1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa chính trị trong nhà trường quân đội

163 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn Hóa Chính Trị Trong Nhà Trường Quân Đội
Trường học nhà trường quân đội
Định dạng
Số trang 163
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn hóa có sức mạnh lan tỏa đến mọi phương diện của đời sống, giữ vai trò nền tảng tinh thần xã hội, là mục tiêu đồng thời trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển, tiến bộ của con người. Thế giới quan và phương pháp luận mác xít khẳng định, trong mối quan hệ với văn hóa, con người vừa là chủ thể nhưng cũng đồng thời là sản phẩm của văn hóa. Vớí tính cách là một bộ phận, một phương thức biểu hiện của văn hóa, văn hóa chính trị (VHCT) là hệ giá trị mang tính nhân văn, tiến bộ, có vai trò quan trọng trong việc định hướng và điều chỉnh đối với thái độ và hành vi chính trị của một cá nhân hay một cộng đồng. Văn hóa chính trị giúp chủ thể cũng như thể chế, thiết chế chính trị giữ được sự ổn định, minh bạch, tránh được nguy cơ tha hóa về chính trị, đặc biệt là trong điều kiện cầm quyền và thực thi quyền lực.

Trang 1

Vớí tính cách là một bộ phận, một phương thức biểu hiện của văn hóa, vănhóa chính trị (VHCT) là hệ giá trị mang tính nhân văn, tiến bộ, có vai trò quan trọngtrong việc định hướng và điều chỉnh đối với thái độ và hành vi chính trị của một cánhân hay một cộng đồng Văn hóa chính trị giúp chủ thể cũng như thể chế, thiết chếchính trị giữ được sự ổn định, minh bạch, tránh được nguy cơ tha hóa về chính trị,đặc biệt là trong điều kiện cầm quyền và thực thi quyền lực.

Thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước trong thời gian vừa qua đã chứngminh, những thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới xuất phát từ việc Đảng tanhìn nhận và đánh giá đúng vai trò quan trọng của văn hóa nói chung và VHCT nóiriêng Trong hơn 30 năm đổi mới, Đảng ta đã ban hành 29 nghị quyết, kết luận, chỉthị về văn hóa [38, tr.91], những văn kiện đó đã thể hiện bước tiến nhận thức lý luậncủa Đảng về văn hóa Tuy nhiên, trong văn kiện, Đảng ta cũng thẳng thắn chỉ rõ:

So với các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại,thành tựu trong lĩnh vực văn hóa chưa tương xứng; chưa đủ để tác động

có hiệu quả xây dựng con người và môi trường văn hóa lành mạnh Tìnhtrạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng vàtrong xã hội có chiều hướng gia tăng [38, tr.44-45]

Những hạn chế yếu kém đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó cónguyên nhân quan trọng do nhận thức về VHCT của chủ thể còn hạn chế, chưa theokịp yêu cầu của sự phát triển

Tại Đại hội XII, Đảng ta tiếp tục khẳng định phương hướng: “Xây dựng văn hóa trong chính trị và kinh tế Chú trọng chăm lo xây dựng văn hóa trong Đảng,

trong các cơ quan nhà nước và các đoàn thể; coi đây là nhân tố quan trọng để xâydựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh” [9, tr.95]

Trang 2

Đối với Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam, nhiệm vụ xây dựng và pháttriển văn hóa luôn được Quân uỷ Trung ương (QUTW) và Bộ Quốc phòng (BQP),trực tiếp là Tổng cục Chính trị quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, từ đó nhận thức về vănhóa của quân nhân ngày càng được nâng lên; mỗi đơn vị quân đội thực sự là mộtpháo đài vững chắc về chính trị, tư tưởng; là cái nôi nuôi dưỡng những giá trị vănhóa trong nhân cách quân nhân, bồi đắp phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, góp phần đấutranh ngăn chặn và đẩy lùi những lây nhiễm độc hại, những phản giá trị và tệ nạn xãhội, xây dựng tổ chức đảng luôn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, xây dựng đơn vị vữngmạnh toàn diện

Đối với nhà trường quân đội (NTQĐ) (trong luận án, nghiên cứu sinh sửdụng cụm từ NTQĐ thay cho nhà trường QĐND Việt Nam để đảm bảo ngắn gọn vàtạo sự thống nhất trong cách gọi tên), nơi đào tạo đội ngũ sĩ quan, những người cóvai trò hết sức quan trọng, kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trongtương lai, yêu cầu đặt ra cho nhiệm vụ xây dựng, phát triển văn hóa nói chung vàVHCT nói riêng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vừa mang tính đặc thù của hoạtđộng quân sự, vừa mang tính sư phạm, vì vậy ở đó có sự kết hợp chặt chẽ giữa yêucầu phát huy vai trò VHCT, với yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo

Trong tình hình hiện nay, vấn đề nâng cao VHCT trong NTQĐ đã và đangđặt ra những thách thức với những khó khăn, trở ngại: nhận thức của các chủ thể vềvăn hóa nói chung và VHCT nói riêng chưa thật đầy đủ, thiếu sâu sắc, chưa thực sự

đi vào chiều sâu bản chất; các giá trị VHCT chưa được phát huy; thực tiễn hoạtđộng văn hoá và VHCT còn thiếu sự thống nhất, mang tính hình thức, nhất thời,không có sự gắn kết với tình hình chung của đất nước, quân đội và đặc điểm củamỗi trường, thậm chí cực đoan, với các biểu hiện: suy thoái về tư tưởng chính trị,đạo đức, lối sống cá nhân chủ nghĩa; quan liêu, tham nhũng; nói nhiều làm ít; biểuhiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; chất lượng đào tạo của NTQĐ có mặt chưathực sự đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Đây là nguyên nhân dẫn đến những hệ lụy như: tư tưởng ngại học, ngại rèn, tâm lýđám đông, sự vô cảm, tình trạng bạo lực, quân phiệt gia tăng; những giá trị truyềnthống không được bảo lưu đầy đủ và phát huy; tiếp nhận và phổ biến tràn lan nhữnghiện tượng núp dưới danh nghĩa cái mới, cái hiện đại một cách thiếu chọn lọc ảnhhưởng trực tiếp đến đời sống văn hóa tinh thần của bộ đội và tác động xấu đến chấtlượng, hiệu quả hoạt động của đơn vị Thực trạng đó không chỉ tác động tiêu cực

Trang 3

Do vậy, đã đến lúc cần thiết phải có những nghiên cứu cơ bản, có hệ thốngnhững vấn đề lý luận và thực tiễn về VHCT trong NTQĐ hiện nay.

Xuất phát từ những tiền đề nêu trên, cho phép khẳng định, việc nghiên cứu

một cách cơ bản, có hệ thống Văn hóa chính trị trong nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay dưới góc độ văn hóa học là hướng nghiên cứu mang tính

khả thi, có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn sâu sắc, là vấn đề vừa mang tính cấpthiết vừa có ý nghĩa cơ bản lâu dài

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ lý luận và khảo sát, đánh giá thực trạng VHCT trong NTQĐ, từ đórút ra một số vấn đề về VHCT trong NTQĐ hiện nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến VHCT trong nhà trườngquân đội

- Làm rõ lý luận về VHCT trong nhà trường quân đội

- Khảo sát và đánh giá thực trạng của VHCT trong NTQĐ hiện nay

- Dự báo những yếu tố tác động, nhận diện những vấn đề đặt ra đối với VHCT trong NTQĐ hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là VHCT trong NTQĐ hiện nay, với tínhcách là một thiết chế văn hóa đặc thù trong môi trường sư phạm quân sự

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Văn hóa chính trị trong NTQĐ, trong đó chủyếu tập trung mô tả và khảo sát trên các biểu hiện: chủ thể VHCT; thang bậc giá trịVHCT; thể chế, thiết chế VHCT và hoạt động văn hóa chính trị

Trang 4

- Phạm vi không gian: luận án lựa chọn khách thể nghiên cứu là NTQĐ,trong đó tập trung khảo sát và đánh giá ở hai trường điển hình của quân đội về hailoại hình đào tạo: cán bộ chính trị và cán bộ quân sự, ở hai cấp độ đào tạo là cấp họcviện và cấp trường sĩ quan, đó là: Học viện Chính trị (HVCT) và Trường Sĩ quanLục quân 1 (TSQLQ1), trong đó có so sánh với Học viện Phòng không - Khôngquân

- Phạm vi thời gian: số liệu sử dụng trong luận án chủ yếu khảo được sáttrong giai đoạn từ 2016 - 2019

4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở phương pháp luận

Luận án được thực hiện dựa trên nền tảng lý luận chủ nghĩa Marx - Lenin; tưtưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) về vănhóa và con người; về giáo dục, đào tạo và các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo của QUTW

và BQP, Tổng cục Chính trị, các văn bản của NTQĐ để khảo sát, đánh giá làm rõbản chất, đặc điểm của VHCT trong NTQĐ hiện nay

4.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành

Xuất phát từ nhận thức, nghiên cứu văn hóa hay văn hóa học là chuyênngành khoa học về văn hóa, mang tính tổng hợp và liên ngành, luận án sử dụng tậphợp các quan điểm mang tính chất lý luận chuyên ngành văn hóa học và các phươngpháp liên ngành như: triết học văn hóa, xã hội học văn hóa, nhân học, chính trị học,giáo dục học và tâm lý học Quá trình vận dụng các phương pháp, luận án sử dụngmột cách linh hoạt, tổng hợp các thao tác chung trong nghiên cứu khoa học như:phân tích - tổng hợp, diễn dịch - quy nạp, mô tả, chứng minh, lý giải để làm rõ nhữngnội dung nghiên cứu

- Phương pháp phân tích tài liệu

Phương pháp này nhằm cung cấp những tri thức ban đầu về vấn đề nghiêncứu, làm nền tảng cho việc xây dựng mục tiêu, phương hướng của đề tài Đây làphương pháp được sử dụng xuyên suốt của đề tài từ khi hình thành ý tưởng cho tớikhi hoàn thành nghiên cứu Đồng thời, các thông tin cũng sẽ được sử dụng vào quátrình thực hiện đề tài nhằm miêu tả, làm rõ thực trạng VHCT trong NTQĐ hiện nay,trên cơ sở đó rút ra những nhận định khoa học nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụnghiên cứu của luận án

Các nguồn tài liệu bao gồm các bài viết trong tạp chí, tư liệu từ internet cóliên quan đến VHCT trong NTQĐ hiện nay; các báo cáo sơ kết, tổng kết hàng năm,

Trang 5

nhiệm kỳ của NTQĐ, của một số bộ, ngành có liên quan; trong đó tập trung chủ yếu

là các báo cáo tổng kết tại HVCT, TSQLQ1 và Học viện Phòng Không - Không quân

- Phương pháp quan sát, phỏng vấn và điều tra xã hội học

Phương pháp quan sát là một phương pháp bổ trợ được sử dụng để thu thậpthông tin về đối tượng nghiên cứu thông quan tri giác trực tiếp và ghi chép trungthực những nhân tố có liên quan đến đối tượng và mục đích nghiên cứu Trong luận

án, nghiên cứu sinh sử dụng cách thức quan sát công khai và không công khai, quansát cơ cấu hóa và quan sát phi cơ cấu hóa để mô tả đối tượng, để kiểm tra giả thuyết

và kiểm tra thông tin từ các phương pháp khác, nhằm làm rõ hơn và bổ sung cácthông tin mà tác giả thu thập được Nội dung quan sát chủ yếu tập trung vào cáckhía cạnh về hoạt động giảng dạy, học tập, các hoạt động định hướng, rèn luyện giátrị văn hóa cho học viên trong các nhà trường quân đội hiện nay

Phỏng vấn sâu là phương pháp thu thập thông tin của nghiên cứu xã hội họcthông qua việc tác động tâm lý - xã hội trực tiếp của người đi hỏi và người được hỏinhằm thu thập thông tin phù hợp với mục đích nghiên cứu Việc sử dụng phươngpháp này trong nghiên cứu không phải để tìm hiểu một cách đại diện về tổng thể màgiúp nhà nghiên cứu hiểu sâu, hiểu kỹ về vấn đề nghiên cứu Đây cũng là một trongnhững phương pháp thu thập thông tin quan trọng bởi vì có rất nhiều thông tin địnhlượng chỉ thực sự có ý nghĩa khi những thông tin đó kết hợp với những thông tin địnhtính thu được từ phỏng vấn sâu

Nghiên cứu phỏng vấn 30 trường hợp tại hai đơn vị là HVCT và TSQLQ1trong đó bao gồm các đối tượng là giảng viên và học viên cung cấp những thông tinphục vụ cho việc nghiên cứu của luận án Cụ thể 10 trường hợp đối với học viên, 20trường hợp đối với giảng viên, cán bộ quản lý ở hai trường khảo sát nhằm để thuthập những ý kiến đánh giá của họ về thực trạng định hướng VHCT và tìm ra nguyênnhân ưu, nhược điểm, đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong việc nâng cao VHCTcho các chủ thể

Thời gian cho một cuộc phỏng vấn tùy thuộc vào từng tiêu chí và đặc điểmđối tượng được phỏng vấn Công cụ thu thập thông tin là bản hướng dẫn phỏng vấnsâu đã được thiết kế sẵn [PL 2, tr.171-173]

Toàn bộ thông tin thu thập, sẽ được tiến hành tổng quan, sắp xếp, chia tư liệuthành các chủ đề với các tiêu chí về nội dung thông tin, cuối cùng là chọn lọc cácthông tin có giá trị để làm luận cứ, luận chứng cho luận án

Trang 6

6Điều tra bằng bảng hỏi là cách thức thu thập thông tin được sử dụng phổ biếntrong các nghiên cứu điều tra xã hội học Với những ưu điểm của phương pháp nàynhư: cho phép thu thập thông tin từ những tổng thể có quy mô lớn, có tính đại diệncao, xét trong điều kiện thực hiện luận án là phù hợp nên nghiên cứu sinh sử dụngphương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi làm phương pháp chủ đạo để thu thập thôngtin cho nghiên cứu này Đây là dữ liệu quan trọng để phân tích trong chương 3 vàchương 4 của luận án.

* Cách thức chọn mẫu

Lựa chọn xuất phát từ thực tế khách quan trong nghiên cứu, hiện nay hệthống các nhà trường QĐND Việt Nam được tổ chức rất đa dạng với số lượng trênhàng trăm nhà trường Vì vậy, tác giả chỉ lựa chọn hai nhà trường điển hình cụ thểtheo mục tiêu nghiên cứu của luận án là Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng (đạidiện khối học viện và thuộc nhóm trường chính trị) và Trường Sĩ quan Lục quân 1(đại diện cho khối trường sĩ quan, thuộc nhóm trường quân sự) để khảo sát và đánhgiá thực trạng VHCT trong NTQĐ hiện nay

* Cỡ mẫu nghiên cứu được tính theo công thức sau:

Trong đó:

N là số người cần điều tra

2

1 / 2 hệ số tin cậy = 1,96 với độ tin cậy 95% (xác xuất α = 0,05)

p = 0,5 là tỷ lệ học viên đang học tập tại hai địa bàn nghiên cứu

d là sai số chấp nhận bằng 5%

Như vậy, cỡ mẫu điều tra trong nghiên cứu mô tả theo công thức tính toán tốithiểu là 300 mẫu để khảo sát Đây là cỡ mẫu tối thiểu cho phép phân tích thống kê

Để tránh trường hợp đối tượng phỏng vấn từ chối trả lời, nghiên cứu sinh lấy thêm

40 mẫu dự phòng trong cùng một danh sách chọn mẫu Bằng cách này, nghiên cứu

đã đảm bảo được số lượng mẫu cần thiết 300 mẫu được khảo sát tại hai trường Đặcđiểm của mẫu khảo sát và người cung cấp thông tin được thể hiện trong (Phụ lục 3)

Công cụ thu thập thông tin là bảng hỏi được thiết kế theo một trình tự lôgic,gồm 7 câu hỏi (Phụ lục số 1) Tiến hành điều tra 300 mẫu, nhằm làm rõ thêm thựctrạng VHCT trong NTQĐ hiện nay

Z

Trang 7

* Cách thức xử lý thông tin:

Sau khi khảo sát và thu về được 300 đơn vị mẫu Toàn bộ thông tin thu được

từ bảng hỏi sẽ được tổng hợp, mã hoá, nhập, làm sạch và sẽ được xử lý qua phầnmềm SPSS version 22.0 theo các biến số cơ bản Kết quả cho thấy, nhìn chung chấtlượng số liệu đảm bảo độ tin cậy, logic, đáp ứng yêu cầu đặt ra của nghiên cứu

Trong luận án, tác giả sử dụng hệ số tương quan Pearson, mô hình hồi quylogit nhị phân (Binary Logistic) để phân tích sự tương quan giữa các yếu tố, kiểmđịnh giả thuyết

H0: không có mối quan hệ giữa các biến

H1: có mối quan hệ giữa các biến

Dựa vào giá trị p (p-value) để kết luận là chấp nhận hay bác bỏ giả thuyết H0dựa trên mức độ tin cậy nhất định (thông thường p <0,05)

p-value (sig.) ≤ α (mức ý nghĩa 0,05)  bác bỏ giả thuyết H0 Có mối quan

hệ có ý nghĩa giữa các biến cần kiểm định

p-value (sig.) > α (mức ý nghĩa 0,05)  chấp nhận H0 Không có mối quan

hệ giữa các biến cần kiểm định

* Các biến số độc lập được sử dụng

Các biến số độc lập được xem xét bao gồm: độ tuổi, cấp bậc quân hàm, họcviên năm mấy, trường đang học, điều kiện sống của gia đình học viên, nơi ở của họcviên sinh sống (trước khi học tập), v.v

- Phương pháp chuyên gia

Phương pháp này giúp nghiên cứu sinh có được những ý kiến tham khảo vàđịnh hướng từ các chuyên gia có trình độ cao và có những kinh nghiệm, hiểu biếtsâu sắc về những vấn đề liên quan để xem xét, nhận định, đánh giá về VHCT trongNTQĐ, đồng thời cũng là điều kiện để tác giả kiểm chứng và khắc phục những hạnchế trong quá trình nghiên cứu

5 Đóng góp mới của luận án

Trang 8

- Luận án hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận về VHCT; đưa raquan niệm về VHCT của QĐND Việt Nam và đặc điểm VHCT trong NTQĐ hiệnnay dưới góc độ văn hóa học.

5.2 Về thực tiễn

- Luận án khảo sát, đánh giá thực trạng VHCT trong NTQĐ, từ đó rút ranhững vấn đề làm cơ sở cho việc thúc đẩy, nâng cao VHCT trong NTQĐ, góp phầnnâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo cán bộ quân đội

- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảophục vụ trong nghiên cứu, giảng dạy và học tập trong NTQĐ, đồng thời luận án cóthể được sử dụng như một tài liệu bổ trợ giúp nâng cao chất lượng hoạt động côngtác đảng, công tác chính trị cho đội ngũ cán bộ chính trị nói chung và cán bộ làmcông tác văn hóa nói riêng trong môi trường quân đội

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận

án được kết cấu gồm 4 chương, 10 tiết, trong đó:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến văn hóa chính trịtrong nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam

Chương 2: Lý luận về văn hóa chính trị trong nhà trường Quân đội nhân dânViệt Nam và khái lược về khách thể nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng văn hóa chính trị trong nhà trường Quân đội nhân dânViệt Nam hiện nay

Chương 4: Những yếu tố tác động và một số vấn đề đặt ra đối với văn hóachính trị trong nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam

Trang 9

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN VĂN HÓA CHÍNH TRỊ TRONG NHÀ TRƯỜNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT

NAM

1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ VĂN HÓA CHÍNH TRỊ

1.1.1 Nghiên cứu văn hóa chính trị với tính cách là một thực thể xã hội

Tiếp cận nghiên cứu VHCT với tính cách là một khoa học chỉ thực sự bắtđầu từ những năm 50 của thế kỷ XX và được khởi xướng bởi các nhà nghiên cứuchính trị của châu Âu và Mỹ Tuy nhiên, sự thực hành VHCT và tư tưởng về VHCT

đã xuất hiện từ rất sớm cùng với sự xuất hiện của con người Khởi đầu của tư tưởng

về VHCT xuất phát từ việc tìm hiểu và giải thích bản chất và cách thức của sự caitrị (thuật cai trị) hay việc nắm giữ và ứng xử đối với quyền lực của các nhà tư tưởng

cổ đại cả ở phương Tây và phương Đông

Ở phương Tây, từ các nhà triết học Hy Lạp, La Mã cổ đại (thế kỷ V- TCN)cho đến các nhà tư tưởng thời kỳ Khai sáng (thế kỷ XVIII), VHCT được xem xétnhư là đối tượng nghiên cứu của triết học, nghĩa là được nghiên cứu với tính cáchmột thực thể xã hội Các nhà tư tưởng Hy Lạp, La Mã cổ đại tiêu biểu như Platon(428 - 348, TCN), Aristotle (384 - 322, TCN) là những người đầu tiên tiếp cậnVHCT và đưa ra quan niệm chính trị vừa là khoa học vừa là một nghệ thuật Có thểnói, Platon và Aristotle được xem là những người đi đầu trong cách tiếp cận VHCTtruyền thống phương Tây khi đặt ra được vấn đề quan điểm, thái độ ứng xử của conngười đối với quyền lực, đồng thời định hướng cách thức làm thế nào để quản lý tốtcác mối quan hệ xã hội; khẳng định vai trò của chính thể đối với người dân là thực

sự quan trọng

Nếu như trong tác phẩm “Nền cộng hòa” (The Republic), Platon đã cho

rằng, các chế độ chính trị truyền thống cần thiết phải được điều hành bằng một tầnglớp cầm quyền mới, đó là các nhà triết học được giáo dục tốt, bởi vì suy cho cùngmục đích của triết học là xây dựng nhà nước lý tưởng, trong khi nhân cách của conngười chỉ có thể được hoàn thiện trong một tổ chức nhà nước thực sự hợp lý, thìAristotle lại cho rằng, chính trị có vai trò quan trọng trong việc xác định sự tồn tạicủa con người và khẳng định “con người là động vật chính trị” Chính trị và luânthường có sự liên kết chặt chẽ với nhau, một đời sống có đạo đức chỉ thực sự có ởnhững người tham gia vào đời sống chính trị, mục đích cao nhất của chính trị và sứ

Trang 10

mệnh của người cầm quyền là không chỉ đảm bảo quyền sống mà còn đặt ra yêu cầuđòi hỏi phải làm thế nào để có được sống tốt hơn Các thể chế chính trị có nguy cơ

bị tha hóa nếu quyền lực không thực sự thuộc về quần chúng, Aristotle đã sử dụng

từ “demosthe” (quần chúng, dân thường) thay vì “democracy” (dân chủ) và

“ochlocracy” (chính quyền quần chúng hay thường dân cai trị)

Coi trọng và đề cao vai trò của các nhà triết học - những người có kỹ năngđặc biệt về quan sát tổng quan xã hội, Platon cho rằng: “Loài người sẽ không tránhđược cái ác cho tới khi các nhà triết học chân chính và biết tư duy đúng đắn chưagiữ được các chức trách nhà nước hoặc là các nhà cầm quyền chưa trở thành cácnhà triết học chân chính” [dẫn theo 149, tr.19]

Triết gia người Italia N.B Machiavelli (1469 - 1527) - “một trong nhữngngười khổng lồ của thời đại Phục hưng” (chữ dùng của F Engels), trong luận thuyết

về chủ nghĩa hiện thực chính trị qua tác phẩm “Quân vương” (The Prince) đã đề

nghị cần có một tầm nhìn thế giới về chính trị đồng thời lên án quan điểm đạo đứctruyền thống của giới cầm quyền với những hành vi chính trị xảo quyệt và thủ đoạn.N.B Machiavelli đã phê bình mạnh bạo tư tưởng duy lý phi tôn giáo, lòng căm ghétbọn quý tộc ăn bám và thể hiện khát vọng muốn xây dựng Italia thành một quốc giathống nhất, tự do, bình đẳng với một chính quyền mạnh, sử dụng bạo lực để xâydựng trật tự mới Học thuyết của ông đã được nhiều nhà lãnh đạo đương thời tiếpthu và thực hiện

Thời kỳ Khai sáng, thế kỷ XVIII cùng với sự bùng nổ của các tư tưởng triếthọc, các học thuyết chính trị xã hội cũng xuất hiện hết sức đa dạng và phong phúvới các tên tuổi như: J Loker; D Diderot; S L Montesquieu; J Rousseau

Tư tưởng về VHCT của S L Montesquieu (1689 - 1755) thể hiện ở chủtrương tam quyền phân lập nhằm giữ vững cán cân quyền lực Đây là tư tưởng tiến

bộ đương thời vì đã loại bỏ tư tưởng và tàn dư của chế độ phong kiến đồng thờicũng thể hiện tư tưởng VHCT cùng với những giá trị trí tuệ, tài năng của S L.Montesquieu Với J Rousseau (1712 - 1778), quyền lực phải thuộc về nhân dânthông qua đại diện và luật pháp không phải do các cơ quan đại diện ban hành màphải do dân chúng trực tiếp lập ra Mục tiêu của chính quyền nhà nước là phải bảođảm tự do, bình đẳng và công bằng cho tất cả mọi người Theo J Rousseau, triếthọc chính trị gắn liền với đạo đức, nhà nước không thực hiện được các giá trị đạo

đức thì sẽ không thực hiện đầy đủ

Trang 11

các chức năng vốn có của mình Có thể nói, tư tưởng chính trị của J Rousseau đãthể hiện tinh thần cấp tiến hơn so với các nhà tư tưởng đương thời.

Theo dòng thời gian, thuật ngữ VHCT được biết đến lần đầu tiên khoảngcuối thế kỉ XVIII ở châu Âu do các nhà triết học, chính trị học sử dụng Triết gia cổđiển Đức I G Gerzer (1744 - 1803), trong quá trình nghiên cứu mối quan hệ tương

tác giữa văn hóa và chính trị đã lần đầu tiên đưa ra khái niệm “VHCT”, “sự chín muồi của VHCT” hay “những đại biểu của VHCT” trong cuốn sách “Các phương pháp triết học lịch sử nhân loại”, năm 1784 [dẫn theo 47, tr.1].

Tuy nhiên phải đến thập niên 50 - 60 của thế kỉ XX, VHCT mới được quantâm như một lĩnh vực nghiên cứu mang tính độc lập và khái niệm VHCT mới thực

sự gia nhập vào hệ thống khái niệm, phạm trù của khoa học chính trị gắn với têntuổi của hai nhà chính trị học nổi tiếng người Mỹ là G Almond và S.Verba Theoquan niệm của họ, hành vi chính trị là một phần của hành vi xã hội, vì vậy khi xemxét hành vi chính trị phải tính đến các nhân tố văn hóa, tâm lý cá nhân và của toàn

xã hội Trong tài liệu nghiên cứu “Các hệ thống chính trị so sánh” (Comparative

Political Systems), năm 1956 [164], G.Almond cho rằng, văn hóa của cộng đồng cóảnh hưởng đến hệ thống chính trị của các cộng đồng đó và ông sử dụng thuật ngữ

“VHCT” (Political Culture) để so sánh, đối chiếu sự khác biệt giữa các nền chínhtrị Theo G Almond “Mỗi hệ thống chính trị đều bắt rễ từ trong một loại địnhhướng xác định riêng, tôi phát hiện thấy điều này rất hữu dụng và gọi nó là văn hóachính trị” [164, tr.15] Năm 1963 G Almond và S Verba đã xuất bản một trongnhững tác phẩm được xem là kinh điển cho nghiên cứu VHCT ở phương Tây là

“Văn hóa công dân” (The Civic Culture) [166], trong đó cho rằng, VHCT bao gồm

các yếu tố nhận thức chính trị, tình cảm chính trị và giá trị chính trị đồng thời đưa ra

ba loại hình cơ bản của VHCT trong lịch sử là văn hóa bộ lạc, văn hóa thần thuộc,văn hóa tham dự hay còn gọi là văn hóa công dân

Một trong những nhà nghiên cứu chính trị hàng đầu của Mỹ thế kỷ XX là L

Pye trong khi biên soạn “Bách khoa toàn thư khoa học xã hội quốc tế”

(International Encyclopedia of the Social Sciences) vào năm 1961 [169] đã đưa rađịnh nghĩa về VHCT như sau: “VHCT là một hệ thống thái độ, niềm tin và tìnhcảm; nó đem lại ý nghĩa và trật tự cho quá trình chính trị; nó bao gồm lý tưởngchính trị và quy phạm vận hành của một chính thể”, đồng thời khẳng định: “VHCT

là sản phẩm bao gồm lịch sử

Trang 12

tập thể của hệ thống chính trị và cả lịch sử đời sống của các cá thể trong hệ thống đó,

do đó, nó bắt rễ sâu xa trong lịch sử các sự kiện chung và lịch sử cá nhân” [169,

tr.220]

Ở phương Đông, Nho giáo đã mở đầu cho việc tiếp cận VHCT với tính cách

là một thực thể xã hội Bằng mệnh đề: “việc chính trị cốt ở chính tâm của người trịdân” [79, tr.429], Khổng Tử (551 - 479 TCN) cho rằng, những người trị dân lànhững “chính nhân quân tử”, khác với hạng “ tiểu nhân” và ông luôn đề cao vai trò,trách nhiệm của những người “quân tử” hay “người hiền” Quốc gia có “thái bìnhthịnh trị” hay không phụ thuộc vào việc giữ “Lễ”, tuân theo “Đạo” hay sự chínhdanh của người “quân tử” và yêu cầu phải giữ được “tam cương, ngũ thường”, đó

chính là “văn trị” (cai trị bằng văn) nghĩa là, chính trị phải có văn hóa Học thuyết

chính trị - đạo đức của Khổng Tử đã thể hiện rõ nét quan niệm về VHCT của ông, ở

đó chứa đựng những giá trị nhân văn, nhân bản sâu sắc và có ảnh hưởng sâu rộngđến VHCT của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới Tư tưởng “văn trị” củaKhổng Tử tiếp tục được các thế hệ học trò của ông kế thừa và phát triển, trong số

đó, phải kể đến Mạnh Tử (372 - 289 TCN), với tư tưởng “văn trị giáo hóa” và được

hiểu là chính trị gắn với giáo dục Theo Mạnh Tử, “chính giỏi không thể tranh thủ

được dân bằng giáo giỏi Chính giỏi thì dân sợ, giáo giỏi thì dân yêu” [32, tr.308].Mạnh Tử là người đề xuất chủ trương “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”,ông cũng là người đưa ra thuyết “tính thiện” của con người rằng con người sinh ra

đã là “thiện” rồi, “nhân chi sơ bản tính thiện”, tư tưởng này đối lập với thuyết “tínhác” của Tuân Tử rằng “nhân chi sơ bản tính ác” Ông cho rằng “kẻ lao tâm trị ngườicòn người lao lực thì bị người trị” Học thuyết của ông được gói gọn trong các chữ

“Nghĩa”, “Trí”, “Lễ”, “Tín” Mạnh Tử đề xuất tư tưởng người “quân tử” phải có

“hạo nhiên chính khí”, cần “lấy Đức thu phục người khác”, theo ông “người nhân từkhắp thiên hạ không có kẻ thù nào” [dẫn theo 149]

Vào thời kỳ “Bách gia chư tử”, ở Trung Hoa, Lão Tử (580 - 500, TCN) cũngđược xem là tư tưởng gia lỗi lạc trong việc đề xuất chủ trương cai trị với phương

châm “vô vi nhi trị”, nghĩa là cai trị bằng cách không cai trị Trong cuốn “Lão Tử Đạo đức kinh” [76] - cuốn sách hướng dẫn dành cho các vị vua về thuật cai trị đất

-nước như thế nào cho hợp với “Đạo”, ông cho rằng: “Không tán dương người quyềnquý thì người dân không tranh tụng” và “Không đề cao giá trị đồ quý thì người dânkhông tranh cướp” Như vậy, Lão Tử đã thể hiện một quan niệm mới trong cáchứng xử chính trị của bậc trị nước và đây cũng chính là cách tiếp cậnVHCT của ông

Trang 13

Vào cuối thời Chiến quốc, một nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn trong lịch sử

tư tưởng Trung Hoa cổ đại và cũng là một trong số “Bách gia chư tử” đã xuất hiện

đó là Hàn Phi, hay còn được biết đến với tên gọi là Hàn Phi Tử (281 - 233, TCN)

Là học trò của Tuân Tử (313 - 238, TCN), Hàn Phi theo thuyết “tính ác” củathầy một cách triệt để và cho rằng, con người bẩm sinh vốn “đại ác”, do đó ôngkhông bàn đến “Nhân”, “Nghĩa”, cũng không trọng “Lễ” như Tuân Tử, mà đề caophương pháp dùng “Thế”, dùng “Thuật”, dùng “Luật” của Pháp gia để trị nước.Khác với tư tưởng của Nho giáo (vốn cho rằng để quản lý xã hội thì phải dùng

“Nhân trị” và “Đức trị”), ông cho rằng cách tốt nhất để quản lý xã hội là dùng phápluật: “Pháp luật không hùa theo người sang Khi đã thi hành pháp luật thì kẻ khôncũng không từ, kẻ dũng cũng không dám tranh Trừng trị cái sai không tránh kẻ đại

thần, thưởng cái đúng không bỏ sót của kẻ thất phu” Bộ sách “Hàn Phi Tử” [152]

được xem là bộ sách chính trị học vĩ đại, học thuyết chính trị của ông được ngườixưa tụng ca là “đế vương chi học” Xét theo khía cạnh VHCT, tư tưởng “Pháp trị”của Hàn Phi Tử đã có những tiến bộ nhất định và ảnh hưởng tích cực đến đời sốngchính trị xã hội không chỉ dừng lại ở Trung Hoa cuối thời Chiến quốc

Tại Ấn Độ, thời kỳ cổ đại do ảnh hưởng của giáo lý Bà La Môn, bộ Luật

Manu xuất hiện (vào thế kỷ II, TCN) đã có những quy định chi tiết về cách ứng xử

và địa vị của từng đẳng cấp trong xã hội Đây thực chất là những luật lệ, những tậpquán thể hiện thế giới quan của giai cấp thống trị được tập hợp lại dưới dạng trường

ca Nội dung của bộ luật Manu không chỉ là những quan hệ pháp luật mà còn tập

trung vào những vấn đề trong kiến trúc thượng tầng của xã hội Ấn Độ cổ đại đươngthời như: chính trị, tôn giáo và thế giới quan, vũ trụ quan Những quy định khắt khe

mang tính phân biệt đối xử của bộ luật Manu làm cho xã hội Ấn Độ cổ đại bị phân

hóa sâu sắc Trong bối cảnh đó, Phật giáo ra đời (thế kỷ VI - IV, TCN) với chủtrương từ bi, hỷ xả nhằm cứu rỗi và xóa bỏ những kỳ thị về đẳng cấp trong xã hội

Ấn Độ đương thời Có thể nói, cùng với bộ luật Manu và sự ra đời của Phật giáo đã

thể hiện sự tiếp cận VHCT trong lịch sử văn hóa - văn minh của Ấn Độ nói riêng vànhân loại nói chung

Như vậy, cùng với sự xuất hiện của chính trị khi chế độ Công xã thị tộc tan

rã thì sự thực hành VHCT và tư tưởng về VHCT cũng được đề cập hết sức phongphú và đa dạng trong các tác phẩm của các nhà tư tưởng của cả phương Đông vàphương Tây từ cổ đại đến hiện đại Tuy nhiên, các nghiên cứu chuyên sâu và độclập

Trang 14

về VHCT với tính cách là thực thể xã hội chỉ thực sự được bắt đầu từ giữa nhữngnăm 50 của thế kỷ XX với sự ra đời của ngành chính trị học gắn liền với tên tuổicủa các nhà nghiên cứu phương Tây và Mỹ Trong tình hình hiện nay cho thấy,cũng như khái niệm và quan niệm về văn hóa, các khái niệm và quan niệm vềVHCT vẫn còn rất khó khăn để để đi đến sự thống nhất trong các trường phái, cácnhà nghiên cứu Mặt khác, những thành tựu đạt được trong nghiên cứu VHCT trênthế giới lại chủ yếu là do các nhà triết học, chính trị học đóng góp.

Ở Việt Nam, do chịu ảnh hưởng của những trào lưu tư tưởng và tôn giáo trênthế giới, tư tưởng về VHCT đã xuất hiện từ rất sớm, đặc biệt là sự chi phối của Phậtgiáo, Nho giáo trong thời kỳ độc lập tự chủ thế kỷ X đến thế kỷ XIX và văn hóaphương Tây giai đoạn giao thời cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã ảnh hưởng sâusắc đến lịch sử tư tưởng nói chung, VHCT Việt Nam nói riêng Nhìn chung, vấn đềtiếp cận VHCT ở Việt Nam thời kỳ đầu, chủ yếu được lồng ghép trong các nghiêncứu về văn hóa và các nhà nghiên cứu đã xem VHCT như một thành tố quan trọngcủa triết học và chính trị học, một số công trình đáng chú ý như:

Xuất phát từ góc độ triết học, Nguyễn Hữu Khiển (2006) trong công trình

“Phân tích triết học - Những vấn đề cơ bản về chính trị và khoa học chính trị”, Nhà

xuất bản Lý luận Chính trị, Hà Nội [70] đã tiếp cận nghiên cứu chính trị với tínhcách là một hình thái ý thức xã hội, chỉ ra bản chất của các mối quan hệ tư tưởng (ýthức) và thực tiễn đời sống chính trị - một bộ phận của đời sống xã hội đang vậnđộng Theo tác giả, VHCT thuộc phương diện bản chất của con người và tiếp cậnphạm trù VHCT từ “văn hóa” và “chính trị”, trong đó văn hóa được hiểu với nghĩarộng Xét về mặt bản chất, đặc trưng cơ bản nổi bật nhất của VHCT là “luôn luônđược đo bằng lập trường, quan điểm và lòng trung thành với lý tưởng chính trị, tínhtrung thực và khiêm nhường; kiên quyết, khéo léo, mưu lược, lòng nhân ái và vịtha; hướng về Nhân dân và phục vụ Nhân dân một cách có hiệu quả, tất cả nhữngđiều trên làm rõ bản chất của VHCT” [70, tr.100] Về mặt cấu trúc, tác giả cho rằng,

“VHCT là một hệ giá trị bao gồm nhiều nhân tố cấu thành có quan hệ hữu cơ vớinhau, tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau… hình thành nên một cấu trúc hoànchỉnh - một hệ thống - trên một cái nền chung là mục tiêu chính trị” [70, tr 100-101] Các yếu tố cấu thành VHCT bao gồm: trình độ trí tuệ và lý luận chính trị; lậptrường giai cấp của mỗi người và tổ chức chính trị; nhu cầu, thói quen, hành vi tự

Trang 15

giác, chủ động tích cực của mỗi người trong đời sống chính trị - xã hội tạo thành giátrị của họ trong đời sống cộng đồng; ý thức về sự đổi mới chính trị và định hướng

về sự đổi mới đó; nền tảng pháp lý của xã hội; chuẩn mực đạo đức trong quan hệ xãhội của các cá nhân trong đời sống và thái độ của các chính khách Tuy nhiên cáchtiếp cận và trình bày của tác giả xem ra còn thiên về nhấn mạnh và đề cao tính giaicấp Từ góc nhìn triết học, tiếp cận văn hóa với tính cách là một thực thể xã hội,

trong “Giáo trình triết học văn hóa” (Dùng cho đào tạo nghiên cứu sinh và học viên cao học), (2016) do Văn Đức Thanh (chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị Quốc

gia, Hà Nội, [110], mặc dù không trực tiếp đề cập đến khái niệm VHCT, tuy nhiênxuất phát từ góc độ triết học, trên nền tảng thế giới quan và phương pháp luận mác

xít, lấy khách thể nghiên cứu là văn hóa, các tác giả đã cho rằng: bản chất của văn

hóa dưới góc độ là một phương diện của đời sống xã hội thể hiện đậm đặc trongmối liên hệ biện chứng giữa văn hóa với cách mạng xã hội, tiến bộ xã hội, trong đó,

“có thể coi lý luận cách mạng là nội dung sâu sắc của văn hóa chính trị” [110,tr.41] Ở mức độ cụ thể hơn, các tác giả khẳng định:

Hệ thống quan điểm lý luận chính trị, hệ thống thể chế chính trị, thiết chếchính trị cùng các hoạt động chính trị của giai cấp cách mạng, tiến bộ vớimục tiêu vì con người, tự nó đã mang đậm giá trị văn hóa với tính cáchdấu ấn của con người và cộng đồng lên lĩnh vực chính trị của một giaicấp, quốc gia, dân tộc nhất định được phong hóa theo thời gian và tácđộng trở lại đối với bản thân nền chính trị đó [110, tr.44]

Điểm đáng chú ý là trong mục “Các nguyên lý của sự phát triển văn hóa”,các tác giả khẳng định, về mặt hệ thống - cấu trúc: “Hơn nữa bản thân chính trị cũng

là một thành tố của văn hóa - VHCT - trong xã hội có đối kháng giai cấp” [110,tr.97]

Từ góc độ chính trị học, xuất phát từ vị trí, vai trò của VHCT đối với việc

bồi dưỡng cán bộ, đã có một số công trình như: “Văn hóa chính trị và việc bồi dưỡng đội ngũ lãnh đạo ở nước ta hiện nay”, (1995), do Phạm Ngọc Quang (Chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội [100]; “Nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo quản lý ở nước ta hiện nay”, (2006), Lâm Quốc Tuấn, Nhà

xuất bản Văn hóa Thông Tin và Viện Văn hóa, Hà Nội [149] Theo đó, các tác giả

đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về VHCT và cho rằng, nói đến văn hóa là nóitới con người, VHCT gắn liền với chủ thể chính trị, trong đó cán bộ lãnh đạo quản

Trang 16

lý giữ vai trò là nhân tố quyết định sự thành công hay thất bại của cách mạng Khi

đề cập VHCT với tính cách là hệ giá trị thì đó là một hệ thống các hoạt động, cácquan hệ, các thiết chế chính trị phản ánh đầy đủ các dấu hiệu chân, thiện và mỹ Từ

đó, cho thấy yêu cầu nâng cao VHCT cho cán bộ lãnh đạo quản lý là một tất yếukhách quan và đề ra phương hướng, nội dung giải pháp để nâng cao VHCT cho đội

ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý ở nước ta hiện nay Nhóm tác giả “Tập bài giảng Chính trị học”, (2007) do Nguyễn Văn Vĩnh (Chủ biên), Viện Khoa học Chính trị,

Nhà xuất bản Lý luận Chính trị, Hà Nội [160], trong khi khẳng định chính trị học làkhoa học nghiên cứu chính trị như một chỉnh thể trong tính hệ thống, cung cấpnhững kiến thức cơ bản về chính trị và chỉ ra những vấn đề có tính quy luật làm cơ

sở vận dụng có hiệu quả vào các hoạt động chính trị nói chung, trong đó VHCT

được xem như một thành tố quan trọng; “Chính trị học - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”,(2007) do Nguyễn Văn Huyên (Chủ biên), Nhà xuất bản Lý luận Chính

trị, Hà Nội [67], cho rằng, VHCT như là một đối tượng nghiên cứu của chính trị

học; “Bước đầu tìm hiểu những giá trị văn hóa chính trị truyền thống Việt Nam”,

(2009), Nguyễn Văn Huyên - Nguyễn Hoài Văn - Nguyễn Văn Vĩnh, Nhà xuất bảnChính trị Quốc gia, Hà Nội [68], trong khi khẳng định chính trị có vai trò hết sứcquan trọng trong thực tiễn, bản chất chính trị, lý tưởng chính trị, trình độ hoạt độngchính trị hướng tới một xã hội nhân đạo, nhân văn, tất cả vì sự phát triển và tiến bộ

của xã hội và con người, điều đó nói lên VHCT của một nền chính trị; “Văn hóa chính trị và lịch sử dưới góc nhìn văn hóa chính trị”, (2010) của Phạm Hồng Tung, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội [150], trong đó, tác giả làm rõ các khái

niệm cơ bản có liên quan và được sử dụng phổ biến trong khoa học chính trịphương Tây cũng như của phương Đông Bên cạnh những thành tựu mới trongnghiên cứu VHCT, tác giả còn có những đóng góp trong việc khẳng định vai trò củaVHCT không chỉ đối với chính trị học mà còn là khách thể nghiên cứu và có ý

nghĩa phương pháp luận đối với một số ngành khoa học xã hội; “Văn hóa chính trị

Hồ Chí Minh với việc xây dựng văn hóa chính trị Việt Nam” (Sách chuyên khảo),

(2016) của Nguyễn Minh Khoa, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội [73].Cuốn sách đã trình bày những vấn đề cơ bản về lý luận văn hóa và VHCT, đồngthời khẳng định, VHCT Hồ Chí Minh là một di sản tinh thần vô giá cần được gìngiữ và phát huy Tác giả cho rằng, VHCT là một bộ phận của văn hóa, đó là một

bộ phận tinh thần của đời

Trang 17

sống xã hội, là tổng thể các giá trị, định hướng, quan điểm, sự ứng xử mẫu mựccủa các chủ thể chính trị và đóng vai trò then chốt đối với hoạt động của mọi thể

chế chính trị; “Văn hóa chính trị Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế”,

(2017) do Phan Xuân Sơn chủ nhiệm đề tài, Viện Chính trị học - Học viện Chính

trị Quốc gia Hồ Chí Minh, (Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài khoa học cấp Bộ năm 2016), [107] từ cách tiếp cận theo tầng nội dung của VHCT với các

giá trị cốt lõi của VHCT Việt Nam như: chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa cộngđồng, chủ nghĩa nhân văn, tinh thần thân dân, tinh thần hòa hiếu và tinh thầnthượng võ, các tác giả đã cố gắng làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn vềVHCT trong bối cảnh hội nhập quốc tế; chỉ ra thực trạng biến đổi của VHCT ViệtNam trong hội nhập cũng như những hạn chế và đề xuất giải pháp xây dựng vàphát triển VHCT Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế

Dưới góc độ chính trị học, VHCT cũng được lựa chọn làm đề tài của các

luận văn, luận án và đã được bảo vệ thành công như:“Văn hóa chính trị Việt Nam

và vai trò của nó đối với công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay”, (1998), luận văn

thạc sĩ của Lê Tấn Lập, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh;

“Văn hóa chính trị của đội ngũ giảng viên đại học nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp”, (2004), luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thanh Thủy, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; “Văn hóa chính trị Hồ Chí Minh - Giá trị lý luận và thực tiễn”, (2015), luận án tiến sĩ của Nguyễn Hữu Lập, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh); “Văn hóa chính trị của công an nhân dân trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay”, (2017), luận án tiến sĩ của Tạ Thành

Chung, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh [24]

Nhìn chung, các luận văn và luận án đã tập trung luận giải những vấn đề lýluận chung về VHCT, khảo sát thực trạng VHCT Việt Nam, từ đó đưa ra nhữngquan niệm, phương hướng giải pháp để phát triển VHCT đáp ứng yêu cầu thực tiễn.Cùng với các công trình nêu ở trên cũng đã có nhiều bài báo đăng trên cáctạp chí chuyên ngành nhằm công bố những kết quả nghiên cứu chính trong tiếp cậnnghiên cứu VHCT, một số bài viết đáng chú ý:

“Văn hóa chính trị, một bình diện hợp thành của đối tượng và nội dung nghiên cứu của chính trị học”, (1992) của Hoàng Chí Bảo, trong “Một số vấn đề về khoa học chính trị”, Viện Mác - Lênin; “Văn hóa chính trị - một cách nhìn trong thời

Trang 18

kỳ đổi mới”, (1998) của Trần Đình Huỳnh, Tạp chí Xây dựng Đảng số 10, 11; “Vai trò của văn hóa chính trị trong việc hình thành phẩm chất và năng lực của người cán

bộ lãnh đạo chính trị”, (2003) của Nguyễn Văn Vĩnh, Thông tin Chính trị học; “Về văn hóa chính trị”, (2004) của Văn Hải, Tạp chí Lý luận chính trị số 5; “Tiếp cận triết học về văn hóa chính trị và xây dựng văn hóa chính trị Việt Nam hiện nay”, (2005) của Nguyễn Văn Huyên, Thông tin Chính trị học số 1; “Văn hóa chính trị Việt Nam trong thời kỳ đổi mới”, (2010) của Phạm Huy Kỳ, Tạp chí Cộng sản “Xây dựng, phát huy văn hóa chính trị của Đảng Cộng sản trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, (2014) của Phùng Hữu Phú, Tạp chí Cộng sản số 856;

“Văn hóa chính trị”, (2016) của Nguyễn Hữu Đổng, Tạp chí Lý luận chính trị số 2…

Xét một cách tổng quát, từ góc độ chính trị học, trên cơ sở hạt nhân củachính trị là vấn đề quyền lực, các tác giả đã xem VHCT như một thành tố quantrọng của chính trị và là đối tượng nghiên cứu của chính trị học Quá trình nghiêncứu, các nhà chính trị học đã cố gắng nêu lên những khía cạnh bản chất, chỉ ra đặctrưng, cấu trúc của VHCT, đồng thời đưa ra những khuyến nghị, những giải phápmang tính định hướng nhằm đề cao, phát huy và phát triển VHCT trong công cuộcxây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

1.1.2 Nghiên cứu văn hóa chính trị với tính cách là hệ giá trị

Khi đặt vấn đề xem xét, VHCT với tính cách hệ giá trị, các nhà nghiên cứutrên thế giới cũng như ở Việt Nam đều nhấn mạnh và đề cao vai trò của văn hóa nóichung và VHCT nói riêng trong thực tiễn đời sống

Ở phương Tây thế kỷ XX đã có những tác giả, những trường phái có đónggóp quan trọng cho sự hình thành, phát triển khái niệm, quan niệm, cấu trúc VHCT

và nhấn mạnh những đóng góp của VHCT đối với sự tiến bộ xã hội Alexis deTocqueville khi nghiên cứu VHCT Mỹ để tìm câu trả lời cho sự thành công củanước Mỹ đã khái quát các giá trị VHCT của Mỹ bao gồm: tự do, bình đẳng, dânchủ, chủ nghĩa cá nhân, nhà nước pháp quyền, chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa tư bản

và thị trường mở; D Kavannagh năm 1972, [168] và W Rosenbaum (1995) [170]

đã cho xuất bản các tác phẩm về “Văn hóa chính trị” (Political Culture); W J

Patzelt thuộc trường phái Passau của Đức (1992); định nghĩa của Trường Đại họcTổng hợp California ở Berkeley của Mỹ (2006); định nghĩa của trường phái họcthuật Heidelberg của Đức (2007)

Trang 19

Ở Nga, thời kỳ tồn tại nhà nước Liên bang Xô Viết, các nhà nghiên cứu mácxít không quan tâm bàn riêng về VHCT mà chủ yếu quan tâm đến khái niệm vănhóa vô sản nhằm phân biệt với văn hóa tư sản, vì vậy VHCT và văn hóa vô sảntrong nhiều trường hợp được xem như khái niệm đồng nghĩa Sau khi Liên Xô tan rã,những nghiên cứu về VHCT đã có sự phân hóa theo hai hướng là bảo thủ hay cấptiến, tạo nên sự đa dạng trong cách tiếp cận nghiên cứu VHCT của nước Nga.Những tên tuổi tiêu biểu của trường phái chính trị học Nga như E I Batalov; Iu S.Pivovarov…

Các nhà chính trị học Nga đã không nhất trí với các nhà chính trị học phươngTây khi quy VHCT về các khuôn mẫu xác định nào đó và cho rằng điều đó sẽ chịuảnh hưởng bởi thiên kiến chủ quan của nhà nghiên cứu và dễ bị nhầm lẫn về bảnchất bởi những hiện tượng bề ngoài và cho rằng: cấu trúc cơ bản của VHCT baogồm văn hóa về ý thức chính trị, văn hóa hành vi chính trị và văn hóa vận hành cácthiết chế chính trị của nhà nước [dẫn theo 149, tr.24-25]

Xuất phát từ góc độ văn hóa học, nhóm tác giả của“Từ điển bách khoa văn hóa học”, năm 2002 A.A Radugin (chủ biên), do Vũ Đình Phòng dịch, Viện

nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật ấn hành [104], cho rằng, VHCT là một khu vựcchuyên môn hóa riêng biệt của văn hóa, thể hiện trình độ văn minh, phương thứchoạt động của các thiết chế chính trị, các tổ chức chính trị trong xã hội, với ba cấp

độ chính bao gồm: thế giới quan, nhận thức chính trị của công dân và ý thức chínhtrị; VHCT có hai mô hình chính yếu là: chuyên chế - tổng tài và dân chủ - tự do Từ

đó, các nhà nghiên cứu văn hóa Nga quan niệm: “VHCT là một phần của đời sốngvăn hóa tinh thần của xã hội, bao gồm các kiến thức chính trị, các định hướng giátrị, các mẫu mực ứng xử (cá nhân, nhóm, giai cấp, cộng đồng) trong mối quan hệchính trị trong một thời điểm lịch sử nhất định” [104, tr.564]

Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu Trung Quốc hiện nay, VHCT cònđược gọi là văn minh chính trị và được ghi nhận như một nội dung quan trọng cùng

với văn minh tinh thần và văn minh vật chất Trong “Trung Quốc đại bách khoa toàn thư”, đã định nghĩa: “Văn minh chính trị là sự tổng hòa các thành quả chính trị

do con người cải tạo xã hội mà có, thông thường nó biểu hiện thành mức độ thựchiện dân chủ, tự do, bình đẳng, giải phóng con người trong một hình thái xã hộinhất định” Ở một khía cạnh khác, tác giả Ngu Sùng Thắng của Trường Đại học VũHán cho rằng: “Văn minh chính trị, xét từ trạng thái tĩnh, nó là toàn bộ thành quả

Trang 20

tiến bộ đạt được trong tiến trình chính trị; xét từ trạng thái động, nó là quá trình tiếnhóa cụ thể trong sự phát triển chính trị xã hội loài người” [dẫn theo 149, tr.26].

Tiếp cận VHCT với tính cách là hệ giá trị, các nhà nghiên cứu văn hóa ViệtNam đã có sự tiếp nhận các thành tựu nghiên cứu VHCT từ phương Tây và Mỹ để

nghiên cứu VHCT, một số công trình tiêu biểu như: “Văn hóa chính trị Việt Nam truyền thống và hiện đại”, (1998) của Nguyễn Hồng Phong, Nhà xuất bản Văn hóa

Thông tin, Hà Nội [99] Đóng góp của tác giả được thể hiện qua những tổng kết cógiá trị tham khảo và định hướng trong việc nghiên cứu VHCT truyền thống nóiriêng và sự biến đổi của văn hóa truyền thống nói chung qua các giai đoạn lịch sửdân tộc nhằm hướng tới những vấn đề có tính chiến lược trong việc phát huy vàphát triển các yếu tố nội sinh cũng như ngoại sinh trong công cuộc phát triển đấtnước Tác giả nhấn mạnh, tư tưởng lấy dân làm gốc (dĩ dân vi bản) có ảnh hưởngsâu đậm đến văn hóa dân tộc và khẳng định: mặc dù chịu ảnh hưởng của tư tưởngNho giáo Trung Hoa nhưng cấu trúc của văn minh - văn hóa Việt Nam là Làng -

Nước, chứ không phải Nước - Nhà như văn hóa Trung Hoa; “Vai trò văn hóa trong hoạt động chính trị của Đảng ta hiện nay”, (2000) do Trần Văn Bính (Chủ biên),

Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội [15], dưới ánh sáng của chủ nghĩa Marx - Lenin,trên tinh thần đổi mới, các tác giả đã tiếp cận và luận giải những vấn đề cơ bản vềvăn hóa trong lãnh đạo chính trị của ĐCSVN hiện nay Có thể nói, đây côngtrình nghiên cứu quan trọng góp phần làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn công

tác xây dựng Đảng dưới góc độ văn hóa; “Văn hóa chính trị Việt Nam”, (2014), (Giáo trình Cao học) của Viện Văn hóa và Phát triển do Lê Quý Đức biên soạn,

Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội [47], từ góc độ vănhóa học, giáo trình đã khái quát quá trình hình thành khái niệm VHCT cũng như cơcấu và chức năng của VHCT, trình bày những nét cơ bản về VHCT Việt Nam quacác thời kỳ Xuất phát từ lý thuyết cấu trúc - chức năng, tác giả quan niệm:

Văn hóa chính trị là một bộ phận (thành tố) của văn hóa tổ chức xã hội,

bị quy định bởi trình độ đặc trưng văn hóa của một cộng đồng người (bộlạc, bộ tộc, dân tộc - quốc gia) trong việc tổ chức đời sống cộng đồng,bằng việc nắm giữ quyền lực, thực thi quyền lực và tham gia vào côngviệc của bộ máy quyền lực của cộng đồng, thể hiện ra như một “kiểu”,

“dạng”, “nền”, “hệ thống”chính trị nhất định trong lịch sử [47, tr.17];

Trang 21

“Văn hóa trong chiến lược phát triển của Việt Nam”, (2014) do Đinh Xuân Dũng

(Chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội [28] Xuất phát từ vị trí, vaitrò của văn hóa trong chiến lược phát triển của Việt Nam, trên cơ sở nhận diện vănhóa với tính cách là hệ giá trị, các tác giả đã chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa vănhóa với các thành tố cơ bản của đời sống xã hội và đề ra nhiệm vụ trung tâm củavăn hóa trong chiến lược phát triển Theo đó, VHCT là yếu tố hợp thành hệ giá trịvăn hóa, thể hiện ở tầm tư tưởng, tầm trí tuệ của tổ chức và con người chính trị,VHCT cho thấy, tổ chức hay đảng phái chính trị đó là dân chủ hay chuyên quyềnđộc đoán, hiệu quả hay không hiệu quả

Cũng đã có luận án tiến sĩ văn hóa học tiếp cận VHCT trong một giai đoạn

lịch sử dân tộc, như: “Văn hoá chính trị thời thịnh Trần”, (2018), luận án tiến sĩ

của Nghiêm Thị Thu Nga, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh [93], thôngqua mô tả diện mạo và khái quát những giá trị tiêu biểu của VHCT thời thịnh Trần,tác giả đã rút ra những bài học đối với sự nghiệp xây dựng VHCT nước ta hiện nay.Nhìn chung, từ góc độ văn hóa học, các nhà nghiên cứu đã xem VHCT như

là một thành tố của văn hóa tổ chức xã hội, là một yếu tố hợp thành hệ giá trị vănhóa được biểu hiện ở tư tưởng, nhân cách, những chuẩn mực, khuôn mẫu và truyềnthống trong hoạt động chính trị

Tuy nhiên, thực tế nghiên cứu cho thấy, sự phân chia trong cách tiếp cậnVHCT với tính cách là một thực thể xã hội hay với tính cách là hệ giá trị trên thế giớicũng như ở Việt Nam trong phần tổng quan cũng chỉ mang ý nghĩa tương đối Trong

xu thế nghiên cứu văn hóa hiện nay, để nghiên cứu một hiện tượng văn hóa, một loạihình văn hóa, một nền văn hóa… các nhà nghiên cứu ít khi tuyệt đối hóa một lýthuyết hay một cách tiếp cận nào đó mà thường vận dụng cách tiếp cận tổng hợp vàliên ngành

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ VĂN HÓA CHÍNH TRỊ TRONG NHÀ TRƯỜNG QUÂN ĐỘI

1.2.1 Tình hình nghiên cứu văn hóa trong quân đội

Xuất phát từ vị trí, vai trò của công tác tư tưởng văn hóa trong quân đội, thờigian qua được sự quan tâm của QUTW và BQP, trực tiếp là Tổng cục Chính trị,công tác nghiên cứu về tư tưởng và văn hóa trong quân đội đã đạt được bước tiếnnhất định, góp phần quan trọng xây dựng QĐND Việt Nam vững mạnh về chính trị,

tư tưởng và tổ chức, luôn luôn sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi

Trang 22

Trong khuôn khổ của luận án chỉ xin được đề cập một số công trình nghiên

cứu về văn hóa quân sự có liên quan: “Công tác tư tưởng văn hoá trong xây dựng quân đội về chính trị”, (2000), Tổng cục Chính trị, Nhà xuất bản QĐND, Hà Nội

[118] Theo đó, tác giả khẳng định, công tác tư tưởng văn hoá là một bộ phận khôngthể tách rời của toàn bộ hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội

Ở mỗi giai đoạn lịch sử, trước mỗi bước ngoặt của cách mạng, công tác tư tưởngvăn hoá đã khẳng định được vai trò, tầm quan trọng trong củng cố trận địa chính trị

tư tưởng, nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội Sở dĩ như vậy là vì, trong quátrình tiến hành công tác tư tưởng văn hoá, đã thường xuyên kết hợp giữ vững tínhđịnh hướng với việc đa dạng hoá các hình thức hoạt động của công tác này, chỉ nhưvậy mới có thể bám sát sự vận động của tình hình chính trị - xã hội thế giới, khuvực và của đất nước, thực tiễn hoạt động của bộ đội để đưa ra những giải pháp kịpthời, khoa học phục vụ sự nghiệp xây dựng quân đội, đáp ứng nhiệm vụ xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và yêu cầu của cuộc đấu tranh trên mặt trận tư

tưởng lý luận hiện nay; “Giáo trình Văn hóa học”, (2009), Tổng cục Chính trị, (dùng cho đào tạo bậc đại trong các nhà trường quân đội hiện nay), Nhà xuất bản

QĐND, Hà Nội [126] Xuất phát từ mục tiêu nhằm cung cấp cho học viên sĩ quannhững vấn đề lý luận về văn hóa nói chung và văn hóa quân sự nói riêng, tác giả đã

hệ thống hóa, làm sâu sắc hơn về phương diện lý luận triết học về văn hóa và vănhóa quân sự trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận mác xít, qua đó góp phầnxây dựng quân đội vững mạnh về chính trị Giáo trình đã tiếp cận văn hóa quân sựvới tính cách là một bộ phận đặc thù của đời sống văn hóa xã hội, tính đặc thù thểhiện ở “sự thống nhất giữa tính mực thước, nghiêm cách với tính năng động, mềm

dẻo” [126, tr.50]; “Văn hóa quân sự Việt Nam - truyền thống và hiện đại”, (2014),

Văn Đức Thanh (Tổng chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội [109].Cuốn sách là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện, xuyênsuốt sự phát triển của văn hóa quân sự Việt Nam trên nền tảng lý luận và sự kháiquát khoa học tổng hợp; làm sâu sắc quan niệm khoa học về văn hóa quân sự; gópphần nhìn nhận, đánh giá sự phát triển của văn hóa quân sự Việt Nam theo góc nhìntruyền thống và hiện đại qua suốt chiều dài lịch sử Các tác giả khẳng định: văn hóaquân sự là một bộ phận đặc thù của văn hóa xã hội với những quan hệ đặc trưng củavăn hóa như: truyền thống - hiện đại, phổ quát - bản sắc, thống nhất - đa dạng, đồngthời cũng

Trang 23

là những đặc trưng cơ bản của văn hóa quân sự Quá trình phát triển của văn hoáquân sự Việt Nam gắn liền với quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của dântộc Việt Nam Tuy nhiên, sự phát triển của văn hoá quân sự Việt Nam còn vận độngtheo những quy luật đặc thù nhằm xây dựng con người quân sự theo những tiêu chíriêng đáp ứng tối đa nhu cầu của hoạt động quân sự Từ đó, tác giả đi đến khẳngđịnh: thống nhất - đa dạng, phổ quát - bản sắc, truyền thống - hiện đại là những đặctrưng cốt lõi của văn hoá quân sự Việt Nam Quá trình phát triển văn hoá quân sựhiện nay cần chú ý đến đặc điểm đó để xác định đúng nội dung, phương pháp, tiếnhành nhằm không ngừng mở rộng và làm giàu thêm các giá trị văn hoá quân sự hiện

có, tạo điều kiện để phát triển, hoàn thiện nhân cách quân nhân, nâng cao sức mạnhchiến đấu của quân đội, mà trước hết là sức mạnh về chính trị - tinh thần Đây là nộidung cốt lõi trong xây dựng văn hoá quân sự Việt Nam, tạo nền tảng văn hoá để

đánh giặc và thắng giặc bằng văn hoá.

Khi tiếp cận khai thác mảng đề tài văn hóa quân sự, các nghiên cứu đã tậptrung luận giải những vấn đề lý luận về văn hóa, giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”,thực trạng môi trường văn hóa quân sự có ảnh hưởng đến việc hoàn thiện nhân cáchcủa người quân nhân cách mạng, từ đó khuyến nghị những giải pháp nhằm phát huy

và phát triển những giá trị văn hóa quân sự Một số công trình đáng chú ý như:

“Nuôi dưỡng giá trị văn hóa trong nhân cách người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam”, (1999) do Đinh Xuân Dũng (Chủ biên), Nhà xuất bản QĐND, Hà Nội

[26] Các tác giả đã tiếp cận toàn bộ môi trường quân sự, hoạt động quân sự dướigóc độ văn hoá, qua đó khẳng định: nhân cách người chiến sĩ QĐND Việt Nam là

sự tương tác biện chứng giữa quân nhân với toàn bộ môi trường, trong đó họ sống

và hoạt động dưới góc độ văn hoá, là sự kết tinh cao nhất những giá trị văn hoátrong truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc Môi trường văn hóa quân sự

là nơi nuôi dưỡng, phát triển và hoàn thiện những giá trị “Người” trong nhân cáchquân nhân Từ cách tiếp cận đó, các tác giả cho rằng, sự nghiệp xây dựng quân độicách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, về thực chất là một quá trình

văn hoá hoá toàn bộ đời sống quân sự để phát triển những phẩm chất cao quý trong

nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ”

Để xây dựng quân đội cách mạng, thực sự vững mạnh về chính trị tư tưởng,cùng với gìn giữ, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc và quân độicần

Trang 24

quan tâm giải quyết hài hoà quan hệ thống nhất - đa dạng trong quá trình xây dựng,phát triển môi trường văn hóa quân sự Đây là một yêu cầu rất cao trong xây dựngquân đội hiện nay Vì vậy, quá trình triển khai, tổ chức thực hiện phải từng bướcgiải quyết tốt mối quan hệ bên trong và bên ngoài, truyền thống và hiện đại, phổquát và bản sắc, làm cho các giá trị đó “hoá thân” vào các giá trị văn hoá quân sự,thành các giá trị văn hoá trong nhân cách quân nhân Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng,các giá trị văn hoá trong môi trường văn hóa quân sự không phải là bất biến, cùngvới sự phát triển của xã hội, của quá trình hợp tác, giao lưu văn hoá, các hệ giá trị

đó cũng có những biến đổi nhằm theo kịp yêu cầu của sự phát triển Bởi lẽ đó theotác giả, quan hệ giữa chính quy và văn hoá cũng là quan hệ văn hoá; chính quykhông chỉ hiểu đơn thuần là chính quy về điều lệnh, điều lệ, chế độ, nền nếp màcòn là chính quy về văn hoá; vì thế, bản thân chính quy đã bao hàm thống nhất - đadạng của văn hoá;

Tác giả Phạm Bá Toàn trong cuốn “Giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ (Qua hồi

ký, nhật ký chiến tranh)”, (2012), Nhà xuất bản QĐND [116], trên cơ sở khai thác

những giá trị của các hồi ký, nhật ký chiến tranh của các tướng lĩnh, sỹ quan đã kháiquát thành sáu giá trị văn hóa tiêu biểu trong nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ”, đó là:Trung với nước; hiếu với dân; tình đồng đội; kỷ luật tự giác nghiêm minh; lạc quanyêu đời và tính nhân nghĩa

Công trình “Nâng cao văn hóa lãnh đạo của đội ngũ chính ủy, chính trị viên

ở đơn vị cơ sở Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay”, (2010), Viện Khoa học Xã

hội Nhân văn quân sự - BQP, Nhà xuất bản QĐND, Hà Nội [153] Theo đó, các tácgiả đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực tiễn về văn hóa lãnh đạo và văn lãnhđạo của đội ngũ chính ủy, chính trị viên ở đơn vị cơ sở, nêu lên thực trạng, nguyênnhân và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao văn hóa lãnh đạo cho đội ngũ cán bộchính trị cấp cơ sở trong QĐND Việt Nam Các tác giả quan niệm, văn hóa lãnh đạo

là một bộ phận cấu thành của nền văn hóa, bao gồm tổng hòa những dấu ấn sáng tạo

và nhân văn theo tiêu chí chân, thiện, mỹ trong các hệ thống, tổ chức, bộ máy conngười lãnh đạo và các hình thức hoạt động lãnh đạo gắn liền với thiết chế cộngđồng xã hội

Văn hóa lãnh đạo, hiểu theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ những thành tố bêntrong mang dấu ấn của nhà lãnh đạo cùng sự thể hiện ra bên ngoài bởi hoạt độnglãnh đạo cũng như những thành tựu lãnh đạo được nhìn nhận theo tiêu chí chân,thiện, mỹ Hiểu theo nghĩa hẹp, văn hóa lãnh đạo của nhà lãnh đạo chính trị thể hiện

Trang 25

như một hệ thống thang bậc giá trị xã hội, đòi hỏi sự lãnh đạo phải được thực hiệnmột cách chân, thiện, mỹ.

Về cấu trúc, văn hóa lãnh đạo bao gồm các thành tố: tư tưởng, tâm lý, chuẩnmực và biểu tượng Các thành tố đó được biểu hiện ở trí tuệ lãnh đạo; bản lĩnhchính trị; phẩm chất, đạo đức lối sống và năng lực lãnh đạo, phương pháp tác phong

công tác.Với cách hiểu như trên, các tác giả khẳng định: đối với ĐCSVN, văn hóalãnh đạo là một trong những hệ giá trị tiêu biểu quan trọng nhất của VHCT Mặc dù

đã có sự phân biệt giữa hoạt động lãnh đạo và quản lý, giữa lãnh đạo và chỉ huytrong hoạt động quân sự và thừa nhận văn hóa lãnh đạo là một trong những hệ giátrị tiêu biểu quan trọng nhất của VHCT nhưng các tác giả vẫn chưa có sự phân biệtrạch ròi giữa văn hóa lãnh đạo và VHCT và có trường hợp nhóm tác giả sử dụng

cụm từ văn hóa lãnh đạo chính trị:

Trong các xã hội có giai cấp đối kháng, văn hóa lãnh đạo chính trị là một biểu hiện tất yếu nền văn hóa Song, đến lượt nó, bản thân văn hóa lãnh đạo chính trị cũng là một hệ thống hoàn chỉnh, được cấu thành bởi

nhiều yếu tố, nhiều vòng, nhiều tầng, có quan hệ chặt chẽ với nhau, tức

là được thể hiện trong công việc lãnh đạo tập thể và trong cá nhân nhàlãnh đạo [153, tr.13]

“Nhập thân văn hóa trong phát triển nhân cách Bộ đội Cụ Hồ của thanh niên quân đội hiện nay” (2012), luận án tiến sĩ triết học của Hoàng Đình Chiều, Học

viện Chính trị - Bộ Quốc phòng [23] Xuất phát từ góc độ triết học văn hóa, tác giảluận án đã tiếp cận và làm rõ những khía cạnh bản chất, những vấn đề có tính quyluật nhập thân văn hóa trong phát triển nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ” của thanh niênquân đội; đánh giá thực trạng; dự báo xu hướng và đề xuất những giải pháp mangtính định hướng nhập thân văn hóa trong phát triển nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ” củathanh niên quân đội hiện nay Theo tác giả, nhập thân văn hóa là quá trình conngười tiếp nhận giá trị văn hóa và định hình văn hóa đối với các yếu tố hợp thànhnhân cách của họ trong một môi trường xã hội nhất định Điểm đáng chú ý trongluận án là đã tiếp cận nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ” với trọng tâm là những phẩm chất

xã hội cơ bản như: “Phẩm chất chính trị, đạo đức, văn hóa; phẩm chất trí tuệ; trình

độ chuyên môn, nghiệp vụ quân sự; phong cách tác phong sinh hoạt và hoạt độngquân sự được điển hình hóa theo tư tưởng, đạo đức, tác phong Hồ Chí Minh, phản

Trang 26

ánh tính đặc thù của nhân cách trong lĩnh vực quân sự” [23, tr.28] Những vấn đề cótính quy luật trong nhập thân văn hóa được tác giả chỉ ra, đó là: từ tiếp nhận giá trịvăn hóa đến định hình văn hóa trong nhân cách và từ định hình văn hóa đến tỏasáng nhân cách văn hóa, đây chính là con đường biện chứng của quá trình nhập thânvăn hóa trong phát triển nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ” của thanh niên quân đội.

1.2.2 Tình hình nghiên cứu văn hóa và văn hóa chính trị trong nhà trường quân đội

Nhận thức được vị trí, vai trò quan trọng của NTQĐ, nơi đào tạo ra đội ngũ

sĩ quan trong tương lai, QUTW và BQP đã có những chỉ đạo nhằm nâng cao chấtlượng đào tạo cán bộ gắn với xây dựng và phát triển môi trường văn hóa trong cáchọc viện, trường sĩ quan Đặc biệt, thời gian gần đây, những nghiên cứu về văn hóatrong NTQĐ đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học và đã có

một số công trình luận án tiêu biểu như: “Quan hệ thống nhất - đa dạng trong phát triển môi trường văn hóa quân sự ở các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay”, (2009), luận án tiến sĩ triết học của Đỗ Văn Ngoan, Học viện

Chính trị - Bộ Quốc phòng [94] Xuất phát từ quan niệm, đặc trưng cơ bản của vănhóa là tính phổ quát và bản sắc, được biểu hiện tập trung ở hai quan hệ chính:thống nhất - đa dạng và truyền thống - hiện đại Để thúc đẩy văn hóa phát triển,cần thiết phải giải quyết một cách khoa học, hài hòa cả hai quan hệ nói trên:

Quan hệ thống nhất - đa dạng trong phát triển môi trường văn hóa quân

sự ở các trường sĩ quan là sự tương tác biện chứng giữa hai xu thếhướng điểm và hướng diện, phản ánh xu thế vừa ràng buộc, phụ thuộc,quy định lẫn nhau, vừa vận hành theo cơ chế riêng và tác động qua lại,đồng thời xâm nhập, chuyển hóa lẫn nhau giữa thống nhất văn hóa và đadạng văn hóa [94, tr.9]

Trong hoạt động quân sự, đặc biệt là đối với các trường đào tạo sĩ quan những người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tương lai, đòi hỏiphải xây dựng và phát triển môi trường văn hóa quân sự thật sự lành mạnh góp phầnxây dựng và phát triển nhân cách người sĩ quan Bởi vì, môi trường văn hóa quân sự

-ở các trường sĩ quan QĐND Việt Nam, theo tác giả quan niệm:

Là một chỉnh thể thống nhất giữa các giá trị văn hóa sư phạm quân sự,quan hệ văn hóa sư phạm quân sự, hoạt động văn hóa sư phạm quân sựvà

Trang 27

thiết chế văn hóa sư phạm quân sự trong một không gian và thời gian xácđịnh, thường xuyên tác động đến quân nhân nhằm hình thành, phát triểnnhân cách học viên sĩ quan theo mục tiêu đào tạo xác định [94, tr.50];

“Văn hóa thẩm mỹ trong nhà trường Quân đội hiện nay”, (2017), luận án

tiến sĩ văn hóa học của Phạm Văn Xây, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh[162] Xuất phát từ góc độ văn hóa học, tác giả đã tiếp cận nghiên cứu văn hóa thẩm

mỹ với tư cách là một lĩnh vực văn hóa đặc thù biểu hiện trình độ phát triển cao củavăn hóa, phản ánh mối quan hệ thẩm mỹ của con người đối với hiện thực thông quahoạt động thẩm mỹ, tác giả luận án quan niệm:

Văn hóa thẩm mỹ là một chỉnh thể các giá trị thẩm mỹ được kết tinh từtất cả các hoạt động thụ cảm, sáng tạo, nhận thức… thẩm mỹ của conngười trong một cộng đồng văn hóa nhất định, đồng thời có tác động trởlại không thể thiếu đối với đời sống thẩm mỹ của con người và cộngđồng theo những thiết chế văn hóa nhất định [162, tr.32]

Văn hóa thẩm mỹ có vai trò rất quan trọng trong NTQĐ, thể hiện: góp phầnđáp ứng nhu cầu thẩm mỹ và phát triển đời sống tinh thần của quân nhân; góp phầnhoàn thiện nhân cách và xây dựng tập thể quân nhân, đồng thời góp phần nâng cao

chất lượng dạy học và nghiên cứu khoa học trong NTQĐ; “Định hướng giá trị văn hóa của học viên đào tạo sĩ quan trong các trường Quân đội”, (2017), luận án tiến

sĩ văn hóa học của Nguyễn Vương Bình, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội [14].Xuất phát từ góc độ văn hóa học, trên cơ sở lý thuyết nhập thân văn hóa, tác giảluận án đã tập trung làm rõ nội dung, phương thức và đặc điểm định hướng giá trịvăn hóa cho học viên đào tạo sĩ quan; dự báo những nhân tố tác động, xu hướngđịnh hướng giá trị văn hóa đồng thời đặt ra vấn đề nâng cao định hướng giá trị vănhóa cho học viên đào tạo sĩ quan Tác giả luận án quan niệm: “Định hướng giá trịvăn hóa của học viên đào tạo sĩ quan là sự tiếp nhận, thâu hóa và tỏa sáng giá trị vănhóa của mỗi học viên, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành, phát triển nhâncách người học viên đào tạo sĩ quan quân đội, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quân sự”

[14, tr.33]; “Xây dựng văn hóa chính trị Hồ Chí Minh cho học viên đào tạo chính

ủy trung, sư đoàn ở Học viện Chính trị hiện nay”, (2017), (Báo cáo tổng hợp kết

quả nghiên cứu đề tà cấp Học viện) do Nguyễn Hữu Lập (Chủ nhiệm đề tài), Họcviện Chính trị [75] Theo đó, “Văn hóa chính trị Hồ Chí Minh là những giá trị chân,thiện và mỹ được Người sáng

Trang 28

tạo trong quá trình hoạt động cách mạng của mình, bao gồm một hệ thống cácchuẩn mực về tư tưởng, hành vi và nhân cách chính trị” [75, tr.5] Các tác giả tậptrung khẳng định vai trò của VHCT Hồ Chí Minh đối với nhiệm vụ xây dựng độingũ chính ủy trung, sư đoàn, từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu xây dựngVHCT Hồ Chí Minh cho học viên đào tạo chính ủy trung, sư đoàn ở HVCT hiệnnay.

Nhìn chung, công tác tư tưởng văn hóa trong quân đội có vai trò rất quantrọng, là nhân tố trực tiếp tạo ra sức mạnh chính trị tinh thần, góp phần quan trọngtạo nên sức mạnh tổng hợp của quân đội Bằng thế giới quan và phương pháp luậnmác xít, các nghiên cứu đã chỉ ra: văn hóa quân sự là một phận đặc thù của đời sốngvăn hóa xã hội, một giá trị độc đáo của văn hóa Việt Nam trong lịch sử giữ nước vàdựng nước của dân tộc Việt Nam, thể hiện ở sự thống nhất giữa tính mực thước,nghiêm cách với tính năng động, mềm dẻo Để góp phần xây dựng quân đội cáchmạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, cần thiết phải đẩy mạnh công tácnghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệuquả công tác tư tưởng văn hóa trong quân đội

Nhà trường quân đội là nơi đào tạo sĩ quan chỉ huy, những người có vai tròquan trọng kế tục sự nghiệp xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc trong tương lai, vìvậy yêu cầu đặt ra cho nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hóa, trước hết là nângcao VHCT cho các chủ thể trong NTQĐ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Thời giangần đây đã có những nghiên cứu chỉ ra những vấn đề mang tính quy luật như nhậpthân văn hóa hay quan hệ thống nhất - đa dạng dưới góc độ triết học văn hóa;nghiên cứu văn hóa thẩm mỹ, nghiên cứu định hướng giá trị trong NTQĐ dưới góc

độ văn hóa học Về VHCT, đã có những nghiên cứu nhằm nâng cao văn hóa lãnhđạo hay xây dựng VHCT Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ chính trị trong quân đội.Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập một cách tổngthể, trực tiếp đến VHCT trong NTQĐ, vì vậy, đây được xem là khoảng trống trongnghiên cứu mà mục tiêu luận án hướng tới

1.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đánh giá chung

Qua trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến VHCT trongNTQĐ ở trên, có thể rút ra một số vấn đề làm cơ sở cho sự nghiên cứu tiếp theocủa luận án:

Trang 29

Thứ nhất, văn hóa là lĩnh vực rộng lớn, có liên quan đến toàn bộ hoạt động

của con người Nói tới văn hóa là nói tới lực lượng bản chất người, vì sự hoàn thiện,phát triển toàn diện con người, là thước đo trình độ tiến hóa của con người Cácnghiên cứu về VHCT trên thế giới cũng như ở Việt Nam đều xuất phát từ vị trí, vaitrò của văn hóa nói chung và VHCT nói riêng đối với đời sống con người Nhìnchung, dù tiếp cận VHCT tính cách là một thực thể xã hội hay là với tính cách là hệgiá trị, các nghiên cứu đều có điểm chung trong việc khẳng định, VHCT là một bộphận của văn hóa xã hội, có sức mạnh lan tỏa đến mọi phương diện, thấm sâu vàocác lĩnh vực của đời sống, là nền tảng tinh thần xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là độnglực thúc đẩy sự phát triển, tiến bộ của con người, con người vừa là chủ thể nhưngcũng vừa là sản phẩm của văn hóa, trong đó có văn hóa chính trị

Trong giai đoạn hiện nay, tiếp cận nghiên cứu văn hóa nói chung và VHCTnói riêng nhằm phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xãhội chủ nghĩa là việc làm có ý nghĩa thiết thực Sự phong phú, đa dạng về thành tựutrong cách tiếp cận và luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn về VHCT trongcác nghiên cứu như trình bày trong phần tổng quan đã chứng minh điều đó Trước

sự vận động và phát triển hết sức mau lẹ của thực tiễn, đòi hỏi cần phải tiếp tục lýgiải và làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn trong xây dựng và phát triển vănhóa nhằm phát huy tốt hơn nữa vai trò của VHCT, trong đó tập trung nâng caoVHCT cho các chủ thể, làm cho văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, độnglực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển tiến bộ xã hội

Thứ hai, với tính cách là một bộ phận của văn hóa, VHCT là hệ giá trị mang

tính nhân văn, tiến bộ, có vai trò quan trọng trong việc định hướng và điều chỉnhđối với thái độ và hành vi chính trị của một cá nhân hay một cộng đồng, VHCTgiúp các chủ thể chính trị cũng như thể chế, thiết chế chính trị giữ được sự ổn định,minh bạch, tránh được nguy cơ tha hóa về chính trị, đặc biệt là trong điều kiện cầmquyền và thực thi quyền lực

Sự thực hành VHCT và tư tưởng về VHCT đã có từ rất sớm ở cả phươngĐông và phương Tây Tuy nhiên, khái niệm VHCT chỉ thực sự gia nhập vào hệthống khái niệm với tư cách là một thuật ngữ khoa học vào giữa thế kỷ XX ởphương Tây Những thành tựu trong nghiên cứu về VHCT phương Tây đã có ảnhhưởng sâu rộng trong giới khoa học quan tâm đến văn hóa và VHCT ở tất cả các

Trang 30

quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam Trải qua quá trình phát triển về mặt lýluận cũng như thực tiễn, cho đến nay VHCT đã được tiếp cận nghiên cứu từ nhiềugóc độ như triết học, chính trị học và đã khẳng định được vai trò trong tiến trìnhphát triển của mỗi cộng đồng, quốc gia - dân tộc.

Tuy nhiên, văn hóa bao giờ cũng mang tính chủ thể, VHCT của một dân tộc,một cộng đồng luôn phán ánh bản sắc của dân tộc và cộng đồng đó, đồng thời mangđậm dấu ấn của các chủ thể Cho nên việc nghiên cứu văn hóa nói chung và VHCTnói riêng dưới góc độ văn hóa học, gắn với một cộng đồng nhất định luôn là mộtyêu cầu mang tính cấp thiết Điều đó cho phép khẳng định, nghiên cứu VHCT trongNTQĐ ở Việt Nam hiện nay là hướng nghiên cứu cần thiết và hứa hẹn có đóng gópmới

Thứ ba, ở Việt Nam nhìn chung các nghiên cứu về VHCT tuy đã kế thừa và

cập nhật được những thành tựu nghiên cứu nước ngoài đặc biệt là châu Âu và Mỹnhưng ở giai đoạn đầu, VHCT chủ yếu chỉ được nghiên cứu lồng ghép trong cácnghiên cứu chung về văn hóa hoặc là được xem xét với tính cách là đối tượngnghiên cứu của các ngành khoa học như triết học, chính trị học Những năm gầnđây, nghiên cứu về VHCT ở trong nước chú ý nhiều hơn và cách tiếp cận cũng đadạng hơn Đặc biệt, bên cạnh cách tiếp cận VHCT với tính cách là một thực thể xãhội của triết học, chính trị học, thì VHCT đã nhận được sự quan tâm của các nhàvăn hóa học Tuy nhiên, cho đến nay những khoảng trống tri thức về VHCT cầnđược bổ sung làm rõ hơn những vấn đề lý luận về VHCT, thực trạng VHCT hiệnnay và vấn đề nâng cao VHCT cho các chủ thể trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc, đây được xem là một trong những vấn đề khoa học có ý nghĩa cả về lýluận và thực tiễn

Thứ tư, xuất phát từ vị trí, vai trò của công tác tư tưởng văn hóa trong quân

đội, những năm qua QUTW và BQP, trực tiếp là Tổng cục Chính trị đã chỉ đạonghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về văn hóa quân sự Những vấn đề xâydựng và phát triển văn hóa nhằm góp phần hoàn thiện nhân cách người quân nhâncách mạng, nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ trong NTQĐ cũng đã được tiếp cậnkhai thác trên các khía cạnh: tìm hiểu giá trị văn hóa của “Bộ đội Cụ Hồ”, xây dựng

và phát triển môi trường văn hóa quân sự, phát huy và phát triển văn hóa thẩm mỹhay định hướng giá trị cho các chủ thể trong NTQĐ và đã đạt được bước tiến nhấtđịnh góp phần quan trọng xây dựng QĐND Việt Nam vững mạnh về tư tưởng và tổchức và đạo đức

Trang 31

Trong các nghiên cứu có liên quan đã có những đề cập vấn đề xây dựng vàphát triển môi trường văn hóa sư phạm nhằm hướng tới việc hoàn hiện nhân cáchcủa người học Tuy nhiên, đối với môi trường sư phạm quân sự có những đặc thùriêng, ở đó không chỉ có quan hệ thầy - trò mà còn là quan hệ chỉ huy - phục tùng;quan hệ đồng chí - đồng đội Song có thể khẳng định, cho đến nay vẫn chưa có mộtnghiên cứu chuyên sâu nào về VHCT trong nhà trường quân đội Vì vậy, việcnghiên cứu VHCT trong NTQĐ nhằm chỉ ra đặc trưng của VHCT môi trường sưphạm quân sự, từ đó nhận diện những vấn đề đặt ra đối với VHCT trong NTQĐ làhướng nghiên cứu khả thi và không trùng lặp.

1.3.2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

Văn hóa chính trị trong NTQĐ là một bộ phận VHCT của QĐND Việt Nam

và của VHCT Việt Nam, cho nên cũng chịu sự chi phối bởi những quy luật chung,những quan hệ đặc trưng trong quá trình phát triển văn hóa, đồng thời chịu sự chiphối, tác động bởi những hoạt động mang tính đặc thù của môi trường sư phạmquân sự Nghiên cứu VHCT trong NTQĐ phải trên cơ sở quán triệt sâu sắc quanđiểm của Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa; nhiệm vụ xây dựng quân đội nóichung và nhiệm vụ đào tạo cán bộ quân đội của Đảng nói riêng trong tình hình mới;nhận thức đúng đắn, vận dụng sáng tạo các quy luật, tôn trọng nét đặc trưng và bản

chất văn hóa, tính đặc thù của VHCT trong môi trường quân sự, cụ thể ở đây là môi trường sư phạm quân sự; không ngừng nâng cao tri thức chính trị, giữ vững lý

tưởng và niềm tin chính trị trong nhân cách người sĩ quan tương lai; xây dựng ngườiquân nhân cách mạng kiểu mới, tạo ra động lực tinh thần mạnh mẽ, góp phần ngănchặn và đẩy lùi những hiện tượng phản giá trị, phản văn hóa xâm nhập trong môitrường đào tạo cán bộ quân đội của Đảng; đấu tranh có hiệu quả với luận điệu đòi

“phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch; xây dựng NTQĐ vững mạnh

về chính trị, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội, nâng caochất lượng đào tạo cán bộ, làm cơ sở để xây dựng quân đội cách mạng, chính quy,tinh nhuệ, từng bước hiện đại, xứng đáng với niềm tin của Đảng và Nhân dân giaophó

Tiếp cận hướng nghiên cứu VHCT trong NTQĐ hiện nay, trên cơ sở kế thừanhững thành tựu nghiên cứu đã được công bố, luận án sẽ được triển khai thực hiệncác nội dung chủ yếu sau:

Một là, tiếp tục hệ thống lại và so sánh các quan niệm khác nhau về VHCT

đồng thời đưa ra quan niệm về VHCT; làm rõ những vấn đề lý luận về VHCT dưới

Trang 32

góc độ văn hóa học, như nội hàm khái niệm; những vấn đề về cấu trúc và chức năngcủa VHCT; đưa ra quan niệm về VHCT của QĐND Việt Nam và VHCT trongNTQĐ đồng thời chỉ ra mối quan hệ giữa các loại hình văn hóa chính trị.

Hai là, tiếp cận VHCT trong NTQĐ với tính cách là VHCT trong một thiết

chế văn hóa đặc thù, có vai trò quan trọng trong định hướng củng cố niềm tin, rènluyện bản lĩnh chính trị trong quá trình đào tạo những sĩ quan chỉ huy; chỉ ra nhữngkhía cạnh thuộc về bản chất của VHCT trong NTQĐ với những nét đặc trưng củaVHCT trong môi trường sư phạm quân sự; khẳng định vị trí, ý nghĩa của VHCTtrước yêu cầu “đổi mới nhưng không đổi màu”, giữ vững trận địa tư tưởng củaĐảng, chống lại âm mưu đòi “phi chính trị hóa quân đội”, nâng cao chất lượng đàotạo cán bộ của Đảng, góp phần xây dựng quân đội ngày càng hùng mạnh

Ba là, khảo sát, mô tả và đánh giá thực trạng của VHCT trong NTQĐ hiện

nay với các thành tố cơ bản như: chủ thể VHCT; thang bậc giá trị VHCT; thể chế,thiết chế VHCT và hoạt động văn hóa chính trị Các thành tố trên có vai trò quantrọng đối với nhiệm vụ dạy học và nghiên cứu khoa học cũng như nhiệm vụ bồidưỡng, nâng cao trình độ chính trị cho các chủ thể qua đó góp phần hoàn thiện vàphát triển nhân cách cho các chủ thể trong nhà trường quân đội

Bốn là, dự báo khái quát những yếu tố tác động đến VHCT trong NTQĐ;

nhận diện những vấn đề đặt ra đối với VHCT trong NTQĐ, làm cho các giá trịVHCT thấm sâu vào trong các hoạt động của NTQĐ, tạo nên sức mạnh nội sinh,góp phần xây dựng tổ chức đảng luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ, NTQĐ vững mạnhtoàn diện

Tiểu kết chương 1

Qua tổng hợp tình hình nghiên cứu về VHCT cho thấy, hầu hết các nhà khoahọc đều thống nhất nhận định, sự xuất hiện của VHCT và tư tưởng về VHCT tronglịch sử tư tưởng nhân loại là rất sớm cùng với sự xuất hiện của văn minh nhân loại.Nhìn chung những nghiên cứu về VHCT có thể được khái quát trên hai hướng tiếpcận chủ yếu: VHCT với tính cách là một thực thể xã hội và VHCT với tính cách là

hệ giá trị

Trong thời kỳ cổ đại, tư tưởng về VHCT được chứa đựng trong các lý thuyết,học thuyết chính trị của các nhà tư tưởng nhằm hướng tới việc tìm hiểu và giải thíchbản chất và cách thức của sự cai trị hay việc nắm giữ và ứng xử đối với quyền lựccủa các nhà tư tưởng cổ đại cả ở phương Tây và phương Đông

Trang 33

Ở Việt Nam, tư tưởng về VHCT và sự tiếp thu những thành tựu nghiên cứu

về VHCT đã có tương đối sớm do ảnh hưởng của các tôn giáo và văn hóa phươngTây Tuy nhiên, lúc đầu chỉ là những nghiên cứu lồng ghép với văn hóa hoặc cácngành khoa học xã hội và nhân văn như triết học, chính trị học Thời gian gần đây,VHCT nhận được sự quan tâm của các nhà khoa học Việt Nam, theo đó, các nhàkhoa học trong nước thống nhất xem VHCT như là một thành tố của văn hóa tổchức xã hội, là một yếu tố hợp thành hệ giá trị văn hóa được biểu hiện ở tư tưởng,nhân cách, những chuẩn mực, khuôn mẫu và truyền thống trong hoạt động chính trị

Trong lĩnh vực quân sự nói chung và NTQĐ nói riêng, đã có những nghiêncứu nhằm xây dựng, phát triển môi trường văn hóa sư phạm quân sự từ góc độ triếthọc; từ góc độ văn hóa học, những nghiên cứu nhằm phát triển và phát huy văn hóathẩm mỹ cho các chủ thể, định hướng giá trị văn hóa cho học viên đào tạo sĩ quan

đã được công bố Về VHCT, đã có nghiên cứu tiếp cận dưới góc độ chính trị học:xây dựng VHCT Hồ Chí Minh cho học viên đào tạo chính ủy trung đoàn, sư đoàn…Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào trực tiếp bàn đếnVHCT trong NTQĐ từ góc độ văn hóa học, đây có thể được xem là khoảng trống

trong nghiên cứu về văn hóa trong quân đội Vì vậy, sự lựa chọn đề tài “Văn hóa chính trị trong nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay” (Nghiên cứu

trường hợp: Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng, Trường Sĩ quan Lục quân 1), là

vấn đề nghiên cứu không trùng lặp, dự kiến có những đóng góp mới cả về mặt lýluận và thực tiễn

Trang 34

Chương 2

LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA CHÍNH TRỊ TRONG NHÀ TRƯỜNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM VÀ KHÁI LƯỢC VỀ KHÁCH THỂ NGHIÊN

CỨU

2.1 LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA CHÍNH TRỊ

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản

Xuất phát từ nhận thức, VHCT là một thành tố của văn hóa xã hội, nhữngdấu hiệu đặc trưng, tính chất, chức năng của văn hóa đều được thể hiện trongVHCT Vì vậy, nghiên cứu VHCT từ góc độ văn hóa học phải xuất phát từ các kháiniệm mang tính công cụ là khái niệm “văn hóa”, khái niệm “chính trị” và đây chính

là cơ sở lý luận trực tiếp góp phần hình thành quan niệm VHCT của tác giả luận án

2.1.1.1 Văn hóa

Trong công trình “Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020, Những vấn đề phương pháp luận” (tái bản 2010), Phạm Duy Đức (Chủ biên), [45], mục, “Khái niệm về văn hóa và sự phát triển về văn hóa”, tác giả Đỗ Huy viết:

“Trong hoạt động sinh tồn và hoạt động giao tiếp của tất cả các dân tộc trên thế giới

hiện nay, văn hóa là một từ được sử dụng rộng rãi đến mức không một lĩnh vực nào

trong các quan hệ vật chất và quan hệ tinh thần của con người mà chúng ta khôngbắt gặp” [45, tr.13] và đã đưa ra nhận định: “Có thể nói, nội hàm khái niệm văn hóa

Cùng với sự phát triển nhận thức của con người, khái niệm văn hóa đã khôngngừng được tiếp cận và hoàn thiện cả nội hàm và ngoại diên Tuy nhiên, hiện naytrên thế giới có rất nhiều cách tiếp cận không đồng nhất, tạo nên sự đa diện và đanghĩa cho khái niệm văn hóa, vì vậy đã có ý kiến cho rằng, có bao nhiêu nhà nghiêncứu văn hóa thì có bấy nhiêu khái niệm văn hóa

Trang 35

Xét trong phạm vi và mục tiêu nghiên cứu, có thể dẫn ra một số quan niệm

về văn hóa, làm cơ sở cho những khái niệm mang tính công cụ có liên quan trựctiếp đến hướng tiếp cận của luận án

Trong tác phẩm “Văn hóa nguyên thủy” (Primitive Culture), xuất bản năm

1871, tại London, nhà nhân học người Anh E.B Tylor đã đưa ra định nghĩa: “Vănhóa hay văn minh, hiểu theo nghĩa rộng nhất về dân tộc học của nó, là toàn bộ phứcthể bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục vànhững khả năng, những tập quán mà con người có được với tư cách là thành viêncủa xã hội” [dẫn theo 28, tr.15] Định nghĩa văn hóa của E.B Tylor được xem làđịnh nghĩa khoa học đầu tiên về khái niệm “văn hóa” và được trích dẫn ở hầu hếtcác công trình nghiên cứu về văn hóa sau này

Một trong những định nghĩa về văn hóa được cộng đồng thế giới sử dụngnhiều trong các trích dẫn là định nghĩa của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa

Liên hợp quốc (UNESCO) được nêu trong “Tuyên bố về chính sách văn hóa” tại

Hội nghị quốc tế về Chính sách văn hóa, tổ chức tại Mexico từ ngày 26 tháng 7 đếnngày 06 tháng 8 năm 1982: “Văn hóa là tổng thể những nét đặc thù về tinh thần vàvật chất, về trí tuệ và cảm xúc quy định tính cách của một xã hội hay của một nhóm

xã hội” [dẫn theo 53, tr.36]

Hiện nay, theo cách tiếp cận với nghĩa rộng, UNESCO quan niệm văn hóa làmột phức thể - tổng thể các đặc trưng, diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức vàtình cảm khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng và đề xuất mở rộng nội hàmkhái niệm văn hóa trong đó có những khái niệm đáng chú ý như: văn hóa tri thức,văn hóa thông tin, văn hóa công nghiệp, văn hóa sáng tạo, văn hóa hòa bình,

VHCT, bản sắc văn hóa quốc gia Khi “Công ước quốc tế về đa dạng văn hóa” của

UNESCO được thông qua năm 2006, các vấn đề tiếp tục được đề xuất là: quan hệvăn hóa và dân chủ; văn hóa khoan dung; sự cân đối văn hóa; quyền văn hóa và bảotồn phát triển văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế

Trong những năm gần đây đã có những thành tựu mới trong tiếp cận cấu trúckhái niệm văn hóa, một trong những thành tựu nổi bật đó là cách tiếp cận văn hóatheo tầng nội dung của Texas University, được công bố vào tháng 5 năm 2015.Theo đó, cấu trúc của văn hóa bao gồm các tầng như: giá trị (values); nghi thức,nghi lễ, chuẩn mực (rituals); nhân vật - anh hùng, hình mẫu (heroes) và các biểu

Trang 36

tượng (symbols) [167], đây có thể được xem là một trong những cách tiếp cận hiệnđại mà luận án có thể lựa chọn, kế thừa và vận dụng trong phân tích cấu trúc kháiniệm văn hóa chính trị.

Như vậy, có thể tổng hợp các quan niệm đã trình bày ở trên bằng những khái

quát sau: Văn hóa là một trong những phương diện cơ bản của đời sống xã hội, trong đó bao gồm toàn bộ những thành quả hoạt động sáng tạo của con người mang đậm dấu ấn chân, thiện, mỹ trong quá khứ, hiện tại, được biểu hiện trên cả hai lĩnh vực vật chất và tinh thần, với những hệ thống các giá trị, các nghi thức, các nhân vật và các biểu tượng Hệ thống giá trị đó chi phối, tác động đến đời sống tâm

lý và tất cả các quan hệ, những hoạt động của các thành viên trong cộng đồng.

Văn hóa có thể được phân chia thành các lĩnh vực đặc thù của đời sống xã hộinhư: giáo dục, đạo đức, pháp luật, chính trị, tôn giáo, nghệ thuật tương ứng vớicác tên gọi văn hóa giáo dục, văn hóa đạo đức, văn hóa pháp luật và VHCT là mộttrong những thuật ngữ được hình thành trên cơ sở này

2.1.1.2 Chính trị

Ở phương Tây, thuật ngữ “chính trị” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp,

“Politika” với ý nghĩa ban đầu là công việc của các thành phố, là nghệ thuật cai trị,

là phương pháp nhất định để thực hiện các mục tiêu quốc gia Các nhà tư tưởng,chính trị gia tiêu biểu như Herodotos, Platon, Aristotle đã có những khái quát vềthuật ngữ chính trị Theo đó, chính trị gắn liền với thể chế nhà nước, là nghệ thuậtcung đình, là nghệ thuật cai trị Aristotle nhận thấy rằng, chính trị là sản phẩm của

sự phát triển tự nhiên của con người, là hình thức giao tiếp cao nhất của con người,con người là “động vật chính trị”

Ở phương Đông, chính trị, theo lối chiết tự là khái niệm được tạo thành bởi

hai từ “Chính” và “Trị” Theo Đào Duy Anh, trong “Giản yếu Hán - Việt từ điển”

[2] thì “Chính” là thích đáng, ngay thẳng; việc của nhà nước; quy tắc để làm việc;chủ trì [2, tr.171] “Trị” là việc đương làm; sửa sang công việc; trừng phạt [2,tr.488] “Chính trị” gọi chung những việc sắp đặt và thi hành để sửa trị một nước [2,tr.174] Theo Khổng Tử, chính trị phải chính danh, chính đạo và là công việc củangười quân tử; chính trị gắn với “tam cương”, “ngũ thường” Hàn Phi Tử cho rằng,chính trị được xây dựng trên cơ sở của pháp luật, gắn với pháp luật Chính trị theoLão Tử là “vô vi nhi trị” (trị mà như không trị), làm chính trị là thuận theo tự nhiên,hợp với “Đạo”

Trang 37

Thời kỳ trung cổ, quan niệm chính trị gắn với thần quyền và được xem làquyền lực tối cao của Thượng đế; trong xã hội tư sản, chính trị gắn với thuyết “Tamquyền phân lập”, “Khế ước xã hội” và được xem là công việc của những công dân cótài sản.

Các quan niệm về chính trị trước K Marx đã có những cách tiếp cận riêng và

tỏ ra tương đối hợp lý trong một số trường hợp nhất định Tuy nhiên, chỉ đến khichủ nghĩa Marx - Lenin ra đời, trên cơ sở kế thừa thành tựu nghiên cứu trong lịch

sử, quan niệm về chính trị mới thực sự khắc phục được những hạn chế, phiến diệntrong cách tiếp cận và khẳng định được tính khoa học, đầy đủ của thuật ngữ chínhtrị Theo đó, chính trị thực chất là vấn đề quyền lực, vấn đề giai cấp và lợi ích giaicấp mà trước hết là quyền lực nhà nước Tất cả các biểu hiện của chính trị đều phảnánh những vấn đề kinh tế, tất yếu kinh tế quy định tất yếu chính trị, các cuộc đấutranh chính trị bao giờ cũng hướng tới giải quyết mục tiêu lợi ích kinh tế Chính trị

và kinh tế có quan hệ biện chứng với nhau, chính trị biểu hiện tập trung của kinh tếnhưng giữ vị trí ưu tiên so với kinh tế

Theo định nghĩa của “Từ điển Bách khoa Việt Nam” [151]:

Chính trị là toàn bộ hoạt động có liên quan đến mối quan hệ giữa các giaicấp, giữa các dân tộc, các tầng lớp xã hội mà cốt lõi của nó là vấn đềgiành chính quyền, duy trì và sử dụng quyền lực nhà nước, sự tham giacông việc của nhà nước, sự xác định hình thức tổ chức, nhiệm vụ, nộidung hoạt động nhà nước Bất kể vấn đề chính trị nào cũng đều có liênquan đến quyền lực của các giai cấp và nhà nước ( ) Chính trị còn là sựbiểu hiện tập trung của nền văn minh, của hoạt động sáng tạo, của sự giảiphóng [151, tr 603]

Chính trị là một lĩnh vực quan trọng quyết định sự phát triển của quốc gia,dân tộc, của xã hội Trình độ và hiệu quả của hoạt động chính trị thể hiện ở mục tiêu

vì con người, hướng tới xây dựng một xã hội nhân đạo, nhân văn, dân chủ và tiến

bộ, phản ánh những nội dung cơ bản VHCT của cộng đồng quốc gia, dân tộc Nhưvậy văn hóa và chính trị là hai lĩnh vực đời sống xã hội có quan hệ hữu cơ với nhau

2.1.1.3 Văn hóa chính trị

Trong quá trình tìm hiểu mối quan hệ giữa văn hóa và chính trị, các nhàchính trị học phương Tây đã sử dụng thuật ngữ Political Culture (văn hóa chính trị).Tuy nhiên sự thực hành VHCT và quan niệm về VHCT xuất hiện từ rất sớm tronglịch sử tư tưởng nhân loại ở cả phương Đông và phương Tây

Trang 38

Ở phương Đông, các nhà tư tưởng của Trung Hoa cổ đại như Khổng Tử,Mạnh Tử, Lão Tử và Hàn Phi Tử là những tên tuổi tiêu biểu đã trực tiếp hoặc giántiếp đề cập đến những vấn đề cốt lõi về VHCT Quan niệm về cách thức ứng xử vớiquyền lực hay còn gọi là thuật cai trị (hay thuật trị nước) tuy có khác nhau, nhưngnhìn chung tất cả đều hướng tới một mục tiêu là làm sao cho xã hội được “thái bìnhthịnh trị”, đây cũng chính là quan niệm về VHCT và định hướng thực hành VHCTtrong lịch sử tư tưởng Trung Hoa cổ đại.

Ở phương Tây, các nhà tư tưởng đã sớm có quan niệm, xem VHCT vừa làkhoa học vừa là một nghệ thuật, từ đó chỉ ra cách thức ứng xử của con người đốivới quyền lực Các triết gia cổ đại cho đến các nhà tư tưởng phương Tây từ thời kỳPhục hưng cho đến thời kỳ Khai sáng đều đề cập đến những vấn đề cốt lõi củaVHCT, cho dù chưa sử dụng thuật ngữ VHCT Triết gia cổ điển Đức I G Gerzer(1744 - 1803), trong quá trình nghiên cứu mối quan hệ tương tác giữa văn hóa vàchính trị đã lần đầu tiên đưa ra khái niệm “VHCT”, “sự chín muồi của VHCT” hay

“những đại biểu của VHCT” trong cuốn sách “Các phương pháp triết học lịch sử nhân loại”, năm 1784 [dẫn theo 47, tr.1].

Trong số các nhà nghiên cứu về VHCT, G Almond được xem là người đã cócông trong việc đưa thuật ngữ VHCT trở thành một khái niệm khoa học và đồngthời là người sáng lập “chủ nghĩa hành động” trong khoa học chính trị ở Mỹ Khi

viết tác phẩm“Văn hóa công dân” (Civic Culture) năm 1963, G Almond và S.

Verba đã đưa ra quan niệm, VHCT của một dân tộc là cách chia sẻ riêng của cácthành viên của dân tộc ấy những dạng thức của sự định hướng quan tâm tới cáckhách thể chính trị [165]

Tại Nga, xuất phát từ góc độ văn hóa học, A.A Radugin quan niệm, VHCT

là một phần của đời sống văn hóa tinh thần của xã hội, bao gồm các kiến thức chínhtrị, các định hướng giá trị, các mẫu mực ứng xử trong mối quan hệ chính trị tại mộtthời điểm lịch sử [104, tr.564]

Cũng như quan niệm về văn hóa, với tư cách là một khái niệm khoa học,thuật ngữ VHCT đã nhận được sự quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu, cáctrường phái học thuật trên thế giới, tạo nên bức tranh đa sắc màu trong quan niệm

về VHCT Có thể nói, kể từ khi thuật ngữ VHCT được xem như một khái niệmkhoa học trong chính trị học trên thế giới, quan niệm về VHCT tương đối đa dạng,

Trang 39

thể hiện cách nhìn đa chiều và chịu ảnh hưởng sâu sắc của các chế độ chính trị cũngnhư văn hóa cộng đồng các quốc gia - dân tộc.

Ở Việt Nam, khái niệm VHCT là một vấn đề chủ yếu nhận được sự đượctập trung nghiên cứu từ giai đoạn Đổi mới (1986) đến nay bởi các nhà nghiên cứu

lý luận chính trị và văn hóa Trong đó, một số nhà nghiên cứu có đóng góp quantrọng trong việc nghiên cứu VHCT tiêu biểu như Nguyễn Hồng Phong, Phạm NgọcQuang, Hoàng Chí Bảo, Trần Văn Bính, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Huyên,Phạm Hồng Tung, Vũ Minh Giang, Phùng Hữu Phú và Lê Quý Đức Xuất phát từcác góc độ khác nhau và mục tiêu nghiên cứu không đồng nhất, các nhà nghiêncứu trong nước cũng đã đưa ra những quan niệm về VHCT tương đối đa dạng

Một số quan niệm tiêu biểu như: “VHCT là một phương diện của văn hóa;

nó nói lên tri thức, năng lực sáng tạo trong hoạt động chính trị” [100, tr.19]; “Kháiniệm VHCT dùng để nói lên một nội dung văn hóa, để chỉ về tri thức chính trị (tưtưởng, học thuyết chính trị) tích lũy được trong việc điều hành quản lý một xã hội,một cộng đồng hoặc một quốc gia nào đó”[47, tr.11]; “là một phương diện của vănhóa trong xã hội có giai cấp, nói lên tri thức, năng lực sáng tạo trong hoạt độngchính trị dựa trên nhận thức sâu sắc các quan hệ chính trị hiện thực để thực hiện lợiích chính trị cơ bản của giai cấp hay của xã hội phù hợp với sự phát triển của lịchsử” [149, tr.29]; “VHCT là tổng hợp những giá trị vật chất, tinh thần được hìnhthành trong thực tiễn chính trị” [160, tr.382]; “VHCT là một thành tố quan trọngtrong đời sống văn hóa xã hội, thể hiện ở tầm tư tưởng, tầm trí tuệ của tổ chức vàcon người chính trị; thể hiện rõ trong tổ chức thiết chế và thể chế chính trị; thể hiệntrong tổ chức hoạt động chính trị” [28, tr.121]

Cũng xuất phát từ cách tiếp cận biện chứng giữa cái chung của văn hóa và

cái riêng của VHCT, trong “Bước đầu tìm hiểu những giá trị văn hóa chính trị truyền thống Việt Nam” năm 2009 [68], tác giả Nguyễn Văn Huyên cho rằng, khái

niệm VHCT có nội hàm rất phong phú nhưng cốt lõi là trình độ và hiệu quả củahoạt động chính trị VHCT là một hệ thống giá trị xã hội phản ánh đầy đủ các dấuhiệu Chân - Thiện - Mỹ

Nhìn chung quan niệm của các nhà nghiên cứu ở Việt Nam đã tiếp cậnđược những thành tựu trong nghiên cứu VHCT trên thế giới, đặc biệt là các thànhtựu nghiên cứu chính trị học của phương Tây Do xuất phát từ những góc độ và

Trang 40

mục đích nghiên cứu khác nhau nên còn có một số khác biệt trong quan niệm vềvăn hóa chính trị.

Xét về bản chất, là những hình thái ý thức xã hội quan trọng trong kiến trúcthượng tầng, chịu sự chi phối và quyết định của hạ tầng cơ sở, thành tố văn hóa vàthành tố chính trị có quan hệ hữu cơ với nhau Về bản chất, chính trị phản ánh trình

độ văn hóa của một giai cấp, cộng đồng ở phương diện tổ chức và điều hành xã hội.Chính trị được xem là văn hóa khi gắn với trình độ, năng lực sáng tạo tích cực củacon người, thúc đẩy sự tiến bộ xã hội Khi nói về mối quan hệ văn hóa và chính trị,Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt độngkhác, không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị” [88, tr.246] Vănhóa có quan hệ mật thiết với chính trị, thấm sâu vào chính trị; văn hóa trở thành nộidung, nền tảng trong trong mục tiêu, lý tưởng chính trị; chính trị là một bộ phận đặcthù của văn hóa, sự tác động của chính trị tới con người và đời sống xã hội trongviệc quy định tính giai cấp của các hoạt động, các hiện tượng văn hóa Vì vậy, vănhóa mang đậm dấu ấn của chính trị, phản ánh bản chất chính trị, đặc biệt là trong xãhội có giai cấp

Trong quan hệ với văn hóa, chính trị giữ vai trò định hướng, là kim chỉ nam;văn hóa phục tùng chính trị, văn hóa trong chính trị thể hiện ở mục tiêu, động lựccủa hoạt động chính trị; văn hóa gắn liền với chính trị, văn hóa và chính trị thốngnhất hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau phản ánh VHCT của một cộng đồng, quốcgia, dân tộc

Văn hóa chính trị luôn bị quy định bởi trình độ và nét đặc trưng văn hóa củamột cộng đồng, quốc gia, dân tộc, trên tinh thần đó, các nhà nghiên cứu trên thế giớicũng như ở Việt Nam, cơ bản đã có sự thống nhất khi xem xét những vấn đề thuộc

về bản chất và đặc trưng của VHCT, đó là: VHCT là một bộ phận của văn hóa xãhội, hàm chứa trong đó hệ thống giá trị do con người sáng tạo nên trong quá trìnhchính trị nhằm điều chỉnh những hành vi chính trị của cá nhân hay cộng đồng vàluôn bị chi phối bởi tư tưởng của giai cấp thống trị

Văn hóa chính trị là sự kết tinh những giá trị chính trị, là sự thẩm thấu chuyểnhóa lẫn nhau giữa văn hóa với chính trị, chính trị với văn hóa VHCT giúp cho sựtác động của chính trị đến đời sống xã hội như sức mạnh nội sinh của văn hóa

Tuy nhiên, do xuất phát từ góc độ tiếp cận không giống nhau, nên nhìnchung các quan niệm về VHCT vẫn còn hết sức đa dạng và có những khác biệt nhấtđịnh Có quan niệm nhấn mạnh tính định hướng trong hoạt động của các chủ thểchính trị;

Ngày đăng: 26/06/2023, 10:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. I. Acnônđốp (1993), Cơ sở lý luận văn hóa Mác - Lênin, (Hoàng Vinh, Nguyễn Văn Hy dịch), NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận văn hóa Mác - Lênin
Tác giả: I. Acnônđốp
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 1993
2. Đào Duy Anh (1996), Giản yếu - Hán - Việt từ - điển, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giản yếu - Hán - Việt từ - điển
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1996
3. Đào Duy Anh (2004), Việt Nam văn hóa sử cương, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Văn hóa - Thông tin
Năm: 2004
4. Đỗ Ngọc Anh và Đỗ Thị Minh Thúy (2013), Vấn đề phát triển văn hóa (Qua văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI), NXB Văn hóa - Thông tin &amp; Viện Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phát triển văn hóa (Qua vănkiện Đại hội Đảng lần thứ XI)
Tác giả: Đỗ Ngọc Anh và Đỗ Thị Minh Thúy
Nhà XB: NXB Văn hóa - Thông tin & Viện Văn hóa
Năm: 2013
5. Phạm Ngọc Anh, Bùi Đình Phong (2009), Hồ Chí Minh văn hóa và phát triển, NXB Chính trị - Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh văn hóa và phát triển
Tác giả: Phạm Ngọc Anh, Bùi Đình Phong
Nhà XB: NXB Chính trị - Hành chính
Năm: 2009
6. Ban liên lạc khóa 1 Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn (2011), 65 năm dưới lá cờ Trung với nước, hiếu với dân, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 65 năm dưới lá cờTrung với nước, hiếu với dân
Tác giả: Ban liên lạc khóa 1 Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
Năm: 2011
7. Ban liên lạc Khóa V (2009), Trường trung học Lục quân Trần Quốc Tuấn khóa V - Khóa chuẩn bị tổng phản công, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường trung học Lục quân Trần Quốc Tuấn khóa V- Khóa chuẩn bị tổng phản công
Tác giả: Ban liên lạc Khóa V
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2009
8. Ban Tuyên giáo Trung ương (2014), Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết và một số chủ trương của Hội nghị lần thứ Chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết và một sốchủ trương của Hội nghị lần thứ Chín Ban Chấp hành Trung ương ĐảngCộng sản Việt Nam khóa XI
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2014
9. Ban Tuyên giáo Trung ương (2016), Tài liệu nghiên cứu các văn kiện Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ XII của Đảng, (Dùng cho cán bộ chủ chốt và báo cáo viên), NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu các văn kiện Đại hộiđại biểu Toàn quốc lần thứ XII của Đảng
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2016
10. Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương (1998), Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị lần thứ Năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII , NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết Hộinghị lần thứ Năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII
Tác giả: Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương
Nhà XB: NXBChính trị Quốc gia
Năm: 1998
11. Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương (2004), Xây dựng môi trường văn hóa - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng môi trường văn hóa - Mộtsố vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương
Năm: 2004
12. Hoàng Chí Bảo (2010), Văn hóa và con người Việt Nam trong đổi mới và hội nhập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và con người Việt Nam trong đổi mới và hộinhập
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
13. Nguyễn Chí Bền (2010), Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tếquốc tế
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
14. Nguyễn Vương Bình (2017), Định hướng giá trị văn hóa của học viên đào tạo sĩ quan trong các trường Quân đội, Luận án Tiến sĩ Văn hóa học, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng giá trị văn hóa của học viên đào tạosĩ quan trong các trường Quân đội
Tác giả: Nguyễn Vương Bình
Năm: 2017
15. Trần Văn Bính (2000), Vai trò văn hóa trong hoạt động chính trị của Đảng ta hiện nay, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò văn hóa trong hoạt động chính trị của Đảng tahiện nay
Tác giả: Trần Văn Bính
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2000
16. Bộ Quốc phòng (2004), Nhà trường quân đội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà trường quân đội trong sự nghiệp xây dựng và bảovệ Tổ quốc
Tác giả: Bộ Quốc phòng
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
Năm: 2004
17. Bộ Quốc phòng (2011), Điều lệnh quản lý bộ đội Quân đội nhân dân Việt Nam, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệnh quản lý bộ đội Quân đội nhân dân Việt Nam
Tác giả: Bộ Quốc phòng
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
Năm: 2011
18. Bộ Quốc phòng (2016), Điều lệ công tác nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ công tác nhà trường Quân đội nhân dân ViệtNam
Tác giả: Bộ Quốc phòng
Năm: 2016
19. Bộ Quốc phòng (2019), Thông tư số 42/2019/TT-BQP ngày 19/4/2019 của Bộ Quốc phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 42/2019/TT-BQP
Tác giả: Bộ Quốc phòng
Năm: 2019
20. Bộ Tổng Tham mưu - Cục Nhà trường (2019), số 1870/NT-KH, ngày 16 tháng 10 năm 2019, Về việc Kết quả thực hiện Kết luận của Quân ủy Trung ương, Thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu đối với Trường Sĩ quan Lục quân 1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: số 1870/NT-KH, ngày 16 tháng10 năm 2019, Về việc Kết quả thực hiện Kết luận của Quân ủy Trungương, Thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu đối với Trường Sĩ quan Lục quân1
Tác giả: Bộ Tổng Tham mưu - Cục Nhà trường
Năm: 2019

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.5. Nhận định về di sản và truyền thống chính trị của học viên (%) - Văn hóa chính trị trong nhà trường quân đội
Bảng 3.5. Nhận định về di sản và truyền thống chính trị của học viên (%) (Trang 88)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w