1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Câu hỏi ôn tập môn Văn hoá chính trị

14 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 147 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÂU HỎI ÔN TẬP PAGE 12 Câu 1 Anh, chị hãy trình bày quan niệm về văn hóa chính trị 1 Các quan niệm trên thế giới Năm 1963, G Almond và S Verba “Văn hóa chính trị của một dân tộc là cách chia sẻ riêng.

Trang 1

Câu 1: Anh, chị hãy trình bày quan niệm về văn hóa chính trị

1 Các quan niệm trên thế giới

Năm 1963, G Almond và S Verba: “Văn hóa chính trị của một dân tộc là cách chia sẻ riêng của các thành viên của dân tộc ấy những dạng thức của sự định hướng quan tâm tới các khách thể chính trị”

Werner J Patzelt : “Văn hóa chính trị là những giá trị và tri thức, những quan điểm và thái độ của nhân dân; là những quy tắc công khai hoặc được mặc nhiên thừa nhận của quá trình chính trị, là những cơ sở thường nhật của hệ thống chính trị và là tập hợp của tất cả những gì thuộc về văn hóa và tập tục của xã hội hiện tồn” Cũng trong công trình này, tác giả nêu định nghĩa và có phần rõ ràng hơn về văn hóa chính trị: “Văn hóa chính trị là một khái niệm tập hợp dùng để chỉ những giá trị chính trị quan trọng, tri thức, quan niệm và thái độ trong một xã hội; những dạng thức được bộc lộ ra thông qua hoạt động chính trị và tham dự chính; những quy tắc công khai hay mặc nhiên được thừa nhận của quá trình chính trị; và những cơ sở thường nhật của các hệ thống chính trị”

Định nghĩa của trường phái học thuật Heidelberg (Đức) định nghĩa: “Là khái niệm dùng

để chỉ chiều cạnh chủ quan của những cơ sở xã hội của các hệ thống chính trị Văn hóa chính trị liên quan tới những bộ phận khác nhau của ý thức chính trị, những “phong thái”, những lối nghĩ và ứng xử “điển hình” của những nhóm xã hội hoặc của toàn xã hội Văn hóa chính trị bao gồm tất cả những đặc tính chính trị cá nhân của từng cá thể, tiềm ẩn trong những thái độ và các giá trị, bắt rễ trong những động cơ bẩm sinh của hành vi chính trị, và

có trong những hình thức bộc lộ có tính chất biểu tượng và những ứng xử chính trị cụ thể”.

Định nghĩa của Trường Đại học Tổng hợp California ở Berkeley trong cuốn “Đề cương

bài giảng văn hóa chính trị” năm 2006: “Văn hóa chính trị được tạo thành bởi những tri nhận, những giá trị và những bộc lộ cảm tình mà dân chúng của một cộng đồng/ tập thể nào

đó mang lại cho một quá trình mà tại đó những giá trị chân xác sẽ được định vị”.

Quan niệm về văn hóa chính trị, trường phái chính trị học Nga nổi tiếng với các tên tuổi như E.A Đôđin, G Gơratrơ, I.X Pirôparôp… cũng đưa ra nhiều ý kiến khác nhau Theo giáo

sư E.A Đôđin: “Văn hóa chính trị là quá trình xã hội hóa chính trị, suy cho cùng là quá trình phổ cập những giá trị và quy tắc chính trị nhất định” và “quá trình xã hội hóa trong chừng mực nào đó đưa đến sự ra đời các thiết chế xã hội, các giá trị và những chuẩn mực hành vi phù hợp với tiến trình phát triển”

Trong cuốn “Trung Quốc Đại bách khoa toàn thư”, quyển “Chính trị học” viết: “Văn minh chính trị là sự tổng hòa các thành quả chính trị do con người cải tạo xã hội mà có, thông thường nó biểu hiện thành mức độ thực hiện dân chủ, tự do, bình đẳng, giải phóng con người trong một hình thái xã hội nhất định”.

Tác giả Ngu Sùng Thắng (Đại học Vũ Hán) trong bài “Phân biệt khái niệm văn minh chính trị” đã nêu ra: “Văn minh chính trị xét từ trạng thái tĩnh, nó là toàn bộ thành quả tiến bộ đạt được trong tiến trình chính trị; xét từ trạng thái động, nó là quá trình tiến hóa cụ thể trong

sự phát triển chính trị của xã hội loài người”

Xuất phát từ những quan niệm trên, chúng ta thấy văn hóa chính trị là một khái niệm dùng để chỉ mối quan hệ giữa văn hóa đối với hành vi chính trị của con người Văn hóa gắn liền với dân tộc, phản ánh bản sắc độc đáo của dân tộc Mỗi dân tộc đều có một nền văn hóa riêng Chính vì vậy, cùng với một chế độ chính trị nhưng ở mỗi nước khác nhau có những biểu hiện văn hoá chính trị khác nhau Bởi người dân tham gia hoạt động chính trị ở từng

Trang 2

nước chịu ảnh hưởng sâu sắc truyền thống văn hóa dân tộc mình Vì vậy, hoạt động chính trị của họ có sắc thái riêng phản ánh nền văn hóa dân tộc đó

2 Các quan niệm ở Việt Nam

Những năm gần đây, vấn đề văn hóa chính trị đã được đưa vào trong chương trình nghiên cứu và giảng dạy ở Việt Nam Các nhà nghiên cứu Việt Nam đang cố gắng xây dựng một khái niệm đầy đủ về văn hóa chính trị, nhưng cho đến hiện nay, đây vẫn là một vấn đề mới trong lý luận nhận thức ở Việt Nam Để có một quan điểm đúng đắn về văn hóa chính trị, các nhà nghiên cứu ở Việt Nam đã vận dụng phép biện chứng giữa cái chung và cái riêng (văn hóa và văn hóa chính trị) và nêu ra được quan niệm riêng của mình về văn hóa chính trị

Trong cuốn sách “Tập bài giảng chính trị học”, các tác giả đã xác định: “Văn hóa chính trị là tổng hợp những giá trị vật chất, tinh thần được hình thành trong thực tiễn chính trị Nó

là cái góp phần chi phối hoạt động của các cá nhân, của các nhà chính trị, góp phần định hướng hoạt động của họ trong việc tham gia vào đời sống chính trị để phục vụ lợi ích căn bản của một giai cấp nhất định Văn hóa chính trị góp phần định hướng mục tiêu hoạt động cho các tổ chức chính trị, đặc biệt là Đảng và Nhà nước, cho các phong trào chính trị trong một xã hội nhất định”

Nguyễn Đăng Duy trong cuốn “Phật giáo với văn hóa Việt Nam” đã cho rằng: Khái niệm văn hóa chính trị dùng để nói lên một nội dung văn hóa, để chỉ về tri thức chính trị (tư tưởng học thuyết chính trị) tích lũy được trong việc điều hành quản lý một xã hội, một cộng đồng hoặc một quốc gia nào đó Về các quan hệ chính trị giữa các quốc gia các dân tộc, qua hoạt động ngoại giao Về những kinh nghiệm hoạt động chính trị thực tiễn của các cá nhân

và của các tổ chức xã hội nào đó”.

GS, TS Nguyễn Văn Huyên cũng đã định nghĩa: “Văn hóa chính trị là một phương diện của văn hóa, ở đó kết tinh toàn bộ giá trị, phẩm chất, trình độ, năng lực chính trị, được hình thành trên một nền chính trị nhất định, với phương thức hoạt động chính trị nhất định, thực hiện lợi ích giai cấp, dân tộc, cộng đồng phù hợp với xu hướng phát triển và tiến bộ của xã hội loài người”

Là một phương diện của văn hóa, cho nên văn hóa chính trị là nhát bổ dọc lịch sử văn hóa theo lĩnh vực hoạt động chính trị Những bản chất, tính chất, đặc trưng và kết cấu của văn hóa đều có mặt trong văn hóa chính trị Cái riêng của văn hóa chính trị ở đây chỉ là những bản chất, đặc tính, yếu tố văn hóa đó biểu hiện trong lĩnh vực hoạt động chính trị mà thôi Nếu như văn hóa có mặt trong mọi suy nghĩ, hành vi của con người, xã hội, thẩm thấu trong mọi hoạt động và mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thì văn hóa chính trị cũng có mặt khắp nơi trong đời sống chính trị, từ những giá trị do nền chính trị tạo ra cho đến năng lực hoạt động chính trị và trình độ của những chủ thể chính trị, từ chất lượng hoạt động chính trị cho đến lối ứng xử văn minh, hợp lý, khoa học, hiệu quả trong đời sống chính trị

Văn hóa chính trị, rõ ràng không đơn thuần, không phiến diện là biểu hiện của hành vi văn hóa như quan niệm thông thường trong hoạt động chính trị; nó là huyết mạch, là nguồn sống, nguồn sức mạnh bên trong của chính bản thân cơ thể chính trị; nó quy định một nền chính trị đầy sức sống, đầy tiềm năng, đầy sức mạnh, nhưng cái đặc trưng nhất của văn hóa chính trị là sức sống, sức mạnh của một nền chính trị vươn tới những giá trị cao đẹp, tới xã hội nhân đạo, nhân văn (Nguyễn Văn Huyên, Sđd)

Từ đó đến nay cùng với sự phát triển đa dạng của khoa học chính trị, nội hàm của khái niệm văn hóa chính trị cũng được hiểu rất khác nhau, nên khó có thể dựa hẳn vào một định nghĩa nào Hơn nữa, mặc dù các học giả phương Tây là những người đi tiên phong trong việc

Trang 3

đưa ra khái niệm, nhưng xét về thực chất, văn hóa chính trị đã hình thành từ rất sớm và không phải chỉ có ở châu Âu

Văn hóa là sản phẩm sáng tạo của con người nên luôn in đậm dấu ấn của chủ nhân Chính vì vậy mà người ta thường nói văn hóa là căn cước để nhận diện một cộng đồng, một dân tộc Nhưng chính con người cũng là sản phẩm của môi trường và hoàn cảnh, của những tác động khách quan

Từ những tiếp cận nêu trên, có thể khái quát "Văn hóa chính trị là một bộ phận ( thành tố) của văn hóa tổ chức xã hội, bị quy định bởi trình độ, đặc trưng văn hóa của một cộng đồng người (bộ lạc, bộ tộc, dân tộc, quốc gia) trong việc tổ chức đời sống cộng đồng, trong việc nắm giữ quyền lực, thực thi quyền lực và tham gia vào công việc của bộ máy quyền lực của cộng đồng, thể hiện ra như một “kiểu”, “dạng”, “nền”, “hệ thống” chính trị nhất định trong lịch sử”

Câu 2: Anh, chị hãy trình bày những đặc trưng văn hóa chính trị Việt Nam truyền thống

1 Văn hóa chính trị thời kỳ Văn Lang- Âu Lạc

Văn hóa chính trị thời kỳ này được hình thành trên các điều kiện về sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp và các điều kiện về văn hóa- xã hội

a Sự hình thành nhà nước

Nhà nước là một phạm trù lịch sử của xã hội có giai cấp Điều kiện quan trọng số một để nhà nước có thể ra đời được là trên cơ sở sức sản xuất phát triển dẫn đến tình trạng phân hóa

xã hội Nhà nước ra đời là sản phẩm tất yếu của một xã hội mà mâu thuẫn giai cấp đã phát triển đến mức không thể điều hòa được Đây là quy luật hình thành chung của tất cả các nhà nước trên thế giới, không loại trừ bất cứ một kiểu nhà nước nào dù đó là nhà nước Aten, Hy Lạp, Giécmanh hay nhà nước mang tính đặc thù phương Đông

Yêu cầu đoàn kết chống xâm chiếm lãnh thổ và thủy lợi với nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước ở vùng lưu vực sông Hồng đã tác động rất mạnh vào quá trình hình thành Nhà

nước đầu tiên trong lịch sử Việt Nam - Nhà nước Văn Lang Nhà nước Văn Lang - Âu Lạc ra

đời trong điều kiện phân hóa giai cấp chưa thật sâu sắc Bên cạnh chức năng quản lý xã hội,

nó còn phải đảm đương hai chức năng công cộng là tổ chức chống thiên tai, mở mang địa bàn

cư trú và tổ chức chống xâm lấn lãnh thổ

b Triết lý, tư tưởng chính trị

Văn hóa chính trị thời kỳ Văn Lang - Âu Lạc là văn hóa chính trị bộ lạc, vì vậy, triết lý

về quyền lực chính trị chưa mang tính giai cấp sâu sắc, hay nói cách khác, ý thức về quyền lực chưa thật rõ ràng và còn giản đơn Người ta quan niệm quyền lực xuất hiện một cách tự nhiên hoặc bắt nguồn từ quyền năng đặc biệt của người đứng đầu bộ lạc

Ý thức chính trị thời Văn Lang - Âu Lạc là ý thức cố kết cộng đồng, chung sống hòa thuận và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, chống sự xâm lấn của các cộng đồng khác, đặc biệt các thế lực từ phương Bắc

Tinh thần cố kết cộng đồng, chung sống hòa thuận được thể hiện ở sự ứng xử giữa những người cầm quyền với các thành viên của bộ lạc tương đối bình đẳng và gần gũi

Tinh thần cố kết cộng đồng còn được thể hiện ý thức giữ gìn sự thống nhất lãnh thổ, địa bàn cư trú và cả sự hợp nhất hai nhà nước của người Lạc Việt và người Âu Việt thành nhà nước Âu Lạc

Trang 4

Tinh thần bảo vệ chủ quyền lãnh thổ là biểu hiện ý thức chính trị cơ bản nhất của văn hóa chính trị thời Văn Lang - Âu Lạc và cũng là sự khai mở cho truyền thống chính trị Việt Nam

c Hệ thống thực hành và các thành tố khác của văn hóa chính trị

Khái niệm nhà nước sơ khai cũng khá mơ hồ và thật co giãn Nó có thể dừng lại ở các tổ chức Mường của người Mường, Tày, Thái, ở đó chúa Mường cai quản theo dòng họ, hoặc có thể ghép vào hạng các vương quốc cổ đại thực sự kiểu Âu Lạc

Thiết chế chính trị (bộ máy nhà nước) 3 cấp đã được tổ chức với 3 cấp chức năng tương ứng Cơ quan cao nhất có Lạc Vương quản lý, Lạc Hầu giúp việc, ở cấp huyện có Lạc Tướng quản lý và đứng đầu các "làng xã" là Bố Chính

Thể chế chính trị tức là luật pháp (luật lệ) thời Văn Lang - Âu Lạc có "phong tục thuần

hậu, chất phác, chính sự dùng lối kết nút" Hậu Hán thư ghi lại việc Mã Viện tâu với vua Hán

rằng: Luật của người Giao Chỉ có 10 điều khác với luật nhà Hán cần sửa đổi đã nói lên rằng, người Việt lúc đó đã có luật lệ riêng của mình

Thể chế chính trị còn biểu hiện ở việc thực hiện quyền uy của bộ máy quyền lực, nhân cách của người cầm quyền một thành tố tạo nên nền văn hóa chính trị bộ lạc

2 Văn hoá chính trị thời kỳ độc lập, tự chủ (938 - 1884)

a Triết lý về quyền lực chính trị

Triết lý là những quan điểm có tính triết học giải thích một cách sâu sắc về một vấn đề nào đó Triết lý chính trị là những quan điểm có tính triết học giải thích về bản chất của chính trị mà vấn đề cơ bản là quyền lực chính trị: từ đâu mà ra, nằm trong tay ai, phục vụ lợi của người nào và được sử dụng như thế nào?

Triết lý chính trị giai đoạn này vừa dựa trên triết lý chính trị trong truyền thống của dân tộc, vừa dựa trên triết lý chính trị Nho giáo và ít nhiều chịu ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo, Đạo giáo, những người cầm quyền ở nước ta thời kỳ độc lập, tự chủ đã giải thích về quyền lực của mình và việc thực thi quyền lực đó đều là việc tuân theo mệnh trời

Tư tưởng chính trị thời kỳ độc lập, tự chủ trong văn hoá chính trị còn chịu ảnh hưởng của quan điểm Phật giáo có phần dân chủ, thân dân hơn Theo các nhà tu hành đạo Phật, quyền lực chính trị gắn với trách nhiệm đạo đức, gắn với nguyện vọng của nhân dân, được nhân dân trao gửi, uỷ thác

Tư tưởng về quyền lực chính trị thời độc lập, tự chủ không chỉ chịu ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo, Phật giáo mà căn bản là phát huy, phát triển tư tưởng chính trị, truyền thống của dân tộc

b Tư tưởng chính trị

Trong thời kỳ độc lập, tự chủ, khi giai cấp cầm quyền còn giữ được vai trò lịch sử tích cực, các đại biểu ưu tú của giai cấp ấy là những “minh quân”, “thánh chúa” (vua sáng, tôi hiền) thường nêu ra quan điểm của họ về xây dựng một xã hội lý tưởng và ít nhiều họ cũng

đã thực hiện theo lý tưởng đó

Tư tưởng chính trị - xã hội trong thời kỳ này luôn luôn đề cao nền độc lập dân tộc và vô tốn Trung Hoa, thể hiện ở tinh thần khẳng định chủ quyền đất nước, ý chí không chịu khuất phục, quyết tâm chống kẻ thù xâm lược

Một nét đặc thù của lý tưởng chính trị - xã hội Việt Nam thời kỳ độc lập, tự chủ là tinh thần thân dân, tinh thần cố kết cộng đồng trong tâm thức của những người cầm quyền

c Hệ thống thực hành văn hóa

Thể chế chính trị (Pháp luật, chính sách)

Trang 5

Thể chế chính trị trong hệ thống thực hành văn hoá chính trị Việt Nam thời kỳ đôc lập tự chủ vê cơ bản là thống nhất trên cơ sở bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền gắn với lợi ích của dân tộc, chịu ảnh hưởng của tư tưởng chính trị Nho giáo Trung Hoa Song, do đặc điểm văn hoá, xã hội của đất nước mỗi giai đoạn lịch sử trong thời kỳ này có những nét riêng Đường lối chính trị tích cực của các vương triều thời kỳ này là cơ sở cho việc xây dựng các văn bản pháp luật, thể chế chính trị quan trọng trong văn hoá chính trị của nhà nước quân chủ phong kiến Để tổ chức xã hội, quản lý đất nước theo đường lối chính trị đã được vạch ra, nhà nước phong kiến đã cho soạn thảo và ban hành nhiều văn bản pháp luật, các đạo dụ, các chiếu sắc có tính pháp lý

Thiết chế chính trị (Bộ máy quyền lực)

Để điều hành xã hội, thực thi pháp luật, bộ máy quyền lực nhà nước đã được xây dựng qua các triều đại trong thời kỳ độc lập, tự chủ Đến thời Lê Sơ, thời Nguyễn, bộ máy được coi

là ổn định và hoàn chỉnh từ trung ương đến cơ sở Đặc trưng của bộ máy quyền lực nhà nước phong kiến tập quyền ở bên trên kết hợp với dân chủ, tự trị nơi làng xã (ở cơ sở), một đặc thù của thiết chế chính trị trong văn hoá chính trị nước ta

Bộ máy nhà nước theo năm cấp hành chính: quốc gia (triều đình), lộ, trấn, phủ, huyện (địa phương), xã (cơ sở) hay: quốc gia (triều đình trung ương), tỉnh, phủ, huyện (địa phương), tổng (cơ sở) Dưới xã (tổng) là làng, thôn, có bộ máy quyền lực mang tính tự quản do người dân trực tiếp bầu ra

Hoạt động chính trị (Công nghệ chính trị)

Hoạt động chính trị bao gồm phương thức, cách thức hay qui trình tiến hành một công việc nào đó trong đời sống chính trị của chủ thể chính trị Nói cách khác hoạt động chính trị

là phương pháp, cách thức thực thi quyền lực chính trị của người nắm quyền lực Hoạt động chính trị thể hiện một trình độ nhất định của văn hoá chính trị của một quốc gia, một thời đại Hoạt động chính trị rất phong phú và đa dạng trong đời sống chính trị, ở đây chỉ đi vào một số qui định trong một số lĩnh vực chính trị cơ bản (mang đặc thù văn hoá dân tộc, thời đại)

Đào tạo tuyển dụng người cầm quyền

Hoạt động đào tạo người cầm quyền bao gồm công việc “truyền tử” của các nhà cầm quyền (trao quyền và nắm giữ quyền lực) và đào tạo, tuyển dụng quan lại (những người thừa hành) quyền lực

Công việc “truyền tử” về cơ bản bảo đảm cho việc nắm giữ quyền lực của các gia đình, dòng họ quý tộc cầm quyền được duy trì lâu dài từ thế hệ này đến thế hệ khác (quân chủ thế tập) Quan lại được tuyển dụng qua con đường bảo cử do những người đã và đang làm quan,

có uy tín tiến cử và được tuyển dụng theo con đường khoa cử là những người có học qua thi

cử, đỗ đạt ở trường ốc, từ hương cống, cử nhân, tiến sỹ sẽ được bổ nhiệm quan chức theo bằng cấp

Hoạt động quản lý xã hội

Công việc quản lý xã hội của nhà nước thông qua việc xây dựng, ban hành các chính sách và thực thi các chính sách của triều đình Chính sách thể hiện ở các đạo dụ, chỉ dụ, khẩu

dụ, những lời phê của ông vua vào các tấu, chương quan lại tâu lên

d Hệ thống nhân cách của chủ thể chính trị tiêu biểu

Các nhà chính trị khai mở nền độc lập, tự chủ, khai mở các triều đại: Điểm chung nổi

bật trong nhân cách của các nhà chính trị tích cực là tinh thần yêu nước, thương dân, ý thức

Trang 6

trách nhiệm trước đất nước, tinh thần tự ý thức, anh dũng, kiên cường thực hiện sứ mệnh cao

cả của mình Họ được nhân dân nguyện theo, ủng hộ ngưỡng vọng về tài năng và đức độ

Các nhà chính trị xây dựng đất nước và chế độ: Đặc điểm chung nhân cách của họ là

tài năng và đức độ, thông minh sáng suốt, công lao của họ là “trị quốc, an dân”, họ được đào tạo chu đáo và rèn luyện bản thân nghiêm túc Dưới sự cầm quyền của họ đất nước phát triển

về mọi mặt, đời sống nhân dân được bảo đảm

Nhân cách của các vị quí tộc, quan lại, những nhà chính trị tham gia chính sự với tư cách là các bậc “tôi hiền” Họ là những anh hùng dân tộc, những danh nhân văn hoá, có công đánh giặc cứu nước, phò vua xây dựng triều đình, xã tắc, thân dân, phát triển nền văn hiến dân tộc

Nhân cách nhà chính trị tiêu cực

Đó là những ông vua, quan lại đã tự biến mình thành “hôn quân, bạo chúa”, ăn chơi sa đoạ, bòn vét của dân, tàn bạo gây hoạ cho nước, cho vương triều

e Hệ thống ngoại hiện

Các yếu tố vật thể: Bao gồm các yếu tố thành quách (nơi triều đình đóng đô), cung điện,

lăng tẩm (nơi chôn cất vua, chúa), đài các, đồ dùng, các phương tiện đi lại, ăn mặc, ở của vua, chúa, quan lại

Sự vật tinh thần (phi vật thể): Bao gồm ngôn từ, lễ nhạc, giai thoại, qui tắc đạo đức,

ứng xử mang ý nghĩa biểu hiện uy quyền

Câu 3: Anh, chị hãy trình bày những đặc trưng văn hóa chính trị Việt Nam thời kỳ hiện đại

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, kết thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử vào 30 tháng 4 năm 1975, đất nước ta hoàn toàn độc lập và thống nhất

- Nền kinh tế nước ta dần dần, chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, kế hoạch hoá, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Nền kinh tế từ chỗ chỉ dựa trên hai thành phần kinh tế nhà nước và tập thể sang nền kinh tế đa thành phần, trong đó thành phần kinh tế quốc doanh là chủ đạo

- Điều kiện xã hội đã có những chuyển biến căn bản: trong xã hội không tồn tại những giai cấp đối kháng như trước đây (1975), xã hội cơ bản đồng thuận, vai trò của các tầng lớp giai cấp xã hội được sắp xếp lại với các vị trí nhất định trong đời sống chính trị, xã hội: công nhân, nông dân, tri thức, doanh nhân

Những điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội và văn hoá trên là cơ sở cho nền văn hoá chính trị Việt hiện nay

2 Triết lý chính trị: xây dựng đất nước dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ,công bằng, văn minh

2.1 Triết lý về quyền lực chính trị

- Triết lý về quyền lực chính trị trong văn hoá chính trị giai đoạn (1976 - 2013) vẫn là triết lý chính trị của giai đoạn 1945 - 1975 nhưng được xác định rõ hơn và phát triển thêm Quyền lực chính trị vẫn là quyền lực của dân, do dân, vì dân nhưng được thể hiện trực tiếp trong “việc xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa do nhân dân lao động làm chủ”

- Quyền lực chính trị đã được hiến định, trong Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa đổi năm 2001): “Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất

Trang 7

cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức (Điều 2)

2.2 Lý tưởng chính trị - xã hội

- Lý tưởng chính trị - xã hội thể hiện tập trung trong Cương lĩnh năm 1991 xây dựng

xã hội xã hội chủ nghĩa với 6 mục tiêu: do nhân dân lao động làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao trên cơ sở lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, được phát triển tự do và toàn diện; các dân tộc trong nước đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển; có tinh thần hoà bình và hữu nghị với các nước trên toàn thế giới

Lý tưởng chính trị - xã hội cũng được Hiến pháp năm 1992 khẳng định: “Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện, nghiêm cấm mọi hành động xâm phạm lợi ích Tổ quốc và của nhân dân” (Điều 2)

- Lý tưởng chính trị - xã hội trên đây được bổ sung và phát triển trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, được Đại hội Đại biểu toàn quốc

của Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI (năm 2011) thông qua; “Xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển; có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”

3 Hoàn thiện thể chế chính trị nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

3.1 Đường lối chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam - đảng cầm quyền

-Kkhẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng và Đảng lãnh đạo đất nước bằng đường lối chính trị được đặt ra trong các Văn kiện Đại hội của Đảng hay trong các Nghị quyết của Ban chấp hành trung ương, Bộ Chính trị trung ương Đảng

Văn kiện ghi dấu ấn của đường lối chính trị trong văn hoá chính trị giai đoạn này là Nghị quyết của Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (năm 1986) Đại hội lần thứ VI đã vạch ra đường lối đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đai hoá bắt đầu bằng đổi mới tư duy kinh tế

Đặc biệt Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI vừa qua mang tính chất xác định cương lĩnh mở đầu cho một giai đoạn phát triển mới của đất nước giai đoạn đẩy mạnh

công nghiệp hoá, hiện đại hoá Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua trong Đại hội XI đã vạch ra những phương hướng cơ bản sau

đây:

Một là, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri

thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường

Hai là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Ba là, xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con

người, nâng cao đời sống của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội

Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và văn minh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.

Trang 8

Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và

phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế

Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đoàn kết dân tộc, tăng cường

và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất

Bảy là, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì

nhân dân

Tám là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Các Nghị quyết Hội nghị Trung ương các khoá từ khoá VI đến khoá XI đã đang cụ thể hoá các phương hướng cơ bản trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội

3.2 Hệ thống pháp luật, chính sách

Vấn đề này đã được thực hiện thường xuyên, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước, củng cố quyền lực chính trị của Đảng “cầm quyền”

Trong giai đoạn hiện nay, Hiến pháp - đạo luật cơ bản của đất nước đã được soạn thảo công bố và sửa chữa 4 lần: Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 (sửa chữa năm 2001)

và sắp có Hiến pháp năm 2013 (đang lấy ý kiến đóng góp của nhân dân về bản dự thảo) Ngoài đạo luật cơ bản, các văn bản khác mang tính pháp luật về cơ quan quyền lực đã được ban hành: Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001, Luật

Tổ chức Toà án nhân dân năm 2002, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và các luật về Mặt trận, luật về Công đoàn, luật về Thanh niên

Hệ thống pháp luật nhằm hiến định các quyền lực chính trị, vai trò của các cơ quan quyền lực, các tổ chức chính trị và khẳng định vai trò của pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa với các nội dung cơ bản:

+ Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống, trên tất cả các lĩnh vực

+ Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân vì nhân dân

+ Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo

+ Nhà nước thực hiện quyền làm chủ của nhân dân thông qua hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và hình thái dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện

Nhìn vào các văn bản pháp luật với các nội dung như trình bày ở trên, thể hiện sự phát triển cao hơn, sâu sắc hơn, chặt chẽ hơn của hệ thống thể chế chính trị yếu tố quan trọng trong văn hoá chính trị giai đoạn này

Các chính sách của Nhà nước đã cụ thể hoá các văn bản pháp luật trên từng lĩnh vực của đời sống xã hội: chính sách dân tộc, chính sách đối với người có công với cách mạng, chính sách xoá đói, giảm nghèo đã đi vào cuộc sống

4 Hoàn thiện thiết chế chính trị: hệ thống chính trị nhà nước pháp quyền XHCN

- Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội (Điều

4 Hiến pháp 1992)

- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ( ); quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan, trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Nhà

Trang 9

nước phục vụ nhân dân gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân

- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của các

tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận của hệ thống chính trị, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân các cấp

- Các tổ chức xã hội, đoàn thể nhân dân tuỳ theo tính chất, tôn chỉ và mục đích được xác định, vận động, giáo dục hội viên, đoàn viên; giáo dục hội viên, đoàn viên chấp hành luật pháp, chính sách; chăm lo, bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của hội viên, đoàn viên tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội

Xem vậy, hệ thống thiết chế chính trị trong văn hoá chính trị hiện nay là rất đa dạng, phong phú vừa mang tính dân chủ rộng rãi, vừa mang tính tập trung, bảo đảm quyền lực chính trị về tay nhân dân Có thể xem đây là biểu hiện của văn hoá chính trị dân chủ, cao hơn nền văn hoá chính trị nhân dân tham dự trong xã hội tư sản

5 Công nghệ chính trị: kết hợp pháp quyền XHCN với giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống

- Công nghệ hình thành bộ máy quyền lực chính trị: Quốc hội đã xây dựng và ban hành các luật bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp theo nguyên tắc dân chủ, tự do, phổ thông đầu phiếu

- Công nghệ điều hành hoạt động của bộ máy quyền lực và hệ thống chính trị theo nguyên tắc: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ; sự thống nhất và phân công giữa ba nhánh quyền lực: lập pháp, hành pháp và tư pháp

- Công nghệ giám sát quyền lực chính trị của các cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị: giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Thanh tra Chính phủ, của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân

- Công nghệ đánh giá cán bộ bỏ phiếu tín nhiệm, lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức

vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu và bổ nhiệm

- Công nghệ đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt cán bộ, công chức và Nhà nước, tổ chức thi nâng ngạch công chức, tuyển cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước các cấp

- Công nghệ, quy trình tổ chức đại hội và ra quyết định của các tổ chức chính trị, xã hội, các đoàn thể nhân dân được xây dựng

- Đảng Cộng sản Việt Nam còn ban hành Quy chế dân chủ ở cơ sở, một công nghệ chính trị mới ở nước ta góp phần tổ chức, quản lý đời sống chính trị xã hội ở đơn vị hành chính cấp

cơ sở của đất nước

Không thể thống kê đầy đủ hệ thống các công nghệ chính trị trong nền văn hoá chính trị Việt Nam hiện nay, bởi bất cứ hoạt động chính trị nào cũng có công nghệ của nó và hệ thống công nghệ chính trị ngày càng phát triển và mở rộng

Câu 4: Anh, chị hãy trình bày cấu trúc văn hóa chính trị từ góc nhìn văn hóa học

Văn hoá chính trị cũng như văn hoá nói chung đều là những hiện tượng xã hội mang tính chỉnh thể, mang tính hệ thống và có mối liên hệ mật thiết với nhau Nghĩa là văn hoá chính trị vừa là một thành tố của văn hoá nói chung, cũng là một bộ phận cấu thành văn hoá tổ chức xã hội, vừa là một tiểu hệ thống khi tách riêng khỏi hệ thống lớn: văn hoá nói chung, văn hoá tổ chức xã hội nói riêng

Trang 10

Nếu chúng ta chấp nhận quan niệm văn hoá chính trị là những “kiểu”, “dạng”, “nền” chính trị khác nhau như cách quan niệm về các nền văn hoá (văn hóa số nhiều) thì chỉ khác nhau ở tính chất, trình độ, đặc trưng dân tộc và thời đại còn cấu trúc cơ bản đều giống nhau với các thành tố sau:

1 Triết lý, tư tưởng chính trị - Hệ thống định hướng: bao gồm các triết lý dựa trên các

quan điểm triết học, tôn giáo, đạo đức… lý giải nguồn gốc, bản chất chính trị (quan hệ, quyền lực, mục tiêu chính trị…) từ đâu mà ra, vì mục đích gì? Triết lý chính trị cũng có thể là sứ mệnh, nhiệm vụ và các giá trị định hướng chính trị cơ bản của mỗi cộng đồng, mỗi thời đại khác nhau Tư tưởng là quan điểm học thuyết, đường lối chính trị của mỗi giai cấp, của mỗi quốc gia trong một giai đoạn lịch sử nhất định Đây là hệ thống cốt lõi định hướng (chi phối) nền văn hóa chính trị của một quốc gia

2 Thể chế - thiết chế chính trị - Hệ thống công cụ hành động

- Thể chế chính trị: là toàn bộ các quy phạm pháp luật (hay luật hóa tư tưởng, đường lối chính trị) thành các văn bản luật và dưới luật), luật tục quy định, điều chỉnh hành vi chính trị của các chủ thể chính trị

- Thiết chế chính trị: là toàn bộ các hệ thống, tổ chức chính trị - xã hội bảo đảm thực hiện quyền lực chính trị, nên trong đời sống chính trị của một nhà nước, xã hội (cách thức tổ chức, cách thức hoạt động)

3 Công nghệ chính trị: Cách thức, công nghệ, quy trình tiến hành những hoạt động

trong đời sống chính trị (gắn với tri thức, trình độ, kỹ năng, nghệ thuật…) của các chủ thể chính trị (đặc biệt là chủ thể nắm quyền lực chính trị)

4 Nhân cách, hành vi của chủ thể chính trị: bao gồm nhân cách, hành vi của chủ thể

chính trị cầm quyền, lãnh đạo, quản trị xã hội và công dân tiêu biểu của nền chính trị nhất định và người chịu sự tác động của quyền lực chính trị

5 Yếu tố ngoại hiện: bao gồm các hình thức, cách thức, biểu tượng, biểu hiện… (và cả

các doanh nhân chính trị, công dân tiêu biểu) qua đó triết lý, tư tưởng, văn hóa chính trị được thể hiện ra một cách sinh động, trực quan

Như vậy, bất cứ nền văn hoá chính trị nào cũng có cấu trúc bao gồm 5 yếu tố (5 vi hệ) như trên, chúng gắn bó và tác động lẫn nhau

Dựa vào cách chia cấu trúc của văn hoá chính trị trên đây (mà chúng tôi quan niệm là cấu trúc văn hoá chính trị dưới góc nhìn văn hoá học) người ta có thể nhìn thấy cái chung của các nền văn hoá chính trị và cả sự khác nhau của chúng khi chỉ ra tính chất, trình độ và đặc trưng của mỗi yếu tố trong mỗi nền văn hoá chính trị khi so sánh với nhau

Câu 5: Anh, chị hãy trình bày tính chất, chức năng của văn hóa chính trị nhìn từ góc độ văn hóa học

- Tính chất của văn hóa chính trị: theo chúng tôi, tính chất của văn hóa chính trị là/và tính chất của văn hóa nói chung Văn hóa chính trị là một lĩnh vực của văn hóa nói chung nên văn hóa nói chung có tính chất gì thì văn hóa chính trị có tính chất đó Song văn hóa chính trị giữ những tính chất của văn hóa nói chung một cách đặc thù hơn các lĩnh vực văn hóa khác Chẳng hạn, tính giai cấp trong văn hóa chính trị của xã hội có và còn giai cấp được thể hiện rất đậm so với các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, văn hóa khoa học, văn hóa đạo đức…

Song trong bốn tính chất xã hội của văn hóa nói chung và văn hóa chính trị nói riêng (tính giai cấp, tính dân tộc, tính nhân loại, tính lịch sử) thì tính giai cấp không phải là tính

Ngày đăng: 18/11/2022, 09:04

w