Nhằm tìm hiểu nhu cầu, mong muốn của thanh niên lao động nhập cư về sinh hoạt văn hóađể từ đó xây dựng mô hình sinh hoạt văn hóa phù hợp góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, t
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH: CÔNG TÁC XÃ HỘI
MÃ SỐ: 8760101
LUẬN VĂN THẠC SĨ
BÌNH DƯƠNG - 2023
Trang 2ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH: CÔNG TÁC XÃ HỘI
MÃ SỐ: 8760101
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGƯỜI HƯỚNG D N HOA HỌC
TS DƯƠNG HIỀN HẠNH
BÌNH DƯƠNG - 2023
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung và kết quả nghiên cứu của đề tài “Xây dựng
mô hình công tác xã hội hỗ trợ thanh niên lao động nhập cư cải thiện đời sống văn hóa
tinh thần tại xã Hiếu Liêm, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương” này là sản phẩm
nghiên cứu cá nhân của tôi Sản phẩm được phân tích một cách khách quan, trung thực
và chưa được công bố dưới bất kỳ hình thức nào Trong quá trình viết bài, có sự tham khảo một số tài liệu có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu có sự không trung thực về thông tin sử dụng trong công trình nghiên cứu này
Bình Dương, ngày 14 tháng 02 năm 2023
Tác giả đề tài
Phạm Thị Ngà
Trang 4TRANG
MỤC LỤC i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG ĐỒ, BIỂU ĐỒ v
I MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 10
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 11
5 Phạm vi nghiên cứu 11
6 Thời gian nghiên cứu 11
7 Câu hỏi nghiên cứu 11
8 Giả thuyết nghiên cứu 12
9 Phương pháp nghiên cứu 12
10 Những đóng góp mới của luận văn 13
11 ết cấu của luận văn 15
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA THANH NIÊN LAO ĐỘNG NHẬP CƯ 15
1.1 Các khái niệm công cụ 15
1.1.1 Khái niệm Mô hình 15
1.1.2 Khái niệm Công tác xã hội 15
1.1.3 Khái niệm Công tác xã hội nhóm 16
1.1.4 Khái niệm Văn hóa 17
1.1.5 Khái niệm Đời sống văn hóa tinh thần 18
1.1.6 Khái niệm Thanh niên 19
Trang 51.1.7 Khái niệm Lao động nhập cư 19
1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 21
1.2.1 Thuyết Nhu cầu 21
1.2.2 Thuyết Mạng lưới xã hội 22
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 24
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA THANH NIÊN LAO ĐỘNG NHẬP CƯ TẠI XÃ HIẾU LIÊM, HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG 25
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 25
2.2 hái quát về khách thể nghiên cứu 26
2.2.1 Mẫu nghiên cứu định lượng 26
2.2.2 Mẫu nghiên cứu định tính 28
2.2.3 Lý do định cư và các dự báo về mẫu nghiên cứu 28
2.3 Thực trạng đời sống tinh thần của thanh niên lao động nhập cư 31
2.3.1 Các sinh hoạt thường ngày 31
2.3.2 Các sinh hoạt văn hóa vào những ngày nghỉ, cuối tuần, lễ, tết 37
2.4 Nguyên nhân ảnh hưởng đến đời sống văn hóa tinh thần của thanh niên lao động nhập cư tại xã Hiếu Liêm hiện nay 47
2.5 Những nhu cầu và kỳ vọng của thanh niên lao động nhập cư về đời sống văn hóa tinh thần hiện nay 50
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 51
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ MÔ HÌNH NHẰM CẢI THIỆN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CHO THANH NIÊN LAO ĐỘNG NHẬP CƯ TẠI XÃ HIẾU LIÊM, HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG 53
3.1 Đề xuất một số giải pháp cải thiện đời sống văn hóa tinh thần cho thanh niên lao động nhập cư 53
Trang 63.1.1 Những giải pháp chung 53
3.1.2 Những giải pháp cụ thể 54
3.1.2.1 Về phía chính quyền địa phương 54
3.1.2.2 Về phía các chủ trang trại 56
3.1.2.3 Về phía người thân, bạn bè của thanh niên lao động nhập cư 58
3.1.2.4 Về phía thanh niên địa phương 58
3.1.2.5 Về phía chính thanh niên lao động nhập cư 58
3.2 Xây dựng mô hình can thiệp dự kiến 62
3.3 Đề xuất mô hình nhằm cải thiện đời sống văn hóa tinh thần cho thanh niên lao động nhập cư tại xã Hiếu Liêm 63
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 69
ẾT LUẬN VÀ IẾN NGHỊ 70
TÀI LIỆU THAM HẢO 72 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
UNFPA United Nation Fund Population Agency (Quỹ Dân
số Liên Hợp Quốc)
Trang 8Bảng 2.6 Nhu cầu tham gia các hoạt động văn hóa tinh thân của
thanh niên lao động nhập cư
41
Bảng 2.7 Vai trò của các tổ chức, cá nhân trong việc nâng cao đời
sống văn hóa tinh thần cho thanh niên lao động nhập cư
4
Bảng 3.1 Tỷ lệ thanh niên lao động nhập cư sẽ tham gia các hoạt
động văn hóa tinh thần nếu phù hợp về các điều kiện
60
Biểu đồ 1.1 Tháp nhu cầu của Maslow 22 Biểu đồ 2.1 Những nhu cầu giải trí thường làm 31 Biểu đồ 2.2 Mức độ quan tâm đối với các lớp đào tạo nghề 44 Biểu đồ 2.3 Mức độ quan tâm đối với các hoạt động tập huấn về tình
yêu, hôn nhân, gia đình
45
Biểu đồ 2.4 Mức độ quan tâm đối với hoạt động văn hóa – văn nghệ 45 Biểu đồ 2.5 Mức độ quan tâm đối với hoạt động thể dục – thể thao 46 Biểu đồ 2.6 Thanh niên lao động nhập cư tự đánh giá đời sống văn hóa
Trang 9I MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bình Dương hiện nay là tỉnh có số lượng người nhập cư cao thứ hai cả nước (chỉ sau Thành phố Hồ Chí Minh), cụ thể có đến 53,5% trên tổng số 2,3 triệu người sinh sống hiện tại trong tỉnh là dân nhập cư (Nguyễn Thúy Hằng, 2019) Riêng đối với xã Hiếu Liêm có 1.319 lao động nhập cư, chiếm 39,66% trên 3.326 nhân khẩu toàn xã Trong đó, thanh niên trong độ tuổi lao động (từ đủ 16 đến 30 tuổi theo Luật Thanh niên số 57/2020/QH14) là 1.209 người chiếm 36,35% dân số trên địa bàn xã (Báo cáo số 544/BC-UBND, ngày 27/7/2021 của UBND xã Hiếu Liêm) Đây là cơ hội và cũng là thách thức của tỉnh Bình Dương nói chung và xã Hiếu Liêm nói riêng khi phải thực hiện song song hai nhiệm vụ: vừa đảm bảo về đời sống vật chất, vừa đảm bảo về đời sống tinh thần cho thanh niên lao động nhập cư
Dựa trên những cơ sở dữ liệu có trước đồng thời qua nghiên cứu thực tiễn, tác giả nhận thấy đời sống văn hóa tinh thần của thanh niên lao động nhập cư còn nghèo nàn, đơn điệu Hệ thống chính quyền chưa có sự quan tâm đúng mức đến đời sống văn hóa tinh thần của thanh niên lao động nhập cư, việc xây dựng không gian văn hóa còn chậm, việc trang bị các thiết chế văn hóa còn hạn chế Do số lượng người nhập cư đông, nên những vấn đề liên quan tới đời sống tinh thần của người nhập cư dường như bị bỏ ngỏ Sau giờ làm việc, họ sống co cụm trong khu nhà trọ, không tham gia các hoạt động văn hóa, không có sự kết nối với địa phương.“Nhìn chung đời sống văn hóa tinh thần của phần lớn lao động nhập cư là nghèo nàn, khép kín, khó hòa nhập Họ đến thành phố với mục tiêu chủ yếu là kiếm sống, trong khi việc kiếm sống còn khó khăn, vất vả nên họ rất
ít quan tâm đến các hoạt động giải trí, thời gian nhàn rỗi vẫn ưu tiên cho ngủ nghỉ hoặc quanh quẩn với chiếc tivi cũ tại khu nhà thuê trọ”(Phạm Văn Quyết, 2017)
Theo Maslow, đời sống vật chất là một trong những nhu cầu cơ bản của con người Song song đó, đời sống tinh thần cũng vô cùng quan trọng, là mảnh ghép không thể thiếu để con người được phát triển toàn diện, là điều kiện để khẳng định chất lượng cuộc sống của con người Peter Donnelly và Jay Coakley đã nghiên cứu và đánh giá cao
về vai trò của giải trí trong thúc đẩy hòa nhập xã hội, khi cho rằng lợi ích của sự tham gia
Trang 10là điểm khởi đầu rõ ràng cho hòa nhập xã hội, lợi ích như thế không phải tự động có được, nó cần thiết để phân tích các tình huống mà theo đó hội nhập xã hội có thể được thúc đẩy bởi các chương trình giải trí (Peter Donnelly và Jay Coakley, 2002, tr 1) Có thể hiểu rằng: các hoạt động văn hóa tinh thần góp phần thúc đẩy hoà nhập xã hội Hòa nhập
xã hội lại mang nhiều lợi ích cho người lao động nhập cư
Do vậy việc cải thiện đời sống văn hóa tinh thần cho thanh niên lao động nhập cư tại xã Hiếu Liêm hiện nay là vấn đề cấp thiết Nhằm tìm hiểu nhu cầu, mong muốn của thanh niên lao động nhập cư về sinh hoạt văn hóađể từ đó xây dựng mô hình sinh hoạt văn hóa phù hợp góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, tăng năng xuất lao động, cải thiện chất lượng cuộc sống, giúp người nhập cư gắn bó hơn với xã Hiếu Liêm và góp
phần thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển tôi lựa chọn đề tài: “Xây dựng mô hình công
tác xã hội hỗ trợ thanh niên lao động nhập cư cải thiện đời sống văn hóa tinh thần tại xã Hiếu Liêm, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương”
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Thời gian qua, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về người lao động nhập cư, tạm chia thành 03 nội dung nghiên cứu như sau:
* Những vấn đề người lao động nhập cư phải đối mặt
Phạm Văn Quyết, Trần Văn Kham (2015) với nghiên cứu "Sự kỳ thị đối với lao động nhập cư nghèo tại các đô thị Việt Nam" đăng trên Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam đã nêu lên các lĩnh vực mà người lao động nhập cư bị kỳ thị như: kỳ thị trong lĩnh vực lao động, việc làm; kỳ thị trong tham gia đời sống cộng đồng nơi sinh sống; kỳ thị trong tiếp cận và sử dụng các dịch vụ công và kỳ thị qua sự trải nghiệm trong đời sống đô thị Qua những phân tích của bài viết cho thấy người lao động nhập cư nghèo là những đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương; họ dường như hướng đến sự chịu đựng nhẫn nhục, từ
đó xa lánh và ít tham gia vào các hoạt động chung của cộng đồng cư dân đô thị Tuy nhiên, nghiên cứu chủ yếu bàn về công nhân ở các đô thị mà chưa có sự mở rộng ra công nhân tại các khu vực nông thôn Cũng trong nghiên cứu “Các quan điểm lý thuyết về hòa nhập xã hội và hòa nhập xã hội của nhóm lao động nghèo nhập cư vào các đô thị nước ta trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (Phạm Văn Quyết, 2017) đã
Trang 11phân tích đời sống của lao động nhập cư và thực trạng hòa nhập của lao động nhập cư nghèo trong tiếp cận và sử dụng các dịch vụ xã hội cơ bản Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra các rào cản chủ yếu trong việc hòa nhập xã hội của lao động nhập cư nghèo như:
sự kỳ thị, mạng lưới xã hội, chính sách xã hội Qua đó đưa ra một số khuyến nghị có tính gợi ý các chính sách và hướng mở cho các nghiên cứu tiếp theo như: hệ thống chính sách công, lãnh đạo địa phương, các đoàn thể nơi người lao động nhập cư đến và với chính người lao động Ngoài ra, có thể kể đến các công trình nghiên cứu khác của Đặng Duy Anh (2008) “Bảo trợ xã hội và di cư lao động từ nông thôn ra thành thị”, Phạm Quý Thọ (2000) “Ảnh hưởng của di dân từ nông thôn ra thành thị và việc làm của dân cư trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Trần Việt Tiến (2008) “Giải quyết những vấn đề xã hội nảy sinh đối với người lao động làm việc tại các khu công nghiệp các tỉnh phía Bắc Việt Nam” Trong các công trình này các tác giả đã tập trung làm rõ những vấn đề liên quan đến bảo trợ xã hội dưới góc độ lao động di cư như cần đảm bảo nhà ở, tiền lương, chăm sóc y tế cho các lao động di cư nói chung, lao động di cư làm việc trong các KCN nói riêng Các đề xuất liên quan đến hỗ trợ việc làm, tăng tiền lương tối thiểu, nhằm giúp lao động di cư ổn định cuộc sống, tăng khả năng chăm sóc sức khỏe, hòa nhập với cư dân trên địa bàn và hỗ trợ địa bàn có người nhập cư phát triển
Năm 2004, Tổng Cục Thống kê thực hiện chuyên đề nghiên cứu “Chất lượng cuộc sống của người di cư Việt Nam” Nghiên cứu này quan tâm xem xét tác động của di cư với bản thân những người di cư Chất lượng cuộc sống của người di cư được đề cập trong nghiên cứu này đã mô tả các yếu tố quyết định sự thành công của di cư (cả khách quan và chủ quan) liên quan tới thu nhập, nhà ở, phúc lợi và an ninh nơi chuyển đến Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả di cư bao gồm từ các cơ hội kinh tế, tính sẵn sàng về nhà ở và các điều lệ, quy định của địa phương nơi đến, loại di cư, tức là di cư tạm thời, chuyển đến nơi mới rồi lại quay về, tạm trú dài hạn hoặc kết hợp của các hình thức trên, các hỗ trợ mà người di cư có thể có được thông qua hệ thống phúc lợi xã hội chung hoặc mạng lưới xã hội riêng của người di cư
Trang 12* Thực trạng đời sống tinh thần của người lao động nhập cư ở Việt Nam, Bình Dương
Phạm Đình Nghiệm (2007) với nghiên cứu “Đời sống văn hóa tinh thần của công nhân ở các khu chế xuất, khu công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh” Công trình này đã khảo sát toàn diện đời sống văn hóa tinh thần của công nhân ở các khu chế xuất, khu công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh và đã chỉ ra rằng đời sống đó hiện nay rất thấp; có nhiều nguyên nhân gây ra điều đã nêu, nhưng quan trọng nhất là thu nhập của người công nhân quá thấp Công trình cũng đã đề ra hàng loạt giải pháp cho tình hình đã nêu, như lập Ban Chỉ đạo xây dựng đời sống văn hóa tinh thần cho công nhân, giao trách nhiệm cụ thể
về việc đảm bảo đời sống văn hóa tinh thần cho công nhân cho các chính quyền địa phương nơi họ cư trú; bổ sung, hoàn thiện hoặc xây dựng mới các thiết chế văn hóa thể thao cho công nhân; đưa ra các chính sách khuyến khích người dân quanh các khu chế xuất, khu công nghiệp xây dựng nhà cho công nhân thuê trọ thỏa mãn những quy định về nhà trọ của UBND Thành phố Hồ Chí Minh
Một công trình khoa học lớn khác về đời sống văn hóa tinh thần của công nhân các khu công nghiệp ở một tỉnh là chương trình “Khảo sát về đời sống văn hóa công nhân các khu công nghiệp ở Đồng Nai” do Viện Nghiên cứu văn hóa thông tin (thuộc Bộ Văn hóa Thông tin) và Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Đồng Nai phối hợp thực hiện, hoàn thành năm 2006 Kết quả khảo sát cho thấy mức hưởng thụ văn hóa tinh thần của các đối tượng này còn tương đối nghèo nàn và ít sự lựa chọn ngoài những phương tiện truyền thông đại chúng là tivi, đài, báo Đề tài cũng giới thiệu một số mô hình tổ chức đời sống văn hóa tinh thần cho công nhân đạt hiệu quả cao tại một số địa phương và công ty, nhà máy trong tỉnh thời gian qua
Đình Quang và cộng sự (2005) thực hiện đề tài: “Đời sống văn hóa và xu hướng phát triển văn hóa cùng đô thị và khu công nghiệp thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Đề tài nghiên cứu thực trạng đời sống văn hóa ở nước ta hiện nay và chọn các khu công nghiệp ở Bình Dương làm đối tượng để phân tích một số động thái văn hóa xã hội
Tháng 12/2006, Tạp Chí Cộng sản cũng phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương tổ chức hội thảo khoa học “Thực trạng đời sống công nhân vùng kinh tế trọng
Trang 13điểm phía Nam và vấn đề đặt ra”, trong đó có phần bàn về đời sống văn hóa tinh thần của công nhân Các tham luận tại Hội thảo khoa học này đều thống nhất ý kiến ở các điểm sau:
Thứ nhất, đời sống nghèo nàn có ảnh hưởng tiêu cực đến việc phát triển đội ngũ công nhân
Thứ hai, không thể để kéo dài hơn tình trạng đời sống văn hóa tinh thần của công nhân thấp kém như hiện nay
Thứ ba, cần sớm tổ chức và kiện toàn lại công đoàn và các tổ chức quần chúng ở các doanh nghiệp trong các khu chế xuất, khu công nghiệp; xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp lý về đời sống văn hóa tinh thần của công nhân
Các tham luận đã làm rõ vị trí, vai trò của đời sống văn hóa tinh thần đối với công nhân lao động, khẳng định tính tất yếu của việc xây dựng đời sống văn hóa tinh thần phù hợp với nhu cầu của công nhân, vạch ra được một số giải pháp thực hiện Song nhìn chung, các vấn đề liên quan đến đời sống văn hóa tinh thần của công nhân chưa được trình bày một cách đầy đủ, hệ thống, thiếu những dữ liệu cụ thể, chưa đưa ra được bức tranh toàn diện, rõ ràng về đời sống văn hóa tinh thần của công nhân, những giải pháp đề xuất vẫn mang tính chung chung, trừu tượng, thiếu tính quy định cụ thể, không khả thi, chưa có những giải pháp mới
Bên cạnh đó, còn có các nghiên cứu về đời sống văn hóa tinh thần của người lao động nhập cư như: Phạm Thị Minh Nguyệt (2015) với nghiên cứu “Tác động của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập Quốc tế đối với đời sống văn hóa tinh thần của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay” Nghiên cứu đã chỉ ra tác động của quá trình toàn cầu hóa
và hội nhập quốc tế đối với tư tưởng, đạo đức, lối sống; đối với khoa học, giáo dục và đối với nghệ thuật Trong đó, đời sống văn hóa tinh thần của giai cấp công nhân Việt Nam tất yếu chịu sự tác động không nhỏ từ quá trình Trên cơ sở nhận thức một cách sâu sắc về
xu hướng tác động thuận - nghịch của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đến đời sống văn hóa tinh thần của giai cấp công nhân Việt Nam, nghiên cứu đưa ra các dự báo khoa học
về xu hướng biến đổi, phát triển của giai cấp công nhân trong thời kỳ phát triển mới Đồng thời hoạch định chiến lược xây dựng giai cấp công nhân đúng đắn, phù hợp sao cho
Trang 14vừa tận dụng hiệu quả thời cơ, vận hội vừa vượt qua những nguy cơ và thách thức, thúc đẩy giai cấp công nhân Việt Nam vươn lên phát triển toàn diện thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Nghiên cứu: “Xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của công nhân Đồng Nai – Thực trạng và giải pháp” (Phạm Thị Minh Nguyệt, 2015) đã nêu ra được rất nhiều các hoạt động chăm lo đời sống văn hóa tinh thần cho đối tượng công nhân lao động của tỉnh Đồng Nai về các lĩnh vực như: tư tưởng đạo đức, giáo dục, khoa học, nghệ thuật Nghiên cứu cũng chỉ ra thực trạng hiện nay là các hoạt động còn mang tính hình thức, chung chung, chưa tạo được sự lôi cuốn, hấp dẫn cho công nhân; việc đầu tư về không gian sinh hoạt, các thiết chế văn hóa còn cầm chừng; bên cạnh đó, sự phát triển các loại hình văn hóa trá hình như: massage, karaoke, lô đề, ma túy…đã lôi kéo nhiều công nhân tham gia, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội Tuy nhiên, nghiên cứu lấy đối tượng là công nhân lao động tại các khu công nghiệp Còn các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đời sống văn hóa tinh thần cho người lao động tại các môi trường ngoài khu, cụm công nghiệp là chưa
có
* Nghiên cứu cải thiện đời sống văn hóa tinh thần của người lao động nhập cư
Đề cập đến sự vận động phát triển của văn hóa tinh thần xã hội, phải kể đến các nghiên cứu của N.V.Gontrarenco trong cuốn Văn hóa tinh thần (N.V.Gontrarenco, 1980) hay công trình nghiên cứu được tổng hợp thành hệ thống lý luận văn hóa Cơ sở lý luận văn hóa Mác - Lênin do A.I.Acnondov chủ biên (1981) Theo N.V.Gontrarenco, “văn hóa tinh thần, với tính cách là một hiện tượng, về thực chất thuộc về kiến trúc thượng tầng, trước hết dựa trên nền tảng văn hóa vật chất, là cái là sự tiếp tục của văn hóa tinh thần( ) Những biến đổi cơ bản trong lĩnh vực sản xuất vật chất chắc chắn sẽ dẫn tới những biến đổi trong lĩnh vực văn hóa tinh thần” (tr.45) Ông cũng thừa nhận rằng: “Tính
kế thừa không những là một ngọn nguồn quan trọng nhất của sự tiến bộ văn hóa loài người, mà còn là một điều kiện cần thiết để phát triển tất cả những phương diện của đời sống xã hội” (tr.60) Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu Xô Viết mới chỉ nhìn nhận văn hóa nói chung và đời sống văn hóa tinh thần nói riêng dưới góc nhìn xã hội học, dựa trên các tiêu chí và bị chi phối bởi tồn tại xã hội mà chưa đi sâu, chưa thấy hết sự phức tạp, đa dạng trong thế giới tinh thần của chính con người, chủ thể của xã hội ấy Cuốn sách “Xây
Trang 15dựng đời sống văn hóa tinh thần trong thanh niên” (S.A.Levasova, N.S.Xactsenco,1980)
là một cuốn sách giáo dục lý tưởng tốt cho thanh niên Song, nó chỉ phù hợp trong một giai đoạn lịch sử cụ thể, mang đậm tính định hướng, giáo huấn và không tính đến những khả năng biến động của đời sống chính trị xã hội cũng như tự bản thân các chủ thể nhân cách trong các môi trường, điều kiện phát triển khác nhau
Richard M Lerner, Robert W Roeser (2008) với cuốn: “Tích cực phát triển tinh thần trong thanh thiếu niên: Từ học thuyết đến nghiên cứu” (Positive youth development
và spirituality: From theory to research) Nội dung cuốn sách là sự tổng hợp tri thức khoa học về đời sống tinh thần và những ảnh hưởng của đời sống tinh thần đến sự phát triển toàn diện và tích cực của thanh thiếu niên Cuốn sách đã tổng hợp và cung cấp những tri thức mang tính đột phá về những khái niệm, định nghĩa, lý thuyết và các vấn đề về phương pháp luận cần phải được giải quyết khi nghiên cứu các mối quan hệ giữa đời sống văn hóa tinh thần và sự phát triển của thanh thiếu niên Đồng thời đề cập đến cách thức để nghiên cứu mối liên hệ giữa văn hóa tinh thần với sự phát triển theo hướng tích cực của thanh niên và những giá trị mà nghiên cứu này mang lại
Tại hội thảo “Phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất ở Thành phố Hồ Chí Minh, những vấn đề lý luận và thực tiễn” nhiều tham luận có nội dung đề cập trực tiếp hay gián tiếp đến vấn đề đời sống văn hóa của công nhân ở các khu chế xuất, khu công nghiệp trong nước Trong các tham luận này, các tác giả nêu lên (1) Tính cấp thiết của việc xây dựng đời sống văn hóa công nhân các khu công nghiệp (Nguyễn Văn Quyết và nhiều người khác); (2) Sự cần thiết xây dựng một kết cấu hạ tầng về mặt xã hội đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của công nhân và bộ phận dân cư sống gần các khu công nghiệp, khu chế xuất, nó là cơ sở để phát triển bền vững cuộc sống của người công nhân với tư các là lực lượng lao động xã hội hiện đại và đồng thời với tư cách là những con người (GS TS Lê Hữu Nghĩa, Trần Thanh Xuân); (3) Các tiêu chí cho một khu công nghiệp kiểu mẫu, trong đó có tiêu chí về xây dựng đời sống tinh thần cho người lao động
và cư dân trong cộng đồng (Trần Thanh Xuân); (4) Các giải pháp xây dựng đời sống văn hóa tinh thần cho công nhân ở các khu công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương (Nguyễn Văn Quyết, Đặng Thị Kim Nguyên, Trần Kim Dung…) Các giải pháp do các tác giả này đề xuất có thể gôm lại thành các giải pháp lớn như sau: thứ nhất,
Trang 16cần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cơ quan quản lý, các ngành liên quan trong việc quan tâm sâu sát hơn tới đời sống văn hóa tinh thần của công nhân; thứ hai, cần dành nhiều quỹ đất, kinh phí để xây dựng các thiết chế văn hóa, các công trình phúc lợi xã hội cho người lao động trong các khu công nghiệp tập trung; thứ ba, tăng cương giáo dục về văn hóa cho người lao động; thứ tư, tăng cương công tác dạy nghề, hướng nghiệp cho các đối tượng lao động; thứ năm, tăng cường kiểm tra, giám sát các hoạt động văn hóa, các dịch vụ công cộng; thứ sáu, tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, các mô hình sinh hoạt văn hóa phù hợp, lành mạnh cho công nhân; thứ bảy, hình thành một đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa, có chuyên môn, nghiệp vụ, có kiến thức ngoại ngữ, am hiểu phong tục, tập quán của các cư dân cư trú trong khu công nghiệp; thứ tám, xây nhà ở cho công nhân
Đề tài khoa học cấp nhà nước: “Xây dựng và phát triển đời sống văn hóa của giai cấp công nhân Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế” do PGS.TS Nguyễn Văn Nhật làm chủ nhiệm, Viện Sử học là cơ quan chủ trì, hoàn thành năm 2010 Nội dung nghiên cứu của đề tài tập trung vào những vấn đề: Cơ sở lý luận, phương pháp luận nghiên cứu về văn hóa và đời sống văn hóa của giai cấp công nhân; Tác động của quá trình đổi mới kinh tế xã hội và bước đầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến đời sống văn hóa tinh thần của giai cấp công nhân; Kết quả điều tra, khảo sát và đánh giá thực trạng đời sống văn hóa của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay; Công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng cường hội nhập quốc tế và một số yêu cầu đặt ra đối với việc làm, nâng cao đời sống văn hóa của giai cấp công nhân trong thời gian tới
Phạm Đình Nghiệm, Đặng Thị Phượng (2012) với nghiên cứu: “Điều tra, nghiên cứu, đề xuất giải pháp xây dựng đời sống văn hóa cho công nhân, lao động tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu tỉnh Tây Ninh thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Nghiên cứu đã cung cấp một bức tranh đầy đủ và chính xác về đời sống văn hóa của công nhân, người lao động tại các khu, cụm công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu tỉnh Tây Ninh; xác định được các nguyên nhân cụ thể của đời sống văn hóa thấp Qua đó, đề xuất các giải pháp và kiến nghị cụ thể; xây dựng được các mô hính lý thuyết và thực hiện được các mô hình thí điểm về xây dựng đời sống văn hóa cho công nhân
Trang 17Những tác giả như Lê Ngọc Thảo và cộng sự (2020) với nghiên cứu “Dịch vụ xã hội cho người lao động nhập cư tại các Khu chế xuất – khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện nay: Thực trạng và giải pháp” đã nêu ra một số vấn đề trong đời sống cũng như trong công việc mà người lao động đang phải đối mặt như: thu nhập thấp, cuộc sống không ổn định, điều kiện sinh hoạt còn khó khăn, bị hạn chế nhất định trong tiếp cận các dịch vụ giáo dục và đào tạo nâng cao tay nghề kể cả giáo dục cho con cái, y tế và CSSK, nhà ở và điều kiện sống, văn hóa - thể thao - vui chơi - giải trí Đồng thời cũng phân tích những hạn chế trong việc cung ứng các dịch vụ xã hội của Việt Nam
so với các nước trong khu vực như Trung Quốc, Singapo, Thái Lan, Malaysia… Kết quả nghiên cứu của đề tài đã tập trung tìm hiểu nhu cầu và việc tiếp cận các DVXH cơ bản của người lao động nhập cư Qua đó, góp phần tạo ra các căn cứ khoa học đáng tin cậy cho việc đề xuất các chính sách, cơ chế phù hợp, giúp ổn định đời sống, công việc của nhóm đối tượng này mà xa hơn là mang đến sự ổn định của xã hội Nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp chia thành hai nhóm gồm nhóm giải pháp chung là quy hoạch phát triển hệ thống DVXH và nhóm giải pháp riêng đối với từng loại hình dịch vụ Tuy nhiên, nghiên cứu tập trung nhiều vào các khía cạnh liên quan tới đời sống vật chất (cụ thể là nhà ở, môi trường làm việc) mà chưa tập trung nghiên cứu sâu và đề ra các giải pháp nâng cao các dịch vụ liên quan tới đời sống văn hóa tinh thần của người lao động
Trần Thị Út và cộng sự (2011) “Các giải pháp nâng cao đời sống văn hóa của người lao động trong các khu công nghiệp tập trung ở Bình Dương” do Trường Đại học Bình Dương chủ trì đã tập trung nghiên cứu về đời sống văn hóa của công nhân ở các khu công nghiệp của tỉnh Bình Dương Kết luận của đề tài là đời sống văn hóa tinh thần của công nhân thấp Nguyên nhân căn bản là do mức lương cơ bản còn thấp, chưa đảm bảo đời sống vật chất, dẫn đến các nhu cầu vui chơi, giải trí bị hạn chế
Nguyễn Khoa Hải (2015) với luận văn "Xây dựng đời sống văn hóa tinh thần cho thanh niên công nhân khu công nghiệp Việt Nam - Singapore tỉnh Bình Dương" đã nêu lên thực trạng đời sống văn hóa tinh thần của thanh niên công nhân hiện nay và ảnh hưởng tiêu cực lên các mặt của đời sống nếu như đời sống tinh thần không được đáp ứng thỏa đáng Từ đó tác giả đề xuất các giải pháp để xây dựng, nâng cao đời sốngvăn hóa
Trang 18tinh thần cho đội ngũ công nhân, góp phần giảm ức chế tâm lý, cải thiện những mối quan
hệ và nâng cao hiệu quả sản xuất
Nhìn chung các đề tài, công trình nghiên cứu và các bài viết của các chuyên gia, học giả về lao động nhập cư hiện nay đều nêu lên thực trạng đáng lo ngại về sự nghèo nàn, đơn điệu trong đời sống văn hóa, tinh thần của công nhân lao động và nhấn mạnh rằng việc nâng cao đời sống đó là điều kiện để phát triển bền vững Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chủ yếu lấy đối tượng là công nhân tại các khu công nghiệp, khu đô thị mà chưa có công trình nào tìm hiểu riêng về đời sống văn hóa tinh thần của đối tượng thanh niên lao động nhập cư tại một đơn vị hành chính (xã, phường) cụ thể hoặc lao động nhập cư tại các địa phương thuần nông nghiệp như xã Hiếu Liêm
Luận văn với đề tài “Xây dựng mô hình công tác xã hội hỗ trợ thanh niên lao
động nhập cư cải thiện đời sống văn hóa tinh thần tại xã Hiếu Liêm, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương”góp phần bổ sung cho lĩnh vực nghiên cứu còn bỏ trống hướng
đến nguồn lao động nhập cư trẻ trong lĩnh vực nông nghiệp mang tính mới và cần thiết cho thực tiễn quản lý xã hội tại chính quyền địa phương và đồng thời với phương pháp tiếp cận khoa học của chuyên ngành CTXH hướng đến việc tìm kiếm mô hình trợ giúp nâng cao đời sống tinh thần của thanh niên lao động là cơ sở khoa học hoặc nguồn học liệu cần thiết cho những người nghiên cứu lao động nhập cư Bên cạnh đó kết quả nghiên cứu và đề xuất mô hình từ luận văn có thể áp dụng thực hiện mô hình can thiệp chính thức cho những dự án tại địa phương trong công tác xây dựng và phát triển văn hóa cộng đồng cho toàn dân để không ai bị bỏ lại phía sau trong công cuộc đổi mới đất nước
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Dựa trên những cơ sở dữ liệu có trước đồng thời kết hợp với phương pháp công tác xã hội nhóm, tác giả tiến hành nghiên cứu để tìm ra các vấn đề về đời sống tinh thần của thanh niên lao động nhập cư Qua đó tìm hiểu về nhu cầu, nguyện vọng đối với các hoạt động sinh hoạt văn hóa tinh thần của đối tượng này Để từ đó đề xuất mô hình sinh hoạt văn hóa phù hợp nhằm góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, tăng năng xuất lao động, hướng đến việc cải thiện chất lượng cuộc sống, giúp người nhập cư gắn bó
Trang 19hơn với xã Hiếu Liêm và góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển chung của toàn
xã hội
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Mô tả, phân tích hiện trạng đời sống tinh thần của thanh niên lao động nhập cư tại xã Hiếu Liêm hiện nay
- Nhận diện những kỳ vọng của thanh niên lao động nhập cư về đời sống văn hóa tinh thần
- Đề xuất xây dựng mô hình sinh hoạt văn hóa phù hợp với đối tượng thanh niên lao động nhập cư thông qua việc kết nối các nguồn lực tại địa phương
- Tổng hợp cơ sở lý luận cơ bản về: CTXH, mô hình CTXH, thanh niên lao động nhập cư
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:CTXH hỗ trợ thanh niên lao động nhập cư cải thiện
đời sống văn hóa tinh thần
4.2 Khách thể nghiên cứu: Thanh niên lao động nhập cư
5 Phạm vi nghiên cứu: Tại xã Hiếu Liêm, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình
Dương
6 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9 năm 2021 đến 12/2022
7 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng và nhu cầu về đời sống tinh thần của thanh niên lao động nhập cư tại
xã Hiếu Liêm hiện nay như thế nào?
- Mối quan hệ giữa thanh niên lao động nhập cư với chính quyền, đoàn thể và thanh niên tại địa phương ra sao?
- Mô hình CTXH nào phù hợp với nhu cầu của thanh niên lao động nhập cư trong lĩnh vực thuần nông nghiệp tại xã Hiếu Liêm nhằm cải thiện đời sống văn hóa tinh thần của họ?
Trang 208 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: Đời sống văn hóa tinh thần của thanh niên lao động nhập cư tại xã Hiếu Liêm còn đơn điệu và nghèo nàn Việc tham gia các hoạt động về tập huấn, đào tạo nghề còn hạn chế
Giả thuyết 2: Địa phương thiếu sự quan tâm đến đời sống văn hóa tinh thần cho thanh niên lao động nhập cư Mối quan hệ gắn bó giữa thanh niên lao động nhập cư với chính quyền, đoàn thể và thanh niên tại địa phương kém
Giả thuyết 3: Có sự khác nhau về mức độ thụ hưởng văn hóa giữa thanh niên lao động nhập cư và thanh niên địa phương Nếu thanh niên địa phương có sân bóng đá, bóng chuyền, được tham gia các hội thi văn nghệ, được học các lớp nghề thì thanh niên lao động nhập cư ít được tham gia, hàng ngày họ làm việc vất vả ngoài vườn và tối về quanh quẩn trong khu trọ Do vậy cần có mô hình công tác xã hội phù hợp đáp ứng nhu cầu cải thiện đời sống tinh thần của chính họ thì thanh niên lao động nhập cư trại Hiếu Liêm sẽ hưởng ứng tham gia
9 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu này tiếp cận phương pháp công tác xã hội trong ngành Công tác xã hội Tác giả xác định mục tiêu hoạt động dựa trên những mong muốn, kỳ vọng của các thanh niên lao động nhập cư Vấn đề quan trọng là giúp các thanh niên lao động nhập cư cảm nhận họ là một phần của địa phương, để từ đó họ ngày càng tích cực đóng góp; cần thường xuyên lắng nghe, dự đoán về những khó khăn, cản trở mà thanh niên lao động nhập cư gặp phải từ đó có giải pháp tháo gỡ kịp thời.Ngoài ra, tác giả còn sử dụng phương pháp nghiên cứu: định lượng, định tính và kỹ thuật thống kê toán học Cụ thể như sau:
- Phương pháp định lượng: nghiên cứu định lượng bằng bảng câu hỏi, tại 06 trang
trại trên địa bàn xã Hiếu Liêm Số lượng bảng hỏi thu về là 68 bảng hỏi
- Phương pháp định tính: 17 cuộc phỏng vấn sâu bao gồm:
+ Phỏng vấnsâu thanh niên lao động nhập cư: Tiêu chuẩn đặt ra để chọn đối tượng phỏng vấn sâu là trong độ tuổi thanh niên, có gia đình hoặc chưa, có con hoặc chưa, làm
Trang 21việc tại Hiếu Liêm từ 02 năm trở lên Do vậy tác giả chọn ra 10 thanh niên (05 nam, 05 nữ) trong đó: 01 nam – 01 nữ miền Bắc; 01 nam – 01 nữ miền Trung; 01 nam – 01 nữ miền Tây; 01 nam – 01 nữ đồng bào dân tộc và 01 nam – 01 nữ là thanh niên địa phươngđể hỏi các vấn đề liên quan đến mong muốn, nhu cầu về đời sống văn hóa và việc hòa nhập với người địa phương.10 thanh niên này đại diện cho tiếng nói của các nhóm thanh niên miền Bắc, miền Trung, miền Nam, dân tộc và người địa phương
+ Phỏng vấn sâu lãnh đạo địa phương và người sử dụng lao động: Phỏng vấn 05 cán bộ địa phương (01 Chủ tịch xã, 01 Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ, 01 Chủ tịch công đoàn, 01 Bí thư Đoàn thanh niên và 01 Trưởng Ban điều hành ấp) và 02 chủ trang trại (01 chủ trang trại người địa phương, 01 chủ trang trại không thường trú tại địa phương) để hỏi về các định hướng giải pháp trong việc chăm lo đời sống văn hóa tinh thần cho thanh niên lao động nhập cư trong thời gian tới.Đây là những người chăm lo và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống văn hóa tinh thần của thanh niên lao động nhập cư Nếu lãnh đạo địa phương là người đưa ra các chính sách về xây dựng, quản lý và phát triển đời sống văn hóa tinh thần, thì chủ trang trại là người tạo việc làm, trả lương và các chế độ nhằm đảm bảo đời sống cho thanh niên lao động nhập cư
10 Đóng góp mới của luận văn
Phát hiện của luận văn cho thấy cái nhìn bao quát về thực trạng thiếu thốn về đời sống tinh thần và nhu cầu được cải thiện đời sống văn hóa tinh thần của thanh niên lao động nhập cư tại một xã thuần nông nghiệp như Hiếu Liêm Đồng thời vẽ ra một bức tranh tổng thể về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của các hoạt động văn hóa trong đời sống tinh thần của thanh niên lao động nhập cư Ngoài ra, đề tài còn giúp kết nối, tạo sự gắn kết giữa thanh niên lao động nhập cư với người địa phương và giữa những người nhập cư với nhau Qua đó thực hiện song song hai nhiệm vụ: vừa phát triển kinh tế địa phương vừa đảm bảo chăm lo đời sống tinh thần cho thanh niên lao động nhập cư nói riêng và người nhập cư nói chung
Phát hiện của luận văn đóng góp nguồn tư liệu, minh chứng cho thực tiễn của xã hội về nhu cầu cơ bản của thanh niên lao động với trình độ học vấn và tình trạng nhập cư trong môi trường làm việc thuần nông nghiệp, chưa có nhiều những nghiên cứu quan tâm
Trang 22đến nhóm đối tƣợng này, giá trị của phát hiện sẽ là nguồn tƣ liệu cho những nhà nghiên cứu về lĩnh vực phát triển cộng đồng, CTXH, Xã hội học và các lĩnh vực khoa học khác quan tâm
Trang 23CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA THANH NIÊN
LAO ĐỘNG NHẬP CƯ 1.1 Các khái niệm công cụ
1.1.1 Khái niệm Mô hình
Mô hình là khái niệm được dùng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, do đó, khái niệm
mô hình được tiếp cận từ nhiều góc độ, cấp độ khác nhau.Theo Từ điển Tiếng Việt, mô
1.1.2 Khái niệm Công tác xã hội
Từ điển Bách khoa ngành công tác xã hội (1995) có ghi: “Công tác xã hội là một khoa học ứng dụng nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của con người, tạo ra những chuyển biến xã hội và đem lại nền an sinh cho người dân trong xã hội” Hiệp hội các nhân viên xã hội chuyên nghiệp của Mỹ cho rằng: “Công tác xã hội là một hoạt động chuyên nghiệp nhằm giúp đỡ các cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng phục hồi hay tăng cường năng lực và chức năng xã hội để tạo ra những điều kiện xã hội cần thiết, giúp họ đạt được mục tiêu Công tác xã hội thực hành (Social Work Practice) bao gồm sự ứng dụng các giá trị, nguyên tắc, kỹ thuật của công tác xã hội nhằm giúp con người (cá nhân gia đình và nhóm, cộng đồng) tiếp cận và được sử dụng những dịch vụ trợ giúp, tham vấn và trị liệu tâm lý Nhân viên xã hội cung cấp dịch vụ xã hội, các dịch vụ sức khỏe
Trang 24và tham gia vào các tiến trình trợ giúp pháp lý khi cần thiết Để có thể thực hiện các hoạt động công tác xã hội trong thực tiễn người nhân viên xã hội đòi hỏi phải có kiến thức về hành vi con người, về sự phát triển của con người, về các vấn đề xã hội, về kinh
tế và văn hóa và sự tương tác của chúng với nhau” Hội đồng đào tạo công tác xã hội
Mỹ định nghĩa: “Công tác xã hội là một nghề nhằm tăng cường các chức năng xã hội của cá nhân hay nhóm người bằng những hoạt động tập trung vào can thiệp mối quan hệ
xã hội để thiết lập sự tương tác giữa con người và môi trường có hiệu quả” Hoạt động này bao gồm ba nhóm: phục hồi năng lực đã bị hạn chế, cung cấp nguồn lực cá nhân, xã hội và phòng ngừa sự suy giảm chức năng xã hội
Từ những phân tích trên, có thể đi đến khái niệm về công tác xã hội như sau: Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình
và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội (Bùi Thị Xuân Mai, 2010)
1.1.3 Khái niệm Công tác xã hội nhóm
Công tác xã hội nhóm được Toseland và Rivas (1998) định nghĩa như sau: “Công tác xã hội nhóm là hoạt động có mục đích với các nhóm nhiệm vụ và trị liệu, nhằm đáp ứng nhu cầu tình cảm xã hội và hoàn thành nhiệm vụ Hoạt động này hướng tới các thành viên trong nhóm và tới toàn thể nhóm trong một hệ thống cung cấp dịch vụ”.Trong Từ điển Công tác xã hội của Barker (1995), công tác xã hội nhóm được định nghĩa là: “Một định hướng và phương pháp can thiệp công tác xã hội, trong đó các thành viên chia sẻ những mối quan tâm và những vấn đề chung họp mặt thường xuyên và tham gia vào các hoạt động được đưa ra nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể Đối lập với trị liệu tâm lý nhóm, mục tiêu của công tác xã hội nhóm không chỉ là trị liệu những vấn đề về tâm lý, tình cảm mà còn là trao đổi thông tin, phát triển các kỹ năng xã hội và lao động, thay đổi các định hướng giá trị, làm chuyển biến các hành vi chống lại xã hội thành các nguồn lực hiệu quả Các kỹ thuật can thiệp đều được đưa vào quá trình công tác xã hội nhóm nhưng không kiểm soát những trao đổi về trị liệu” (tr 85)
Trang 251.1.4 Khái niệm Văn hóa
Trong bản tuyên bố về những chính sách văn hóa tại Hội nghị quốc tế do UNESCO chủ trì tại Mêxicô từ ngày 26/7 đến ngày 6/8/1982, phạm trù “văn hóa” được xác định như sau: Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ
và cảm xúc quy định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm cả nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng.Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính văn hóa đã làm chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách có đạo lý Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành để tự đặt ra, xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình mới mẻ, những công trình vượt trội bản thân
Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh
đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn
Tương tự như vậy, nhưng nhấn mạnh hơn, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng cho rằng: Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… (văn hóa) bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng vàtình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh
Từ những quan điểm trên, theo tác giả, văn hóa là một phạm trù rộng lớn, là kết tinh của những giá trị tốt đẹp của quá khứ và được tiếp nối, phát triển trong tương lai, góp phần giúp con người hoàn thiện và đạt đến chân - thiện - mỹ
Trang 261.1.5 Khái niệm Đời sống văn hóa tinh thần
Khái niệm “văn hóa tinh thần” bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuất tinh thần của con người tạo ra như: tư tưởng, tín ngưỡng - tôn giáo, nghệ thuật, lễ hội, phong tục, đạo đức, ngôn ngữ, văn chương…Lĩnh vực Văn hóa tinh thần gồm các thành tố: văn hóa tư tưởng, văn hóa giáo dục, văn hóa nghệ thuật, văn hóa lối sống, văn hóa lễ hội…(Nguyễn Khoa Hải, 2015, tr 8)
Theo Phạm Thị Minh Nguyệt: Đời sống văn hóa tinh thần là một tổng thể các lĩnh vực văn hóa tinh thần vừa đa dạng, phong phú vừa rộng lớn, phức tạp; do đó, khi nghiên cứu về đời sống văn hóa tinh thần rất khó có thể bao quát được tất cả các lĩnh vực của
nó (Phạm Thị Minh Nguyệt, 2015)
Theo Trịnh Thanh Trà: Đời sống văn hóa tinh thần bao gồm toàn bộ nhucầu, hoạt động sáng tạo, hưởng thụ, trao đổi các sản phẩm, giá trị văn hóa tinh thần của con người Khi các giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc và thời đại thấm sâu vào đời sống tinh thần xã hội, khi nhu cầu của mỗi cá nhân và cộng đồng nảy sinh, phù hợp chuẩn mực và thực tiễn xã hội sẽ xuất hiện các hoạt động văn hóa và kèm theo đó là các sản phẩm mang giá trị của hoạt động văn hóa…, đó chính là đời sống văn hóa tinh thần Đời sống văn hóa tinh thần gắn bó mật thiết, chịu ảnh hưởng, tác động và cũng tác động trở lại các thể chế, thiết chế văn hóa, môi trường văn hóa, nơi nó được hình thành, nuôi dưỡng và phát triển (Trịnh Thanh Trà, 2017, tr 33, 34)
Theo Vũ Thoa: Đời sống tinh thần được diễn ra bao gồm rất nhiều hoạt động như giao tiếp, vui chơi, ngoại giao, các mối quan hệ xã hội…giúp cho con người có thể tồn tại một cách thuận lợi, tích cực trong cuộc sống này để không bị ảnh hưởng tới chất lượng của cuộc sống, mang đến những trải nghiệm tuyệt vời (Vũ Thoa, 2020)
Từ thực tế trên đây, tác giả cũng nêu lên quan điểm cá nhân về đời sống văn hóa tinh thần của thanh niên lao động nhập cư như sau: đời sống văn hóa tinh thần của thanh nhiên lao động nhập cư là đời sống văn hóa tinh thần của một nhóm xã hội đặc thù; bao gồm tổng thể các mong muốn, khát vọng bên trong và hoạt động văn hóa tinh thần thực tiễn bên ngoài nhằm hướng tới đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu văn hóa tinh thần của nhóm đối tượng này cũng như mơ ước, khát vọng tương lai của họ Nó bao gồm các hoạt động
về văn hóa, là những giá trị định tính, thuộc về phần tinh thần, khác hoàn toàn với các
Trang 27giá trị về vật chất có thể cầm, nắm, đong, đo, đếm Như vậy, khi nghiên cứu về đời sống văn hóa tinh thần, bên cạnh những điểm chung, cần chú ý tới tính đặc thù của từng đối tượng, tới nhu cầu và năng lực thực hiện nó, tới các điều kiện kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội thực tại, từ đó mới mới đủ cơ sở để đánh giá về đời sống văn hóa tinh thần
và bàn luận về những vấn đề đặt ra xung quanh đời sống văn hóa tinh thần của đối tượng đó.Trên cơ sở xác định đối tượng, phạm vi nghiên cứu, tác giả giới hạn sự phân tích, đánh giá quá trình xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của thanh niên lao động nhập cư ở một số lĩnh vực cơ bản có liên quan trực tiếp đến người lao động, cụ thể là đề xuất các mô hình về tập huấn, sinh hoạt định hướng nghề nghiệp, nâng cao kỹ năng sống và trang bị kiến thức pháp luật Ngoài ra còn có các hoạt động về văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, vui chơi, vận động tạo sự kết nối giữa thanh niên lao động nhập
cư với nhau, với thanh niên địa phương và chính quyền nơi làm việc
1.1.6 Khái niệm Thanh niên
Thanh niên là tương lai của đất nước, là một lực lượng hùng hậu có những đóng góp to lớn và vai trò quan trọng đối với việc phát triển và xây dựng đất nước Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế – xã hội của từng quốc gia và mục đích mà mỗi quốc gia, tổ chức sẽ
có quy định, cách xác định khác nhau về độ tuổi thanh niên.Theo Điều 1, Luật Thanh
niên 2020 có quy định về độ tuổi thanh niên như sau: “Thanh niên là công dân Việt Nam
từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi.”
1.1.7 Khái niệm Lao động nhập cư
Trước khi tìm hiểu khái niệm “nhập cư” thì cần làm rõ về khái niệm “di cư” Di cư
là sự dịch chuyển của dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này sang một đơn vị lãnh thổ khác
và diễn ra trong khoảng thời gian xác định và được đặc trưng bởi sự thay đổi nơi cư trú thường xuyên Tùy từng mục đích đối với các nghiên cứu khác nhau hoặc đối với công tác quản lý hay đối với những hoạt động xã hội khác mà người ta xác định cụ thể về đơn
vị lãnh thổ và khoảng thời gian cho di cư Theo tác giả Đặng Nguyên Anh (2007, tr.138) khi xem xét khái niệm di dân có thể tóm tắt một số đặc điểm chung sau:
- Người di cư thay đổi nơi cư trú của mình từ một khu vực này đến một khu vực khác ít nhất một lần trong khoảng thời gian xác định
Trang 28- Người di cư di chuyển ra khỏi một địa dư nào đó đến một nơi khác sinh sống Nơi đi, nơi đến phải được xác định là một vùng lãnh thổ hay một đơn vị hành chính được quy định về mặt pháp lý
- Người di cư bao giờ cũng có những mục đích gắn liền với quyết định di chuyển
Họ chuyển đến nơi mới trong khoảng thời gian nhất định để thực hiện mục đích của mình
- Khoảng thời gian ở lại nơi đến là một trong những tiêu chí quan trọng để xác định di dân Có thể đưa thêm các đặc điểm khác nữa để nghiên cứu về di cư như thay đổi về các hoạt động sống thường ngày, các quan hệ xã hội…
Theo tính tổ chức, kế hoạch của di cư, người ta còn chia di cư thành di cư có tổ chức và di cư không tổ chức hay di cư tự do Di cư có tổ chức là sự di chuyển dân cư theo kế hoạch và các chương trình mục tiêu nhất định do nhà nước, chính quyền các cấp vạch ra và tổ chức thực hiện Người di cư có tổ chức luôn được các cơ quan chính quyền địa phương nơi đến tạo điều kiện sắp xếp, giúp đỡ để có thể ổn định và tổ chức tốt cuộc sống mới nơi đến (Dự án VIE/97/P17 và UNFPA, 2000, tr 32) Do được đón tiếp, được tạo điều kiện cho cuộc sống nên người di cư có tổ chức đỡ vất vả hơn khi gặp các khó khăn cho vấn đề hòa nhập cộng đồng Di cư tự do là sự di chuyển tự phát của cá nhân hoặc bộ phận gia đình từ điểm định cư này sang vùng khác nhằm thiết lập nơi cư trú mới, mà không phụ thuộc vào kế hoạch và sự hỗ trợ của nhà nước vá các cấp chính quyền Di cư tự do phản ánh tính tự phát, vai trò của cá nhân, gia đình trong việc giải quyết đời sống, tìm kiếm việc làm Di dân tự do giúp làm giảm sức ép về việc làm, thu nhập nơi đi, bổ sung nguồn lao động cho nơi đến Song cũng có nhiều tác động tiêu cực cho cả nơi đi và nơi đến (Dự án VIE/97/P17 và UNFPA, 2000, tr 33) Tuy người di cư luôn có tâm lý vững vàng, sẵn sàng chịu mọi khó khăn, song họ ít nhận được sự giúp đỡ của nhà nước và các cơ quan chính quyền địa phương, cũng như ít nhận được sự đón tiếp của người dân sở tại, trong nhiều trường hợp còn bị kỳ thị, phân biệt đối xử, nên trong quá trình hòa nhập cộng đồng họ gặp nhiều khó khăn trở ngại, ngay cả những rắc rối trong các thủ tục hành chính
Theo Từ điển Tiếng Việt: Nhập cư là sự di chuyển chỗ ở đến một vùng, một quốc gia mới Người nhập cư là người dân di chuyển từ một vùng đến một vùng khác để định
Trang 29cư hoặc tạm trú Tác giả Cao Ngọc Thành: Nhập cư là hoạt động di chuyển từ đơn vị hành chính này sang đơn vị hành chính khác và có sự gia nhập chỗ ở theo thủ tục đăng
ký tạm trú hiện thời tại đơn vị hành chính mới Người nhập cư cũng là người di chuyển
từ một nơi này đến một nơi khác có cơ hội việc làm và thu nhập tốt hơn để làm ăn, sinh sống (Cao Ngọc Thành, 2012)
Từ những ý kiến trên, tác giả nêu ra khái niệm thanh niên lao động nhập cư như sau: Là những người có độ tuổi từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi, là độ tuổi đang trong quá trình trưởng thành, có sức trẻ, sức khỏe, đầy năng động và nhiệt huyết Họ di chuyển từ nơi ở của mình đến mội nơi ở mới, có điều kiện tốt hơn về kinh tế, văn hóa, xã hội Tại nơi ở mới, họ tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh tế, làm thuê cho các chủ sở hữu lao động để tạo thu nhập, phát triển kinh tế gia đình
1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
1.2.1 Thuyết Nhu cầu
Nhu cầu là cái “bên trong”, động lực của sự sinh tồn và phát triển, chi phối và quy định các hành vi, hoạt động bên ngoài của con người C Mác cho rằng: Bản thân con người ai cũng có những nhu cầu khác nhau và họ phải lao động nhằm thỏa mãn những nhu cầu bản thân mà trước hết là các nhu cầu cơ bản: ăn, mặc, ở, đi lại…Và chỉ khi những nhu cầu cơ bản được thỏa mãn thì các nhu cầu tiếp theo sẽ nảy sinh và đòi hỏi phải được thỏa mãn Những nhu cầu này được nảy sinh, được thay thế thường xuyên và không ngừng trong suốt quá trình phát triển xã hội Đồng thời, trong điều kiện cụ thể nhất định nhu cầu trở thành động lực cho hoạt động lao động sản xuất và phát triển xã hội Trong cuốn sách Tâm lý học đại cương của nhà tâm lý học A.G Covaliov đã chỉ ra: “Một nhu cầu đã được con người phản ánh sẽ trở thành một trạng thái chủ quan, mọi thái độ của cá nhân; nó có xu hướng điều chỉnh hành vi và hoạt động xác định hướng suy nghĩ, tình cảm
và ý chí của người đó” và do đó có thể nói “trong nhu cầu có sự thống nhất giữa khách quan và chủ quan” Theo từ điển tóm tắt xã hội học bằng tiếng Nga thì: “Nhu cầu là đòi hỏi điều gì đó là cần thiết để đảm bảo hoạt động sống của cơ thể, của nhân cách con người, của nhóm xã hội hoặc toàn xã hội nói chung; là nguồn thôi thúc nội tại của hoạt động” Trong các nghiên cứu về nhu cầu, đáng chú ý nhất là mô hình Tháp nhu cầu 5
Trang 30tầng từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp của nhà tâm lý học người Mỹ, Abraham Maslow (1908 - 1970)
Biểu đồ1.1 Tháp nhu cầu của Maslow
Nguồn: Sách Một số lý thuyết thực hành Công tác xã hội, Joseph Walsh
Theo đó, các nhu cầu cơ bản, thiết yếu phía dưới, chẳng hạn ăn uống ngủ, nghỉ, được an toàn, được giao lưu, chia sẻ… là cơ sở, điều kiện tiến đến các nhu cầu cao hơn như được kính trọng, được phát triển, khẳng định bản thân mình Các nhu cầu bậc cao nảy sinh và mong muốn được đáp ứng khi và chỉ khi tất cả các nhu cầu cơ bản phía dưới
đã được thỏa mãn Trong tiểu luận, lý thuyết nhu cầu của Maslow được vận dụng để nghiên cứu nhu cầu văn hoá tinh thần nói chung, nhu cầu văn hoá tinh thần của thanh niên lao động nhập cư tại xã Hiếu Liêm nói riêng Sau những giờ làm việc vất vả và căng thẳng, những thanh niên này có mong muốn, khát khao được tham gia các hoạt động gặp
gỡ, giao lưu, nâng cao kỹ năng sống nhằm giải tỏa áp lực, tái tạo năng lượng Tuy nhiên,
do nhiều vấn đề như: mặc cảm về bản thân, mặc cảm là người nhập cư mà họ khó tiếp cận, khó hòa nhập và dường như bị lãng quên Hiểu được nhu cầu của đối tượng này, tác giả sẽ tìm cách kết nối với chính quyền địa phương, với các chủ trang trại để tạo điều kiện, môi trường sinh hoạt phù hợp cho các thanh niên lao động nhập cư được nâng cao
hơn về chất lượng đời sống văn hóa tinh thần
1.2.2 Thuyết Mạng lưới xã hội
Có thể nói, mỗi cá nhân, để tồn tại và phát triển, phải tham gia vào các mối quan
hệ xã hội, thực hiện những tương tác với các cá nhân khác trong xã hội, trong đó các mối
Khẳng định bản thân
Được tôn trọng Được yêu thương Được an toàn/ ổn định Nhu cầu sinh học
Trang 31quan hệ mà cá nhân tương tác được xem là mạng lưới xã hội của họ Theo (Caulkins, 1981), mạng lưới xã hội được hiểu là một cấu trúc xã hội hình thành bởi những cá nhân hay tổ chức Trong đó, các cá nhân thường được gắn kết bởi sự phụ thuộc lẫn nhau thông qua những nút thắt như tình bạn, quan hệ họ hàng, sở thích, trao đổi tài chính, quan hệ tình dục, mối quan hệ về niềm tin, kiến thức và uy tín Những điểm nút gắn kết cá nhân với xã hội chính là mối liên hệ xã hội của mỗi cá nhân.Trong đó, mạng lưới xã hội cũng
có thể được dùng như nguồn vốn xã hội và giá trị mà cá nhân có được thông qua nó và ngược lại.Kollmair, M và St Gamper (2002) xác định “vốn xã hội được sử dụng như mạng lưới và sự kết nối… và khả năng hợp tác giữa các thành viên trong các nhóm chính thức”.Bourdieu cho rằng vốn xã hội là tập hợp những nguồn lực thực tế gắn liền với việc nắm giữ một mạng lưới bền vững gồm các mối quan hệ quen biết và thừa nhận lẫn nhau (Lê Ngọc Hùng, 2008, tr 47).Mạng lưới xã hội còn được hiểu là “một tập hợp liên kết giữa các cá nhân hay các nhóm dân cư nhất định.Thông qua sự tiềm ẩn trong những mối liên hệ cũng như quyền lợi, trách nhiệm chi phối mối liên hệ đó, mạng lưới xã hội được
sử dụng nhằm đạt được mục đích nào đó” (Đặng Nguyên Anh, 1998) Khi tìm hiểu về mạng lưới xã hội, các nhà nghiên cứu thường tập trung vào các đối tượng yếu thế trong
xã hội như trẻ em đường phố, phụ nữ nghèo, người già…trong đólao động nhập cưlà một trong số các đối tượng được quan tâm.Mạng lưới xã hội là một khái niệm lý thuyết hữu dụng, được sử dụng trong khoa học xã hội để nghiên cứu mối quan hệ giữa con người với con người, giữa các nhóm, các tổ chức hay thậm chí là toàn xã hội (các tế bào xã hội) Khái niệm này được sử dụng để miêu tả một cấu trúc xã hội được hình thành bởi các tương tác đó.Trong xã hội, không một cá nhân nào có thể sống mà tách biệt được với nhóm, tập thể nhất định và theo quan điểm của K.Mark, “Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”, chính vì vậy các cá nhân luôn chịu sự tác động chi phối của các mối quan hệ này
Trong nghiên cứu này, mạng lưới xã hội được xem xét như tập hợp các mối quan
hệ xã hội do con người tạo nên và duy trì trong cuộc sống của mình Nó bao gồm tập hợp các quan hệ từ quan hệ gia đình, họ hàng, bạn bè đến các quan hệ trong tổ chức, đoàn thể, hiệp hội… Lê Ngọc Hùng (2008, tr 74) đã chia ra 3 mô hình mạng lưới xã hội: Mô hình kiểu truyền thống đặc trưng bởi các quan hệ gia đình, họ tộc, người thân quen; mô hình
Trang 32kiểu hiện đại đặc trưng với mối quan hệ chức năng của cá nhân trong tổ chức và thiết chế chính thức và mô hình kiểu hỗn hợp là sự kết hợp của 2 mô trình trên Tương tự như vốn
xã hội, mạng lưới xã hội của lao động nhập cư khi tác động đến sự hội nhập xã hội của họ cũng thể hiện ở 2 mặt: Tích cực và tiêu cực Điều đó có nghĩa khi mạng lưới xã hội của
họ rộng mở, phù hợp với quan hệ xã hội hiện đại thì quá trình hội nhập gặp nhiều thuận lợi và nhanh chóng; ngược lại khi mạng lưới xã hội là co cụm, mang tính truyền thống, thì tất yếu nó sẽ gây cản trở làm chậm quá trình hòa nhập này
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Xã Hiếu Liêm được chọn là vùng chuyên canh cây ăn trái có múi của huyện Bắc Tân Uyên, do vậy mà diện tích cây ăn trái (cam, quýt, bưởi) ở đây rất lớn 1.465 ha chiếm 43,18% trên tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp (3.393 ha) Đây là điều kiện thuận lợi để thu hút lao động nhập cư về sinh sống và lao động sản xuất, góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển Hiện nay, thanh niên lao động nhập cư chiếm 36,35% và phần lớn làm việc trong lĩnh vực thuần nông nghiệp tại 62 trang trại (Báo cáo số 669/BC-UBND, ngày 14/9/2021 của Ủy ban nhân dân xã) Đây là cơ hội và cũng là thách thức của địa phương khi phải vừa chăm lo đời sống vật chất, vừa đảm bảo về đời sống tinh thần và vừa phát triển kinh tế Qua việc làm rõ các khái niệm liên quan tới đề tài và việc chọn được các lý thuyết phù hợp ứng dụng vào nghiên cứu đã giúp tác giả định hướng cho việc phát triển đề tài nghiên cứu của mình Bên cạnh đó, việc xác định các phương pháp nghiên cứu theo hướng định lượng (68 bảng hỏi) và định tính (17 phỏng vấn sâu) Trong đó việc lựa chọn các thành phần, đối tượng phỏng vấn cụ thể, có sự chọn lọc giúp tác giả dễ dàng so sánh, đối chiếu để tìm ra những khoảng trống, những góc khuất trong đời sống văn hóa tinh thần của thanh niên lao động nhập cư tại xã Hiếu Liêm
Trang 33CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA THANH NIÊN LAO ĐỘNG NHẬP CƯ TẠI XÃ HIẾU LIÊM, HUYỆN BẮC TÂN UYÊN,
TỈNH BÌNH DƯƠNG 2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Xã Hiếu Liêm được thành lập và đi vào hoạt động từ ngày 01/01/2005 theo Nghị định số 190/2004/NĐ-CP, ngày 17/11/2004 của Chính Phủ; được sát lập địa giới hành chính từ một phần của xã Lạc An và một phần của xã Tân Định Hiếu Liêm có vị trí ở phía Đông của huyện Bắc Tân Uyên; phía Đông và phía Bắc giáp tỉnh Đồng Nai; phía Tây giáp xã Tân Định, Tân Thành, Đất Cuốc; phía Nam giáp xã Lạc An Toàn xã có 03 ấp,với 931 hộ, trong đó: thường trú 541 hộ, tạm trú 390 hộ và 3.326 nhân khẩu, trong đó:
thường trú 2007, tạm trú 1.319 (số liệu tính đến ngày 14/9/2021) Xã có diện tích tự nhiên
4.549,63 ha và được cấp trên quy hoạch là xã nông nghiệp với trên 80% hộ dân làm nghề chăn nuôi, trồng trọt.Cuối năm 2016, xã Hiếu Liêm được UBND tỉnh công nhận đạt chuẩn nông thôn mới theo Quyết định số 859/QĐ-UBND, ngày 03/4/2017 Bên cạnh đó, Đảng ủy – HĐND – UBND – UBMTTQ xã luôn quan tâm vấn đề an sinh xã hội và xem tình hình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở địa phương là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên chỉ đạo các ban ngành, đoàn thể tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến và áp dụng các chính sách hỗ trợ cho nông nghiệp, nông thôn Về các thiết chế văn hóa phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của người dân trên địa bàn xã, hiện tại xã Hiếu Liêm có Trung tâm Văn hóa, thể thao - Học tập cộng đồng được UBND huyện phê duyệt chủ trương đầu tư tại Quyết định số 2780/QĐ-UBND ngày 11/9/2019 với tổng diện tích 19.931 m2 Đến nay đã thi công hoàn thành giai đoạn 1 gồm các hạng mục như sau: sân khấu ngoài trời diện tích 120 m2, sân bóng đá diện tích 5.376 m2, 02 sân cầu lông diện tích 250 m2, sân bóng chuyền diện tích 360 m2 và các hạng mục phụ trợ (nhà thường, nhà vệ sinh chung, cổng, hàng rào, ) Hiện nay, đang tiếp tục đầu tư giai đoạn 2 gồm các hạng mục công trình như: khối khán phòng diện tích 698m2, khối học tập diện tích 624m2, sân chơi thiếu nhi diện tích 115m2
và các hạng mục phụ trợ nhà xe nhân viên, nhà máy bơm, máy phát điện Ngoài ra, toàn xã có 03/03 văn phòng ấp trên địa bàn đã được đầu tư xây dựng, nâng cấp sửa chữa đảm bảo diện tích đất quy hoạch nhà văn hóa trên 300m2
, khu thể thao
Trang 34500m2, quy mô nhà văn hóa đảm bảo sức chứa 150 chỗ ngồi, được trang trí, trang bị đầy
đủ hệ thống âm thanh, ánh sáng và các cơ sở vật chất cần thiết như: bàn, ghế,tủ sách, phục vụ nhu cầu hội họp, vui chơi giải trí của nhân dân Đồng thời, căn cứ Công văn số 303/SVHTTDL-QLVH, ngày 11/4/2019 của Sở Văn hóa thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dươngvề việc hướng dẫn thực hiện các tiêu chí văn hóa trong Bộ tiêu chí xã nông thôn mới nâng cao Theo đó, được sự thống nhất của Đảng ủy-HĐND-UBND-UBMTTQVN xã và nhân dân địa phương thống nhất sẽ tạm thời sử dụng Hội trường lớn của UBND xã làm trung tâm văn hóa xã Hội trường có diện tích 192,64 m2, với 200 chỗ ngồi, có trang có đầy đủ bàn ghế hội họp, có hệ thống loa, âm thanh, hệ thống cấp nước, cấp điện, phòng cháy chữa cháy, nhà vệ sinh đạt yêu cầu theo quy định của Thông tư số 05/2014 ngày 30/5/2014 của Bộ văn hóa, thể thao và du lịch để tổ chức các hội thi, hội diễn văn nghệ nhằm phụ vụ đời sống tinh thần cho cán bộ, công chức và nhân dân trên địa bàn xã Ngoài ra, trên địa bàn còn có 01 sân cầu lông, 02 sân bóng chuyền, 01 sân bóng đá có trang bị một số dụng cụ như lưới bóng chuyền, cầu lông và một số trang thiết
bị khác phục vụ tốt nhu cầu luyện tập và giao lưu thi đấu thể dục thể thao của nhân dân Năm 2021, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên việc tổ chức các hoạt động tập huấn, giao lưu văn hóa, văn nghệ thể dục thể thao trên địa bàn xã bị hạn chế Chủ yếu là các hoạt động chào mừng ngày kỉ niệm của đất nước và một số giải thi đấu nhỏ lẻ trong nhân dân
2.2 hái quát về khách thể nghiên cứu
2.2.1 Mẫu nghiên cứu định lượng
Tác giả đã lựa chọn 68 thanh niên, độ tuổi từ 16-30 (trong đó có 34 nam và 34 nữ) của 06 trang trại trên địa bàn xã Hiếu Liêm Đây là 06 trang trại tiêu biểu, có hiệu quả kinh tế cao, có số lượng công nhân độ tuổi thanh niên nhiều.Trong 06 trang trại này có 03 chủ trang trại là người địa phương (Lâm Thành Thương, Nguyễn Tấn Hiệp và Phạm Thành Phương) 03 chủ trang trại là người nơi khác (Sài Gòn) mua đất thành lập trang trại tại Hiếu Liêm, một tuần xuống trang trại một lần, còn lại chủ yếu giao cho người quản lý (Trần Đức Bình, Hồ Công Trường, Phạm Ngọc Minh) Mục đích tác giả chọn các trang trại người địa phương và người nơi khác tới là để có sự so sánh về mức độ quan tâm, hỗ
Trang 35trợ đối với công nhân của các chủ trang trại giống và khác nhau như thế nào Số lượng công nhân chọn mẫu của từng trang trại và đặc điểm mẫu nghiên cứu theo bảng 2.1, 2.2, phụ lục 1, phụ lục 2
Giới tính của người trả lời khảo sát
Qua kết quả khảo sát, tỉ lệ nam, nữ là ngang nhau (34 nam-34 nữ) điều này cho thấy công việc tại các trang trại trồng cây ăn trái có múi rất đa dạng, phù hợp cho cả nam và
nữ
Tuổi của người trả lời khảo sát
Về tuổi, trong số 68 thanh niên lao động được khảo sát ở nhiều độ tuổi khác nhau, tuổi đời bình quân 25,7 tuổi Người cao tuổi nhất là 30 tuổi và thấp nhất là 16 tuổi
Tình trạng hôn nhân
Trong 68 người được hỏi thì số người đã lập gia đình là 44 người, chiếm 64,7%, độc thân là 24 người chiếm 35,3% Cũng qua khảo sát, hầu hết các cặp vợ chồng cùng tới Hiếu Liêm làm việc (có thể cùng vườn hoặc khác vườn) nên thuận lợi cho việc hỗ trợ qua lại lẫn nhau
Có 15 người chưa từng được đi học, tương đương với 22,1% Trình độ Tiểu học
trở lên là 53 người, trong đó Tiểu học là 28 người chiếm tỷ lệ 41,2%, Trung học cơ sở là
23 người, chiếm tỷ lệ 33,8% và trình độ Trung học phổ thông là 2 người, chiếm tỷ lệ 2,9%
Trang 36Nơi xuất cư
Qua khảo sát thực tế cho thấy đa số người lao động nhập cư đến từ khu vực miền Tây Nam Bộ với 67 người chiếm 98,5%, còn lại 01 người đến từ miền Bắc chiếm 1,5%
2.2.2 Mẫu nghiên cứu định tính
Tổng cộng số lượng mẫu định tính là 17 người (7 nữ, 10 nam) Trong đó: lãnh đạo địa phương – những người làm chính sách là 5 người Chủ trang trại, người trực tiếp ảnh hướng tới đời sống của thanh niên lao động nhập cư là 02 người Công nhân đại diện cho các nhóm người (miền Bắc, miền Trung, miền Nam, dân tộc, địa phương) là 10 người Xem cụ thể dung lượng mẫu định tính tại bảng 2.3, phụ lục 3
2.2.3 Lý do định cư và các dự báo về mẫu nghiên cứu
Hầu hết thanh niên lao động nhập cư là người miền Tây Nam Bộ chiếm tỷ lệ cao 98,5% với 67/68 người Lý giải điều này là do các chủ trang trại đa số là người miền Tây, khi làm ăn có hiệu quả thì kêu gọi gia đình, người thân, bạn bè ở quê lên làm, vừa tạo công ăn việc làm, vừa tăng tình làng nghĩa xóm Đây cũng là điều khá đặc trưng đối với công nhân lao động ở Hiếu Liêm Do vậy mà đa số công nhân lao động trên địa bàn xã có thời gian làm việc tương đối lâu dài Trong 68 người được hỏi thì số người làm việc tại Hiếu Liêm từ 3 năm trở lên là 43 người, chiếm 63,2% Từ 1-2 năm là 25 người chiếm 36,8% Lý do đi làm ăn xa cũng vì phát triển kinh tế gia đình với 47 người, chiếm tỷ lệ 69%, còn lại là theo gia đình (cha mẹ, chồng, con) là 21 người, chiếm tỷ lệ 31% Do tâm
lý của thanh niên lao động là thích thay đổi, muốn trải nghiệm trong nhiều công việc Vì vậy thời gian 1 – 2 năm là để họ thăm dò về điều kiện làm việc, mức lương Nếu phù hợp thì họ tiếp tục ở lại làm và gắn bó lâu dài Còn không phù hợp thì họ chuyển qua nơi
khác, công việc khác hoặc về quê
Trước đây em có làm công nhân ở một số khu công nghiệp, nhưng thời gian gò bó, công việc nặng, lại mất tiền thuê trọ, chi phí sinh hoạt
mắc nên em nghỉ làm Được một số người ở quê giới thiệu, em mới lên
Hiếu Liêm thử xem sao, không được thì lại về quê Mình còn trẻ, còn khỏe
mà lo gì (PV số 14)
Trang 37Thấy chị em, bạn bè trong xóm rủ nhau làm vườn cam, em tò mò không biết làm vườn cam là làm gì thì mới đi theo chơi chơi Nhưng khi vô
làm thì thấy công việc thoải mái, lương ổn định, lại được chủ trang trại
xây phòng trọ cho ở miễn phí nên em ở lại làm luôn, tới nay cũng được 4
năm rồi” (PV số 15)
Do vậy cũng không quá ngạc nhiên khi 68/68 thanh niên được hỏi là công nhân trong các trang trại trồng cây ăn trái có múi (cam, quýt, bưởi) chiếm tỷ lệ 100% và 100% trong số họ thích công việc hiện tại đang làm Ngoài ra, những thanh niên lựa chọn ở lại gắn bó lâu dài trong các trang trại rơi vào số người đã có vợ/chồng (44 người, chiếm 65%) Áp lực kinh tế đòi hỏi họ phải ổn định nơi làm việc, vì ông bà xưa từng nói: có an
cư mới lạc nghiệp “Trước đây em cũng thích thay đổi chỗ làm lắm, chỗ nào làm không
hợp là em nghỉ xin chỗ khác liền Giờ lấy chồng rồi, chồng ở đâu thì mình phải ở đó, tụi
em chuẩn bị có con nữa, nên không thể cứ di chuyển hoài, cứ chạy chỗ này chỗ kia kiếm việc hoài được” (Nữ, người Khơmer, 23 tuổi, PV số 9) Vừa nói, chị vừa xoa xoa tay lên
bụng bầu đã 6 tháng “Ở đây chi phí rẻ hơn ở thành phố, không mất tiền thuê trọ, ông bà
chủ lại hiền lành, hai vợ chồng cùng làm một chỗ thì cũng tiện đưa đón nhau, không tốn thêm tiền mua xe, xăng cộ” (Nam, người Khơmer, 25 tuổi, PV số 8)
Hiện tại, không phải gia đình công nhân nào tại Hiếu Liêm cũng đủ điều kiện để đưa con theo làm ăn Vì chi phí cho một đứa trẻ không hề nhỏ, với mức lương hiện tại sẽ không đủ để trang trải cuộc sống gia đình nên họ đành chấp nhận sống xa con Tuy vậy, vẫn có 22 người được khảo sát đưa con theo làm ăn chiếm 39,7% Khi được hỏi đưa con lên có sợ sẽ tốn kém thêm chi phí không thì nhận được câu trả lời:
Tuy có tốn kém thêm chi phí, nhưng để con ở nhà cho ông bà thì nhớ con lắm Chi bằng cha mẹ, con cái đi đâu cũng có nhau, có rau ăn rau, có
cháo ăn cháo, đi làm về mệt nhìn thấy con cũng vui rồi Mà nói nào ngay,
gửi con ở quê tuy có đỡ tốn kém chi phí, nhưng chi phí đi lại mỗi lần về
thăm con cũng vậy, mà còn phải nghỉ làm, phải bắt xe về nữa (PV số 11)
Vừa nói chị vừa nhìn đứa con trai 2 tuổi đang chập chững đi ngoài sân
Trang 38Đáng chú ý là số lượng thanh niên lao động nữ có con trong độ tuổi còn rất sớm Qua phỏng vấn thực tế có những chị em mới 19 tuổi đã có con Thậm chí có người năm nay 23 tuổi nhưng đã có 3 đứa con, một trai, một gái và đang mang bầu 6 tháng Một độ tuổi còn quá sớm, chưa ổn định về tâm lý, về thể chất, về kinh tế Hay vợ chồng em công nhân kia, nay vừa tròn 20 tuổi mà đã bồng bế trên tay đứa con gần 1 tuổi Nhìn đứa bé mặt mũi lem luốc, còi cọc, đen nhẻm, không mặc quần đang bò lồm cồm trên nền nhà, tôi đành hỏi chuyện thì biết các em ở cùng xóm dưới quê, gặp nhau, yêu nhau rồi về ở chung với nhau chứ không đăng ký kết hôn hay làm lễ cưới gì Sanh con được 6 tháng, thấy ở quê nghèo quá nên vợ chồng, con cái bồng bế nhau lên Hiếu Liêm, nơi mà nhiều thanh niên trong xóm đang làm việc
Dựa vào các kết quả khảo sát ta thấy, trình độ văn hóa của thanh niên lao động nhập
cư trên địa bàn xã Hiếu Liêm đạt từ Tiểu học trở lên là khá cao, nhưng do lâu ngày không tiếp xúc với mặt chữ, nên một số thanh niên lao động không đọc được chữ nữa Đó là nguyên nhân mà họ phải làm ở vị trí công nhân với số lượng công việc nhiều, mức lương tương đối thấp Lương bình quân 5.550.000 đồng/người/tháng, trong đó trừ chi phí sinh hoạt gia đình, gửi về quê cho cha mẹ, con cái thì mỗi tháng dư được 835.000 đồng Đó là
trong trường hợp công nhân làm đủ 30 ngày, không mưa, không bệnh, không có sự cố gì
Khi được hỏi: Vì sao có trình độ mà không đi làm công nhân trong các công ty, lại
đi làm trong các trang trại trồng cây ăn trái? Nữ, người Kinh, 28 tuổi trả lời:
Công việc ở vườn cam tuy có nắng, mưa nhưng không gò bó về không gian và thời gian, nó cũng phù hợp với sức lao động của em Nếu nam làm các công việc nặng như: làm cỏ, xịt thuốc, bón phân thì nữ được làm các công việc nhẹ hơn như: vặt lá, cắt trái, lựa trái Xong giờ nào nghỉ giờ đó, nên em tranh thủ làm buổi trưa thì đầu chiều xong sớm là em có thể về lo cho chồng, con (PV số15)
Em cũng đã thử chạy xe ôm, nhưng ở đây ai cũng có ô tô, xe máy không ai có nhu cầu đi xe ôm hết Nên vô làm công nhân trong các vườn
cam luôn (PV số 10)
Trang 3964
30
23
10
Coi Tivi, lướt Zalo,
Do đã từng làm trong các trang trại nên em có thể lấy được trái cây giá gốc để bán, nhưng tiền thuê mặt bằng mỗi tháng cũng cả triệu bạc, mà
thấy nhà ai cũng có vườn cây trái, khách đi đường thì không nhiều nên lại
thôi (PV số 12)
2.3 Thực trạng đời sống tinh thần của thanh niên lao động nhập cư
2.3.1 Các sinh hoạt thường ngày
Với câu hỏi nhiều chọn lựa về nhu cầu giải trí của thanh niên lao động nhập cư trong 68 bảng hỏi cho thấy: có 64/68 câu trả lời xem TV hay lướt zalo, Facebook, chơi game, có 30/68 người trả lời hát Karaoke tại phòng trọ, 23/68 người trả lời là nhậu và chỉ
có 10/68 câu trả lời là vận động thể thao tại phòng trọ (xem biểu đồ 2.1)
Biểu đồ 2.1 Những nhu cầu giải trí thường làm
Nguồn: Khảo sát của đề tài tháng 6/2022
Thanh niên lao động nhập cư tại xã Hiếu Liêm thường nghỉ ngơi, giải trí vào cuối ngày, sau khi hết giờ làm (17 giờ chiều) Qua một ngày làm việc căng thẳng và mệt mỏi,
họ vội vã trở về phòng trọ tắm rửa, xem ti vi, lướt điện thoại, chơi game rồi tranh thủ đi ngủ Vật dụng giá trị duy nhất và quan trọng nhất của họ là chiếc điện thoại có thể lướt zalo, facebook Tuy nhiên, khi khảo sát đánh giá về mức độ quan trọng của mạng xã hội
Trang 40thì lại chia thành hai luồng ý kiến Ý kiến cho là “quan trọng và rất quan trọng” là 37/68 người chiếm 55% Còn lại cho rằng “bình thường và không quan trọng” là 31/68 người, chiếm tỷ lệ 45% Hầu hết thanh niên lao động đều có điện thoại thông minh, giá trị dao động từ 3 triệu đồng đến 7 triệu đồng Trong đó, điện thoại được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau Đối với những thanh niên chưa có gia đình, buổi tối nghỉ ngơi họ thường lên mạng để nhắn tin, hẹn hò, tâm sự với nhau, hoặc nghe nhạc, chơi vài ván game giải trí
trước khi đi ngủ Do vậy mạng xã hội là khá quan trọng với họ.“Em xa cha mẹ đi làm nên
cũng rất nhớ nhà, tối đến là em thường gọi zalo về cho mẹ để nói chuyện” (Nữ, người
Kinh, 23 tuổi, PV số 13) “Vợ chồng em gửi con cho ông bà ngoại lên đây đi mần Cả
ngày đi làm thì thôi, chớ tối về là phải gọi điện thoại có hình để nhìn thấy con cho đỡ nhớ Không được ở gần con, nhưng may có vụ gọi coi thấy hình này nên cũng biết mỗi ngày con thay đổi ra sao” (Vừa nói anh vừa bấm zalo của “bà nội thằng Tin” để cho gặp
thằng Tin, con trai anh) (Nam, người Kinh, 30 tuổi, PV số 16) Còn đối với những người
đã có gia đình riêng hoặc cha mẹ, con cái ở cùng với nhau thì mạng xã hội không quan trọng, vì thời gian ít ỏi buổi tối họ dành để chơi với con, nói chuyện phiếm với nhau vài
câu, rồi đi ngủ sớm Điện thoại chỉ dùng để gọi liên lạc khi cần thiết thôi.“Gì chứ về công
nghệ em không rành, có cái điện thoại hơn 4 triệu chồng em mới mua cho để mỗi lần đi đâu ổng gọi chứ nào có biết bấm, biết lướt gì đâu” (Nữ, người Kinh, 30 tuổi, PV số 17)
“Em thì cài zalo vô cái điện thoại này (vừa nói chị vừa chìa điện thoại đã được cài zalo
về phía tôi) để gọi cho người thân, bạn bè đỡ tốn tiền Chứ cũng không nhắn tin hay lên mạng gì cả Mà mỗi tháng cũng tốn mấy chục ngàn tiền 3G đó chị Vì ở trong chỗ trọ em không có wifi” (Nữ, người Kinh, 28 tuổi, PV số 15) Một chủ trang trại người địa phương
cho biết: “Trang trại mình không có wifi vì ở trên đồi cao, xa đường chính, chi phí kéo
cao quá, đã vậy mạng lại chập chờn, không ổn định Công nhân họ cũng không có thời gian để dùng wifi đâu, bớt được cái nào thì đỡ làm hư họ cái đó” (Cười) (PV số 7) Tuy
nhiên, một chủ trang trại không phải người địa phương lại có suy nghĩ khác: “Tuy trang
trại mình ở xa đường chính, nhưng mình vẫn kéo wifi để cho gia đình và công nhân sử dụng, họ đi làm cả ngày rồi thì tối cho họ có mạng để giải trí một chút Thông tin giờ rất nhiều, đúng có, sai có Việc chọn lọc thông tin là tùy công nhân thôi, mình không thể kiểm soát hết được” (PV số 6) Cùng là chủ trang trại, nhưng giữa chủ trang trại là người