không đạt hiệu quả ở các vùng do não đi u tiết để có thể giúp trẻ phát âm thành lời…
- Trẻ có vấn đ v tai gây khó nghe cũng khiến trẻ gặp khó khăn trong việc hiểu, bắt chước và s dụng ngôn ngữ
Nguyên nhân tâm lý (từ môi trường xã hội):
- Trẻ bị ngã chấn thương hoặc bị bất cứ một vấn đ g gây rối loạn, khủng hoảng cho trẻ dẫn tới trẻ luôn ở trong trạng thái sợ hãi, mất ni m tin vào mọi người xung quanh, sống thu m nh không giao tiếp với người khác
- Khả năng nói của trẻ là tổng hợp của khả năng bẩm sinh và nuôi dạy Tuy nhiên, nó phụ thuộc rất nhi u vào việc chăm sóc và giáo dục của cha mẹ Việc trẻ không có được kích thích nói đúng mức ở nhà, trẻ không có cơ hội trò chuyện, tiếp xúc với người thân ngay từ nhỏ cũng gây khó khăn cho trẻ trong quá tr nh tiếp xúc,
nghe và bắt chước các âm thanh xung quanh trẻ
- Bố mẹ mải mê với công việc, ít hoặc không có thời gian chăm sóc, giao tiếp với trẻ
- Trẻ mất khả năng tập trung, chú ý là do xem ti vi quá nhi u, nghiện xem ti vi Khi xem tivi, ánh sáng, con người, cảnh vật thay đổi một cách nhanh chóng và đột ngột Ngoài ra, khi trẻ đã “nghiện” tivi, thời gian vui chơi giải trí bên ngoài, trò chuyện cùng bố mẹ cũng giảm đáng kể Cùng với nó là chứng béo ph luôn đe doạ sức khoẻ của trẻ
1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
Để phục vụ cho quá tr nh nghiên cứu, tôi đã t m hiểu, nghiên cứu các lý thuyết sau: Lý thuyết nhận thức - hành vi, lý thuyết học tập xã hội và lý thuyết CTXH với cá nhân Nội dung chủ yếu của các lý thuyết như sau:
1.2.1 Lý thuyết nhận thức - hành vi
Lý thuyết này được hai tác giả là Beck (1989) và Ellis (1962) phát triển, họ quan tâm nhi u đến những đi u kiện thực tâm thần học như rối loạn chức năng thần kinh, lo âu và khủng hoảng Lý thuyết nhận thứ đánh giá hành vi bị ảnh hưởng thông qua nhận thức hoặc lý giải những vấn đ rối loạn trong ý thức, họ hướng đến kết hợp cách tư duy theo mô hính trị liệu của họ Những hành vi chưa phù hợp xuất hiện từ
Trang 35nhận thức sai và lý giải sai Quá tr nh trị liệu cố gắng s a chữa việc hiểu sai, do đó, hành vi của chúng ta cũng được tác động trở lại một cách phù hợp với môi trường
Lý thuyết này là n n tảng cơ bản cho phương pháp ABA trong trị liệu cho TTK và cũng được ứng dụng để trị liệu ngôn ngữ cho trẻ CPTNN Việc ứng dụng lý thuyết này nhằm mục đích thay đổi nhận thức, hành vi sai của trẻ trong quá tr nh học tập, tạo ra hành vi mới tích cực cho trẻ, đi u này giúp trẻ tăng khả năng nhận thức và dễ dàng hòa nhập với môi trường giáo dục hòa nhập hơn
Việc s dụng lý thuyết hành vi nhằm giải thích lý do tổ chức các hoạt động
hỗ trợ can thiệp trẻ và tác dụng của các hoạt động can thiệp trong việc kích thích trẻ phát triển ngôn ngữ, coi việc đáp ứng nhu cầu, sở thích của trẻ là kích thích và việc trẻ s dụng ngôn ngữ nói và hành vi đúng là phản xạ Trẻ được thay đổi nhận thức rằng việc bắt chước phát âm và s dụng ngôn ngữ cá nhân là một phản xạ có đi u kiện, để được thực hiện các nhu cầu trẻ buộc phải s dụng hành vi và ngôn ngữ nói Ngoài ra, việc s dụng h nh thức thưởng phạt là 1 công cụ để tăng cường những hành vi tích cực và giảm thiểu những hành vi tiêu cực của trẻ
1.2.2 Lý thuyết học tập xã hội
Lý thuyết học tập xã hội xuất hiện đầu tiên và phát triển trong tâm lý học lâm sàng để trị liệu hành vi dựa trên nghiên cứu của tâm lý học Chúng ta không chỉ học tập những hành vi mang tính bẩm sinh, mà cả những hành vi mới nhằm đáp ứng những nhu cầu của chúng ta hoặc thay thế những hành vi đã có nếu nó gây ra một
số vấn đ của chúng ta Và không chỉ quan tâm đến những vấn đ biến đổi có thể xảy ra trong ý thức
Lý thuyết học tập xã hội (Bandura, 1977) mở rộng quan điểm này và cho rằng hầu hết các lý thuyết học tập đạt được qua nhận thức của con người và suy nghĩ những đi u g
mà họ đã trải nghiệm Học tập qua việc xem xét các ví dụ của người xung quanh
Đối với một đứa trẻ, quá tr nh học ngôn ngữ là một quá tr nh trong đó có sự bắt chước từ và âm từ môi trường xung quanh Do đó, để nâng cao hiệu quả trong quá
tr nh hỗ trợ hòa nhập xã hội cho trẻ CPTNN tác giả đã s dụng lý này
1.2.3 Lý thuyết Công tác xã hội với cá nhân
CTXH với cá nhân là một trong những phương pháp cơ bản của CTXH CTXH với cá nhân xuất hiện sớm nhất trong lịch s h nh thành và phát triển CTXH cả trên phương diện lý thuyết và thực tế CTXH với cá nhân bắt đầu được thực hiện từ n a sau của thế kỷ XIX và không ngừng được bổ sung hoàn thiện cho đến ngày nay
Trang 36Đối tượng tác động của phương pháp CTXH với cá nhân là những cá nhân hoặc gia đ nh có vấn đ xã hội Đây là những người có hoàn cảnh khó khăn, gặp rủi
ro, bất hạnh trong cuộc sống, bị yếu thế trước xã hội; những người nghèo đói, thất nghiệp; người bị khuyết tật; người già, người cô đơn; trẻ em mồ côi, không nơi nương tựa, sống lang thang, bị ngược đãi, bị lạm dụng t nh dục, lạm dụng sức khoẻ, bóc lột sức lao động; phụ nữ bị bạo hành, bất b nh đẳng trong gia đ nh và xã hội; người bị nhiễm các dịch bệnh hiểm nghèo; người nghiện ma tuý, hành ngh mại dâm, tội phạm xã hội…
Phương pháp CTXH với cá nhân trong việc hỗ trợ, giải quyết vấn đ dựa trên quan hệ mặt đối mặt: NV CTXH và đối tượng (thân chủ) Chúng ta thấy rằng CTXH với cá nhân là phương pháp tác động hai chi u, trong đó NV CTXH đóng vai trò định hướng, giúp phát huy năng lực của thân chủ, còn thân chủ là đối tượng, là trung tâm của quá tr nh tác động, chuyển biến thay đổi từ t nh trạng yếu kém năng lực xã
hội trở thành chủ thể tích cực của việc giải quyết vấn đ của bản thân m nh
Mục đính của CTXH với cá nhân là nhằm giúp cá nhân, gia đ nh phục hồi, củng cố và phát triển các chức năng xã hội, giúp họ giải quyết vấn đ , cải thiện t nh
h nh của họ thông qua sự tham gia tích cực và phát huy ti m năng của cá nhân và xã hội vào quá tr nh giải quyết vấn đ
Trong CTXH với cá nhân chúng ta cần chú ý tới 5 cách tiếp cận vấn đ - con đường tiếp cận với đối tượng (thân chủ) sau: Cách tiếp cận tâm lý; Cách tiếp cận giải quyết vấn đ - tạo đi u kiện đối tượng tham gia giải quyết vấn đ ; Cách tiếp cận chức năng - can thiệp khủng hoảng; Cách tiếp cận toàn diện - tổng quát; Cách tiếp cận phát triển
Các nguyên tắc cơ bản trong CTXH cá nhân là: Nguyên tắc cá biệt hóa, nguyên tắc chấp nhận đối tượng, nguyên tắc tôn trọng quy n tự quyết của thân chủ, nguyên tắc thân chủ cùng tham gia giải quyết vấn đ , nguyên tắc giữ bí mật thông tin liên quan đến thân chủ
Tiến tr nh CTXH với cá nhân là quá tr nh thể hiện sự tương tác giữa NV CTXH và thân chủ trong việc trợ giúp, giải quyết vấn đ của thân chủ từ khi bắt đầu tiếp nhận ca cho đến khi kết thúc Quá tr nh này bao gồm 7 bước: Tiếp cận thân chủ; Nhận diện vấn đ ; Thu thập và x lý thông tin; Xác định vấn đ ưu tiên và trọng tâm vấn đ cần giải quyết; Xây dựng kế hoạch giải quyết vấn đ ; Thực hiện
kế hoạch giải quyết vấn đ ; Lượng giá và kết thúc
Trang 37Trong đ tài nghiên cứu, tác giả ứng dụng phương pháp can thiệp CTXH với
cá nhân để trực tiếp can thiệp cho 2 thân chủ là trẻ CPTNN học hòa nhập tại trường Mầm non Kid’s Color Phương pháp này giúp NV CTXH làm việc trực tiếp với thân chủ, t m hiểu nhhững thuận lợi, những khó khăn mà thân chủ gặp phải trong quá tr nh học tập Từ đó, NV CTXH sẽ có những biện pháp để hỗ trợ tốt nhất cho thân chủ
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1:
Bằng việc áp dụng các lý thuyết liên quan sẽ giúp cho tác giả hiểu rõ hơn sự phát triển tâm sinh lý, hành vi, nhận thức cũng như các yếu tố tác động tới sự phát triển của trẻ, đặc biệt là những trẻ ở lứa tuổi MN nói chung và nhóm trẻ CPTNN nói riêng Mặc dù trẻ CPTNN không nằm ngoài quy luật phát triển chung của lứa tuổi nhưng mỗi trường hợp CPTNN lại có những đặc điểm riêng biệt do vậy việc hiểu được điểm mạnh, yếu và những yếu tố còn bị che lấp bên trong trẻ sẽ giúp GV, người hỗ trợ (NV CTXH) dễ tiếp xúc và hỗ trợ trẻ tốt hơn
Trang 3818 phòng học và các phòng chức năng, vị trí đẹp, thuận lợi giao thông, trang bị cơ
sở vật chất tiện nghi như: Thang máy, sàn gỗ, đi u hòa hai chi u, máy tính, thư viện thông minh, đồ dùng đồ chơi đạt chuẩn Trường Mầm non Kid’s Color luôn tạo môi trường hướng đến sự phát triển toàn diện của trẻ, giúp trẻ tự tin hòa nhập với thế giới xung quanh Môi trường chăm sóc, nuôi dưỡng và học tập an toàn, ấm cúng như gia đ nh thứ hai, giúp trẻ cảm nhận được t nh yêu thương, sự quan tâm và chia sẻ
Mục tiêu giáo dục của trường hướng tới một môi trường giáo dục toàn diện nhằm:
- Phát triển và rèn luyện thể lực cho trẻ
- Phát triển nhận thức và tư duy sáng tạo
- Phát triển ngôn ngữ và khả năng bày tỏ, diễn đạt ý kiến
- Phát triển đạo đức, t nh cảm xã hội
- Phát triển năng khiếu, thẩm mỹ Chương tr nh học của trẻ theo chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo theo từng lứa tuổi Ngoài ra nhà trường còn bổ sung chương tr nh học nâng cao phù hợp với lứa tuổi trẻ
Phương pháp giáo dục của trường nhằm phát huy tối đa khả năng sáng tạo của trẻ Với đội ngũ giáo viên nhiệt t nh, yêu trẻ, có chuyên môn vững vàng, có khả năng cập nhập và áp dụng các phương tiện khoa học công nghệ hiện đại trong quá
tr nh dạy học đã luôn tạo cho trẻ sự hào hứng trong giờ học, sáng tạo trong các giờ sinh hoạt xã hội (chơi nhóm, ngoại khóa…)
Trường Mầm non Kid’s Color là một trong những cơ sở giáo dục hòa nhập
có mối liên kết khá gắn bó với Trung tâm Nắng Mai (TTNM) Trong những năm qua, trường Mầm non Kid’s Color đã tiếp nhận nhi u trẻ CPTNN và TTK trên địa bàn Hà Nội Ban giám hiệu và các GV chủ nhiệm lớp luôn nhiệt t nh và tạo đi u kiện thuận lợi cho các cán bộ, GV hỗ trợ của Trung tâm theo dõi, giúp đỡ trực tiếp những trẻ CPTNN đang học hòa nhập tại đây
Hiện nay, trường có khoảng 10 trẻ CPTNN trong đó có 5 trẻ đã học chuyên biệt tại TTNM đạt kết quả tốt và có khả năng hòa nhập cao Hầu hết các trẻ đ u trong độ tuổi từ 4-5 tuổi
Trang 392.2 Kế hoạch can thiệp
Mục đích can thiệp: Quá tr nh can thiệp giúp cho từng thân chủ cải thiện khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ Sau khi kết thúc quá tr nh can thiệp, NV CTXH chứng tỏ được các vai trò của m nh trong việc hỗ trợ hoà nhập cho trẻ CPTNN
KẾ HOẠCH CAN THIỆP
5/9/2013 -NV CTXH gặp gỡ, trao đổi với Ban giám
hiệu trường MN Kid’s Color -Thống nhất lịch làm việc, thời gian can thiệp,
kế hoạch can thiệp với chủ nhiệm lớp mầm non 9/9-13/9/2013 -Tiến hành quan sát, ghi chép, thu thập thông
tin v thân chủ trong tuần học đầu tiên -Lập kế hoạch can thiệp cho thân chủ dựa trên những ghi chép, đánh giá đã thu thập được trong tuần học đầu tiên tại trường mầm non Tuần từ 15/9 –
27/12/2013
Thực hiện kế hoạch can thiệp cá nhân, hỗ trợ thân chủ trong các giờ học trên lớp, các hoạt động ngoại khoá, các hoạt động vui chơi
29/12/2013 Mời phụ huynh của thân chủ tham gia buổi
toạ đàm: “cách dạy trẻ chậm nói tại gia đ nh”
Mời phụ huynh
và đại diện trường MN Ngày 30/12-
-Thực hiện kế hoạch can thiệp trong 3 tháng đầu tiên của giai đoạn 2
- Ghi chép những thay đổi tích cực và không tích cực của thân chủ trong thời gian từ 1/2014 -27/3/2014
Ghi chép cá nhân Trao đổi với phụ huynh để có sự
hỗ trợ thích hợp
28/3-31/3/2014 -Nhận xét kết quả học tập, can thiệp của thân
chủ trong thời gian 3 tháng đầu năm 2014 để
có phương hướng can thiệp cho 3 tháng cuối
Ghi chép cá nhân
Trang 40của giai đoạn 2 -Bổ sung kế hoạch can thiệp từ 4/2014-6/2014
Từ 4/2014 – 20/6/2014
-Thực hiện kế hoạch can thiệp
Từ 30/6/2014
23/6-Đánh giá kết quả can thiệp giai đoạn 2 Nhận xét tổng kết quá tr nh can thiệp hoà nhập
-Trao đổi với phụ huynh những chuyển biến của thân chủ trong suốt quán tr nh can thiệp
và kết quả can thiệp cuối cùng
-Kết thúc quá tr nh can thiệp
2.3 Kết quả can thiệp của bé Nguyễn M
2.3.1 Mô tả trường hợp
Họ tên trẻ: Nguyễn M Giới tính: Nữ
Sinh nhật: 21/12/2009
Địa chỉ: Hà Nội
Thời gian bắt đầu học chuyên biệt: 2/7/2012
Thời gian bắt đầu học hòa nhập: 9/2013
T nh trạng ban đầu của trẻ:
Bé M là một cô bé nhỏ nhắn, xinh xắn Khi bé tới học tại Trung tâm chúng tôi, bé có vẻ gầy gò và nhỏ hơn so với các bạn cùng lứa tuổi Lúc đó bé được 2,5 tuổi nhưng cân nặng chỉ có 12 kg Bé thích chạy lăng xăng trong phòng chơi và
nh n mọi thứ xung quanh có vẻ lạ lẫm Khi tôi gọi tên, bé quay lại nh n tôi và tỏ ra rất ngạc nhiên, sau đó bé chạy v phía mẹ đang ngồi ôm chầm lấy mẹ Có vẻ như bé cảm thấy yên tâm khi có mẹ ở đó Theo lời kể của mẹ bé M, tôi được biết bé chưa biết nói Do kinh tế gia đ nh eo hẹp, chỉ dựa vào lương công chức của bố mẹ lại phải bận bịu với công việc, chăm sóc nhà c a nên nhi u khi cả bố mẹ đ u không có nhi u thời gian để ý tới bé nữa Bé hay vê tay và khi thích một món đồ nào đó có thể chỉ là cái nắp bé sẽ chơi với nó cả ngày mà không chán Bé chưa biết ăn cơm mà chỉ ăn cháo Bé cũng thích chơi với chị gái những cũng hay dỗi hờn lắm
Trong một lần xem chương tr nh tư vấn v trẻ tự kỷ trên Ti vi, mẹ M mới chột dạ nghĩ tới những biểu hiện bất thường của con mà trước đó chị vẫn nghĩ do tính cách của con như vậy Đi u chị băn khoăn nhất là bé M đã 2,5 tuổi mà chưa