1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

an sinh xã hội

20 1,1K 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 860,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

An sinh xã hội chỉ sự bảo vệ của xã hội đối với những thành viên của mình, bằng một loạt những biện pháp công cộng, chống đỡ sự hẫng hụt về kinh tế và xã hội do bị mất hoặc bị giảm đột n

Trang 1

An sinh xã hội chỉ sự bảo vệ của xã hội đối với những thành viên của mình, bằng một loạt những biện pháp công cộng, chống đỡ sự hẫng hụt về kinh tế và xã hội do bị mất hoặc bị giảm đột ngột nguồn thu nhập vì ốm đau, thai sản, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp , tàn tật, tuổi già và chết, kể cả sự bảo vệ chăm sóc y tế và trợ cấp gia đình có con nhỏ.[1]

Lịch sử ra đời

An sinh xã hội là tổng hợp những sự bảo vệ đa dạng vốn đã được thực hiện rãi rác ở nhiều nơi trên thế giới từ lâu trong suốt quá trình phát triển của xã hội loài người Tuy nhiên, thuật ngữ này được chính thức khai sinh với tư cách là tiêu đề của một đạo luật ở Hoa kỳ

(Luật 1935 về An sinh xã hội), chỉ sự bảo vệ trong bốn trường hợp: tuổi già, chết, tàn tật và

thất nghiệp Năm 1938 , New Zealand cũng dùng từ này để đặt tiêu đề cho một đạo luật quy định về các chế độ trợ cấp xã hội đang áp dụng thời đó ở quốc gia nầy Năm 1952 , Hội nghị toàn thể của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã thông qua Công ước 102 về An sinh

xã hội

Các cơ chế thuộc an sinh xã hội

Hệ thống an sinh xã hội được xây dựng có sự khác nhau giữa các quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, có thể thấy những cơ chế chủ yếu của nó bao gồm: bảo hiểm xã hội , cứu trợ xã hội (còn gọi là cứu tế xã hội), các chế độ trợ cấp từ quỹ công cộng, các chế độ trợ cấp gia đình, các quỹ dự phòng, sự bảo vệ do người sử dụng lao động cung cấp, các dịch vụ liên quan đến an sinh xã hội

Chú thích

theo Tổ chức Lao động Quốc tế

Tham khảo

Nguyễn Tiền Hùng (2002), "Phác thảo lịch sử hình thành và bức tranh toàn cục hệ thống

an sinh xã hội Việt Nam", bài tham luận tại Hội thảo "Hoàn thiện chính sách tài chính đảm bảo an sinh xã hội", Học Viện Tài chính - Phân viện Thành phố Hồ Chí Minh , tháng 8

Cứu trợ xã hội là một loại hình quan trọng trong lĩnh vực an sinh xã hội Theo nghĩa thông thường, cứu trợ xã hội được hiểu là chế độ đảm bảo xã hội đối với các thành viên trong cộng đồng nhằm giúp họ khắc phục những khó khăn trước mắt cũng như lâu dài trong đời sống Việc đảm bảo này thông qua các hoạt động cung cấp tài chính , tiền bạc , vật phẩm, các điều kiện vật chất khác trong một thời hạn hoặc trong suốt quá trình sống (suốt cuộc đời) của đối tượng

Đối tượng của cứu trợ xã hội có thể là gia đình, có thể là cá nhân Có những trường hợp cứu trợ xã hội được áp dụng để giải quyết khó khăn cho cả vùng gặp nạn hoặc cả một địa phương

Trang 2

Cứu trợ xã hội được coi như là "lưới đỡ cuối cùng" trong hệ thống các lưới đỡ an sinh xã hội Vì vậy nó được coi là chế đội đảm bảo cộng đồng mang tính nhân đạo , nhân văn rất cao, thể hiện tình người rõ rệt

Tuy nhiên, hoạt động cứu trợ xã hội không chỉ là của cá nhân, tổ chức bất kỳ trong xã hội

mà trách nhiệm chính là của nhà nước Nhà nước có trách nhiệm cao nhất trong việc tổ chức các hoạt động cứu trợ xã hội, với tư cách là đại diện của xã hội Các chính sách, pháp luật về cứu trợ xã hội do nhà nước ban hành, xây dựng là cơ sở quan trọng để các tổ chức,

cơ quan, cá nhân tiến hành các hoạt động cứu trợ xã hội, đồng thời là tiêu chuẩn đảm bảo

sự công bằng, minh bạch, đúng đắn và tính hợp pháp của cứu trợ xã hội

Thất nghiệp

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu , tìm kiếm

Thất nghiệp là từ Hán-Việt (thất: mất mát, nghiệp: việc làm) chỉ tình trạng không có việc

làm mang lại thu nhập Người cần việc mà không có việc sẽ gặp những khó khăn hoặc không thể chi trả các nghĩa vụ tài chính như nuôi dưỡng bản thân và gia đình , trang trải các khoản đóng góp, thuế , nợ nần, v.v Đây đồng thời là nguyên nhân của nhiều tệ nạn xã hội như cờ bạc, rượu chè, nghiện hút, mại dâm, trộm cướp

Trong kinh tế học , thất nghiệp là tình trạng người lao động muốn có việc làm mà không tìm được việc làm; tỷ lệ thất nghiệp là phần trăm số người lao động không có việc làm trên tổng số lực lượng lao động xã hội

Lịch sử của tình trạng thất nghiệp chính là lịch sử của công cuộc công nghiệp hóa Ở nông thôn, mặc dù có tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp một phần, làm việc ít thời gian ở nông thôn, nhưng thất nghiệp không bị coi là vấn đề nghiêm trọng

Bản đồ tỷ lệ thất nghiệp toàn cầu - CIA 2005

Mục lục

Trang 3

• 1 Ảnh hưởng của thất nghiệp tới xã hội và nền kinh tế

o 1.1 Thiệt thòi cá nhân

o 1.2 Chi phí cho doanh nghiệp và giảm tăng trưởng kinh tế

• 2 Lợi ích của thất nghiệp

• 3 Nguyên nhân của thất nghiệp

• 4 Các loại thất nghiệp

• 5 Công thức tính tỷ lệ thất nghiệp

] Ảnh hưởng của thất nghiệp tới xã hội và nền kinh tế Thiệt thòi cá nhân

Không có việc làm đồng nghĩa với hạn chế giao tiếp với những người lao động khác, tiêu tốn thời gian vô nghĩa, áp lực tâm lý và tất nhiên là không có khả năng chi trả, mua sắm vật dụng thiết yếu cũng như các hàng hóa tiêu dùng Yếu tố sau là vô cùng trầm trọng cho người gánh vác nghĩa vụ gia đình, nợ nần, chi trả chữa bệnh Những nghiên cứu cụ thể [1] chỉ ra rằng, gia tăng thất nghiệp đi liền với gia tăng tỷ lệ tội phạm , tỷ lệ tự tử , và suy giảm chất lượng sức khỏe

Theo một số quan điểm, rằng người lao động nhiều khi phải chọn công việc thu nhập thấp (trong khi tìm công việc phù hợp) bởi các lợi ích của bảo hiểm xã hội chỉ cung cấp cho những ai có quá trình làm việc trước đó Về phía người sử dụng lao động thì sử dụng tình trạng thất nghiệp để gây sức ép với những người làm công cho mình (như không cải thiện môi trường làm việc, áp đặt năng suất cao, trả lương thấp, hạn chế cơ hội thăng tiến, v.v )

Cái giá khác của thất nghiệp còn là, khi thiếu các nguồn tài chính và phúc lợi xã hội , cá nhân buộc phải làm những công việc không phù hợp với trình độ, năng lực Như vậy thất nghiệp gây ra tình trạng làm việc dưới khả năng Với ý nghĩa này, thì trợ cấp thất nghiệp là cần thiết

Những thiệt thòi khi mất việc dẫn đến trầm uất , suy yếu ảnh hưởng của công đoàn , công nhân lao động vất vả hơn, chấp nhận thù lao ít ỏi hơn và sau cùng là chủ nghĩa bảo hộ việc làm Chủ nghĩa này đặt ra những rào cản với người muốn gia nhập công việc, hạn chế di dân, và hạn chế cạnh tranh quốc tế Cuối cùng, tình trạng thất nghiệp sẽ khiến cán cân đàm phán điều kiện lao động nghiêng về giới chủ, tăng chi phí khi rời công việc và giảm các lợi ích của việc tìm cơ hội thu nhập khác

Chi phí cho doanh nghiệp và giảm tăng trưởng kinh tế

Tỷ lệ thất nghiệp cao đồng nghĩa với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thấp – các nguồn lực con người không được sử dụng, bỏ phí cơ hội sản xuất thêm sản phẩm và dịch vụ

Thất nghiệp còn có nghĩa là sản xuất ít hơn Giảm tính hiệu quả của sản xuất theo quy mô Thất nghiệp dẫn đến nhu cầu xã hội giảm Hàng hóa và dịch vụ không có người tiêu dùng,

cơ hội kinh doanh ít ỏi, chất lượng sản phẩm và giá cả tụt giảm Hơn nữa, tình trạng thất

Trang 4

nghiệp cao đưa đến nhu cầu tiêu dùng ít đi so với khi nhiều việc làm, do đó mà cơ hội đầu

tư cũng ít hơn

Lợi ích của thất nghiệp

Tình trạng thất nghiệp gia tăng tương quan với áp lực giảm lạm phát Điều này được minh họa bằng đường cong Phillips trong kinh tế học

Một tỷ lệ thất nghiệp vừa phải sẽ giúp cả người lao động và chủ sử dụng lao động Người lao động có thể tìm những cơ hội việc khác phù hợp với khả năng, mong muốn và điều kiện cư trú Về phía giới chủ, tình trạng thất nghiệp giúp họ tìm được người lao động phù hợp, tăng sự trung thành của người lao động Do đó, ở một chừng mực nào đó, thất nghiệp đưa đến tăng năng suất lao động và tăng lợi nhuận

Nguyên nhân của thất nghiệp

Trong lịch sử loài người, thất nghiệp chỉ xuất hiện trong xã hội tư bản Ở xã hội cộng đồng nguyên thủy , việc phải duy trì trật tự trong bầy đàn buộc mọi thành viên phải đóng góp lao động và được làm việc Trong xã hội phong kiến châu Âu , truyền đời đất đai đảm bảo rằng con người luôn có việc làm Ngay cả trong xã hội nô lệ , chủ nô cũng không bao giờ để tài sản của họ (nô lệ) rỗi rãi trong thời gian dài Các nền kinh tế theo học thuyết Mác - Lênin cố gắng tạo việc làm cho mọi cá nhân, thậm chí là phình to bộ máy nếu cần thiết (thực tế này

có thể gọi là thất nghiệp một phần hay thất nghiệp ẩn nhưng đảm bảo cá nhân vẫn có thu nhập từ lao động)

Trong xã hội tư bản, giới chủ chạy theo mục đích tối thượng là lợi nhuận , mặt khác họ không phải chịu trách nhiệm cho việc sa thải người lao động, do đó họ vui lòng chấp nhận tình trạng thất nghiệp, thậm chí kiếm lợi từ tình trạng thất nghiệp Người lao động không

có các nguồn lực sản xuất trong tay để tự lao động phải chấp nhận đi làm thuê hoặc thất nghiệp

Các học thuyết kinh tế học giải thích thất nghiệp theo các cách khác nhau Kinh tế học Keynes nhấn mạnh rằng nhu cầu yếu sẽ dẫn đến cắt giảm sản xuất và sa thải công nhân (thất nghiệp chu kỳ) Một số khác chỉ rằng các vấn đề về cơ cấu ảnh hưởng thị trường lao động (thất nghiệp cơ cấu) Kinh tế học cổ điển và tân cổ điển có xu hướng lý giải áp lực thị trường đến từ bên ngoài, như mức lương tối thiểu , thuế , các quy định hạn chế thuê mướn người lao động (thất nghiệp thông thường) Có ý kiến lại cho rằng thất nghiệp chủ yếu là

sự lựa chọn tự nguyện Chủ nghĩa Mác giải thích theo hướng thất nghiệp là thực tế giúp duy trì lợi nhuận doanh nghiệp và chủ nghĩa tư bản Các quan điểm khác nhau có thể đúng theo những cách khác nhau, góp phần đưa ra cái nhìn toàn diện về tình trạng thất nghiệp Việc áp dụng nguyên lý cung - cầu vào thị trường lao động giúp lý giải tỷ lệ thất nghiệp cũng như giá cả của lao động

Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới ở Châu Phi , Trung Đông và Châu Mỹ Latinh chỉ ra, ở các nước đang phát triển , tình trạng thất nghiệp cao trong phụ nữ và thanh niên còn là hậu quả của những quy định về trách nhiệm chủ lao động

Các loại thất nghiệp

Trang 5

• Thất nghiệp tự nhiên: tỷ lệ thất nghiệp đương nhiên bởi luôn có một số người trong giai đoạn chuyển từ chỗ làm này sang chỗ khác

• Thất nghiệp cơ cấu: do sự không tương thích của phân bố lao động và phân bố chỗ làm việc (khác biệt địa lý hoặc khác biệt kỹ năng) Người thất nghiệp không muốn hoặc không thể thay đổi nơi ở hoặc chuyển đổi kỹ năng

• Thất nghiệp chu kỳ: khi tổng cầu lao động thấp hơn tổng cung lao động ở giai đoạn suy thoái của chu kỳ kinh tế

• Thất nghiệp kỹ thuật: do việc thay thế công nhân bằng máy móc hoặc công nghệ tiên tiến hơn

• Thất nghiệp thông thường: khi thu nhập thực tế xuống dưới mức chấp nhận được

• Thất nghiệp theo học thuyết Mark: là mức cần thiết để thúc đẩy công nhân làm việc

và giữ mức lương thấp

• Thất nghiệp theo mùa: khi công việc phụ thuộc vào nhu cầu theo thời tiết Ví dụ: công nhân xây dựng trong mùa mưa, giáo viên dạy trượt tuyết trong mùa hè

Công thức tính tỷ lệ thất nghiệp

Số người không có việc làm

Tỷ lệ thất nghiệp = 100% x

Tổng số lao động xã hội

Bảo hiểm xã hội là việc tạo ra nguồn thu nhập thay thế trong trường hợp nguồn thu nhập bình thường bị gián đoạn đột ngột hoặc mất hẳn, bảo vệ cho những người lao động làm công ăn lương trong xã hội Trong các cơ chế chủ yếu của hệ thống an sinh xã hội , bảo hiểm xã hội là trụ cột quan trọng nhất

Lịch sử

Các chế độ của bảo hiểm xã hội đã hình thành khá lâu truớc khi xuất hiện thuật ngữ an sinh

xã hội Hệ thống bảo hiểm xã hội đầu tiên được thiết lập tại nước Phổ (nay là Cộng hòa Liên bang Đức ) dưới thời của Thủ tướng Bismarck ( 1850 ) và sau đó được hoàn thiện ( 1883 - 1889 ) với chế độ bảo hiểm ốm đau; bảo hiểm rủi ro nghề nghiệp; bảo hiểm tuổi già, tàn tật và sự hiện diện của cả ba thành viên xã hội: người lao động; người sử dụng lao động

và Nhà nước Kinh nghiệm về bảo hiểm xã hội ở Đức, sau đó, được lan dần sang nhiều nước trên thế giới, đầu tiên là các nước châu Âu ( Anh : 1991 , Ý : 1919 , Pháp : từ 1918 .), tiếp đến là các nước châu Mỹ Latinh , Hoa Kỳ , Canada (từ sau 1930 ) và cuối cùng là các nước châu Phi , châu Á (giành độc lập sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 )

Các chế độ đảm bảo

Theo tổng kết của ILO (công ước 102 năm 1952), bảo hiểm xã hội bao gồm chín chế độ chủ yếu sau: chăm sóc y tế , trợ cấp ốm đau , trợ cấp thất nghiệp , trợ cấp tuổi già , trợ cấp tai nạn lao động , bệnh nghề nghiệp , trợ cấp gia đình , trợ cấp thai sản , trợ cấp tàn tật , trợ cấp tử tuất Công ước cũng nói rõ là những nước phê chuẩn công ước này có quyền chỉ áp dụng một số chế độ, nhưng ít nhất phải áp dụng một trong các chế độ: trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, trợ cấp tàn tật hoặc trợ cấp tử tuất Việc áp dụng bảo hiểm xã hội trên của quốc gia khác nhau thường cũng rất khác nhau

về nội dung thực hiện tùy thuộc vào nhu cầu bức bách của riêng từng nơi trong việc đảm bảo cuộc sống của người lao động, ngoài ra, còn tùy thuộc vào khả năng tài chính và khả

Trang 6

năng quản lí có thể đáp ứng Tuy nhiên, xu hướng chung là theo đà phát triển kinh tế - xã hội, bảo hiểm xã hội sẽ mở rộng dần về số lượng và nội dung thực hiện của từng chế độ

Theo thống kê của ILO, đến năm 1981 , có 139 nước có thực hiện hệ thống an sinh xã hội nói chung, bảo hiểm xã hội nói riêng, trong đó có 127 nước có chế độ trợ cấp tuổi già, tàn tật và tử tuất; 79 nước có chế độ trợ cấp ốm đau và thai sản, 136 nước có chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, 37 nước có chế độ trợ cấp thất nghiệp

Theo vi.wikipedia.org/wiki/An_sinh_xã_hội –

Vào WTO: Nông dân VN sẽ được hưởng an sinh xã hội

22:30' 30/11/2006 (GMT+7)

(VietNamNet)- Viện trưởng Viện Xã hội học, Viện KHXH Việt Nam Trịnh Duy Luân ví hệ thống

an sinh xã hội Việt Nam với hình ảnh một người cố gắng chống giữ ngôi nhà tranh của mình trước và trong khi cơn bão tấn công bằng cách dùng tạm những vật liệu sẵn có, loay hoay chống đỡ từng góc nhà tuỳ theo hướng tấn công của bão

Quá trình tham vấn quốc tế về xây dựng hệ thống an sinh xã hội VN đã bắt đầu bằng một hội thảo quốc tế do Liên hợp quốc, Viện KHXH và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội VN tổ chức hôm nay, 30/11

An sinh xã hội bao gồm trợ cấp giáo dục, phúc lợi xã hội, lương hưu và trợ cấp y tế

Đã đến lúc phải cải cách hệ thống an sinh xã hội

Vốn đã làm về an sinh xã hội từ rất lâu, khi mà vấn đề này

chưa trở thành trào lưu trên thế giới, nhưng giờ đây, khi VN đã

gia nhập WTO và hướng tới địa vị một nước có thu nhập bậc

trung thì việc phải tu duy lại phương pháp tiếp cận an sinh xã

hội là điều cần thiết

Là thành viên WTO, đời sống người dân sẽ chịu những tác

động đáng kể, do vậy, "chính sách xã hội cần thay đổi theo xu

thế tăng trưởng kinh tế và hiện đại hoá

Khi hội nhập làm nảy sinh những rủi ro về kinh tế thì Chính phủ

cần đánh giá kỹ tác động của hệ thống an sinh xã hội hiện tại

và nghiên cứu những cơ hội mới cho việc cải tiến những chính

sách này", ông John Hendra, Điều phối viên Liên Hợp quốc tại Việt Nam nhận xét

"Đã đến lúc Việt Nam cần đầu tư vào một hệ thống an sinh xã hội (ASXH) hiện đại và có tính chất lồng ghép, cấp tiến Về trung hạn, Việt Nam cần áp dụng một cơ chế an sinh xã hội mang tính hiện đại và toàn diện để giúp người dân đối phó với rủi ro và tránh bị tái nghèo", ông John Hendra nói

Minh chứng về mô hình ASXH hiện tại ở Việt Nam, GS Trịnh Duy Luân, Viện trưởng Viện Xã hội học, Viện KHXH Việt Nam ví hệ thống ASXH Việt Nam với hình ảnh một người cố gắng chống giữ ngôi nhà tranh của mình trước và trong khi cơn bão tấn công bằng cách dùng tạm những vật liệu sẵn có, loay hoay chống đỡ từng góc nhà tuỳ theo hướng tấn công của bão Còn mô hình hiện đại, theo ông, là ngôi nhà vững chãi, được thiết kế sẵn những hệ thống chống bão hiện đại và người ở được trang bị kỹ năng để vận hành các trang bị này

Hệ thống ASXH Việt Nam cần được xây dựng trên ba nguyên tắc cơ bản: Một là, giải quyết được

những vấn đề trong giai đoạn chuyển đổi của Việt Nam, mang tính kế thừa và phát triển Hai là, phải mang tính xã hội Ba là, đảm bảo độ an toàn và có yếu tố bền vững

An sinh xã hội thời gian tới sẽ đi vào thực chất hơn Ảnh minh hoạ.

Trang 7

"Hệ thống phải thúc đẩy có hiệu quả nền kinh tế thị trường, giảm tối đa rủi ro trong quá trình phát triển kinh tế thị trường do những khuyết tất, biến dạng, đáp ứng mục tiêu tăng trưởng kinh tế gắn với xoá đói giảm nghèo và gắn với từng bước phát triển của Việt Nam", GS Đỗ Hoài Nam, Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam nói

Những cải cách chính sách bước đầu

Thể hiện quyết tâm của phía Việt Nam trong nỗ lực cải cách, Bộ trưởng LĐTB& XH Nguyễn Thị Hằng nói Quốc hội đã giao Chính phủ phê chuẩn các mục tiêu phát triển của Việt Nam, theo đó, nâng tỷ lệ giảm nghèo hàng năm từ 2% hiện nay lên 3% Năm 2007, Quốc hội cũng sẽ thông qua Luật Bảo hiểm xã hội mới được trình cuối năm nay

Bà cũng nói cơ hội tất nhiên sẽ lớn với người lao động khi Việt Nam hội nhập nhưng để giảm tối

đa những thách thức, bảo vệ quyền lợi người lao động thì cần đẩy mạnh thực thi các chính sách tạo việc làm thông qua khuyến khích doanh nghiệp phát triển, khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Điều này sẽ giúp cho người lao động có thêm cơ hội

Ngoài ra, cần tăng cường đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn và nông dân, nhất là về cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật, đường sá, cầu cống, giống cây con "Đây là nội dung trọng tâm trong thời gian tới", bà nhấn mạnh

Cần tạo khung pháp lý hoàn chỉnh ở Luật và Bộ Luật liên quan đến vấn đề an sinh xã hội, không

dừng ở mức pháp lệnh như hiện nay Về vấn đề này, bà cho biết Bộ vừa được Quốc hội cho phép thông qua Luật BHXH vào năm 2007, trong đó, quy định ba hình thức bảo hiểm là bảo hiểm bắt buộc, bảo hiểm tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp

Sẽ có an sinh xã hội cho người nông dân

Hội nhập, đối tượng chịu tác động lớn nhất sẽ là nông dân, trong khi đó, theo GS Trịnh Duy Luân,

VN vẫn chưa có bất kỳ cơ chế bảo đảm an sinh nào cho nông dân

Ông cũng nêu một thực tế ở Việt Nam là vẫn có những người được hưởng chế độ an sinh xã hội

là người có thu nhập cao, trong khi cơ hội hưởng lợi từ hệ thống này của những người nghèo rất hạn chế

Ông Luân lý giải một trong những nguyên nhân của tình trạng này chính là hạn chế trong cơ chế lan toả, phân phối an sinh xã hội chưa cấp tiến "Nhiệm vụ của chúng tôi là nghiên cứu để xác định các nhóm mục tiêu cần ưu tiên trong chính sách an sinh xã hội Nông dân là một trong những đối tượng cần được quan tâm và chắc chắn họ sẽ có chế độ an sinh xã hội", ông nhấn mạnh

Người giàu đang hưởng an sinh xã hội gấp 6 lần người nghèo

Theo nghiên cứu của nhóm các nhà khoa học thuộc Trung tâm Phân tích chính sách xã hội, ĐH

Bath, Anh, về chính sách an sinh xã hội của Việt Nam, tỷ lệ nghèo có thể tăng 4,6% nếu không

có khoản trợ cấp an sinh xã hội Đây là con số tác động cụ thể nhất được tuyên bố trong nghiên

cứu với độ chắc chắn và tin cậy cao

Cũng theo nghiên cứu này, xét về tỷ lệ được hưởng an sinh xã hội ở nhóm 20% dân số giàu nhất trong xã hội Việt Nam cao gấp 6 lần nhóm người nghèo Và nhóm liền kề nhóm giàu gấp 4 lần nhóm người nghèo Mức hưởng an sinh xã hội của nhóm người có thu nhập cao rất lớn trong khi người có thu nhập thấp, ở nông thôn, miền núi chiếm tỷ lệ rất hạn chế

Trong các khoản thu nhập từ an sinh xã hội ở Việt Nam năm 2004, bảo hiểm xã hội - lương hưu chiếm 61,8%, trợ cấp y tế 22,6%, chi phí phúc lợi 9,2%, trợ cấp giáo dục 4,8% và bảo hiểm xã hội cho người đang làm việc là 1,6%

Bản báo cáo đánh giá, trợ cấp giáo dục và phúc lợi xã hội cao nhất ở những nhóm nghèo nhất

Trang 8

Với lương hưu thì ngược lại Trợ cấp y tế đồng đều ở tất cả các nhóm.

• Phương Loan

Việt Nam đang hướng tới hệ thống an sinh xã hội năng động, hiệu quả

Diễn đàn An sinh Xã hội Thế giới lần thứ nhất vừa được tổ chức tại Mátxcơva (Liên bang Nga) từ ngày 10 đến ngày 15 tháng 9 năm 2007 Tham dự, có gần 1300 đại biểu của các tổ chức an sinh xã hội đến từ 129 quốc gia Hiệp hội An sinh Xã hội Thế giới (ISSA) ra đời năm 1927, được tổ chức tại Brussel với sự tham gia của 17 tổ chức đại diện cho 20 triệu đối tượng từ Bỉ, Tiệp Khắc, Pháp, áo, Đức, Luxembourg,

Ba Lan, Thuỵ Sỹ và Anh Chủ tịch đầu tiên là ông Leo Winter, Phó Chủ tịch thứ nhất của Liên đoàn Toàn quốc các Cơ quan Bảo hiểm ốm đau của Tiệp Khắc (1927-1928)

80 năm qua, từ một tổ chức nhỏ đại diện cho các liên đoàn quốc gia của các quỹ bảo hiểm ốm đau của 9 nước châu Âu, ISSA đã trở thành một đối tác có tầm ảnh hưởng quan trọng và có vị thế lớn trên các diễn đàn và hợp tác quốc tế, đại diện cho hàng triệu đối tượng được bảo hiểm

và bảo trợ trong mọi lĩnh vực của hệ thống an sinh xã hội Cùng với thời gian, mục tiêu và nội dung của hội nghị quốc tế của hiệp hội (CIMAS) cũng đã được mở rộng, bao gồm cả chế độ bảo hiểm tuổi già, thương tật, tử tuất ISSA

đã chứng tỏ được sự lớn mạnh và hoạt động của mình trong lĩnh vực vận động xã hội và tăng cường kiến thức về tầm quan trọng sống còn của an sinh

xã hội trong các nền kinh tế đương đại ISSA giờ đây đã là tổ chức hàng đầu thế giới chuyên về tập hợp các ý tưởng và kiến thức chuyên môn liên quan đến các vấn đề an sinh xã hội Hiệp hội thường xuyên xây dựng các diễn đàn quy mô toàn cầu nhằm trao đổi thông tin và những vấn đề liên quan đến an sinh xã hội ISSA có tầm bao phủ toàn cầu nhờ số lượng thành viên của mình, bao gồm 360 tổ chức, cơ quan an sinh xã hội của 150 nước trên thế giới Ngày nay, khái niệm về hệ thống an sinh xã hội được mở rộng Vai trò của an sinh xã hội không chỉ còn giới hạn trong việc tái phân bổ thu nhập và trợ cấp để đảm bảo nhu cầu cơ bản cho người dân An sinh xã hội cần phải năng động hơn và chuyển từ tư duy cho rằng an sinh xã hội là phương tiện bảo trợ, là một số khoản trợ cấp xã hội sang nhận thức mới, chủ yếu là hướng vào việc phòng tránh và bảo vệ từng cá nhân trước những rủi ro và sự yếu thế Phương pháp tiếp cận mang tính đổi mới này được gọi là “Hệ thống an sinh xã hội năng động”, có vai trò không chỉ đơn thuần là phương tiện bồi thường và khắc phục khó khăn cho đối tượng mà là sự đầu tư vào yếu tố con người “vốn con người” Mục tiêu chính của hệ thống an sinh xã hội năng động là phát triển dịch vụ xã hội bền vững

và dễ tiếp cận hơn, không chỉ chú trọng đến dịch vụ bảo trợ mà còn tăng cường các biện pháp phòng tránh và hỗ trợ hoà nhập việc làm, nhằm xây dựng xã hội hiệu quả về kinh tế, xã hội và

Diễn đàn An sinh xã hội lần này diễn ra sôi động, mang tính đa chiều, hướng tới hệ thống an sinh xã hội năng động sẽ mở rộng phạm vi, diện bao phủ và cung cấp dịch vụ đồng bộ hơn, hoạt động hiệu quả hơn, giảm được chi phí quản lý và hành chính, áp dụng một cơ chế quản lý chung cho các loại hình dịch vụ, đơn giản hoá thủ tục Trong các phiên họp, diễn đàn đã thực sự là cơ hội cho mọi đại biểu chia sẻ và trao đổi kiến thức, kinh nghiệm của nhiều quốc gia về những thách thức của hệ thống an sinh xã hội, cùng xây dựng một tầm nhìn chung về sự phát triển, xu hướng và vai trò của hệ thống an sinh xã hội trong bối cảnh chung của nền kinh tế toàn cầu Tại diễn đàn, các chủ đề chính được các đại biểu nhiều quốc gia quan tâm: Sự phát triển và các xu hướng an sinh xã hội; hỗ trợ một hệ thống an sinh xã hội năng động; áp dụng công nghệ thông tin nhằm thúc đẩy tác động của hệ thống an sinh xã hội; chế độ trợ cấp gia đình; quản lý hành chính;

Trang 9

công nghệ thông tin và truyền thông là một công cụ hỗ trợ chuyển đổi; thách thức về bệnh hiểm nghèo, bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động đối với bảo hiểm xã hội; bảo hiểm y tế; thách thức về đầu tư của các quỹ bảo hiểm; bảo hiểm thất nghiệp và quản lý trường hợp nhằm tái hoà nhập việc làm; các giả định về nhân khẩu học và kinh tế được sử dụng trong đánh giá thống kê bảo hiểm đối với chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Hệ thống an sinh xã hội bền vững thực chất là nhu cầu đối phó với vấn đề già hoá dân số và

xu hướng toàn cầu hoá, an sinh xã hội dễ tiếp cận phải mang tính phổ cập với hàm ý mở rộng độ bao phủ dịch vụ, ví dụ như bảo hiểm y tế phải hướng tới toàn dân Việc thực hiện các chương trình trợ cấp (đối với nước ta chính là trợ cấp xã hội cho các đối tượng khó khăn) là phương án khả thi để mở rộng độ bao phủ các dịch vụ và giảm tỷ lệ người nghèo và nhóm dễ bị tổn thương như nhóm dân cư nghèo khổ, người già cả cô đơn, người tàn tật, trẻ em mồ côi, trẻ bị bỏ rơi không nơi nương tựa, người nhiễm HIV/ AIDS…cải thiện hiệu quả để trợ cấp đầy đủ Xu hướng chung của hệ thống an sinh xã hội của các quốc gia đều nỗ lực hướng tới cải thiện hiệu quả hoạt động: phương thức mới trong quản lý rủi ro, quản lý và có biện pháp đón đầu đối với những thay đổi và biến động trong xã hội và thị trường lao động; phân bổ nguồn lực hợp lý hơn, đặc biệt trong lĩnh vực y tế, hợp lý hoá chi tiêu cho y tế và tăng cường biện pháp quản lý chất lượng dịch vụ; cải thiện hiệu quả hoạt động và quản lý Nhà nước của các chương trình trợ cấp bảo hiểm xã hội Hỗ trợ các phương pháp tiếp cận và phòng tránh chủ động Đây là phương pháp đầu tư vào đối tượng cá thể và từ đó đáp ứng cho cả mục tiêu phát triển nguồn nhân lực như chuyển đổi chương trình bảo hiểm bệnh tật sang bảo hiểm y tế; các chương trình phát triển và xây dựng lối sống lành mạnh, trao quyền cho các đối tượng; xây dựng quan hệ đối tác giữa bên cung cấp dịch

vụ và người nhận dịch vụ Trong bối cảnh toàn cầu hoá, già hoá dân số, người già ở các nước đang phát triển phải đối mặt với nhiều khó khăn để đảm bảo thu nhập, ổn định cuộc sống Nguyên nhân của tình trạng này là do những thay đổi về nhân khẩu học, kinh tế và xã hội Các loại bệnh tật phổ biến, đặc biệt những bệnh hiểm nghèo, bệnh mới, HIV/AIDS và việc di dân cũng như xu hướng đô thị hoá đã tác động tiêu cực đến đời sống của người già vì họ phải chịu gánh nặng chăm sóc trẻ em có bố

Xu hướng chung được nhiều quốc gia xem xét và áp dụng nhằm bảo đảm thu nhập cho người già là cung cấp các loại trợ cấp (hưu trí không đóng góp) cho người già Tương tự trợ cấp cho người cao tuổi từ 85 tuổi trở lên (không có lương hưu,trợ cấp BHXH ở nước ta), trợ cấp thường xuyên đối với những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn là một xu hướng phản ánh quan điểm chuyển đổi cách tiếp cận về vai trò an sinh xã hội Đó là chuyển sang phòng tránh chủ động và bảo vệ để cân bằng các nhu cầu khác nhau về phát triển kinh tế, xã hội Xu hướng này cũng phản ánh một hiện tượng thực tế đó là người già là một trong những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhất, đặc biệt ở các nước đang phát triển, do những thay đổi về hình thái gia đình, mạng lưới xã hội và người già phải gánh vác thêm nhiều trách nhiệm xã hội và gia đình: Xu hướng này củng cố quan điểm cho rằng việc dành các khoản tiền trợ cấp cho người già, đặc biệt từ nguồn ngân sách Nhà nước là rất cần thiết có thể góp phần cải thiện phúc lợi cho các hộ gia đình và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương Xu hướng này cũng ghi nhận một thực tế là sự già hoá dân số là một hiện tượng toàn cầu và ngày càng có nhiều người già đang sinh sống ở các nước chậm phát triển,

mà ở đó, diện bao phủ của hệ thống hưu trí dựa vào sự đóng góp còn rất thấp Xu hướng này cũng phù hợp với mục tiêu chung của thế giới là giảm nghèo đói, khẳng định An sinh xã hội là một quyền của con người Thực tế ở nhiều nước, tình trạng thất nghiệp vẫn gia tăng cho dù có nỗ lực xây dựng các chế

độ bảo hiểm thất nghiệp với các biện pháp hữu hiệu nhằm giúp người lao động trở lại làm việc Tại diễn đàn cũng có quan điểm cho rằng bảo hiểm thất nghiệp không chỉ tốn kém mà còn kém hiệu quả- diễn đàn đã dành nhiều thời gian để tranh luận về các quan điểm tán thành và phản đối bảo hiểm thất nghiệp Không chỉ những nước có nền kinh tế chậm phát triển mà cả những nước

có nền kinh tế phát triển vẫn còn một bộ phận lao động thất nghiệp thiếu việc làm, do sự chuyển đổi nền kinh tế, thay đổi kỹ thuật, công nghệ sản xuất, trình độ người lao động không còn phù hợp, doanh nghiệp phải sắp xếp lại nên phải có chính sách hỗ trợ, giúp đỡ, tạo điều kiện cho người lao động ổn định cuộc sống, bớt khó khăn hoặc tham gia các khoá học nghề, nâng cao

Trang 10

Trong các nước phát triển, bảo hiểm dựa vào cộng đồng đang phát triển, mở rộng phạm vi bao phủ, khả năng chống chọi của mỗi cá nhân từ việc cung cấp dịch vụ bảo vệ sang dịch vụ

phòng ngừa, quản lý rủi ro mở rộng phạm vi Cũng có đại biểu nhận định đối tượng tham gia thị

trường lao động có xu hướng giảm, đối tượng hưởng trợ cấp gia tăng Vì là quyền con người, họ

có làm việc hay không làm việc, vấn đề phải có cơ chế, chính sách khuyến khích họ tham gia vào

thị trường lao động - Đối với những nước có nền kinh tế chậm phát triển hoặc đang phát triển thì

diện bao phủ thấp, không thể thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp như những nước có nền kinh

tế phát triển Người lao động muốn nhận được trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp trước hết phải có quan hệ lao động, phải có thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp, theo nguyên tắc đóng –

Trên thực tế đều có những rủi ro, vấn đề cơ bản là đặt lưới an toàn ở đâu Xác định lưới an

toàn ở đâu là do Chính phủ- thiết kế lưới này thế nào tuỳ thuộc vào nhận thức của cơ quan chức

năng để tham mưu cho Chính phủ Bởi xã hội luôn luôn phát triển, luôn có mặt trái Thiết kế bảo

hiểm thất nghiệp phải tinh vi hơn, quản lý bảo hiểm thất nghiệp sẽ phức tạp hơn, chi phí cao hơn

nên phải hướng tới sự hoàn thiện nền kinh tế và thị trường lao động, toàn cầu hoá, phi chính thức,

phải phù hợp với cuộc chơi chung, có cách nhìn khác hơn cho bảo hiểm thất nghiệp ở các nước

đang phát triển, các nước có điều kiện kinh tế khác nhau Nhưng sự thống nhất cao là phải làm

thế nào để bảo hiểm thất nghiệp mang ý nghĩa bảo vệ nhiều nhất, giảm thiểu chi phí

Nhiều đại biểu cho rằng bảo hiểm y tế là rất quan trọng, các nước cần thực hiện đúng cam kết

quốc tế, từng bước bao phủ đến người dân, mở rộng đến cả người ăn theo của đối tượng Tuỳ

thuộc vào nền kinh tế của mỗi nước, mỗi quốc gia phải xây dựng chiến lược toàn diện thực hiện

quyền của người dân, quyền con người Bảo hiểm y tế đang gặp trở ngại và thách thức lớn – diện

bao phủ thấp, đối tượng đóng chưa phải là toàn dân – nguy cơ bệnh hiểm nghèo gia tăng – ngân

quỹ không đáp ứng, phải tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân, lấy số đông bù đắp, san sẻ số ít, xác định mức đóng phù hợp mới có khả năng trợ giúp kịp thời cho những người không may bị bệnh

hiểm nghèo có cơ hội được cứu chữa Vấn đề quan trọng là nhận thức của mọi người, phải hướng

tới sự tham gia bảo hiểm y tế toàn dân – khắc phục tình trạng khi biết bệnh rồi mới tham gia

Bệnh nghề nghiệp, thách thức đối với bảo hiểm xã hội Qua diễn đàn, nhận thức về bệnh nghề

nghiệp rất đa dạng, về bản chất, việc định nghĩa bệnh nghề nghiệp là “ thuật ngữ pháp lý” hay

“thuật ngữ y học” sẽ tác động đến cách thiết kế chế độ bảo hiểm này Bệnh nghề nghiệp trở thành

một thách thức đối với bảo hiểm xã hội do sự xác định nguyên nhân gây bệnh rất phức tạp, đặc

biệt là xác định các yếu tố liên quan đến công việc và không liên quan đến công việc Khó khăn

trong xác định nguyên nhân dẫn đến khó khăn trong việc phòng chống và bảo hiểm Qua diễn

đàn, đại biểu nhiều nước cùng đi đến thống nhất về những thách thức: khó khăn trong công tác

báo cáo và thống kê bệnh nghề nghiệp, đặc biệt là những bệnh có thời gian ủ bệnh lâu Vấn đề

này phức tạp ở chỗ có nhiều căn bệnh mới hoặc đang xuất hiện, khó có thể xác định là do điều

kiện làm việc gây ra như bệnh rối loạn thần kinh; thách thức thứ hai là mở rộng diện bao phủ của

bảo hiểm bệnh nghề nghiệp và tai nạn lao động trong khu vực phi chính thức, mở rộng cơ hội

tiếp cận hệ thống kiểm tra sức khoẻ, khám bệnh nghề nghiệp và bồi thường thương tật

Thông qua Diễn đàn An sinh Xã hội Thế giới lần này cũng giúp cho Việt Nam có thêm kinh

nghiệm để hướng tới xây dựng hệ thống an sinh xã hội năng động, hiệu quả hơn, góp phần vào

công cuộc giảm nghèo bền vững Do nhiều nguyên nhân nên Việt Nam chưa tham gia Hiệp hội

An sinh Xã hội Thế giới, nhưng những gì mà Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã và đang thực

hiện trong nhiều thập kỷ qua đều hàm chứa nội dung cơ bản của hệ thống an sinh xã hội bao gồm: Các hoạt động phòng ngừa rủi ro, phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo

hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp…cả về chiều rộng và chiều sâu,

tăng cường mức độ bao phủ, cải thiện chất lượng dịch vụ, từng bước mở thêm các hình thức bảo

hiểm nhằm bảo đảm an toàn cho người lao động, phòng ngừa rủi ro An sinh xã hội có mối quan

hệ chặt chẽ với phát triển bền vững của nền kinh tế, an sinh xã hội cũng nhằm phát triển các thế

hệ tương lai, thúc đẩy dân chủ, nhân quyền An sinh xã hội tốt sẽ thúc đẩy thực hiện các quyền cơ

bản của con người Các hoạt động trợ giúp thường xuyên sẽ bảo đảm từng bước được mở rộng

đối tượng bao phủ mà quan niệm của các nước là chương trình trợ cấp “không đóng góp, hưu trí

không đóng góp” nhưng vẫn tập trung cho những đối tượng khó khăn nhất, bảo đảm công bằng

trong các chính sách hỗ trợ, không để sót đối tượng nhằm đảm bảo cho mọi thành viên trong xã

hội được bảo vệ về cuộc sống Đa dạng hoá và linh hoạt trong các hình thức hỗ trợ- đáp ứng tốt

Ngày đăng: 23/05/2014, 19:21

Xem thêm

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w