Do đó, để người dân nói chung và DTTS, trẻ em DTTS nói riêng được hỗ trợ hiệu quả và chuyên nghiệp, CTXH cần tham gia với các ngành và lĩnh vực khác, cung cấp các dịch vụ công tác xã hội
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ KIM OANH
CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ VỀ GIÁO DỤC VÀ
Y TẾ ĐỐI VỚI TRẺ EM DÂN TỘC KƠ HO TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI, 2018
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ KIM OANH
CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ VỀ GIÁO DỤC VÀ
Y TẾ ĐỐI VỚI TRẺ EM DÂN TỘC KƠ HO TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan tất cả những số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài luận
văn Thạc sĩ Công tác xã hội về “Công tác xã hội trong hỗ trợ về giáo dục và y tế
đối với trẻ em dân tộc Kơ Ho từ thực tiễn huyện Lâm hà, tỉnh Lâm Đồng” là
hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với bất kỳ đề tài nào trong cùng lĩnh vực nghiên cứu
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về cam đoan này
Học viên
Nguyễn Thị Kim Oanh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ VỀ GIÁO DỤC VÀ Y TẾ ĐỐI VỚI TRẺ EM 11
DÂN TỘC KƠ HO 11
1.1 Khái niệm, đặc điểm, nhu cầu của của trẻ em dân tộc Kơ Ho 11
1.2 Công tác xã hội trong hỗ trợ về giáo dục và y tế đối với trẻ em dân tộc Kơ Ho: Khái niệm, hình thức, phương pháp 17
1.3 Cơ sở chính trị - pháp lý của công tác xã hội trong hỗ trợ về giáo dục và y tế đối với trẻ em dân tộc Kơ Ho 25
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ VỀ GIÁO DỤC VÀ Y TẾ ĐỐI VỚI TRẺ EM DÂN TỘC KƠ HO TẠI HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG 29
2.1 Khái quát địa bàn nghiên cứu 29
2.2 Thực trạng công tác xã hội trong hỗ trợ về giáo dục và y tế đối với trẻ em dân tộc Kơ Ho tại huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng 34
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội trong hỗ trợ về giáo dục và y tế đối với trẻ em dân tộc Kơ Ho 51
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ VỀ GIÁO DỤC VÀ Y TẾ ĐỐI VỚI TRẺ EM DÂN TỘC KƠ HO TẠI HUYỆN LÂM HÀ 60
3.1 Định hướng tăng cường công tác xã hội trong hỗ trợ về giáo dục và y tế đối với trẻ em dân tộc Kơ Ho huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng 60
3.2 Giải pháp tăng cường công tác xã hội trong hỗ trợ về giáo dục và y tế đối với trẻ em dân tộc Kơ Ho huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng 63
KẾT LUẬN 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
PHỤ LỤC 82
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CTV Cộng tác viên CTXH Công tác xã hội DTTS Dân tộc thiểu số NVXH Nhân viên xã hội
Trang 6DANH MỤC BẢNG, BIỂU, HÌNH, HỘP
Biểu đồ 2.1 Phân loại các hộ gia đình tham gia khảo sát theo điều kiện kinh
tế 32
Biểu đồ 2.2 Trình độ học vấn của các chủ hộ gia đình tham gia khảo sát 33
Hộp 2.1 Hoàn cảnh gia đình của các đồng bào dân tộc nói chung tại thôn Tân Lập thuộc xã Đan Phượng 34
Biểu đồ 2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc theo học của trẻ 35
Hộp 2.2 Yếu tố ảnh hưởng đến việc trẻ em dân tộc Kơ Ho không theo học thường xuyên 36
Biểu đồ 2.4 Mức độ tiếp nhận các hỗ trợ về tiếp cận dịch vụ giáo dục 37
Biểu đồ 2.5 Các hình thức hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ giáo dục 39
Biểu đồ 2.6 Mức độ hài lòng đối với hoạt động hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ giáo dục 41
Hộp 2.3 Về hiệu quả hoạt động hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ giáo dục 41
Biểu đồ 2.7 Mức độ được thăm khám thường xuyên về y tế 44
Hộp 2.4 Thẻ BHYT đối với trẻ em dân tộc Kơ Ho trên 6 tuổi 45
Biểu đồ 2.8 Các hình thức hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ y tế 46
Hộp 2.5 Khảo sát về các hình thức hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ y tế 47
Hộp 2.6 Khảo sát về tình hình tiếp cận các dịch vụ y tế 48
Hộp 2.7 Các hình thức hỗ trợ trẻ Kơ Ho tiếp cận với các dịch vụ y tế 48
Hộp 2.8 Các hình thức hỗ trợ trẻ Kơ Ho tiếp cận với các dịch vụ y tế 48
Biểu đồ 2.9 Mức độ hài lòng về các hỗ trợ trong tiếp cận các dịch vụ y tế 48
Hộp 2.9 Khó khăn chính gây trở ngại trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế 50
Bảng 3.1 Thực trạng cán bộ, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội ở Lâm Đồng: 57
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trẻ em có vai trò đặc biệt quan trọng đối với gia đình và xã hội Người Việt Nam vốn có truyền thống yêu thương gắn bó với con cháu Con cháu không chỉ là nguồn hạnh phúc mà còn là niềm mong ước, là nơi gửi gắm những ước
mơ, niềm tin và sự hãnh diện Tuy nhiên không phải trẻ em nào cũng được chăm sóc, dạy dỗ đáp ứng những nhu cầu cơ bản của trẻ để trở thành những đứa con tương lai của đất nước Trẻ em dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng xa đang phải sống trong cảnh nghèo khổ, thiếu thốn các nhu cầu cơ bản, và hầu hết đang phải sống tại các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
Việt Nam có 54 dân tộc anh em Các dân tộc có quan hệ lâu đời trên nhiều lĩnh vực trong quá trình cùng tồn tại và phát triển Đảng và Nhà nước ta luôn coi việc xây dựng quan hệ đoàn kết, bình đẳng hữu nghị giữa các dân tộc
là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn nhấn mạnh ý nghĩa chiến lược của vấn đề dân tộc
và chính sách dân tộc, phát huy sức mạnh của cộng đồng dân tộc, truyền thống yêu nước và lòng tự hào dân tộc vì mục tiêu độc độc lập, thống nhất tiến lên dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh Bước sang thời kì mới, của sự nghiệp xây dựng đất nước, nhân dân ta càng có điều kiện tốt hơn
để tăng cường mở rộng khối đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, động viên cao sức mạnh dân tộc để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc và chính sách dân tộc là những vấn đề rất lớn, phức tạp và nhạy cảm Nhiều nội dung của vấn đề này đang cần được nghiên cứu, cả về lý luận và thực tiễn Từ trước đến nay, những vấn đề thời sự liên quan đến dân tộc, quan hệ dân tộc trên thế
Trang 8và phần lớn người Kinh là dân gốc Hà Nội và Hà Tây vào xây dựng vùng kinh tế mới sau khi thống nhất đất nước Địa hình phức tạp, nhiều đồi núi và khe suối, giao thông đi lại còn gặp nhiều khó khăn và thường bị chia cắt trong mùa mưa
lũ, dân cư phân bố rải rác theo các trục đường giao thông và các bãi ven sông suối Đời sống vật chất và tinh thần của người dân còn gặp nhiều khó khăn, kinh
tế xã hội chậm phát triển Trong khi đó một số bộ phận dân cư còn có tư tưởng trông chờ ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước, đặc biệt là các hộ nghèo không chịu
lo làm ăn vươn lên thoát nghèo Là một huyện vùng núi hay gặp thiên tai, mất mùa nên dẫn đến khó khăn về vật chất và phải đối phó với nhiều rủi ro Kinh tế khó khăn kéo theo điều kiện về tinh thần ảnh hưởng, người dân nơi đây rất cần
sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, cơ quan chức năng và đội ngũ công tác xã hội chuyên nghiệp có năng lực tư vấn cho người dân giám sát các chính sách xã hội, định hướng đúng hành vi xã hội cũng như hỗ trợ nâng cao năng lực bản thân vượt lên số phận, nâng cao chất lượng cuộc sống
Trong những năm gần đây, chính quyền, đảng bộ và nhân dân huyện Lâm Hà đã có nhiều cố gắng trong việc quan tâm, chăm lo đời sống vật chất
và tinh thần đối với người dân và gia đình của họ bằng nhiều việc làm thiết thực Do vậy, đời sống của nhiều gia đình dân tộc thiểu số tại địa phương đã phần nào ổn định Song, với điều kiện kinh tế, xã hội còn nhiều khó khăn bởi
Trang 93
việc giúp đỡ, hỗ trợ chỉ có thể đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu và cơ bản nhất mà chưa thể đáp ứng những nhu cầu đa dạng khác và giải quyết những vấn đề mang tính chất cá nhân, nhóm đối tượng đặc thù Đối với đồng bào DTTS, các hoạt động hỗ trợ phần lớn tập trung vào mục tiêu giải quyết nghèo đói, phần khác hướng đến các hoạt động khuyến khích con em DTTS
đi học, và đi học đều, không bỏ học, phần khác hướng đến việc tuyên truyền
bà con trong công tác phòng chống dịch bệnh Tuy nhiên, các hoạt động này chưa mang tính chuyên nghiệp, chưa mang màu sắc CTXH, hiệu quả đem lại chưa cao Trên thế giới CTXH là một nghề có lịch sử khá lâu đời, tuy nhiên tại Việt Nam, CTXH mới được công nhận là mọt nghề chuyên nghiệp vào năm 2010 Do đó, để người dân nói chung và DTTS, trẻ em DTTS nói riêng được hỗ trợ hiệu quả và chuyên nghiệp, CTXH cần tham gia với các ngành và lĩnh vực khác, cung cấp các dịch vụ công tác xã hội thông qua các phương pháp công tác xã hội nhằm hỗ trợ, nâng cao đời sống của người dân trên mọi phương diện đặc biệt là đối với trẻ em dân tộc thiểu số Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả muốn hướng các nghiên cứu đến các hoạt động CTXH trong
hỗ trợ trẻ em DTTS Kơ Ho tại huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng Trẻ em ở các
xã có dân tộc thiểu số ở huyện Lâm Hà bỏ học khá sớm và khá phổ biến ảnh hưởng không nhỏ đến điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh trên địa bàn tỉnh nhà, trước mắt và lâu dài Vấn đề về y tế cũng vậy, rất ít được quan tâm nên việc tiệp cận các dịch vụ y tế còn rất hạn chế
Công tác xã hội với trẻ em dân tộc thiểu số là lĩnh vực khoa học còn khá mới, nghề công tác xã hội đang được chú ý và coi trọng trong vấn đề giúp
đỡ các đối tượng yếu thế gặp khó khăn trong cuộc sống, đặc biệt là về giáo
dục và y tế Xuất phát từ thực trạng đó, tôi đã chọn đề tài: “Công tác xã hội
trong hỗ trợ về giáo dục và y tế đối với trẻ em dân tộc Kơ Ho từ thực tiễn
Trang 104
huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng” nghiên cứu với mục đích tìm hiểu thực
trạng việc hỗ trợ về giáo dục và y tế đối với trẻ em dân tộc Kơ Ho tại huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng và những nguyên nhân, yếu tố tích cực và tiêu cực tác động đến trẻ em dân tộc Kơ Ho, từ đó đưa ra những khuyến nghị, giải pháp công tác xã hội để hỗ trợ về giáo dục và y tế đối với trẻ em dân tộc Kơ
Ho tại huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng
2 Tình hình nghiên cứu liên quan dến đề tài
Liên quan tới dân tộc thiểu số đã có rất nhiều các tác giả, công trình nghiên cứu, trong đó về CTXH đã có các công trình nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu của tác giả Nông Thị Phương Thảo, 2012, về “Công tác
xã hội với người dân tộc thiểu số về bảo hiểm y tế từ thực tiễn tỉnh Lạng Sơn”
đã chỉ ra thực trạng chính sách bảo hiểm y tế cho người dân tộc thiểu số và đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện các chính sách bảo hiểm y tế đối với người dân tộc thiểu số tại tỉnh Lạng Sơn [39]
- Nghiên cứu của tác giả Tạ Thị Tiệp, 2014, về “Công tác xã hội với
tình trạng bỏ học của học sinh dân tộc thiểu số - nghiên cứu trường hợp tại
xã Đăk Jơ Ta, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai” đã chỉ ra những yếu tố tác
động đến tình trạng bỏ học của học sinh dân tộc thiểu số và đề xuất những
giải pháp nhằm góp phần giải quyết vấn đề xã hội đang xảy ra ở huyện Mang
Yang, tỉnh Gia Lai [34]
- Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền, 2015, về “Hỗ trợ
xã hội đối với người dân tộc thiểu số từ thực tiễn xã Kim Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình” đã nêu những hạn chế, bất cập trong thực hiện chính
sách hỗ trợ xã hội đối với người dân tộc thiểu số, từ đó đưa ra những kiến nghị, đề xuất giải pháp góp phần thực hiện chính sách cho người dân tộc thiểu
số tại xã Kim Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình [21]
Trang 115
- Nghiên cứu của tác giả Ríah Nhô, 2018, về “Hoạt động phát triển
cộng đồng trong giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số từ thực tiễn xã Ch’ơm huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam”, nghiên cứu đã chỉ ra những số
liệu cụ thể thực trạng về phát triển cộng đồng trong giảm nghèo và đưa ra những giải pháp nâng cao vai trò của phát triển cộng đồng trong giảm nghèo đối người đồng bào dân tộc thiểu số [32].
- Nghiên cứu của tác giả Vũ Thanh Thủy, 2017, về “Công tác xã hội
nhóm đối với sinh viên dân tộc thiểu số từ thực tiễn trường Cao đẳng sư phạm Lào Cai” nghiên cứu đã chỉ ra việc hình thành và phát triển kỹ năng, trọng
tâm là kỹ năng giao tiếp của sinh viên dân tộc thiểu số Trường Cao đẳng sư phạm Lào Cai là một vấn đề cấp bách hiện nay cả về lý luận và thực tiễn [40]
- Nghiên cứu của nhóm tác giả Lưu Quang Tuấn, Đặng Đỗ Quyên,
Nguyễn Thị Hải Yến, 2013, về “An sinh xã hội cho dân tộc thiểu số – Tổng
quan từ chính sách, nghiên cứu và dữ liệu sẵn có” của Viện Khoa học , Lao
động và xã hội đã chỉ ra các điểm tích cực và hạn chế của chính sách an sinh
xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số [35] Đặc biệt, nghiên cứu trên đã đưa ra một vài số liệu cụ thể về tình trạng nghèo đói, trình độ giáo dục của trẻ
em đồng bào dân tộc thiểu số, cũng như mức độ bao phủ của BHYT và mức
độ tiếp cận các dịch vụ xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số Từ các nghiên cứu trên nhóm tác giả đã đưa ra một số khuyến nghị và giải pháp mang tính vĩ mô nhằm cải thiện và nâng cao hiệu quả cho việc thực thi các chính sách an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số
- Báo cáo tóm tắt Đề tài nghiên cứu cấp Bộ (2012) “Đánh giá thực
trạng khả năng và cơ hội tiếp cận dịch vụ xã hội của nhóm người nghèo, đối tượng dễ bị tổn thương, đặc biệt là tại các vùng sâu vùng xa, vùng dân tộc thiểu số” của Viện Khoa học, Lao động và Xã hội, đã nghiên cứu về cơ sở lý
Trang 126
luận và thực tiễn về khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản của người nghèo tại vùng đồng bào DTTS và miền núi; đánh giá thực trạng khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản của người nghèo tại vùng đồng bào DTTS và miền núi [2] Từ kết quả nghiên cứu, đề tài đã đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản của người nghèo tại vùng đồng bào DTTS
và miền núi
Các đề tài nghiên cứu trên mang tính thực tiễn và lý luận cao, góp phần làm rõ hơn thực trạng về đời sống của các nhóm dân tộc thiểu số, mức độ tiếp cận các dịch vụ xã hội, đồng thời chỉ ra được các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu về giáo dục, y tế của đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và trẻ em DTTS nói riêng, các vấn đề về chính sách xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số cũng như trẻ em DTTS, từ đó làm nổi bật thêm tính cấp thiết của nhu cầu áp dụng CTXH để hỗ trợ các nhóm yếu thế này Trong khuôn khổ của luận văn này, tác giả muốn làm nổi bật hơn các vấn đề trên từ góc nhìn CTXH, đặc biệt
là CTXH đối với trẻ em, là nhóm đối tượng nhạy cảm, cần rất nhiều sự quan tâm, cần được can thiệp và hỗ trợ hiệu quả để các em có thể sống và phát triển tốt cả về thể chất và tinh thần
Cho tới thời điểm này chưa có nghiên cứu cụ thể nào liên quan tới công tác xã hội trong hỗ trợ về giáo dục và y tế đối với trẻ em dân tộc Kơ Ho Vì
vậy, tôi đã chọn đề tài “Công tác xã hội trong hỗ trợ về giáo dục và y tế đối với
trẻ em dân tộc Kơ Ho từ thực tiễn huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng” để đi sâu
tìm hiểu và phân tích rõ hơn thực trạng CTXH trong hỗ trợ trẻ em Kơ Ho , từ
đó đề xuất các giải pháp để sự can thiệp của CTXH trong lĩnh vực giáo dục và
y tế đối với trẻ em dân tộc Kơ Ho mang lại hiệu quả cao nhất
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trang 137
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về CTXH trong hỗ trợ về giáo dục và y tế đối với trẻ em dân tộc, trong đó có trẻ em dân tộc Kơ Ho Từ đó, đưa ra những khuyến nghị, giải pháp công tác xã hội để hỗ trợ về giáo dục và y tế đối với trẻ em dân tộc Kơ
Ho nói riêng và trẻ em dân tộc thiểu số nói chung
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận giải các vấn đề lý luận về CTXH trong hỗ trợ về giáo dục và y tế
đối với trẻ em dân tộc, trong đó có trẻ em dân tộc Kơ Ho
- Phân tích thực trạng hoạt động CTXH trong hỗ trợ về giáo dục và y tế đối với trẻ em dân tộc Kơ Ho tại huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng;
- Đề xuất các khuyến nghị và giải pháp về hoạt động CTXH trong hỗ trợ về giáo dục và y tế cho trẻ em dân tộc Kơ Ho nói riêng và trẻ em dân tộc thiểu số nói chung
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng, khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về Công tác xã hội trong hỗ trợ về giáo dục và y tế đối với trẻ em dân tộc Kơ Ho
- Khách thể nghiên cứu:
+ Các hộ gia đình dân tộc Kơ Ho có con trong độ tuổi đi học từ 3 đến
16 tuổi trên địa bàn huyện Lâm Hà;
+ Lãnh đạo huyện Lâm Hà, đại diện Hội Phụ nữ huyện Lâm Hà, đại diện Ban Dân tộc huyện Lâm Hà; các trưởng thôn tại các thôn có đông hộ gia đình dân tộc Kơ Ho sinh sống thuộc huyện Lâm Hà
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 145.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này chủ yếu sử dụng các phương pháp sau đây:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: phân tích, tổng hợp, hệ thống
hóa, khái quát hóa các tài liệu sẵn có từ các nguồn tài liệu chính thức, từ các công trình nghiên cứu của các tác giả đã nghiên cứu trước đây, các bài viết, tạp chí, sách báo, internet, từ các báo cáo của cơ quan chức năng huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng về các vấn đề có liên quan đến trẻ em dân tộc thiểu số trong huyện Việc nghiên cứu các tài liệu thứ cấp này giúp tác giả hiểu và nắm được các đặc điểm tâm sinh lý của dân tộc thiểu số, thực trạng đời sống của nhóm dân tộc thiểu số cần nghiên cứu, từ đó, xác định nhu cầu của trẻ em dân tộc thiểu số, nhất là nhu cầu được hỗ trợ về giáo dục và y tế
Trang 159
Phương pháp điều tra bảng hỏi:
Bảng hỏi dành cho khách thể nghiên cứu là các hộ gia đình dân tộc Kơ
Ho có con trong độ tuổi đi học, độ tuổi từ 3 đến 16 tuổi, với các câu hỏi nhằm thu thập các thông tin để tổng hợp số liệu, lượng hóa thông tin phục vụ mục đích nghiên cứu
Cỡ mẫu: Tác giả chọn 120 mẫu là các hộ gia đình dân tộc Kơ Ho có
con trong độ tuổi đi học từ 3 đến 16 tuổi; hiện đang sinh sống tại 03 xã, thị trấn tập trung đông các hộ gia đình dân tộc Kơ Ho nhất huyện Lâm Hà: thị trấn Đinh Văn, xã Đạ Đờn, xã Đan Phượng;
Cỡ mẫu định lượng: 120 hộ gia đình được phân theo điều kiện kinh tế
và trình độ học vấn, cơ cấu như sau:
- Theo điều kiện kinh tế: hộ nghèo chiếm 42%; hộ cận nghèo chiếm 19%, hộ có trẻ khuyết tật chiếm 2% và các hộ thuộc diện khác chiếm 37%
- Trình độ học vấn: Không biết chữ chiếm 50%; Trình độ tiểu học chiếm 36%; trình độ trung học chiếm 12%; Trình độ Trung cấp chiếm 0%; trình độ cao đẳng chiếm 1% và trình độ đại học chiếm 1%
Phương pháp phỏng vấn sâu : Để thu thập thông tin định tính, trong
đề tài này tác giả tiến hành phỏng vấn sâu 07 người trong đó: 02 lãnh đạo huyện, 01 người chủ tịch hội phụ nữ huyện, 01 người ban dân tộc huyện, 03 người trưởng thôn, bản tại 03 thôn, bản vùng dân tộc thiểu số sinh sống (thôn Tân Lập thuộc xã Đan Phượng, thôn Đam Pao thuộc xã Đạ Đờn và thôn Ryông Sré thuộc thị trấn Đinh Văn)
Phương pháp quan sát: Phương pháp quan sát là phương thức cơ bản để
nhận thức sự vật, hiện tượng Nó được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu
và trong nhiều giai đoạn như tìm hiểu về địa bàn nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng công tác xã hội với trẻ em dân tộc Kơ Ho tại địa phương Mục đích của quan sát
Trang 1610
để hiểu về những khó khăn của trẻ em dân tộc Kơ Ho trong cuộc sống, học tập, sinh hoạt…
Phương pháp xử lý dữ liệu: Đối với dữ liệu định tính của phỏng vấn sâu
tác giả dùng phương pháp tổng hợp, phân tích… Sử dụng công cụ SPSS 16.0
để xử lý các bảng hỏi đã thu thập từ trẻ, phần mềm excel để vẽ biểu đồ
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn tài liệu tham khảo hữu ích đối với các cơ sở đào tạo, nghiên cứu, thực hành về công tác xã hội, đặc biệt là công tác xã hội trong hỗ trợ về giáo dục và y tế đối với trẻ em dân tộc Kơ Ho
7 Kết cấu luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn
có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về công tác xã hội trong hỗ trợ giáo dục
và y tế đối với trẻ em dân tộc Kơ Ho;
Chương 2: Thực trạng công tác xã hội trong hỗ trợ giáo dục và y tế đối với trẻ em dân tộc Kơ Ho tại huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng;
Chương 3: Giải pháp tăng cường sự hỗ trợ về giáo dục và y tế đối với trẻ
em dân tộc Kơ Ho tại huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng
Trang 1711
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI
TRONG HỖ TRỢ VỀ GIÁO DỤC VÀ Y TẾ ĐỐI VỚI TRẺ EM
DÂN TỘC KƠ HO 1.1 Khái niệm, đặc điểm, nhu cầu của của trẻ em dân tộc Kơ Ho
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm trẻ em dân tộc Kơ Ho
* Khái niệm:
Trẻ em:
Theo Công ước quốc tế về quyền trẻ em: “Trong phạm vi của Công ước này, trẻ em có nghĩa là những người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em có qui định tuổi thành niên sớm hơn” (Điều 1)
Luật Trẻ em của Việt Nam năm 2016 quy định: Trẻ em là người dưới
16 tuổi (Điều 1)
Dân tộc thiểu số:
Dân tộc là tên chỉ cộng đồng người hình thành và phát triển trong lịch
sử, sau khi xã hội đã có sự phân chia giai cấp và xuất hiện nhà nước Trong xã hội nguyên thủy đã có thị tộc, bộ lạc Những thành viên trong thị tộc gắn bó với nhau bằng quan hệ huyết thống Bộ lạc bao gồm những người cùng họ, cùng sinh sống trên một địa bàn Sản xuất phát triển thì bản thân con người cũng phát triển theo, cùng với những đặc trưng như ngôn ngữ, văn hóa vật chất (thể hiện trong phương thức sản xuất, phương thức sinh hoạt) và văn hóa tinh thần (thể hiện thành ý thức và các hình thái ý thức) Hình thức của cộng đồng người cũng có sự tiến hóa: từ phân tán đến tập trung, từ thấp đến cao, kết quả là hình thành nên tộc người và những dân tộc khác nhau như chúng ta thấy hiện nay
Trang 1812
Có nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “dân tộc thiểu số”, ví dụ năm 1930, Tòa án Công lý quốc tế thường trực (Permanent Court of International Justice - PCIJ, cơ quan tài phán của Liên hợp quốc), đưa ra ý kiến tư vấn về vụ tranh cãi giữa hai nước Hy Lạp và Bungari liên quan đến vị thế của các cộng đồng nhập cư thiểu số ở hai nước này PCIJ xác định một
cộng đồng thiểu số là “một nhóm người sống trên một quốc gia hoặc địa
phương nhất định, có những đặc điểm đồng nhất về chủng tộc, tín ngưỡng, ngôn ngữ và truyền thống, có sự giúp đỡ lẫn nhau và có quan điểm thống nhất trong việc bảo lưu những yếu tố truyền thống, duy trì tôn giáo, tín ngưỡng và hướng dẫn, giáo dục trẻ em trong cộng đồng theo tinh thần và truyền thống của chủng tộc họ” [43, tr.8]
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng dân tộc, thì khái niệm “dân tộc thiểu số” không mang ý nghĩa phân biệt địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc Địa
vị, trình độ phát triển của các dân tộc không phụ thuộc ở số dân nhiều hay ít,
mà nó được chi phối bởi những điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội và lịch sử
của mỗi dân tộc
Vận dụng quan điểm trên vào điều kiện cụ thể của cách mạng nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định quan niệm nhất quán của mình: Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc thành viên, với khoảng trên 96 triệu người (tính đến tháng 8/2018) Trong tổng số các dân tộc nói trên thì dân tộc Việt (Kinh) chiếm 86,2% dân số, được quan niệm là “dân tộc đa số”, 53 dân tộc còn lại, chiếm 13,8% dân số được quan niệm là “dân tộc thiểu số” trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Khái niệm “dân tộc thiểu số”, có lúc, có nơi, nhất là trong những năm trước đây còn được gọi là “dân tộc ít người” Mặc dù hiện nay đã có qui định thống nhất gọi là “dân tộc thiểu số”,
Trang 1913
nhưng cách gọi “dân tộc ít người” vẫn không bị hiểu khác đi về nội dung
Như vậy, khái niệm “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít
hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Khoản 2 - Điều 4, Nghị định số: 05/2011/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ)
Dân tộc Kơ Ho là một trong 54 dân tộc thiểu số bao gồm nhiều nhóm dân địa phương khác nhau như: Kơ Ho Srê, Kơ Ho Chil, Kơ Ho Nộp, Kơ Ho Lạch, Kơ Ho T’ring và Kơ Ho Cờ Dòn
Trẻ em dân tộc thiểu số:
Từ những điều trình bày trên đây, chúng ta có thể đưa ra định nghĩa về
trẻ em dân tộc thiểu số Kơ Ho như sau: Trẻ em dân tộc thiểu số Kơ Ho là
công dân Việt Nam dưới 16 tuổi, là con các gia đình dân tộc thiểu số Kơ Ho hiện đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, có tín ngưỡng, văn hóa, ngôn ngữ, truyền thống đặc trưng, riêng biệt và mang tính kế thừa sâu sắc
Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả giới hạn nghiên cứu nhóm trẻ
em trong độ tuổi đến trường (3-16 tuổi), là con em dân tộc thiểu số Kơ Ho hiện đang sinh sống trên địa bàn huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng
Nhìn chung, cuộc sống của đồng bào DTTS nói chung và đồng bào Kơ
Ho nói riêng hiện nay vẫn gặp nhiều khó khăn, trong những năm gần đây, nhờ
sự quan tâm của Đảng và nhà nước, cuộc sống của đồng bào DTTS phần nào
đã được cải thiện, đối với đồng bào dân tộc Kơ Ho tại huyện Lâm Hà nói riêng, cuộc sống đã ổn định hơn, một số nhu cầu cơ bản đã được giải quyết Tuy nhiên, để các gia đình có thể ổn định và phát triển, đồng bào và trẻ em dân tộc Ko Ho vẫn cần nhận được những hỗ trợ trong việc tiếp cận các dịch
vụ xã hội, cụ thể ở đây là các dịch vụ y tế và giáo dục
Trang 20có thể giúp trẻ em DTTS thu thập được những kiến thức, văn hóa, nhận thức khác so với văn hóa, truyền thống mà trong gia đình các em được truyền đạt lại, giúp các em có cái nhìn đa dạng hơn, phát triển toàn diện hơn và hòa nhập nhanh hơn với xã hội nói chung cũng như các nhóm dân tộc khác nói riêng Bên cạnh đó, tiếp cận các dịch vụ giáo dục còn giúp các em, đặc biệt trẻ trong độ tuổi vị thành niên tránh xa được các tệ nạn xã hội, có khả năng nhận biết được mặt tối và mặt sáng của xã hội để không bị lôi kéo vào con đường phạm tội
Trẻ em luôn là đối tượng được pháp luật bảo vệ tuyệt đối và Nhà nước,
xã hội bảo đảm các quyền cơ bản, trong đó có quyền được khám chữa bệnh Tuy nhiên, với nhóm DTTS nói chung, tỷ suất tử vong ở trẻ em độ tuổi dưới 5 tuổi cao hơn nhóm trẻ em dân tộc Kinh, Hoa khoảng 3 lần (theo Báo cáo giám sát Công bằng y tế số 3 năm 2016 – PAHE) [29, tr.28] và tỷ lệ suy dinh dưỡng, thấp còi ở trẻ em DTTS dưới 5 tuổi cao gấp 2 lần so với trẻ em dân tộc Kinh, Hoa (theo Báo cáo giám sát Công bằng y tế số 2 năm 2013 – PAHE) [29, tr.29] Bên cạnh tỷ suất tử vong và tỷ lệ suy dinh dưỡng, nhóm trẻ em DTTS còn gặp phải những nguy cơ mắc các bệnh dịch cao hơn nhóm trẻ dân tộc Kinh, Hoa Một số con số thống kê trên cho thấy, tình trạng sức khỏe của nhóm trẻ DTTS còn cần nhận được nhiều sự quan tâm để giúp các
em theo kịp mức sức khỏe chuẩn chung của Việt Nam và khu vực
Trang 2115
Việc tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục đôi khi bị hạn chế bởi chính khả năng nhận thức của đồng bào Do văn hóa, tín ngưỡng, tập tục lâu đời, đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn có những nhận thức hạn chế đối với bệnh tật, phòng chống bệnh tật, học văn hóa Các hoạt động CTXH, vì thế, phải là cầu nối để khiến đồng bào dân tộc Kơ Ho có thể thay đổi nhận thức, có cái nhìn mới hơn về tầm quan trọng của việc tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục cho con em mình
Có thể nói dịch vụ y tế và giáo dục là hai nhân tố quan trọng trong việc giúp trẻ em nói chung và trẻ em DTTS Kơ Ho nói riêng phát triển toàn diện
để trở thành những công dân có ích cho đất nước sau này
1.1.2 Nhu cầu của trẻ em dân tộc Kơ Ho
Cũng như trẻ em nói chung, trẻ em DTTS Kơ Ho cũng có những nhu cầu được chăm sóc về thể chất, tinh thần, cảm xúc, giao tiếp xã hội Trước hết
để các em có thể phát triển tốt về thể chất và tinh thần thì các nhu cầu cơ bản của các em như: nhu cầu về dinh dưỡng, nhà ở, điều kiện sinh hoạt, vệ sinh, quần áo mặc cần được đáp ứng đầy đủ Đối với các gia đình có mức sống trung bình – khá, thì chỉ tiêu dinh dưỡng, nhà ở và điều kiện sinh hoạt cho trẻ không gặp nhiều trở ngại Nhưng với kết quả khảo sát 3 xã, thị trấn, có tới 50% số hộ gia đình tham gia khảo sát thuộc diện hộ nghèo và có khoảng gần 20% thuộc diện cận nghèo Bên cạnh đó, đa số các hộ gia đình có trung bình
từ 2 đến 3 con đều trong độ tuổi đi học, khiến gia đình gặp nhiều khó khăn trong việc đáp ứng đầy đủ dinh dưỡng và điều kiện sinh hoạt, vật chất cho các
em, ảnh hưởng đến chất lượng sức khỏe và sự phát triển về thể chất, cũng như ảnh hưởng đến tình trạng theo học của các em tại trường Đây cũng là một khía cạnh cần được lưu tâm trong hoạt động hỗ trợ trẻ đến trường, vì có thể là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trẻ không theo học thường
Trang 22ý đặc điểm này trong quá trình làm việc với các em và gia đình để tìm ra cách giải quyết dựa theo nhu cầu và mong muốn của trẻ Ngoài các nhu cầu cơ bản
về dinh dưỡng, nhà ở, vui chơi, yêu thương, các em còn có hai nhu cầu quan trọng khác nữa là nhu cầu y tế và giáo dục Đây cũng là hai nhu cầu mà trong khuôn khổ luận văn này, tác giả muốn đề cập đến theo quan điểm CTXH
Trẻ em trong độ tuổi từ 3 – 16 tuổi có nhu cầu rất lớn về giao tiếp xã hội Thông qua nhà trường, các em dần mở rộng các mối quan hệ và tìm hiểu các khía cạnh cuộc sống bên ngoài môi trường gia đình, làng bản Môi trường giáo dục không chỉ giúp các em trưởng thành về mặt nhận thức mà còn chi phối rất nhiều đời sống tình cảm, cảm xúc của các em, là nhân tố vô cùng quan trọng, bên cạnh gia đình, định hướng cho các em có những hành vi, lối sống đúng đắn, đôi khi nhà trường chính là cánh cửa giúp các em có thể hiểu
và làm chủ được cảm xúc của chính mình Tuy nhiên, vì trẻ em DTTS nói chung và trẻ em dân tộc Kơ Ho nói riêng có những đặc điểm riêng, song song với sự hỗ trợ của thầy cô giáo và các NVXH, các dịch vụ giáo dục nên điều chỉnh sao cho phù hợp với các em để các em có thể dễ dàng tiếp thu, tạo động lực và khơi gợi cảm hứng đi học cho các em
Bên cạnh nhà trường, thì các dịch vụ y tế có nhiệm vụ hỗ trợ gia đình chăm sóc thể chất cho các em, gia đình cũng như các em cần được trang bị
Trang 2317
những kiến thức cơ bản về các bệnh truyền nhiễm và cách phòng tránh, cách chăm sóc vệ sinh cá nhân hàng ngày và cách tiếp cận các dịch vụ y tế khi gặp phải những vấn đề về sức khỏe Các nhu cầu này đôi khi do một số lý do về tín ngưỡng, phong tục, tập quán, nhận thức, chính bản thân các em và gia đình không để tâm hay không chú trọng, nhưng để các em có thể phát triển toàn diện thì việc mang các dịch vụ y tế, giáo dục đến với các em thực sự mang tính cấp thiết Nhiệm vụ của CTXH là tìm hiểu để vận động thay đổi nhận thức, tham vấn, tư vấn và hỗ trợ gia đình, hỗ trợ trẻ tiếp cận các dịch vụ y tế hiệu quả Nếu không có các dịch vụ y tế và giáo dục, trẻ em dân tộc Kơ Ho có nguy cơ sẽ lớn lên trong sự tách biệt với thế giới bên ngoài, bị phó mặc cho bệnh tật, bị bỏ rơi về mặt nhận thức, ảnh hưởng đến tương lai của chính các
Theo Liên đoàn Chuyên nghiệp Xã hội Quốc tế (IFSW) tại Hội nghị Quốc tế Montreal, Canada, vào tháng 7/2000: CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy
sự thay đổi xã hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người,
sự tăng quyền lực và giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của
Trang 2418
họ ngày càng thoải mái và dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội CTXH can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ
Theo Đề án 32 của Thủ tướng Chính phủ: CTXH góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người và con người, hạn chế phát sinh các vấn
đề xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của thân chủ xã hội, hướng tới một
xã hội lành mạnh, công bằng, hạnh phúc cho người dân và xây dựng hệ thống
an sinh xã hội tiên tiến [41]
Như vậy, CTXH trước hết là một nghề chuyên nghiệp, là một khoa học ứng dụng trong việc hỗ trợ con người giải quyết các vấn đề của họ trong cuộc sống, góp phần vào việc thúc đẩy công bằng, hạnh phúc cho người dân nói chung và cho những đối tượng yếu thế nói riêng
Trong khuôn khổ luận văn này, CTXH trong trợ giúp trẻ em DTTS Kơ
Ho tiếp cận với các dịch vụ y tế, giáo dục là những hoạt động thiết thực như kết nối, trợ giúp, giáo dục, ttham vấn,….nhằm giúp cho ttrer em Kơ Ho có thể khắc phục được những khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ y tế, giáp dục, nâng cao năng lực tiếp cận các dịch vụ này cho trẻ và gia đình, bảo đảm cho trẻ em Kơ Ho được hưởng những quyền liên quan đến giáo dục và y tế nhưng mọi trẻ em khác Các hoạt động được các NVXH hay các cộng tác viên CTXH thực hiện một cách chuyên nghiệp, tuân thủ theo các nguyên tắc và phương pháp của nghề CTXH
Các nguyên tắc của ngành CTXH:
- Chấp nhận thân chủ: NVXH cần đón nhận thân chủ với hoàn cảnh, giá trị mà họ vốn có, không phán xét Trẻ em dân tộc Kơ Ho và gia đình của các
em có thể có những hoàn cảnh và quan điểm sống khác biệt so với các DTTS
và người Kinh nhưng NVXH cần đón nhận các em đúng như những gì các em
Trang 2519
có, không đưa ra các phán xét chủ quan và đặc biệt không phê phán Điển hình như việc, đồng bào Kơ Ho đặt niềm tin tuyệt đối vào các Đấng Thần linh, tin rằng Thần linh ban cho họ đồ ăn và cuộc sống ấm no, cũng như định đoạt cái chết và sự sống NVXH cần chấp nhận quan điểm sống và đức tin này và chỉ nên hỗ trợ bà con nâng cao nhận thức về các dịch vụ y tế, xã hội để khi cần thiết bà con có thể tiếp nhận các dịch vụ trên cho con em mình mà hoàn toàn không cần thay đổi niềm tin tôn giáo của mình
- Tôn trọng sự khác biệt: trong CTXH, mỗi trường hợp cần can thiệp là một trường hợp riêng biệt, một hoàn cảnh và câu chuyện cá nhân của thân chủ Trẻ em dân tộc Kơ Ho mang những đặc điểm riêng biệt chung theo đặc điểm dân tộc, và mỗi trẻ mang đặc điểm, hoàn cảnh riêng của bản thân các
em Hiểu và tôn trọng được điểm khác biệt của trẻ, NVXH sẽ đưa ra được những hướng giải quyết cụ thể theo từng trẻ hay từng nhóm trẻ Trẻ em Kơ
Ho có thể không biết tiếng Việt, các em và gia đình có nếp sinh hoạt khác với trẻ và gia đình trẻ em dân tộc Kinh, ví dụ trẻ em dân tộc Kơ Ho và gia đình trẻ luôn coi việc trẻ bỏ học giúp cha mẹ làm việc là rất bình thường Do đó, NVXH không chỉ tôn trọng mà còn cần tìm ra cách để có thể khiến các em đến gần hơn với giáo dục và y tế mà không làm trẻ hay gia đình cảm thấy bị
ép buộc hay không được tôn trọng
- Để thân chủ chủ động tham gia vào tiến trình trợ giúp: trong trường hợp này, trẻ em Kơ Ho mang vai trò chủ đạo trong suốt quá trình hỗ trợ của NVXH, các NVXH sẽ cùng gia đình hỗ trợ và đồng hành cùng các em Và để các em cảm thấy thoải mái khi tham gia tiến trình trợ giúp, NVXH phải luôn
là người lắng nghe, thấu hiểu để nắm bắt được những suy nghĩ, mong muốn, những vấn đề mà các em gặp để giúp các em tìm ra cách giải quyết, tạo dựng niềm tin cho trẻ
Trang 2620
- Tôn trọng quyền tự quyết: ở đây, quyền tự quyết của gia đình trẻ và bản thân trẻ về việc học tập và khám chữa bệnh luôn được NVXH tôn trọng, NVXH là người tham gia tư vấn, hỗ trợ cho gia đình và trẻ trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục NVXH cần tác động gia đình trẻ về mặt nhận thức
để trẻ và gia đình hiểu được tầm quan trọng của việc sử dụng các dịch vụ y tế
và giáo dục Tuy nhiên, trong các trường hợp sự tự quyết có thể gây hại cho trẻ, các NVXH có thể can thiệp và kêu gọi sự trợ giúp từ các hội, đoàn thể và các cơ quan chức năng khác
- Đảm bảo tính riêng tư bảo mật về các thông tin liên quan đến thân chủ: trong trường hợp này việc đảm bảo tính riêng tư của thông tin là rất quan trọng, đặc biệt khi các hoạt động trợ giúp liên quan đến dịch vụ y tế, các thông tin về bệnh tật hay tình trạng sức khỏe của trẻ cần được tôn trọng và bảo mật
- Sự tự ý thức về bản thân của NVXH: NVXH tự ý thức về trách nhiệm đảm bảo thân chủ được cung cấp những dịch vụ tốt nhất, theo sát thân chủ từ khi mở ca đến khi đóng ca, theo dõi và sẵn sàng trợ giúp thân chủ ngay cả sau khi đóng ca, không tư lợi, không lạm quyền, đặc biệt khi thân chủ lại là trẻ em DTTS, là nhóm đối tượng có những đặc điểm riêng biệt cần rất nhiều sự khéo léo và nhạy cảm trong quá trình giải quyết công việc
- Đảm bảo mối quan hệ nghề nghiệp: đối với thân chủ, mà ở đây là các gia đình DTTS, các NVXH cần giữ thái độ tôn trọng, đối xử bình đẳng và khách quan Điều này thể hiện tính chuyên nghiệp và khiến đồng bào cũng như trẻ em DTTS giảm bớt mặc cảm và có thể dễ dàng tạo lập mối quan hệ với các NVXH
Trang 2721
Công tác xã hội trong trợ giáo dục:
Công tác xã hội trong trợ giáo dục là giúp trẻ Ko Ho tiến cận với các dịch vụ giáo dục là các hoạt động trợ giúp được các nhân viên CTXH thực hiện thông qua các biện pháp trực tiếp như tham vấn, tư vấn, hỗ trợ tâm lý
và hỗ trợ trực tiếp trong quá trình học tập, hoặc thông qua các biện pháp gián tiếp như tuyên truyền chung về việc tiếp cận các dịch vụ giáo dục tại cộng đồng, các hoạt động này có thể được thực hiện theo các phương pháp CTXH
và tuân thủ nguyên tắc của CTXH
Công tác xã hội trong trợ y tế:
Công tác xã hội trong hỗ trợ y tế là các hoạt động trợ giúp được các nhân viên CTXH thực hiện thông qua các biện pháp trực tiếp như tham vấn, tư vấn,
hỗ trợ tâm lý và hỗ trợ trẻ trong thăm khám, thông qua các biện pháp gián tiếp như tuyên truyền chung về việc tiếp cận các dịch vụ y tế tại cộng đồng các hoạt động này có thể được thực hiện theo các phương pháp CTXH và tuân thủ nguyên tắc của CTXH
Nhân viên công tác xã hội:
Để các hoạt động CTXH có thể được tiến hành hiệu quả, vai trò của NVXH và các cộng tác viên CTXH là không thể thiếu, vậy NVXH là những ai? Họ có vai trò gì trong tiến trình kết nối trợ giúp trẻ em dân tộc Kơ Ho tiếp cận với các dịch vụ y tế, giáo dục?
Theo Hiệp hội Nhân viên công tác xã hội quốc tế -IFSW, Nhân viên công
tác xã hội (tiếng Anh là social worker) là những người hoạt động trong nhiều
lĩnh vực, được đào tạo chính quy và cả bán chuyên nghiệp, được trang bị các kiến thức và kỹ năng trong CTXH để trợ giúp các đối tượng nâng cao khả năng giải quyết và đối phó với vấn đề trong cuộc sống; tạo cơ hội để các đối tượng tiếp cận được nguồn lực cần thiết; thúc đẩy sự tương tác giữa các cá
Trang 2822
nhân, giữa cá nhân với môi trường, tạo ảnh hưởng tới chính sách xã hội, các
cơ quan, tổ chức vì lợi ích của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng thông qua hoạt động nghiên cứu và hoạt động thực tiễn
Tại Việt Nam, chưa có quy định cấp chứng chỉ hành nghề cho nhân viên công tác xã hội hay gọi tắt là nhân viên xã hội (NVXH) và các cộng tác viên CTXH có thể là những người có các kiến thức chuyên ngành liên quan và đã tham gia các khóa đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng về chuyên ngành CTXH Trong hoạt động trợ giúp trẻ em DTTS Kơ Ho tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục, các NVXH và cộng tác viên CTXH có thể đảm nhiệm những vai trò khác nhau:
- Vai trò là người giáo dục: do đặc điểm văn hóa, tín ngưỡng, đồng bào dân tộc Kơ Ho có những nhận thức hạn chế về các dịch vụ y tế, giáo dục, là người giáo dục, vận động để thay đổi nhận thức, giúp đồng bào hiểu được các vấn đề và tìm hướng giải quyết
- Vai trò là người tham vấn, tư vấn: bên cạnh việc thay đổi nhận thức cho đồng bào DTTS Kơ Ho, các NVXH cần tham vấn, tư vấn cho bà con biết và hiểu được các dịch vụ y tế, giáo dục
- Vai trò là người chăm sóc, trợ giúp khi trẻ và gia đình có các khó khăn
về sức khỏe và khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục
- Vai trò là người kết nối, biện hộ: để các dịch vụ y tế, giáo dục đến được với trẻ và để trẻ có thể tiếp cận dễ dàng với các dịch vụ này NVXH trước hết
là người kết nối trẻ và các dịch vụ, và sau nữa là người biện hộ cho các quyền của trẻ, NVXH trong trường hợp này sẽ là người đứng ra thay mặt trẻ và gia đình yêu cầu được cung cấp các dịch vụ y tế, xã hội theo như quy định của pháp luật đồng thời cũng là người tìm hiểu, lắng nghe các phản hồi của trẻ và
Trang 29Hai hình thức hỗ trợ này trên thực tế bổ trợ cho nhau và phối kết hợp với nhau tạo nên vòng tròn khép kín, đảm bảo cho việc trẻ và gia đình được
hỗ trợ sát sao, kịp thời
Với hình thức hỗ trợ trẻ em tiếp cận được với các dịch vụ giáo dục, y tế tại gia đình hay cộng đồng, NVXH trước hết có vai trò là người đánh giá và kết nối Việc đi sâu, tìm hiểu cộng đồng và các gia đình dân tộc Kơ Ho để đưa
ra các đánh giá đúng đắn cho thực tế tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục của trẻ em dân tộc Kơ Ho đóng vai trò quan trọng tiên quyết để các NVXH có thể lên kế hoạch cụ thể cho việc hỗ trợ trẻ Hình thức hỗ trợ tại gia và tại cộng đồng có ưu điểm là giúp các NVXH có thể tiếp xúc một các thoải mái với các gia đình dân tộc Kơ Ho và mang đến các cơ hội xây dựng niềm tin với các gia đình trẻ và bản thân trẻ để từ đó có thể thực hiện vai trò tham vấn, vận động gia đình và trẻ trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục Đồng thời, thông qua tiếp xúc với trẻ và gia đình tại cộng đồng, NVXH có thể thấu hiểu được hoàn cảnh, nguyện vọng, nhu cầu cụ thể của trẻ và gia đình để từ đó có các kế hoạch hỗ trợ khả thi và hiệu quả
Với hình thức hỗ trợ trẻ tại trường học hay bệnh viện, NVXH có vai trò
là người kết nối và biện hộ Tại bệnh viện hay trường học, NVXH đôi khi là người thay mặt gia đình trẻ để nói lên nhu cầu, suy nghĩ của trẻ về chất lượng
Trang 3024
dịch vụ, là người trực tiếp giúp trẻ và gia đình về thủ tục, thực hiện các quyền
và hỗ trợ về mặt tâm lý Hỗ trợ trẻ trực tiếp tại bệnh viện hay trường học giúp cho NVXH có thể nắm bắt được một cách thật nhất khó khăn của trẻ khi tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế, xã hội, từ đó có thể giúp trẻ đưa ra những phản hồi kịp thời và đúng đắn, giúp cho trẻ cũng như chính bệnh viện và trường học có thể kết nối với nhau tốt hơn và hiệu quả hơn
Như vậy, có thể thấy CTXH có vai trò như một cột trụ thứ ba trong mối quan hệ giữa trẻ và các dịch vụ y tế, giáo dục CTXH thông qua các NVXH
có nhiệm vụ mang trẻ đến gần hơn các dịch vụ y tế, giáo dục và khiến các dịch vụ y tế, giáo dục trở nên hiệu quả hơn đối với trẻ Hoạt động với cả hai hình thức tại gia đình, cộng đồng và ngay tại bệnh viện, trường học giúp cho CTXH phát huy tối đa hiệu quả của hoạt động trợ giúp, tạo vòng tròn trợ giúp khép kín, đồng hành cùng trẻ từ bước đầu tìm hiểu tiếp cận dịch vụ đến giai đoạn trực tiếp sử dụng dịch vụ và sau khi sử dụng dịch vụ
1.2.3 Các phương pháp công tác xã hội trong hỗ trợ về giáo dục và y tế đối với trẻ em dân tộc Kơ Ho
Trong hỗ trợ về giáo dục và y tế đối với trẻ em dân tộc Kơ Ho, các NVXH có thể áp dụng phương pháp CTXH cá nhân và phương pháp CTXH nhóm, tùy theo mục đích và trường hợp cần hỗ trợ, đội ngũ NVXH có thể lựa chọn phương pháp phù hợp để trẻ em có thể nhận được hỗ trợ hiệu quả nhất
Phương pháp CTXH nhóm có thể được áp dụng trong trường hợp các NVXH cần vận động, tư vấn cho các gia đình về các dịch vụ y tế, giáo dục và với các nhóm trẻ có cùng đặc điểm, nhu cầu, khó khăn cần được giải quyết Với các gia đình DTTS Kơ Ho phương pháp CTXH nhóm có thể phát huy tối
đa hiệu quả với sự giúp đỡ của các trưởng thôn hay già làng Do đời sống văn hóa và phong tục, bà con DTTTS Kơ Ho rất coi trọng vai trò của già làng, do
Trang 3125
đó, già làng chính là cầu nối giúp NVXH tiếp cận gần hơn với các gia đình dân tộc Kơ Ho, để nắm bắt được nhu cầu, khó khăn và suy nghĩ của họ, từ đó xây dựng kế hoạch cụ thể Phương pháp CTXH nhóm với sự tham gia tích cực của già làng sẽ giúp cho các NVXH tạo dựng được niềm tin đối với các gia đình dân tộc Kơ Ho, tạo được mối liên kết giữa NVXH và các gia đình này, là nền tảng cho các kế hoạch vận động các gia đình cho con em tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục đồng thời tạo tiền đề cho các cuộc tham vấn, tư vấn đối với các gia đình và các nhóm trẻ dân tộc Kơ Ho Bên cạnh đó, CTXH nhóm có thể giúp cho các gia đình dân tộc Kơ Ho tự hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau để động viên con em đến trường đầy đủ cũng như giải tỏa tâm lý ngại khi cần tiếp cận các dịch vụ y tế, và giải quyết các khó khăn, vướng mắc khác trong tiếp cận các dịch vụ y tế và giáo dục
Bên cạnh phương pháp CTXH nhóm thì phương pháp CTXH cá nhân cũng cần được áp dụng, đặc biệt trong các trường hợp gia đình có hoàn cảnh đặc biệt, ảnh hưởng trực tiếp đến việc tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục của trẻ Trong trường hợp này, các NVXH cần theo sát các em và gia đình, có kế hoạch cụ thể từng bước để đảm bảo các em được quan tâm, hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ này hiệu quả nhất Với phương pháp CTXH cá nhân việc hỗ trợ không chỉ dừng lại ở hoạt động tham vấn, tư vấn mà NVXH cần tìm hiểu, đánh giá, lên kế hoạch, thực hiện, đánh giá kế hoạch và chỉ chấm dứt khi đạt được mục đích đề ra Do đó, phương pháp này cung cấp một kế hoạch hỗ trợ toàn diện, nhằm mục đích khiến cho việc tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục của con em dân tộc Kơ Ho không mang tính đối phó, nhất thời, đảm bảo các
em được sử dụng các dịch vụ lâu dài và thường xuyên
1.3 Cơ sở pháp lý của công tác xã hội trong hỗ trợ về giáo dục và y tế đối với trẻ em dân tộc Kơ Ho
Trang 3226
Trước hết, quyền của các DTTS tại Việt Nam được quy định trong Hiến pháp từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (Hiến pháp đầu tiên năm 1946), trong đó quan điểm giữ gìn sự đa dạng về bản sắc cũng như không ngừng hỗ trợ đồng bào DTTS khắc phục các khó khăn để phát triển cùng cả nước luôn được giữ vững, nhấn mạnh và duy trì trong suốt tiến trình phát triển của đất nước Đặc biệt theo Hiến pháp năm 2013, tại Điều 61, Chương III: Kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường đã nêu rõ: "Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn "
Trong vòng 10 năm trở lại đây, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật đề cập chính sách dân tộc, chính sách hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi (thể hiện trong 70 luật với 206 điều, khoản và 200 văn bản dưới luật) Hệ thống văn bản pháp luật này đã thể chế hóa một phần quan điểm của Đảng, Nhà nước về chăm lo, đầu tư phát triển về mọi mặt cho đồng bào DTTS, góp phần bảo đảm sự bình đẳng giữa các dân tộc và tăng cường sự hợp tác, giúp đỡ giữa các dân tộc Ngày 28/2/2017, Ủy ban Dân tộc đã đưa ra
Dự thảo “Luật Hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi”, trong đó,
Dự thảo luật đã quy định rõ tại Điều 11 “Chính sách hỗ trợ y tế và dân số” và Điều 14 “Chính sách hỗ trợ phát triển giáo dục và đào tạo”, theo đó, Đảng và Nhà nước ưu tiên đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng, các chính sách ưu đãi đối với cán bộ y tế và giáo viên, cũng như hỗ trợ về BHYT và miễn giảm học phí, đồ dùng học tập, cấp học bổng, chỗ ở cho con em DTTS Dự thảo này thể hiện rõ mối quan tâm của Đảng và Chính phủ về việc phát triển các dịch vụ giáo dục đào tạo và y tế đối với trẻ em vùng DTTS
Trang 3327
Các quy định luật cũng như các chủ trương chính sách trên là nền tảng pháp lý quan trọng, là định hướng và cơ sở để các hoạt động CTXH được tiến hành một cách bài bản và phù hợp với chỉ đạo, định hướng của Đảng và Nhà nước
Ngày 25/3/2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg, theo đó CTXH chính thức được công nhận là một nghề chuyên nghiệp tại Việt Nam, giúp cho các hoạt động hỗ trợ các đối tượng yếu thế nói chung và trẻ em DTTS Kơ Ho nói riêng được chuyên nghiệp hóa, có định hướng và mang lại hiệu quả cao hơn Cụ thể hơn, Bộ Y tế cũng đã ban
hành Đề án “Phát triển nghề công tác xã hội trong ngành Y tế giai đoạn
2011-2020”, thể hiện rõ tầm quan trọng của các hoạt động CTXH trong lĩnh
vực y tế bên cạnh đó, ngày 25/1/2017, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng ban
hành “Kế hoạch phát triển nghề công tác xã hội trong ngành Giáo dục giai
đoạn 2016-2020”, trong đó, nêu rõ “Khảo sát, xây dựng các nội dung hoạt
động CTXH sao cho phù hợp đặc điểm của các vùng miền, đặc biệt là các vùng dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Nghiên cứu đánh giá các nhu cầu thiết yếu, tối thiểu của học sinh tại các trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú để xây dựng các dịch vụ CTXH trường học nhằm hỗ trợ, nâng cao năng lực cho học sinh.” [4]
Các văn bản trên có tầm quan trọng to lớn, tạo điều kiện cho việc thực hiện các hoạt động CTXH trong lĩnh vực y tế và giáo dục, với các nền tảng chính trị - pháp lý vững chắc như trên, huyện Lâm Hà cần áp dụng linh hoạt
và tạo điều kiện để đội ngũ NVXH có thể phát huy tối đa khả năng trong hoạt động trợ giúp trẻ em dân tộc Kơ Ho tiếp cận với các dịch vụ y tế và giáo dục
Trang 3428
Tiểu kết chương
Chương 1 của luận văn đã nêu lên những vấn đề lý luận về CTXH trong trợ giúp về giáo dục và y tế Trước hết, tác giả đã nêu khái quát những khái niệm về DTTS để từ đó làm rõ hơn khái niệm về trẻ em DTTS Kơ Ho, đặc điểm và nhu cầu của trẻ em DTTS Kơ Ho Thông qua việc nêu lên nhu cầu, đặc điểm của trẻ em Kơ Ho, tác giả đã khái quát sơ bộ những yếu tố có thể ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế và giáo dục của trẻ em
Kơ Ho Bên cạnh đó, tác giả đã khái quát lại các vấn đề lý luận của CTXH lồng ghép các vấn đề lý luận này trong hoạt động hỗ trợ trẻ em DTTS Kơ Ho Những nội dung được nêu trong chương 1 nhấn mạnh sự cần thiết phải áp dụng CTXH một cách chuyên nghiệp và bài bản trong các hoạt động hỗ trợ về giáo dục và y tế Tuy nhiên, do đặc điểm của trẻ em DTTS Kơ Ho các nội dung, hình thức của CTXH sẽ được các NVXH thực hiện một cách linh hoạt
Do đó, vai trò của các NVXH là vô cùng quan trọng, mang tính quyết định trong các hoạt động trợ giúp
Ngoài ra, trong chương 1 tác giả nêu và phân tích một số chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về việc hỗ trợ đồng bào DTTS nói chung
và các chủ trương chính sách liên quan đến hoạt động CTXH trong lĩnh vực giáo dục và y tế nói riêng Đây là nền tảng và là kim chỉ nam để chính quyền địa phương có thể áp dụng linh hoạt để triển khai các hoạt động CTXH trong trợ giúp trẻ em dân tộc Kơ Ho tiếp cận với các dịch vụ y tế vào giáo dục
Trang 3529
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ VỀ GIÁO DỤC VÀ Y TẾ ĐỐI VỚI TRẺ EM DÂN TỘC KƠ HO TẠI HUYỆN
LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG 2.1 Khái quát địa bàn nghiên cứu
Tại tỉnh Lâm Đồng, người Kơ Ho chiếm tỷ lệ 12,3 % dân số toàn tỉnh
và chiếm 87,7 % tổng số người Kơ Ho tại Việt Nam (Theo tổng điều tra Dân
số năm 2009) Trong khuôn khổ đề tài này, tác giả tập trung nghiên cứu về thực trạng CTXH trong hỗ trợ trẻ em dân tộc Kơ Ho tại huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng Huyện Lâm Hà hiện tại có khoảng 133.679 khẩu/ 36.158 hộ; đồng bào các DTTS chiếm khoảng 24% với 6.626 hộ và trẻ em DTTS là 5,623 trong đó dân tộc KơHo là 17.754 khẩu/ 3.674 hộ, chiếm 12.5% dân số toàn huyện (theo kết quả phỏng vấn sâu Lãnh đạo ban Dân tộc huyện Lâm Hà) Dân tộc Kơ Ho tập trung chủ yếu ở các xã, thị trấn: Thị trấn Đinh Văn, xã Đạ Đờn, Phú Sơn, Phi Tô, Mê Linh, Tân Văn, Liên Hà, Đan Phượng, Tân Thanh
và Phúc Thọ
Người Kơ Ho sinh sống chủ yếu thông qua hoạt động sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là trồng trọt các loại cây lương thực như ngô, khoai, sắn, lúa đồi và một số nơi bà con có các nghề thủ công như đan lát và dệt Cho đến nay, mặc dù được giao lưu và tiếp nhận khá nhiều cách sống và văn hóa của cuộc sống hiện đại cũng như của các dân tộc khác, nhưng đồng bào Kơ Ho vẫn giữ được văn hóa và bản sắc dân tộc, có ý thức tuân thủ các luật lệ, tập tục truyền thống của dân tộc mình, có ý thức giữ gìn và phát huy tính đoàn kết dân tộc Đặc biệt, đồng bào Kơ Ho tại đây có ý thức cao trong việc giữ gìn tiếng nói và chữ viết, thể hiện trong việc trong gia đình cha mẹ và con cái
Trang 36Độ cao trung bình 1.000 m so với mặt biển Điều kiện địa lý như trên là yếu
tố chủ yếu tạo nên các bất lợi cho mạng lưới giao thông, phần nào gây khó khăn cho các em khi tiếp cận các dịch vụ giáo dục và y tế, đồng thời cũng là một nhân tố khiến các gia đình thiểu số có xu hướng sống tách biệt, con em ít
có cơ hội tham gia các hoạt động xã hội Thực tế này khiến trẻ em cũng như các gia đình DTTS dần dần coi các dịch vụ xã hội, y tế như một dịch vụ có phần xa xỉ, vì để tiếp cận được họ phải khắc phục những khó khăn nhất định, dần dần hình thành tâm lý ngại tiếp cận dẫn đến không muốn tiếp cận các dịch
vụ này Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của các cấp chính quyền tỉnh Lâm Đồng và huyện Lâm Hà, mạng lưới giao thông đã được cải thiện đáng kể, trường học được xây thêm, tạo điều kiện cho trẻ em tiếp cận tốt hơn với dịch vụ giáo dục và y tế Tuy nhiên, để đảm bảo các dịch vụ y tế, giáo dục có thể đến được với các em, cần có những hỗ trợ cụ thể từ chính quyền và đặc biệt là nhân viên công tác xã hội
Hiện tại, Kơ Ho Chil là nhóm dân tộc hiện đang sinh sống rải rác tại các địa bàn thuộc tỉnh Lâm Đồng, trong đó có huyện Lâm Hà Người dân tộc
Kơ Ho ở đây chủ yếu làm nông nghiệp trồng trọt, chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hình thức thả rong, bên cạnh đó họ sinh sống bằng các nghề thủ công khác như đan lát và rèn, riêng nhóm DTTS Kơ Ho Chil có thêm nghề dệt Về đời sống gia đình, người dân tộc Kơ Ho có độ tuổi kết hôn thường từ 16 đến
17 tuổi đối với nữ và từ 18 đến 20 tuổi đối với nam; bình quân một phụ nữ sinh từ 5 đến 6 con nên tỷ lệ sinh khá cao Điều này được giải thích một phần
Trang 3731
do tập quán sinh hoạt sản xuất nặng về nông nghiệp – thủ công nghiệp, đòi hỏi nguồn nhân lực cao cho mỗi gia đình để đảm bảo duy trì hoạt động sản xuất, bao gồm cả sự tham gia của trẻ em và phụ nữ Đây cũng là một trong những yếu tố chính ảnh hưởng đến việc tiếp cận các dịch vụ giáo dục của trẻ
em mà chính quyền cũng như NVXH cần đi sâu tìm hiểu cụ thể để có các giải pháp khắc phục
Về mặt tín ngưỡng, người dân tộc Kơ Ho tin vào các thế lực siêu nhiên, điều này ảnh hưởng khá lớn đến khía cạnh tâm lý, tinh thần của bà con DTTS
Kơ Ho Nếu các thế lực siêu nhiên có thể quyết định được mọi mặt đời sống, người ta sẽ “lười biếng” hơn trong việc đầu tư vào các kỹ năng, năng lực của bản thân, ngả theo xu hướng phó mặc cho các đấng thần linh quyết định mọi việc và số phận Do vậy, việc các gia đình và bản thân các em không có xu hướng nỗ lực tiếp cận đến các dịch vụ y tế, giáo dục không phải là điều gì đó bất thường Chính quyền và các nhân viên xã hội cần có kỹ năng tiếp cận và
hỗ trợ người dân, cũng như con em đồng bào DTTS thay đổi dần dần nhận thức này, để các dịch vụ y tế, xã hội trở thành những dịch vụ thiết yếu trong đời sống nhưng không làm ảnh hưởng đến văn hóa tín ngưỡng của đồng bào DTTS Kơ Ho cũng như của con em họ
Để phục vụ cho mục đích nghiên cứu, tác giả đã khảo sát 3 thị trấn, xã nơi có nhiều đồng bào Kơ Ho sinh sống: Thị trấn Đinh Văn, xã Đạ Đờn và xã Đan Phượng Kết quả khảo sát ngẫu nhiên 120 hộ gia đình cho thấy có số hộ nghèo chiếm khoảng 1/3 tổng số gia đình được phỏng vấn Do đồng bào Kơ
Ho sinh sống chủ yếu bằng hoạt động sản xuất nông nghiệp nhưng chưa áp dụng được các ứng dụng khoa học kỹ thuật nên hiệu quả kinh tế chưa cao Bên cạnh đó, một số bộ phận vẫn còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào các hỗ trợ của Nhà nước
Trang 38đỡ các em giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình học Với thực tế này, các NVXH cần đưa ra các biện pháp hỗ trợ phù hợp để đem lại hiệu quả cao, các biện pháp vận động, tuyên truyền không nên dừng lại ở phát tờ rơi và cần
hỗ trợ đồng bào ngay cả khi đưa con em đi khám chữa bệnh, tránh việc bất đồng ngôn ngữ khiến bà con cảm thấy mặc cảm và khó khăn dẫn tới việc từ
bỏ không muốn tham gia sử dụng các dịch vụ
Trang 39Huyện Lâm Hà là một huyện khá đặc biệt, vì người dân của huyện thuộc các nhóm dân tộc khác nhau, điều kiện kinh tế giữa các xã, thôn có nhiều chênh lệch, có nhiều nơi việc đi lại của bà con còn gặp rất nhiều khó khăn Do đó, các công tác trợ giúp cần được phân vùng, phân nhóm và theo hướng cá nhân hóa để đảm bảo tất cả các trường hợp cần trợ giúp đều có thể nhận được sự hỗ trợ từ các nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội Để có thể thực hiện bao quát như trên các NVXH và đội ngũ cộng tác viên cần có sự đồng tình, trợ giúp từ các ban ngành đoàn thể, tạo thành mạng lưới những người làm CTXH để có thể sẵn sàng tham gia trợ giúp trẻ khi cần thiết
Trang 4034
Hộp 2.1 Hoàn cảnh gia đình của các đồng bào dân tộc nói chung tại thôn Tân Lập thuộc xã Đan Phƣợng
Nói chung các gia đình có hoàn cảnh khó khăn, ít hộ có điều kiện kinh
tế khá giả, thu nhập bình quân đầu người hành năm thấp nên không nâng cao được cuộc sống, số con của mỗi gia đình thì đông, đa số mỗi hộ có 2 con và một số hộ có hơn 3 con
[Nguồn: Tác giả phỏng vấn sâu trưởng thôn Tân Lập thuộc xã Đan Phượng]
2.2 Thực trạng công tác xã hội trong hỗ trợ về giáo dục và y tế đối với trẻ em dân tộc Kơ Ho tại huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng
2.2.1 Thực trạng hỗ trợ về giáo dục đối với trẻ em dân tộc Kơ Ho tại huyện
Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng
Phỏng vấn sâu 3 trưởng thôn tại 3 thôn thuộc 3 xã, thị trấn là Tân Lập, Ryông Sre và Đam Pao cho thấy, đa số các hộ gia đình dân tộc Kơ Ho thuộc diện nghèo, và trung bình mỗi gia đình đều có từ 2 đến 3 con, đa số các em đều trong độ tuổi đi học (3-16 tuổi) Số trẻ trong độ tuổi tiểu học chiếm đa số,
và có nhiều gia đình có hơn 1 con trong độ tuổi học tiểu học Mức độ theo học thường xuyên chiếm 2/3 trong tổng số được hỏi Số trẻ theo học thường xuyên chiếm tỷ lệ cao hơn tại các xã có điều kiện kinh tế ổn định, trong khi tỷ
lệ không theo học thường xuyên rất cao tại các xã có đa số các gia đình là hộ nghèo, điều kiện kinh tế khó khăn, như thôn Ryông Sre thuộc thị trấn Đinh Văn là một ví dụ Các phụ huynh được hỏi về yếu tố ảnh hưởng đến việc các
em tiếp cận với các dịch vụ giáo dục phần lớn cũng cho rằng, do điều kiện kinh tế khó khăn và các em không ham học, và gần 1/3 số người được hỏi cho rằng giao thông không thuận lợi cũng là một yếu tố chủ yếu khiến các em không theo học thường xuyên Ngoài ra có khoảng 20% cho rằng các em phải giúp việc nhà và có 10% ý kiến cho rằng các em không cần thiết phải học và