HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH TIỂU LUẬN MÔN LỊCH SỬ XÂY DỰNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Đề tài Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo giữ vững ổn định chính trị trong những năm đầu đổi mới (1986 1991).
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
TIỂU LUẬN MÔN: LỊCH SỬ XÂY DỰNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Đề tài:
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo giữ vững ổn định chính trị
trong những năm đầu đổi mới (1986 -1991)
HỌ VÀ TÊN:
LỚP:
Trang 2HÀ NỘI,
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 3
1.1 VẤN ĐỀ GIỮ VỮNG ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ TRONG ĐƯỜNG LỐI VÀ TỔ CHỨC THỰC TIỄN CỦA ĐẢNG TRƯỚC ĐẠI HỘI VI 3
1.1.1 Vấn đề giữ vững ổn định chính trị trong tiến trình lịch sử cầm quyền của Đảng trước đổi mới 3
1.1.2 Một số nhận xét về Đảng lãnh đạo giữ vững ổn định chính trị trước đổi mới 8
1.2 TÌNH THẾ ĐẤT NƯỚC NHỮNG NĂM ĐẦU ĐỔI MỚI VÀ CHỦ TRƯƠNG GIỮ VỮNG ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ CỦA ĐẢNG 10
1.2.1 Tình thế đất nước những năm đầu đổi mới 10
1.2.1 Đại hội VI với chủ trương giữ vững ổn định chính trị 10
1.3 BIỆN PHÁP VÀ KẾT QUẢ CHỦ YẾU CỦA ĐẢNG VỀ LÃNH ĐẠO GIỮ VỮNG ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ TỪ 1986 ĐẾN 1991 17
1.3.1 Kiên trì các nguyên tắc xã hội chủ nghĩa chỉ đạo quá trình đổi mới 17
1.3.2 Tăng cường các công cụ đấu tranh với những mưu đồ gây bất ổn về chính trị 18
1.3.3 Tạo thêm thế và lực về mặt đối ngoại phục vụ giữ vững ổn định chính trị 19
1.3.4 Cải cách chính trị - vấn đề cơ bản để giữ vững ổn định chính trị 20
1.3.5 Xử lý các tình huống có nguy cơ dẫn đến bất ổn chính trị 21
KẾT LUẬN 23
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 25
Trang 4MỞ ĐẦU
Kể từ khi giành được chính quyền đến nay, cách mạng Việt Namthường xuyên gặp phải sự chống phá quyết liệt của thù trong, giặc ngoài, màmục tiêu trực tiếp của chúng là gây bất ổn về chính trị, làm cho Đảng mất khảnăng kiểm soát đất nước Do đó, gắn liền với lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộngsản Việt Nam hết sức coi trọng giữ vững ổn định chính trị, vì ổn định chính trị
là tiền đề cho thực hiện các nhiệm vụ cách mạng Có thể khẳng định, khôngthể có thắng lợi của cách mạng Việt Nam nếu không giữ vững được ổn địnhchính trị Thực tiễn hơn hai mươi năm đổi mới cũng xác nhận sáng rõ mộttrong những thành tựu to lớn là giữ vững được ổn định chính trị Thành tựu
đó không chỉ được khẳng định trong các văn kiện của Đảng, Nhà nước, màngay cả bạn bè quốc tế cũng đồng cảm, chia xẻ Giữ vững ổn định chính trị có
ý nghĩa to lớn đối với việc tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư nướcngoài, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội thực hiện công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước Phải so sánh với tình trạng bất ổn ở nhiều quốc gia trên thế giới
và những hệ luỵ của nó đối với đời sống xã hội thì mới thấy hết ý nghĩa lớnlao của thành tựu giữ vững ổn định chính trị ở nước ta Tuy vậy, cắt nghĩa đầy
đủ thành tựu đó dưới góc độ khoa học lại không dễ dàng, nhất là mối quan hệgiữa ổn định với phát triển, những cơ sở kinh tế - xã hội, tư tưởng - tổ chứcđảm bảo cho ổn định chính trị, ranh giới giữa ổn định chính trị với sự trì trệ
hệ thống chính trị mà hàm chứa trong nó nguy cơ bất ổn chính trị Đây lànhững vấn đề đặt ra rất nghiêm túc trước mắt đảng cầm quyền và đội ngũ
những người làm công tác khoa học Bởi lẽ, ổn định chính trị trở thành một
điều kiện đảm bảo sự thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;
ngược lại, bất ổn đồng nghĩa với phản phát triển mà trong trường hợp đó thìđối tượng chịu nhiều thua thiệt vẫn là nhân dân lao động và lợi ích quốc giadân tộc
Trang 5Vì vậy, việc thực hiện tiểu luận: “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo giữ vững ổn định chính trị trong những năm đầu đổi mới (1986 -1991)” là
một vấn đề khoa học có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc
Trang 6NỘI DUNG
1.1 VẤN ĐỀ GIỮ VỮNG ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ TRONG ĐƯỜNG LỐI VÀ
TỔ CHỨC THỰC TIỄN CỦA ĐẢNG TRƯỚC ĐẠI HỘI VI
1.1.1 Vấn đề giữ vững ổn định chính trị trong tiến trình lịch sử cầm quyền của Đảng trước đổi mới
- Từ 1945-1946: Thời kỳ giữ vững ổn định chính trị trong điều kiện Đảng mới chuyển từ hoạt động bí mật trở thành đảng cầm quyền, cơ cấu đa đảng tham chính, đất nước còn đứng trước hoạ ngoại xâm, chia cắt lãnh thổ
Cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền cách mạng non trẻ đứngtrước hàng loạt thách thức nghiêm trọng Đó là khó khăn của nạn đói, của tàichính trống rỗng, của dân trí thấp… khó khăn của thể chế chính trị mới thiếtlập mà về phía những người cách mạng mới chuyển từ hoạt động bí mật, bấthợp pháp, thiếu những kinh nghiệm cần thiết về đấu tranh giữ vững ổn địnhchính trị và phải chấp nhận chia xẻ quyền lực cho các đảng chính trị đối lập
Cơ cấu chính trị đa đảng tham chính, tình hình kinh tế - xã hội chồngchất khó khăn, đặc trưng an ninh - quốc phòng có sự hiện diện của quân đội
nước ngoài sau Cách mạng Tháng Tám 1945, đã đan cài nguy cơ bất ổn về
chính trị Hay nói cách khác, trong những năm 1945 - 1946, sự ổn định chỉ là
tương đối, sự bất ổn là nguy cơ thường trực Sự ổn định đó là chính quyềncách mạng được thiết lập từ Bắc tới Nam, vận hành thông suốt vì quyền lợicủa dân tộc và nhân dân, lòng dân quy tụ xung quanh Đảng và Chủ tịch HồChí Minh để thực hiện "kháng chiến và kiến quốc" Sự bất ổn về chính trịnằm ở ngay cơ cấu chính trị đa đảng mà các đảng phái đối lập, phản động dựavào thế lực ngoại bang tìm mọi cách phá hoại các chủ trương của Đảng, gâybất ổn về chính trị, tìm cách cướp chính quyền Sự bất ổn về chính trị cònnằm ở trạng thái căng thẳng của đất nước khi phải đối phó với sự tái xâm lược
vũ trang trở lại của Pháp; ở sự chống phá của quân Tưởng; ở tình trạng đấtnước bị chia cắt; ở các giai cấp, tầng lớp trong xã hội vừa mới trải qua cuộc
Trang 7cách mạng mà lợi ích, tâm lý còn bị chi phối bởi nhiều lực hút và lực đẩy
khác nhau Do đó, Đảng phải lãnh đạo thực hiện một quá trình "kép": hoá giải
nguy cơ bất ổn chính trị do kẻ thù và các lực lượng thù địch gây ra và giữvững sự ổn định chính trị trong chính bộ máy Đảng và chính quyền, trongđường lối, chính sách
Trên định hướng đó, Đảng đã thực hiện sách lược nhân nhượng, hoàhoãn với quân Tưởng; chấp nhận chia xẻ quyền lực về chính trị với các đảngphái chính trị thân Tưởng; tiến hành mạnh mẽ các biện pháp xoá mù chữ, pháttriển sản xuất, tăng cường thực lực kinh tế dân tộc; xây dựng khối đại đoànkết dân tộc làm cơ sở xã hội vững chắc cho các đảm bảo chính trị Đồng thời
với các nhóm biện pháp phi vũ trang nêu trên là các biện pháp vũ trang với
việc lãnh đạo Nam Bộ kháng chiến nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền và toànvẹn lãnh thổ trước xâm lược Pháp; kiên quyết trấn áp mọi âm mưu phản loạn,cướp chính quyền khi đủ bằng chứng, điển hình là vụ án Ôn Như Hầu vàotháng 7-1946 Với cả hai nhóm biện pháp phi vũ trang và vũ trang nêu trên đãgiúp chính quyền trụ vững, mạnh lên giữa bao khó khăn chồng chất để rồivững vàng, chủ động bước vào cuộc toàn quốc kháng chiến
- Từ 1946-1954: Thời kỳ Đảng lãnh đạo giữ vững ổn định chính trị trong điều kiện toàn quốc kháng chiến
Đặc điểm nổi bật của thời kỳ này là tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân,toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh là chính chống thực dân Pháp xâm lược
Cả nước bị chia thành hai vùng rõ rệt: vùng địch hậu và vùng tự do, mỗi vùng
do đặc trưng của nó đặt ra những yêu cầu riêng về giữ vững ổn định chính trị.Đối với vùng tự do, do chính quyền kháng chiến được thiết lập, vừa tổ chứcđời sống nhân dân, vừa điều hành cuộc kháng chiến, nên nhiệm vụ giữ vững
ổn định chính trị ở đây chính là củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, đảmbảo sự thống nhất về đường lối kháng chiến, đấu tranh với hoạt động phá hoạicủa thực dân Pháp Đối với vùng địch hậu, mục đích đặt ra là gây bất ổn với
Trang 8chính quyền địch, làm thất bại âm mưu "dùng người Việt trị người Việt" củaPháp, đồng thời xây dựng cơ sở chính trị của kháng chiến, xây dựng chínhquyền bí mật điều hành cuộc kháng chiến Ở đây, giữ vững đường lối khángchiến và kiên trì xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân trước sự chống pháquyết liệt của địch là nội dung chủ yếu nhất của giữ vững ổn định chính trị Như vậy, vấn đề giữ vững ổn định chính trị từ 1946 - 1954 mang một đặctrưng riêng của điều kiện kháng chiến, trong đó cốt lõi của giữ vững ổn địnhchính trị là đảm bảo sự thống nhất chính trị về kháng chiến trong toàn Đảng
và toàn dân, chống các hoạt động phá hoại của địch, tạo nên sức mạnh đểvượt qua mọi khó khăn, thử thách đưa kháng chiến đến thắng lợi
- Từ 1954-1975: Thời kỳ Đảng lãnh đạo giữ vững chính trị trong bối cảnh đất nước tạm thời bị chia làm hai miền thực hiện hai chiến lược cách mạng khác nhau
Sau Hiệp nghị Giơnevơ, đất nước tạm thời bị chia làm hai miền phải tiếnhành hai chiến lược cách mạng khác nhau: miền Bắc tiến lên CNXH, miềnNam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Do đó, sự nghiệpcách mạng chung trên cả nước và sự nghiệp cách mạng mỗi miền đặt ranhững yêu cầu riêng về giữ vững ổn định chính trị
Đối với miền Bắc, giữ vững ổn định chính trị là giữ vững bản chất hệ
thống chính trị, giữ vững sự thống nhất về đường lối chính trị và đấu tranhlàm thất bại với mọi âm mưu chống phá của các lực lượng thù địch và cơ hộichính trị Để giữ vững bản chất chế độ, Đảng đã lãnh đạo không ngừng xâydựng, củng cố chính quyền nhân dân, tăng cường sức mạnh đủ sức đáp ứngyêu cầu nhiệm vụ thời kỳ mới Tư tưởng chính trị và bộ máy tổ chức Đảngkhông ngừng được kiện toàn, trở thành hạt nhân lãnh đạo toàn xã hội và làđiều kiện tiên quyết đảm bảo cho giữ vững ổn định chính trị Các hoạt độngphá hoại trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng, văn hoá - nghệ thuật, bạo loạn dướichiêu bài dân tộc, tôn giáo, đều bị đưa ra ánh sáng và xử lý, điển hình là vụ
Trang 9bạo loạn Ba Làng ở Thanh Hoá 1953, các vụ liên quan đến vấn đề dân tộc ởmiền núi phía Bắc, liên quan đến vấn đề tôn giáo Các hoạt động cơ hộichính trị, có nguy cơ phá hoại sự thống nhất trong Đảng đều bị xử lý, nhờ đólàm cho Đảng giữ vững được khối thống nhất về ý chí và hành động, đủ sứclãnh đạo thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược ở hai miền Nam - Bắc Tuy vậy,
sự thống nhất về chính trị - tư tưởng thông qua áp đặt ý chí chủ quan củaĐảng trong xây dựng quan hệ sản xuất XHCN một cách nóng vội về lâu dàicũng gây ra những hệ luỵ, nhất là khi đường lối kinh tế bộc lộ tính hiệu quảthấp trong thực tế, đụng chạm trực tiếp đến nhu cầu và lợi ích của quầnchúng
Đối với miền Nam, nhiệm vụ ổn định chính trị chủ yếu là bảo vệ Đảng,
bảo vệ các tổ chức cách mạng, bảo vệ căn cứ cách mạng, bảo vệ nhân dân,chống hoạt động do thám, gián điệp, chống địch càn quét, chống lại các chiếnlược chiến tranh của địch, giành lại độc lập, thống nhất Tổ quốc Nhận biết rõvai trò của chính quyền cách mạng ở khu giải phóng, địch không chỉ cho máybay đánh phá mà còn tung biệt kích, gián điệp, thực hiện chiến tranh tâm lýđối với cán bộ, bộ đội, cho nên nhiệm vụ giữ vững ổn định chính trị được gắnchặt với xây dựng các khu căn cứ, vùng giải phóng vững, làm thất bại mọihoạt động chống phá từ bên trong, động viên và giáo dục cán bộ, đảng viênđoàn kết vượt qua mọi khó khăn để đi đến thắng lợi cuối cùng
Tìm ra đường lối cách mạng miền Nam đúng đắn, tạo được sự đồngthuận trong toàn Đảng, được sự ủng hộ, đồng tình của các Đảng anh em - một
cơ sở quan trọng đảm bảo cho giữ vững ổn định chính trị Do đó, Đảng taphải đấu tranh với những quan điểm sai trái có nguy cơ gây bất ổn về chínhtrị, tổn hại cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, tạo ý chíđồng thuận trong toàn Đảng và toàn xã hội về đường lối cách mạng miềnNam Điều này thể hiện bản lĩnh chính trị độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng
ta và cũng nhờ đó giữ vững được ổn định chính trị Đây là một thành công nổi
Trang 10bật của việc giữ vững ổn định chính trị trong cuộc kháng chiến chống Mỹ,cứu nước.
- Từ 1975-1986: Thời kỳ Đảng lãnh đạo giữ vững ổn định chính trị trong điều kiện đất nước rơi vào khủng hoảng kinh tế - xã hội ngày càng sâu sắc, các thế lực thù địch chống phá quyết liệt
Sau năm 1975, đất nước ta bên cạnh điều kiện hoà bình, thống nhất, cảnước cùng đi lên CNXH thì cũng phải đối diện với nhiều khó khăn, tháchthức Đó là khiếm khuyết của cơ chế quản lý, của bộ máy hệ thống chính trị,nếu chậm phát hiện có nguy cơ gây bất ổn ngay trong hệ thống Đó là hậu quảchiến tranh để lại trên cả hai miền Nam - Bắc, nhất là hậu quả về mặt xã hội,nếu xử lý thiếu khéo léo không những làm tổn hại đến khối đồng thuận xãhội, đến lòng dân, mà còn bị các thế lực thù địch bên ngoài kích động, lôi kéo,gây bất ổn xã hội Đó là khủng hoảng kinh tế - xã hội xuất hiện với tính chấtngày càng trầm trọng, không chỉ ảnh hưởng đến đời sống nhân dân, mà cả địa
vị, vai trò lãnh đạo của Đảng Đó là sự chống phá của các thế lực thù địch đốivới cách mạng Việt Nam, gồm cả kẻ thù cũ dù đã thất bại nhưng vẫn chưa từ
bỏ âm mưu chống phá và những kẻ thù mới xuất hiện chống phá quyết liệt,công khai, ra sức cấm vận, cô lập Việt Nam trên trường quốc tế Thực tiễnđất nước nảy sinh nhiều tình huống có thể dẫn tới bất ổn chính trị nếu khôngđược xử lý thấu đáo, ví như: vấn đề đấu tranh để tìm đường lối đổi mới thểchế kinh tế mà vẫn giữ được sự thống nhất trong Đảng, vấn đề di tản của một
bộ phận nhân dân, vấn đề dân tộc ở Tây Nguyên, vấn đề người Hoa từ 1978.Những vấn đề đó đặt ra đối với ổn định chính trị ở cả cấp độ tình huống vàtriết lý cầm quyền
Mặc dù phải đối diện với nhiều thách thức gay gắt có nguy cơ gây bất ổnchính trị nhưng Đảng đã lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân đoàn kết vượt qua khókhăn, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, làm thất bại mọi âm mưu chống phá của cácthế lực thù địch Thành tựu của giữ vững ổn định chính trị đã đảm bảo cho
Trang 11việc tìm ra đường lối đổi mới - cơ sở để bước vào công cuộc đổi mới với thái
độ tự tin
1.1.2 Một số nhận xét về Đảng lãnh đạo giữ vững ổn định chính trị trước đổi mới
Một là, vấn đề ổn định chính trị đã được đặt ra ngay từ khi Đảng chuyển
từ hoạt động bí mật sang cầm quyền, gắn liền với tiến trình cách mạng ViệtNam, với xây dựng và bảo vệ hệ thống chính trị, đấu tranh với các thế lực thùđịch âm mưu gây bất ổn chính trị, loại bỏ quyền lãnh đạo của Đảng, thủ tiêunền độc lập dân tộc Ổn định chính trị trở thành một nhu cầu tự thân của quátrình giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia cũng như phát triển đấtnước do Đảng lãnh đạo Nhu cầu đó xuất hiện từ nhân tố chủ quan của Đảng
và từ nhân tố khách quan quy định Về phía Đảng, muốn lãnh đạo cách mạng
đi tới thắng lợi thì phải có một cấu trúc ổn định, một đường lối thống nhất, đủkhả năng quy tụ toàn dân tộc Về phía kẻ địch, với âm mưu chống phá cáchmạng thì một trong những mục tiêu trước mắt là phá hoại các cơ cấu chính trịcách mạng, gây rối loạn xã hội và tiến tới loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảngcộng sản Do đó, bao giờ ở đâu còn vấn đề chính trị và đấu tranh chính trị thì
ở đó còn đặt ra vấn đề giữ vững ổn định chính trị
Hai là, giữ vững ổn định chính trị là vấn đề được đặt ra ở mọi thời kỳ
lịch sử lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam Song nội dung của
nó không nhất thành, bất biến, mà tuỳ theo bối cảnh lịch sử để xác định cáchtiếp cận riêng về ổn định chính trị Đó là ổn định chính trị trong điều kiệnchiến tranh hoàn toàn khác với điều kiện hoà bình; trong điều kiện ngoại bangcòn hiện diện trên đất nước khác với hoàn cảnh độc lập, thống nhất và giảiphóng; trong điều kiện phải chia xẻ quyền lãnh đạo trong thể chế đa đảngtham chính khác với điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền…
Ba là, phương thức đảm bảo giữ vững ổn định chính trị ở từng tình
huống cũng không giống nhau Có tình huống ổn định chính trị được được
Trang 12đảm bảo bằng biện pháp vũ trang, có tình huống lại được thực hiện bằng biệnpháp phi vũ trang với sự kết hợp giữa chính trị, ngoại giao, dân vận Tuy cótrường hợp, có tình huống nổi trội một phương thức nào đó trong giữ vững ổnđịnh chính trị, nhưng nhìn chung, phải sử dụng sức mạnh tổng hợp, sử dụngmọi phương thức với sự kết hợp nhuần nhuyễn thì mới đảm bảo thành công,trong đó điều quan trọng là sự thống nhất trong Đảng, sự đoàn kết của toàndân.
Bốn là, dù vấn đề giữ vững ổn định chính trị được đặt ra một cách
thường xuyên, nhưng thể chế chính trị mới được định hình trong bối cảnh màCNXH từng bước trở thành hệ thống thế giới, không ngừng lớn mạnh, ít ainghĩ đến khủng hoảng - rối loạn, nên vấn đề giữ vững ổn định không lườnghết nguy cơ đổ vỡ hệ thống chính trị Còn đối với Đảng ta, bước lên vũ đàichính trị từ một đảng cách mạng đấu tranh vì lợi ích của dân tộc, hy sinh chodân tộc và giai cấp, được sự bảo vệ, che chở, ủng hộ tuyệt đối của nhân dân,lại được sự cộng hưởng bởi sức mạnh của các dòng thác cách mạng trên thếgiới nên trong nhiều trường hợp cũng không ý thức hết mức độ của các nguy
cơ bất ổn chính trị do quá trình tự DBHB và bạo loạn chính trị Điều này phânbiệt những đặc điểm giữ vững ổn định chính trị trước đổi mới với giữ vững ổnđịnh chính trị trong thời kỳ đổi mới
Năm là, thực chất của việc giữ vững ổn định chính trị là sự đấu tranh
giữa các giai cấp, giữa các lực lượng Do đó, vấn đề mấu chốt của giữ vững
ổn định chính trị chính là quyền lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước và toàn
xã hội Mục tiêu gây bất ổn của các thế lực thù địch là loại bỏ quyền lãnh đạocủa Đảng, tranh giành ảnh hưởng trong quần chúng Còn về phía Đảng, giữvững được ổn định chính trị hay không, ngoài đấu tranh trực diện với các thếlực thù địch, có một nội dung không kém phần quan trọng là củng cố và tăngcường sức mạnh nội sinh của chính mình Đó là xây dựng được một đường lốiđúng đắn, khoa học và cách mạng, đủ sức quy tụ khối đoàn kết thống nhất
Trang 13toàn Đảng, toàn dân; không ngừng xây dựng Đảng vững mạnh về tư tưởng,đấu tranh không khoan nhượng với những mầm mống gây rối loạn về tưtưởng; tăng cường sức mạnh của tổ chức để đảm bảo sự ổn định, thống nhất,thực hiện thắng lợi các đường lối đã hoạch định Vì vậy có thể nói, đấu tranhvới mọi mưu toan loại bỏ quyền lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền, giữvững đoàn kết thống nhất trong Đảng, giữ vững cơ cấu chính trị, là nhữngvấn đề trung tâm của giữ vững ổn định chính trị từ 1945-1986
1.2 TÌNH THẾ ĐẤT NƯỚC NHỮNG NĂM ĐẦU ĐỔI MỚI VÀ CHỦ
TRƯƠNG GIỮ VỮNG ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ CỦA ĐẢNG
1.2.1 Tình thế đất nước những năm đầu đổi mới
Trước tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội, Đại hội VI của Đảng
(12-1986), trên cơ sở kiểm điểm thẳng thắn tình hình, đã quyết định khởi xướngcông cuộc đổi mới toàn diện Tuy vậy, công cuộc đổi mới được khởi độngtrong một tình thế đất nước gặp khó khăn gay gắt:
Một là, CNXH hiện thực lâm vào khủng hoảng, trì trệ, rồi sụp đổ có tínhdây chuyền, tạo nên tình huống chưa từng có trong lịch sử phong trào cộngsản và công nhân quốc tế, tác động trực tiếp đến nguy cơ bất ổn chính trị nước
ta
Thứ hai, chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ, tiếp tục chống phá cáchmạng Việt Nam, đặc biệt là gia tăng cường độ và mức độ bao vây, cô lập,cấm vận hòng tạo thêm một tác nhân gây bất ổn chính trị
Thứ ba, khủng hoảng kinh tế - xã hội lên đến đỉnh điểm, tác động trựctiếp đến niềm tin của nhân dân về công cuộc đổi mới, về năng lực và hiệu quảlãnh đạo - quản lý của hệ thống chính trị
1.2.1 Đại hội VI với chủ trương giữ vững ổn định chính trị
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam họp
từ ngày 15 đến ngày 18-12-1986, tại Thủ đô Hà Nội Đại hội VI được tiếnhành khi đất nước đang ở trong tình trạng khủng hoàng kinh tế - xã hội trầm
Trang 14trọng nhất Nhiệm vụ cấp bách đặt ra đối với Đảng là làm thế nào để đưa đấtnước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, không để cho khủng hoảng kinh tế
- xã hội dẫn đến khủng hoảng chính trị Vấn đề vừa cấp bách, vừa cơ bản đặt
ra đối với Đảng là trong quá trình đổi mới phải giữ vững ổn định chính trị.Đổi mới là mệnh lệnh của cuộc sống, là vấn đề sống còn của chế độ, ổn định
là môi trường, điều kiện đảm bảo cho sự vận hành của công cuộc đổi mới Từmục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể đến các giải pháp cơ bản, Đảng ta đều xácđịnh yêu cầu giữ vững ổn định chính trị
1.2.1.1.Về mối quan hệ giữa ổn định và phát triển
Đại hội VI của Đảng đã xác định: “Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổngquát của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tìnhhình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩymạnh công nghiệp hoá XHCN trong chặng đường tiếp theo” [17, tr.376] Ổnđịnh tình hình kinh tế - xã hội bao gồm cả ổn định sản xuất, ổn định phân phốilưu thông, ổn định đời sống vật chất và văn hoá, tăng cường hiệu lực tổ chức
và quản lý, lập lại trật tự, kỷ cương và thực hiện công bằng xã hội
Về mối quan hệ giữa ổn định và phát triển, Đảng chỉ rõ: Ổn định và pháttriển gắn liền với nhau trong quá trình vận động tiến lên, ổn định để phát triển
và có phát triển mới ổn định được Trong đó, ổn định chính trị là quan trọng
và được đặt lên hàng đầu vì nó liên quan đến sự bền vững của chế độ và chủthể ở địa vị cầm quyền Đảng giữ được vai trò lãnh đạo, quyền lực nhà nướccủa nhân dân kiểm soát, hệ tư tưởng, kỷ luật, kỷ cương, nề nếp trật tự đượcgiữ vững, qua đó mới thúc đẩy dân chủ - đoàn kết - đồng thuận An ninh kinh
tế, an ninh chính trị, an ninh tư tưởng, văn hoá đuợc đảm bảo mới tạo ra từ sựlành mạnh của nền tảng xã hội và tác động tích cực đến ổn định chính trị
1.2.1.2 Về mối quan hệ giữa ổn định kinh tế với ổn định chính trị
Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế - xã hội thì ổn định kinh tế, trướchết là ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển sản xuất, có tác động trực tiếp đến
Trang 15giữ vững ổn định chính trị Đại hội VI đã đề xướng đường lối đổi mới toàndiện các lĩnh vực đời sống xã hội với tư tưởng lớn, chủ đạo, xuyên suốt là giảiphóng mọi tiềm năng phát triển trong xã hội Đó là giải phóng sức sản xuất vàgiải phóng ý thức tinh thần xã hội.
Để giải phóng sức sản xuất, Đại hội đã đề ra những quan điểm mới vềkinh tế: đổi mới cơ cấu kinh tế và sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế;đổi mới cơ chế quản lý kinh tế; đổi mới hoạt động kinh tế đối ngoại
Đại hội xác định: Phải dứt khoát sắp xếp lại nền kinh tế quốc dân theo cơcấu hợp lý, hướng vào việc thực hiện ba chương trình mục tiêu về lương thực
- thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu
Đại hội chỉ rõ các thành phần kinh tế ở nước ta: Kinh tế XHCN (bao gồmkhu vực quốc doanh và khu vực tập thể, cùng một bộ phận kinh tế gia đìnhgắn liền với thành phần đó); kinh tế tiểu sản xuất hàng hoá (thợ thủ công,nông dân cá thể, những người buôn bán và kinh doanh dịch vụ cá thể); kinh tế
tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức mà hình thứccao là công tư hợp doanh; kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc trong một bộ phậnđồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và các vùng núi cao khác Trong đóphải làm cho thành phần kinh tế quốc doanh thực sự giữ vai trò chủ đạo, chiphối được các thành phần kinh tế khác
Đại hội lần thứ VI xác định: “Việc bố trí lại cơ cấu kinh tế phải đi đôi vớiviệc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế” Đại hội đã thẳng thắn chỉ ra nhữngkhuyết tật của cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp Trên cơ sở
đó, Đại hội quyết định phương hướng đổi mới cơ chế quản lý kinh tế: “xoá bỏtập trung quan liêu, bao cấp, xây dựng cơ chế mới phù hợp với quy luật kháchquan và trình độ phát triển của kinh tế” [17, tr.397] Đặc trưng của cơ chếquản lý mới là tính kế hoạch và sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hoá - tiền tệ.Nền kinh tế phải được quản lý bằng các phương pháp kinh tế là chủ yếu Phânbiệt rõ chức năng quản lý hành chính - kinh tế của các cơ quan nhà nước ở