Đạo luật Elizabeth cho người nghèo ban hành năm 1601 được xem như một ví dụ điển hình của sự hình thành hệ thống an sinh xã hội quốc gia nhằm: - Tạo công ăn việc làm cho người nghèo còn
Trang 1
Đời sống con người luôn luôn gặp những trắc trở: bệnh tật, tang tóc, mâu thuẫn, chia ly v.v Trong các thành viên của xã hội luôn luôn có những thành phần không tự lực được như cô nhi, quả phụ, người cao tuổi yếu, tật nguyền Tuy nhiên trong xã hội tiền công nghiệp, quan hệ gia đình rất chặt chẽ, đại gia đình là một chỗ dựa vững chắc Một người bịnh, một cụ cao tuổi hiện diện trong gia đình không phải là một gánh nặng Luôn luôn có người ra vào, có thời gian chăm sóc chòm xóm còn tới thăm hỏi tặng quà, tặng bánh, thuốc men Một đứa trẻ mất cha mẹ ở với ông bà, cô chú là chuyện hoàn toàn bình thường chỉ thêm một miệng ăn tham gia vào buổi cơm gia đình đạm bạc nhưng gạo, rau không thiếu
Ngoài đại gia đình cộng đồng làng mạc Việt Nam thời xa xưa có công điền, công thổ dành cho cô nhi quả phụ Ghé qua nhà chùa lúc nào cũng ít lắm là được một bữa cơm chay Thời trung cổ giáo hội Thiên Chúa giáo ở Phương Tây có những hoạt động từ thiện phong phú cho những người lỡ đường, sa cơ v.v
Nếu lúc nào cũng có những thành phần “yếu kém” thì xã hội truyền thống cũng luôn luôn
có những cơ chế tự nhiên, vô hình hay không tên mang lại cho họ một sự trợ giúp
Nhưng với sự phát triển của công nghiệp, với quá trình đô thị hóa thì vấn đề không còn đơn giản Từ sự chuyển biến nhanh chóng của xã hội, nhiều vấn đề con người rất phức tạp nảy sinh và có tầm vóc lớn
Song song với cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh vào thế kỷ thứ 17 xã hội Phương Tây bắt đầu chứng kiến những vấn đề có tầm vóc to lớn và phức tạp hơn như nạn thất nghiệp của hàng vạn lao động khi các xí nghiệp thất bại, nạn mãi dâm với tầm vóc rộng rãi, nạn bóc lột sức lao động của trẻ em v.v Rồi kế đến là các tệ nạn xã hội khác như tội phạm, nghiện ngập, rượu chè với tính chất và tầm cỡ mà xã hội nông nghiệp, cổ truyền chưa biết đến
Đó là các vấn đề xã hội (social problems) theo nghĩa khoa học hiện nay xuất phát không từ
sự yếu kém của từng cá nhân mà là hậu quả của các quá trình kinh tế xã hội Sự phát triển nhà máy ở các thành phố lớn thu hút các lao động nông thôn Rời bỏ làng mạc, xóm giềng, gia đình, họ sống đơn độc sinh ra rượu chè, cờ bạc Thất nghiệp, họ biến thành đội quân nghèo đói thiết lập các khu ổ chuột Phụ nữ thất nghiệp chỉ còn con đường mãi dâm Người cao tuổi nua phải đi ăn xin để kiếm sống
Ở nông thôn, nông dân thường dựa vào sự ban bố của các lãnh chúa phong kiến Khi chế
độ phong kiến suy sụp, nghèo đói phát triển tràn lan Đại gia đình, nhà thờ không đủ để đối phó nữa Do đó từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 18 nước Anh đã ra những đạo luật để giải quyết những vấn đề người nghèo, nạn hành khất v.v Đạo luật Elizabeth cho người nghèo ban hành năm 1601 được xem như một ví dụ điển hình của sự hình thành hệ thống an sinh xã hội quốc gia nhằm:
- Tạo công ăn việc làm cho người nghèo còn sức lao động
- Mở các viện dưỡng lão cho người cao tuổi yếu, tàn tật, mất sức lao động
- Bảo trợ trẻ mồ côi, hay bị bỏ rơi bằng cách gởi làm công, học nghề tại các gia đình, doanh nghiệp v.v
Từ đó công tác xã hội, không còn là công tác tự nguyện cá nhân hay nhà thờ mà là nhiệm
vụ của nhà nước Hàng trăm hàng ngàn bộ luật khác được ban hành mang tính xã hội như luật gia đình, luật lao động, luật bảo trợ trẻ em, luật bảo vệ người khuyết tật, luật con nuôi
Trang 2v.v Nhiều chính sách, chương trình, dịch vụ rất đa dạng, nhiều tổ chức, đoàn thể xuất hiện để chăm sóc, hỗ trợ những cá nhân, gia đình, nhóm xã hội có nhu cầu đặc biệt
Hệ thống an sinh xã hội cấp quốc gia hình thành từ đó với một bộ máy nhà nước phụ trách các vấn đề xã hội như một thiết chế bên cạnh các thiết chế khác như ngành y, ngành giáo dục, nhà ở, giao thông vận tải
Trên tất cả quốc gia có một bộ, mang tên khác nhau như bộ An sinh và phát triển xã hội ( Phi-lip-pin ), bộ phát triển cộng đồng (Singapore), bộ Lao động, Thương binh xã hội hay những hình thức hỗ trợ thường xuyên cho các đối tượng chính sách
Hai chữ An Sinh được sử dụng trong công tác xã hội sẽ mang tính toàn diện hơn Không chỉ có vật chất mà tinh thần và tất cả những gì đem lại cho con người một cuộc sống an bình
Dưới đây là một số định nghĩa để tham khảo
Theo tác giả B R Compton (Introduction to social welfare and social Work - Nhập môn an sinh xã hội và công tác xã hội, 1980)
a “An sinh xã hội là một thiết chế
b Bao gồm các chính sách và luật pháp
c Thực thi bởi các tổ chức tự nguyện hay của nhà nước
d Thông qua đó một mức độ tối thiểu được xác định về dịch vụ xã hội, tiền và các quyền lợi khác (y tế, giáo dục, nhà ở v.v )
e Được phân phối cho cá nhân, gia đình, nhóm xã hội mà họ không nhận được từ gia đình hay thị trường
f Nhằm mục đích phòng ngừa, giảm nhẹ hay đóng góp vào việc giải quyết các vấn đề xã hội để cải tiến sự an sinh của cá nhân, nhóm và cộng đồng một cách trực tiếp"
Theo Elizabeth Wickenden (Social welfare in a Changing World - An sinh xã hội trong một thế giới đổi mới, 1965), An sinh xã hội gồm các: “luật lệ, chương trình, quyền lợi và dịch vụ bảo đảm và củng cố các biện pháp đáp ứng các nhu cầu xã hội được công nhận như
an sinh cơ bản của quần chúng và cải tiến trật tự xã hội”
Theo J.M Romanyshyn (Social Welfare: Charity to Justice - An sinh xã hội: Từ bác ái đến công bằng, 1971) An sinh xã hội gồm các biện pháp và quá trình liên quan đến việc giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội, sự phát triển tài nguyên nhân lực và cải tiến chất lượng sống Điều này bao gồm các dịch vụ xã hội cho cá nhân, gia đình và cả những nỗ lực củng cố và cải tiến các thiết chế xã hội”
Ngày nay An sinh xã hội không chỉ được xem như là không tránh khỏi để giải quyết các vấn đề tiêu cực của xã hội, nhưng vai trò của nó hết sức thiết yếu trong phát triển xã hội Nghĩa là chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao, cá nhân không những phải được đáp ứng các nhu cầu căn bản mà còn cần được phát huy tối đa và hòa nhập một cách tốt đẹp vào xã hội Gia đình, tập thể, cộng đồng cần thực hiện chức năng của mình một cách hài hòa và có hiệu quả để đem lại an sinh cho cá nhân và sự ổn định và phát triển cho xã hội
Từ đó ta thấy rằng bộ máy nhà nước phụ trách ASXH không chỉ làm “Công tác chính sách” (theo nghĩa thường dùng) hay cứu trợ đơn thuần mà về mặt chuyên môn phải nổ lực rất cao để ngang tầm với nghiệm vụ trong xã hội hiện đại
Ngành An sinh xã hội ở các nước công nghiệp phát triển, với vốn tích lũy dồi dào thường bao gồm:
1 An sinh công cộng (Public wefare), đây là tổ chức mang tính cứu trợ cho những người (tạm gọi) là theo diện chính sách nào đó Ví dụ người nghèo dưới một mức độ nhất định, người thất nghiệp, trẻ bơ vơ, người cao tuổi, tàn tật, tị nạn v.v
2 Bảo hiểm xã hội (social insurance) cho những người trong thời gian lao động có đóng góp cho quỹ bảo hiểm
3 Chương trình phát triển lao động và dân dụng
Trang 34 Nhà ở và tái thiết đô thị
5 Sức khoẻ chung
6 Sức khoẻ tâm thần
7 Phục hồi chức năng
8 Phạm pháp và giáo hóa
9 Vui chơi giải trí
10 An sinh nhi đồng và gia đình
11 Phát triển cộng đồng v.v
Tùy từng quốc gia nội dung và tổ chức có khác nhau, nhưng nói chung An sinh xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu toàn diện của người dân để sống hạnh phúc, hài hòa và tham gia xây dựng một xã hội hài hòa và phát triển
Có được sự tiến bộ là do sự đóng góp của các ngành khoa học như tâm lý học, tâm thần học, xã hội học v.v và cả chính trị học vì muốn đóng góp vào việc xây dựng các chính sách xã hội phù hợp, không thể đứng ngoài và không hiểu rõ hoạt động chính trị
Cơ sở kiến thức của An sinh xã hội
ASXH không sử dụng toàn bộ kiến thức của các khoa học vừa kể nhưng những phần nào
có liên quan, ví dụ các nguyên cứu xã hội về dân số học về phong tục tập quán trong hành
vi sức khỏe, kinh tế học liên hệ tới sự nghèo đói v.v
Ngày nay ASXH là một bộ môn khoa học ứng dụng được giảng dạy ở các trường CTXH, thường là cấp đại học
3 AN SINH XÃ HỘI VÀ NGHỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Nhiều ngành nghề tham gia đóng góp vào nền ASXH của một quốc gia, ví dụ như nhà thiết
kế đô thị tham gia giải tỏa nhà ổ chuột, bác sĩ, y tá có vai trò quan trọng cho sức khoẻ, luật
sư tham gia làm luật bảo vệ trẻ em Nhưng do các ngành này và một số ngành khác không đáp ứng một cách toàn diện nhu cầu xã hội của con người một ngành nghề mới xuất hiện
từ đầu thế kỷ 20 đó là công tác xã hội (social work)
Giữa các ngành nghề đóng góp cho nền ASXH công tác xã hội đóng vai trò tổng hợp và trung tâm
Trong lĩnh vực sức khỏe, y bác sĩ và các cấp nhân viên sức khỏe khác đóng vai trò trung tâm nhưng bên cạnh học cũng có nhà tâm lý, nhân viên xã hội, kỹ sư, nhà kinh tế nhà quản trị v.v Trong ngành ASXH, nhân viên CTXH (social worker) các cấp đóng vai trò trung tâm, giữa các ngành chuyên môn khác
Vai trò của CTXH trong ASXH
Nếu đạo luật về người nghèo của Anh quốc xuất hiện vào đầu thế kỷ 17 được xem như nền tảng ban đầu của nền ASXH theo nghĩa hiện đại thì mãi đến thế kỷ 20 mới xuất hiện nhân viên xã hội chuyên nghiệp Vào cuối thế kỷ 19, hiệp hội các tổ chức từ thiện (Charity Organizations Society) và Phong trào trung tâm cộng đồng (Settlement House Movement)
cố gắng tìm hiểu căn nguyên của các vấn đề xã hội và tìm cách giúp đỡ các đối tượng xã hội phục hồi nhân phẩm và vị trí xã hội của mình Nhũng đối tượng này được xem như là nạn nhân của sự chuyển biến xã hội hơn là những kẻ “lười biếng”, thiếu đạo đức phải trừng
Trang 4trị như trước kia Từ đó các nhân viên được tuyển phần lớn từ từng lớp trí thức, để phân vùng và chia nhau đi viếng thăm tìm hiểu hoàn cảnh của từng người Thái độ tôn trọng và mối quan hệ tốt đẹp giữa nhân viên và các đối tượng xã hội được nhấn mạnh vì mục đích
là giúp họ tự vươn lên “làm lại cuộc đời”
Từ những kinh nghiệm này các nhân viên xã hội đầu tiên hiểu rằng giúp đỡ con người là một quá trình phức tạp và tế nhị đòi hỏi sự hiểu biết về cá nhân và cả xã hội Họ cũng rút
ra nhiều kinh nghiệm về cách tiếp xúc để tìm hiểu từng trường hợp, ghi chép để theo dõi diễn biến của đối tượng, nhu cầu thông tin, phối hợp công tác giữa các cơ quan Cũng từ đó hình thành cơ sở ban đầu của phương pháp CTXH và ý thức về vai trò nhiệm vụ nhân viên
xã hội, đạo đức chức nghiệp v.v
Hiệp hội các tổ chức từ thiện (COS) còn là cha đẻ của các trường CTXH đầu tiên ở Mỹ và Anh Năm 1898 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ đầu tiên (Summer school of Philanthropic workers) cho 27 học viên được tổ chức tại New York, trong 6 tuần Ba năm sau khóa học trở thành trường CTXH đầu tiên với chương trình kéo dài 8 tháng Ngày nay là trường CTXH thuộc đại học Colombia Ngay sau đó hàng loạt trường khác được thành lập ở các thành phố lớn ở Âu, Mỹ
Ở Châu Á, và Châu Mỹ la Tinh, các trường CTXH mọc lên đồng loạt sau thế chiến thứ 2 Trung Quốc và Ấn Độ do sự gần gũi với Anh quốc có người đi học ở Anh, Mỹ, khá sớm và
du nhập ngành CTXH sớm nhất ở Châu Á Miền Nam Việt Nam do ảnh hưởng của Pháp
có trường CTXH vào năm 1949 do Hồng thập tự Pháp thành lập, sớm hơn một số nước Châu Á và châu Mỹ La Tinh Đó là trường Caritas, 38 Thevenet (nay là Tú Xương) do các
Ở Châu Âu ngành CTXH bắt đầu ở hệ trung cấp chuyên nghiệp hai năm Ở Mỹ phải có cử nhân về tâm lý hay xã hội học mới đi chuyên ngành CTXH cấp cao học
Ngày nay có sự thống nhất về mặt tổ chức và ngành CTXH được giảng dạy trong hệ đại học, với khả năng nhận chứng chỉ sau 2 năm để đi làm việc và sau đó học tập tiếp
Trên thế giới ngày nay nghề CTXH được biết đến như mọi ngành nghề khác với nhân viên trực tiếp tác chiến cấp trung cấp hay cử nhân, nhân viên điều hành từ cử nhân tới cao học
và các nhà nghiên cứu, giảng dạy, kế hoạch từ cao học đến tiến sĩ Nhân viên chuyên nghiệp có nghiệp đoàn của mình ở cấp quốc gia và quốc tế
Ở Việt Nam trước giải phóng, ngoài trường Caritas có thêm trường CTXH là một trường công lập do bộ xã hội cũ thành lập với sự hỗ trợ của Liên Hiệp Quốc Đại học Đà Lạt đã có phân khoa “chính trị xã hội” với nội dung CTXH, đại học Vạn Hạnh vừa bắt đầu mở và đại học Cửu Long chưa kịp mở khoa CTXH thì giải phóng Trường Thanh niên phụng sự xã hội hoạt động được vài năm với nội dung nặng về kỹ thuật phát triển nông thôn
Đến năm 1975 miền nam Việt Nam cũ có được trên dưới 300 nhân viên trung cấp, 15 - 20 tốt nghiệp đại học và học thêm một năm CTXH và 15 cao học CTXH bị gián đoạn từ
1975 đến 1989 khi bắt đầu học thí Anh chị em trong nhóm nghiên cứu CTXH chỉ có một cao học và anh chị kiểm sự, cán sự xã hội và trong đó có người học thêm bậc cử nhân ở một ngành khác
Trước kia có cỡ 500 cán bộ được bồi dưỡng tại chức từ 3 - 6 tháng Nay có cỡ 100 anh chị
em làm việc với trẻ em nghèo lang thang đã trải qua một lớp huấn luyện ngắn
Đến nay (1996) trong nước co được 2 cao học CTXH và 3 cao học PTCĐ vơi một số đang
du học ở nước nghèo Chương trình CTXH 2 năm được giảng dạy trong khoa PN học với
Trang 5triển vọng có thể mở thêm bậc cử nhân Tháng 3/1996 chương trình cử nhân CTXH đầu tiên được mở tại Khoa Xã hội học, đại học quốc gia Hà Nội Đây là dấu hiệu của sự phục hồi của ngành và chắc chắn nó sẽ phát triển mạnh để đáp ứng các yêu cầu phát triển mới của đất nước
4 DIỄN BIẾN CỦA ASXH TRÊN THẾ GIỚI
4.1 NGÀNH ASXH PHƯƠNG TÂY ĐANG BỘC LỘ NHIỀU KHIẾM KHUYẾT
Từ lâu nền ASXH phương Tây, nhất là ở các nước như Thụy Điển, Anh v.v được xem là
mô hình Nơi đây các nhu cầu của các đối tượng xã hội được đáp ứng một cách đầy đủ nhất Tuy nhiên nhà nước phải bao cấp rất nhiều Ngày nay với các cuộc khủng hoảng kinh
tế, tình hình tài chánh nhiều nước đang gặp khó khăn gây ảnh hưởng lớn đến các chương trình ASXH và từ đó cũng tạo ra những bất ổn trong xã hội
Khi làm một chính sách ASXH ít ai ngừa trước được hậu quả tiêu cực của nó nhưng ngày nay một số hậu quả tiêu cực này đã tự bộc lộ Ví dụ như trợ cấp cho trẻ thành niên sống tách rời gia đình khuyến khích sự tự lập nhưng đồng thời gây sự suy yếu cho thiết chế gia đình Việc hỗ trợ các phụ nữ trẻ không lập gia đình mà có con là một việc phải làm, tuy nhiên chính sách này làm tăng nếp sống cầu thả, tăng cường đạo quân nghèo đói thất nghiệp Thậm chí trẻ từ các gia đình đơn thân này cũng dễ dàng sa vào tội phạm
và kỳ vọng của người dân
Tuy nhiên với cuộc khủng hoảng kinh tế của thập kỷ 80, một số vấn đề cũ tái phát sinh như nghèo đói, thất nghiệp và khiếm dụng, mù chữ, sự giảm thiểu nghiêm trọng của các dịch
vụ y tế giáo dục
Thêm vào đó những vấn đề mới phát sinh như sự xuống cấp của môi trường, tệ nghiện nghập, bệnh Aids, bạo lực và chiến tranh Từ đó cần quan tâm đặc biệt đến các đối tượng sau đây:
Gia đình cần được đáp ứng nhu cầu như một đơn vị, đồng thời nhu cầu của từng thành viên Cần quan tâm đặc biệt đến gia đình đơn thân, một loại hình mới xuất hiện Cần củng
cố gia đình trong vai trò hỗ trợ các thành viên, quan tâm đến các thành viên đặc biệt như trẻ em, thanh thiếu niên, người cao tuổi, người khuyết tật Tuy nhiên các dịch vụ hỗ trợ gia đình nên thận trọng kẻo việc chăm sóc các thành viên đặc biệt trên lại một lần nữa trở thành một gánh nặng thêm cho PN
Một nền ASXH và PTCĐ phải thúc đẩy sự tiến bộ của PN và tạo điều kiện đồng đều để PN tham gia vào mọi lãnh vực kinh tế, văn hóa xã hội của đời sống LHQ xem việc nam - nữ ngày càng chia sẻ trách nhiệm trong công việc nhà trong vai trò cha mẹ là một tiến bộ
Ở những nước có đông người cao tuổi thì phải hoàn thiện hệ thống lương hưu, và các dịch
vụ phù hợp Nhưng quan trọng nhất là phải làm sao cho người cao tuổi tích cực tham gia việc giải quyết nhu cầu của chính họ Để được vậy cần củng cố vai trò của người cao tuổi trong gia đình và ngoài xã hội
Ngược lại có những nước tỉ lệ người trẻ tuổi lại đông Ở đây cần quan tâm giúp đối tượng này trong các lãnh vực:
Trang 6Học nghề
Thành lập gia đình và trở thành những cha mẹ có trách nhiệm
Giáo dục ngăn ngừa hành vi tự hủy hoại (nghiện ngập, sống buông thả v.v )
Cần quan tâm đến hiện tượng di dân và tìm hiểu nguyên nhân cội nguồn Một đàng cải thiện điều kiện kinh tế xã hội của nơi xuất phát; đàng khác giúp người di dân tại nơi đến của họ Cải thiện hạ tầng cơ sở, môi trường công ăn việc làm thông qua các dự án tự giúp ở cộng đồng
Đối với nghèo đói, không chỉ xoa diệu mà giải quyết tận căn bằng:
Gia tăng việc làm
Cơ hội đầu tư đồng đều cho cả nam lẫn nữ
Nhằm ưu tiên vào những thành phần yếu kém nhất
Giúp tuổi trẻ việc làm để tự lực và để họ giúp lại những thành phần yếu khác trong gia đình (người cao tuổi, khuyết tật v.v )
Sự chủ động và tích cực tham gia của đối tượng thụ hưởng dịch vụ ASXH, là tối quan trọng Đó không chỉ là một phương tiện mà chính là mục tiêu của PTXH Chính họ mới biết rõ nhu cầu của bản thân và quyết định về những dịch vụ, chương trình và lợi ích cho
họ
Mọi dịch vụ cần lấy gia đình làm đối tượng và dựa trên cộng đồng
Các chính sách ASXH cũng nhằm giải quyết các hậu quả xã hội tiêu cực của công việc cách mạng khoa học và kỹ thuật (LHQ, các nguyên tắc hướng dẫn cho các chính sách và chương trình ASXH theo hướng PTCĐ cho một tương lai gần 1988)
Ví dụ nổi bật nhất là sự du nhập của Tây y làm mất đi những tiềm năng quý giá của Đông
y mà ngày nay cả thế giới đang tìm lại
Cũng vậy mô hình cô nhi viện của nhà thờ công giáo từ phương Tây đem qua các nước châu Á mà lúc đó tình đại gia đình, sự tương thân tương trợ trong làng mạc rất chặt chẻ là khuyến khích bỏ con và tiêu diệt dần tiềm năng của cộng đồng Ngày nay khoa học còn phát hiện ra hậu quả tiêu cực của việc nuôi tập trung nữa
Hơn hết mô hình bao cấp và cung ứng dịch vụ ở Phương Tây không thể nào thực hiện ở một nước chưa phát triển về kinh tế với ngành CTXH Phương Tây và ngày nay cả đôi bên thống nhất mấy nguyên tắc về hành động Đó là xây dựng năng lực (Capacity building) và tăng sức mạnh hay quyền lực (empowerment) cho các nhóm có cùng một nhu cầu hay ở cùng một địa phương, ý thức và đòi hỏi quyền lợi của chính mình và cùng giúp nhau cải thiện đời sống của mình Ngay cả đối với những nạn nhân của các tệ nạn xã hội cách tiếp cận trên đây cũng là chính yếu
Xu hướng chung trên thế giới là lưu lại những tiềm năng, những giá trị văn hóa dân tộc đã
bị đánh mất để tìm đến một mô hình phát triển nhân bản hơn
5 NGÀNH ASXH TẠI VIỆT NAM
5.1 BỐI CẢNH XÃ HỘI VN HIỆN TẠI
Trang 7
Phải nói khi chế độ quản lý xã hội chủ nghĩa còn tồn tại với sự bao cấp nhiều mặt nhu cầu của công nhân viên, xã viên được quan tâm đầy đủ Khi đất nước chưa mở cửa thì trật tự
xã hội còn được giữ gìn
Ngày nay khi đất nước mở cửa và chuyển sang kinh tế thị trường thì sự phân hóa cao tuổiu nghèo tăng một cách nổi bật Ở từng địa phương, từng lúc nghèo đói là vấn đề nổi bật nhất
Sự giao lưu với bên ngoài làm phát sinh những vấn đề xã hội mới, phức tạp như nạn thất nghiệp, sự di dân đến các thành phố lớn để kiếm sống tạo ra vô số vấn đề như nhà ổ chuột,
sự xuống cấp của vệ sinh môi trường, trộm cắp, mất an ninh trật tự Đáng quan tâm hơn là con số ngày càng gia tăng của trẻ em đường phố, mại dâm, người nghiện ngập, bịnh nhân Aids
Nhiều tội phạm có tổ chức, có liên quan đến các đường dây quốc tế diễn ra ngày càng nghiêm trọng
Xã hội phát sinh ra nhiều vấn đề nhưng đồng thời những nỗ lực giải quyết cũng đa dạng và sáng tạo
Nhiều chương trình chăm sóc trẻ em trong hoàn cảnh khó khăn, những nhóm giáo dục đồng đẳng cho các đối tượng xã hội, tín dụng cho người nghèo, sự hình thành của vài dự
án PTCĐ cho thấy nếu có đường lối chính sách chung và tổ chức tốt VN ta có tiềm năng không nhỏ
Vấn đề đào tạo nhân viên xã hội chuyên nghiệp đã bắt đầu
Đại bộ phận làm việc ở cơ sở hay ở cấp quản lý cũng chưa được chuyên môn hóa
Luật pháp tuy có một số bộ phận cơ bản (như luật Dân sự, Hôn nhân gia đình, Sức khỏe, Phổ cập, Giáo dục, Lao Động, Quyền trẻ em ) nhưng chưa hoàn chỉnh để giải quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ các đối tượng xã hội đặc biệt Các chính sách xã hội chưa thể nhằm vào toàn dân mà đang cố gắng chăm lo tốt cho một số dạng đối tượng đặc biệt (diện chính sách)
Dù sao, người làm CTXH cần rất quan tâm theo dõi và thậm chí trực tiếp tham gia vào một
số chương trình mang tính phát triển xã hội cao như:
Xóa đói giảm nghèo
Phát triển nông thôn
Đây là hai bộ máy quốc gia có hệ thống tổ chức từ Trung ương đến tận Phường xã
Điều đáng lưu ý là từ tháng 3/1996 UBGĐDSTE đã thực hiện một chủ trương lớn là chuyên môn hóa cán bộ thông qua chương trình đào tạo cá nhân CTXH tại Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 8- Các đoàn thể quần chúng như: Đoàn Thanh niên, Hội LHTN, Hội Phụ nữ, Hội chữ thập
đỏ, Công đoàn Tất cả đều có những chương trình chăm sóc trẻ em, tín dụng cho PN nghèo, chăm sóc sức khỏe, giúp đỡ các đối tượng nạn nhân xã hội v.v
- Các tổ chức phi chính phủ trong nước bắt đầu hình thành Ở thành phố có hai tổ chức được biết đến nhiều là Hội Bảo Trợ Trẻ Em và Hội PN Từ Thiện Từ ngày có quyết định
35 CP chính phủ ở Miền Bắc và một số tỉnh các tổ chức PCP Việt Nam lại phát triển nhanh hơn Phổ biến nhất là dưới hình thức hội bảo trợ
Tuy nhiên vấn đề đặt ra hiện nay là nhà nhà, người người và tổ chức làm CTXH Mạnh ai nấy làm, không có một đường lối chung, cũng không có cơ sở khoa học và luật pháp để phân biệt cách làm nào đúng hay chưa đúng và nhất là để loại trừ những lạm dụng nhân danh “từ thiện”, “xã hội”
Nguyên nhân bao trùm là sự yếu kém của bộ máy trách nhiệm cao nhất
- Các tổ chức của Liên Hợp Quốc và các NGO quốc tế
Vai trò xúc tác của các tổ chức này rất quan trọng Đặc biệt các tổ chức LHQ vừa đưa vào
sự viện trợ tài chánh và kỹ thuật, vừa giúp cho VN tiếp cận Các trào lưu quốc tế, đặc biệt cho lãnh vực ASXH phải kể đến vai trò của UNDP (chương trình PT LHQ), UNICEP đã
và đang hỗ trợ rất nhiều cho lãnh vực trẻ em và gia đình, UNFPA (tổ chức kế hoạch hóa gia đình )
Có nhiều chục NGO (tổ chức phi chính phủ) quốc tế lớn nhỏ đóng chủ yếu ở Hà Nội và một số ít ở TP Hồ Chí Minh và các tỉnh Còn tính luôn các NGO không đặt văn phòng ở
VN thì con số lên tới hàng trăm
Có những NGO có tên tuổi và uy tín rất lâu đời đem lại cho VN triết lý, kiến thức và phương pháp phát triển vô cùng quý giá Họ thật sự tôn trọng chủ quyền quốc gia và nền văn hóa của các nước mà họ giúp đỡ
Nhưng cũng có những tổ chức “từ thiện” được thành lập không thật sự vì nước mà họ tới
“giúp đỡ”, nhưng mục đích ngấm ngầm bên trong là để nuôi chủng bộ của họ Một chương trình, dự án có hại hay có lợi cho VN không phải là vấn đề quan tâm hàng đầu của họ Rồi cũng có những tổ chức, cá nhân người nước ngoài, Việt kiều mượn cái nghèo của chúng ta
để tự tiện gây quỹ, để tự tiện chi tiêu mà phía nhận hay cho đều không kiểm soát được Còn về phương pháp, cách làm thì cũng có đủ thứ Trong lãnh vực kinh tế nước ta có nhập rác, nhập trang bị “nghĩa địa” thì trong lãnh vực xã hội cũng có nhiều khả năng nhập những mô hình lỗi thời, có hại
Từ bên trong có những thuận lợi to lớn mà ta phải phát huy tối đa Đó là:
Quyết tâm của lãnh đạo quốc gia để đẩy mạnh PTXH
Định hướng xã hội chủ nghĩa nhấn mạnh độc lập dân tộc, công bằng xã hội là nền tảng vững chắc cho PTXH
Phát triển nông thôn và xóa đói giảm nghèo là môi trường thuận lợi để thực hiện PTCĐ Các đoàn thể quần chúng với mạng lưới tận cơ sở nếu tiếp cận với những phương pháp tốt
sẽ chuyển tải chúng nhanh chóng để nhân rộng trong quần chúng
Trong dân chúng, tiềm năng tương thân tương trợ còn dồi dào như “lá lành đùm lá rách”,
“tình làng nghĩa xóm”, các bang, hội không mang tính chính thức Các tổ tiết kiệm, tổ liên kết v.v cần được nghiên cứu kỷ, củng cố tổ chức và phát huy tác dụng
N.T.O
Trang 9
TÀI LIỆU THAM KHẢO
ROMANYSHYN, JOHN M., Social Welfare - charity to Justice ( An sinh xã hội - Từ bác
ái đến công bằng), New York : Random House, 1971
COMTON, BEULAH R Introduction to Social Welfare & Social Work : Structure, Function & process ( Nhập môn về An sinh xã hội và CTXH : cơ cấu, chức năng và tiến trình), Illinois: The Dorsey Press, 1980
ZASTROW, CHARLES, Introduction to social Welfare institutions Social problem, services and current issues ( Nhập môn về các thiết chế ASXH Vấn đề xã hội, dịch vụ xã hội, và các vấn đề đương đại) Homewood, Illinois, The Dorsey Press, 1982
DIXON, JOHN Social Welfare in ASia (ASXH ở châu Á), London, Croom Helm, 1988 United Nations, Guiding Principles for Developmental Social Welfare Policies and Programmes in the Near Future (Các nguyên tắc hướng dẫn cho các chính sách và chương trình ASXH phát triển cho tương lai gần), New York, 1988
Trẻ em do còn non nớt về thể chất và trí tuệ nên cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể
cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời
Trang 10Gia đình là môi trường tự nhiên cho sự phát triển tối đa hạnh phúc của trẻ để giúp trẻ có thể đảm đương được đầy đủ trách nhiệm của mình trong cộng đồng xã hội Trẻ cần được trưởng thành trong môi trường tự nhiên, trong bầu không khí hạnh phúc, yêu thương và thông cảm Thế nhưng, trên thực tế xã hội biến đổi nhanh chóng, gia đình không thích ứng nổi với vai trò của mình, do đó nảy sinh ra nhiều vấn đề đối với trẻ
2.- CÁC VẤN ĐỀ CỦA TRẺ TRONG HỆ THỐNG ASNĐ
Các vấn đề của trẻ được phân loại như sau:
1 Trẻ thiếu chăm sóc, bị bỏ rơi và lạm dụng ngược đãi
Trẻ không đến trường đều đặn, bỏ học trốn học
Nhu cầu được thương yêu rất quan trọng cho sự tăng trưởng cơ thể và phát triển nhân cách của trẻ Trẻ không được thỏa mãn nhu cầu này thường có những hiện tượng như rối loạn ngôn ngữ , rối loạn giấc ngủ, chậm phát triển tâm thần, có những hành vi quá khích, đập phá, gây hấn, khép kín, đòi hỏi
b Trẻ bị bỏ rơi:
Trẻ bị bỏ rơi hoàn toàn khi mới sanh hay khi gia đình có đổ vỡ lúc trẻ chưa đến tuổi thành niên
c Trẻ bị lạm dụng ngược đãi về mặt thể chất và tinh thần:
Trẻ bị đánh đập và để lại những thương tích trên thân thể do những vật dụng như lược chải tóc, cú đấm, dây điện, vợt đánh cầu, dao ,dây, chai bể, các vật dụng nóng như bàn ủi, nước sôi Về mặt tâm lý trẻ bị chửi mắng, lăng nhục bằng lời, đe dọa đến khiếp sợ
Trẻ bị lạm dụng tình dục: bị ép buộc quan hệ tình dục với người lớn tuổi hơn, có kinh nghiệm bằng sức mạnh, đe dọa cưỡng bức những người lớn tuổi này có thể là người thân trong gia đình, họ hàng , chòm xóm hay người lạ Trẻ là nạn nhân tuổi từ mấy tháng đến lớn, nhưng nhiều nhất là lứa tuổi mười mấy
Hiện nay một chứng “bệnh” mới đang là một tai họa lớn tại các nước Á châu, đặt biệt là tại Thái Lan, Phi - lip - pin, Shri-Lanka, đó là bệnh thích làm tình với trẻ em (pedophyles) Bóc lột lao động: Trẻ làm công việc nặng nhọc của người lớn, lương rẻ mạt, sa thải tuỳ tiện Trẻ có thể bị làm việc tại nhà, tại các xưởng, xí nghiệp, các nông trại, hầm mỏ Trong điều kiện làm việc tồi tệ và như những nô lệ
(Ở vài nước châu Á tỉ lệ trẻ lao động chiếm 11% lực lượng lao động trong nước Châu Phi 20%, châu Mỹ la tinh 26%, Ý (Napoli) hàng trăm ngàn trẻ lao động trong ngành da thuộc )
Trẻ không thể đi học và cam chịu nghèo khổ suốt đời Các em có thể bị biến dạng hình thể,
bị tổn thương tâm sinh lý, đặc biệt đối với trẻ làm nghề khuân vác nặng, dệt thảm, sản xuất diêm quẹt hay dịch vụ gia đình
Khuyến khích, bắt buộc trẻ đi xin, ăn cắp hoặc, hoặc làm gái
Khủng hoảng về môi trường sống, sức ép kinh tế, cô lập xã hội cũng góp phần vào sự ngược đãi trẻ
Các bậc cha mẹ tin tưởng vào kỷ luật sắt
Rượu và ma túy cũng góp phần trong một số trường hợp
Trang 11
CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN CHA MẸ BỎ BÊ CON CÁI :
Đa số gia đình này thuộc tầng lớp thấp trong xã hội, thiếu thốn về tài chánh, nhà ở
Trên 50% là gia đình chỉ có cha hoặc mẹ
Gia đình rất đông con
Các bà mẹ có kiến thức dưới trung bình
Những cha mẹ này là những người mệt mỏi về tinh thần lẫn thể chất, thất bại trong cuộc sống, tự cô lập mình, thiếu hy vọng
Là những người thiếu hoặc không có kinh nghiệm được yêu thương từ thuở bé
Riêng tại Việt Nam số người khuyết tật khoảng 6 triệu người, tương đương 2,7% dân số Trong số này có hơn 70% ở độ tuổi thanh thiếu niên Người khuyết tật nói chung không được chăm sóc đến nơi đến chốn
Các loại khuyết tật:
Khuyết tật về thể chất (physical impairment) như bại, liệt
Khuyết tật vế thính giác (hearing impairment)
Khuyết tật về thị giác (visual impairment)
Khuyết tật về trí tuệ (intellectual and mental impairment) như chậm phát triển, bại não, thiếu trí
Có 25% trẻ bị chết dưới 5 tuổi con số này chiếm 50% tổng số người chết thuộc các độ tuổi, 10% chết do đói và suy dinh dưỡng Hàng năm có độ 200.000 trẻ bị ốm và tật nguyền do bại liệt, nửa triệu trẻ bị mù vì thiếu vitamin A
1990 có độ 700.000 trẻ sơ sinh nhiễm virus Sida, phần lớn các em ở Châu Phi
2 Trẻ lang thang đường phố
Vấn đề trẻ bị bỏ rơi, thiếu chăm sóc dẫn đến nạn trẻ bỏ học, lang thang bụi đời
Trên thế giới hiện nay số trẻ này lên đến 100 triệu Tại châu Mỹ La Tinh có 50 triệu, riêng Braxin có 30 triệu, Philippines 2,4 triệu và thành phố HCM độ hơn 15.000 em
Trẻ lang thang đường phố là những trẻ sống và làm việc hoặc ngủ ngay tại đường phố Có thể phân loại trẻ em này như sau:
Trẻ bị bỏ rơi hoàn toàn, không người thân, không gia đình phải tự kiếm sống và ở luôn ngoài đường
Trẻ cùng với gia đình lang thang trên đường phố
Trẻ có gia đình nhưng vì lý do nào đó sống lang thang không về với gia đình
Trang 12Trẻ kiếm sống ngoài đường phố tối về với gia đình
Nguyên nhân dẫn đến vấn đề này là một chùm nguyên nhân mang tính cấu trúc trong đó vấn đề nghèo đói vẫn là cơ bản
Quá trình phát triển xã hội thiếu cân bằng làm nảy sinh những bất công trầm trọng, một số tầng lớp sống dưới mức tối thiểu và do đó bị đẩy ra ngoài lề xã hội
Độ thị hóa dồn dập hỗn độn tạo ra từng lớp dân nghèo thành thị, những khu nhà ổ chuột Gia đình nghèo đói, dốt nát, tan vỡ
Phần lớn các em xuất thân từ những gia đình này, bỏ nhà ra đi vì đói, vì ngột ngạt trong những khu nhà ổ chuột, vì bị đánh đập đối xử tàn tệ Có khi bị rủ rê vì ở gần các khu ăn chơi, bến cảng, nhà ga bị người lớn lợi dụng bắt đi ăn xin, ăn cắp để nuôi họ
Các nhà nghiên cứu cho rằng hoàn cảnh đầu đường xó chợ buộc các em đi vào những hành
vi không tốt chỉ để giải quyết nhu cầu sống còn cơ bản, các em chỉ là nạn nhân
Thế nhưng xã hội đã nhìn các em như tội phạm và do vậy đã đẩy các em ra ngoài lề xã hội
3 Trẻ em nghèo:
Đây là những trẻ em không được đi học, bỏ học, vào đời sớm, có nguy cơ bỏ học vì gia đình nghèo không lo nổi, vì nghèo và chính bản thân cha mẹ không quan tâm đến việc học của con, vì không khai sinh, không hộ khẩu Cũng giống như các em lang thang đường phố, các em làm những công việc bên ngoài như bán báo, vé số, đánh cao tuổiy, khuân vác, lượm ve chai, bịch nylon để phụ cha mẹ kiếm sống
Số trẻ bỏ học trong những năm gần đây gia tăng đến mức báo động
Theo điều tra của Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 89 - 90 cả nước độ 12,7%, tại TP.HCM 6%, Đồng bằng sông Cửu long 18%, Minh Hải 30% (1989 - 1990) Các em bỏ học vì lý do kinh tế 53%, vì mất hào hứng trong việc học 19%
Tại TP HCM các em xuất thân từ những gia đình ở các khu phố lao động, khu ổ chuột: Nhũng gia đình đi KTM trở về cuộc sống chưa ổn định
HỆ THỐNG NÀY GỒM :
Chính sách quốc gia về ASNĐ
Các vấn đề chính của trẻ em mà quốc gia cần giải quyết theo thứ tự ưu tiên như sức khỏe, dinh dưỡng, dịch vụ an sinh xã hội, giáo dục hướng nghiệp
Các nghiên cứu về nhu cầu trẻ để có cơ sở cho những chương trình hành động phù hợp với
kế hoạch phát triển toàn bộ kinh tế - xã hội của quốc gia
Đào tạo đội ngũ nhân viên chuyên môn để thực hiện chính sách ASNĐ
Cơ quan trung ương ( Bộ Xã hội, hay An sinh xã hội ) phụ trách về chính sách kế hoạch
có những kiến thức khoa học xã hội ứng dụng ( Xã hội học, tâm lý học, CTXH, tư vấn tâm lý ) Bên cạnh đó là các tổ chức vế thiếu niên nhi đồng, bảo vệ bà mẹ trẻ em
Có ngân sách quốc gia, trích từ thuế má, để thực hiện những chương trình về ASNĐ Luật về ASNĐ:
Nguyên tắc chung về bảo vệ và chăm sóc trẻ
Quyền, bổn phận và trách nhiệm của cha mẹ và những hỗ trợ cần thiết của xã hội cho cha
mẹ nuôi dưỡng con
Bổn phận và trách nhiệm của cộng đồng, các cơ quan chức năng chăm lo về trẻ em
Trang 13Các loại trẻ em đặt biệt cần được pháp luật bảo vệ và quy định luật pháp để bảo vệ trẻ Kiểm tra, thực hiện và biện pháp chế tài có hiệu quả
Tòa án thiếu nhi
Các ngành có liên quan đóng góp vào hệ thống ASNĐ như giáo dục, y tế, xã hội, công an Cấp quốc tế có cơ quan Liên hiệp quốc và các tổ chức thế giới về ASNĐ (Giới thiệu UNICEF)
2 Tại Việt Nam
Cho đến nay hệ thống ASNĐ tại Việt NAm vẫn chưa rõ nét Mặc dù có nhiều tổ chức, đoàn thể quan tâm đến việc chăm lo cho trẻ em nhưng chỉ mới dừng lại ở mức độ vận động, hô hào, phối hợp chứ chưa thấy xác định rõ trách nhiệm, quyền lực cũng không có, phương tiện (khoa học - vật chất - ngân sách) cũng chưa đủ Việt Nam đã có:
Luật về quyền trẻ em (VN là nước thứ hai ký vào công ước Quốc tế về quyền trẻ em) Nhưng việc kiểm tra thực hiện và biện pháp chế tài chưa thấy nói đến
UBGĐDSTE / VN trước kia thuộc trung ương đoàn ở cấp TW và mặt trận ở cấp tỉnh thành, nay mới được thiết lập như một cơ quan chính quyền để hoạt động có hiệu quả hơn, nhưng kết quả chưa rõ nét
Bộ lao động -TBXH chăm lo cho trẻ mồ côi, trẻ phạm pháp, phần nào ở TP/HCM cứu trợ cho trẻ nghèo nhưng hiệu quả chưa cao
Hội phụ nữ, Đoàn Thanh niên có những hoạt động chăm lo cho trẻ theo kiểu phong trào Tuy được giao cho chức năng phối hợp hoạt động các ban ngành phục vụ cho trẻ em UBGĐDSTE/VN chưa có thực lực vì chưa nắm được nội dung khoa học của ASNĐ, chưa
có nhân sự chuyên môn, bộ máy được thiết lập tận cơ sở nhưng chưa hữu hiệu
Cho đến nay UBGĐDSTE đã được Quốc hội khóa 9 phê chuẩn để có quy chế bộ BVCSTE, sự kiện này cho thấy tầm quan trọng của việc bảo vệ và chăm sóc trẻ đã được nhận thức cũng như việc huấn luyện nhân viên chuyên môn và tính cách khoa học trong lĩnh vực cũng đã được khẳng định Tuy nhiên vẫn còn rất nhiều lúng túng trong hành động.()
3 Biện pháp thực hiện
Nguyên tắc giải quyết chung trên thế giới là bảo vệ quyền trẻ em
Từ thời xa xưa trẻ em được coi như một tài sản của cha mẹ, họ có thể bán trẻ, bóc lột trẻ thậm chí có thể giết trẻ khi vừa mới sinh Mãi đến thời kỳ kỹ nghệ hóa trẻ mới có được một số quyền và quyền của trẻ ngày càng mở rộng cho đến ngày nay
- Tại Mỹ dịch vụ trẻ em bắt đầu với trường hợp của Mary Ellen vào 1875 Em bị đánh đập nghiêm trọng và bị bỏ bê Em được đưa ra tòa với sự bảo trợ của SPCA (The social Prevention of Curelty to Animals)
Tuy nhiên vấn đề quyền trẻ em được thực sự đặt ra sau thế chiến thứ nhất với việc thành lập các tổ chức cứu trợ ở Anh và Thụy Điển 1919
Tuyên ngôn về quyền trẻ em (1924) do Hiệp hội quốc tế các quỹ cứu trợ trẻ em dựa trên Hiến chương về quyền trẻ em 1923 gồm 5 điều khoản
1959 Liên Hiệp quốc công bố bản tuyên ngôn về quyền trẻ em gồm 10 nguyên tắc
1989 Liên Hiệp quốc thông qua Công ước quốc tế về quyền trẻ em từ tháng 9/1990 Công ước này trở thành luật quốc tế về quyền trẻ em, gồm có 54 điều khoản, được hầu hết các quốc gia ký công nhận
Đây là bước phát triển cao về quyền trẻ em, là cơ sở thúc đẩy các nước nhằm bảo vệ và thực hiện quyền trẻ em trên toàn thế giới Dịch vụ bảo vệ trẻ em nhằm bảo vệ, chăm sóc và phòng ngừa Dịch vụ này chú trọng đến việc phục hồi thông qua sự nhận thức và chữa trị tận gốc vấn đề
Trang 14
a Hỗ trợ trẻ sống tại gia đình
Nhà trẻ, trường mẫu giáo
Trung tâm chăm sóc ban ngày cho trẻ nghèo với bữa cơm trưa
Trung tâm y tế xã hội cho trẻ đặt biệt như suy dinh dưỡng, khuyết tật, tâm thần
Trung tâm mở dành cho trẻ em đường phố có chỗ ngủ Là nơi gặp gỡ tiếp xúc với trẻ từ đó
có hướng thích hợp giúp các em
Công tác xã hội trường học ; ngăn ngừa bỏ học, giải quyết vấn đề trẻ cá biệt, giúp trẻ khó khăn thích nghi với đời sống trường học
b Hỗ trợ gia đình, tăng cường khả năng nuôi dạy con cái
Gia đình trị liệu ; giúp gia đình xử lý các khó khăn trong gia đình, giúp đỡ các gia đình có thành viên phạm pháp hay tâm thần, nghiện ngập hay bị khủng hoảng
Giúp vốn : kèm theo tư vấn về kinh doanh và tâm lý xã hội
Các chương trình tín dụng, vay vốn nâng cao vai trò và quyền lực phụ nữ
Các trường học, CLB dành cho các bậc cha mẹ
Nhóm tự giúp
Nhân viên phụ giúp việc gia đình thay thế cha mẹ khi đau ốm để chăm sóc trẻ trong thời gian hạn định
Các tổ chức bảo vệ bà mẹ và trẻ em
Các chương trình phát triển cộng đồng để nâng cao mức sống của dân chúng, trong đó trẻ
em và gia đình nghèo là đối tượng ưu tiên Chú trọng đến công đồng dân cư Vận động bà con từ chính quyền đến dân quan tâm, chăm sóc hướng dẫn trẻ của mình bằng chính sức lực mình trước tiên và ngay tại cộng đồng mình để ngăn ngừa những tệ nạn
Cha me nuôi hộ không có quyền hạn và trách nhiệm của cha mẹ ruột Quyền này thuộc cơ quan xã hội chăm lo cho trẻ
- Con nuôi:
Là hình thức được pháp chế hóa vì lợi ích tốt nhất cho trẻ Cha me nuôi có quyền và trách nhiệm như cha mẹ ruột Tuy nhiên vì có thể phát sinh ra nhiều vấn đề tâm lý đối với đứa trẻ và cha mẹ nuôi trẻ, vì có thể xảy ra những sự lạm dụng nên dịch vụ con nuôi phải được một cơ quan xã hội giám sát và hướng dẫn trong thời gian một vài năm đầu Thủ tục xin và nhận con nuôi phải rất chặt chẽ để đảm bảo quyền lợi trẻ
Con nuôi trong nước nên được khuyến khích còn con nuôi ra nước ngoài phải được sự giám sát chặt chẽ bởi cơ quan pháp lý và xã hội của hai nước để tránh nguy cơ lạm dụng
d Nuôi dạy tập trung:
Ở các nước Âu châu người ta không còn sử dụng phương pháp này Sau nhiều thập niên thực hiện các nước Phương Tây đã phát hiện ra tác hại lớn lao của việc nuôi dạy tập trung Trẻ thiếu bầu không khí ấm cúng của gia đình, trẻ bị tách rời khỏi xã hội bên ngoài Trẻ thiếu tình thương và môi trường thuận lợi dẫn tới tình trạng chậm phát triển tâm thần, kém thông minh, không phát triển được nhân cách, không thành đạt về học vấn Ít học được kỹ năng làm cha mẹ và thường khi trưởng thành có thể phạm pháp, nghèo và bị cô lập
Trang 15Nuôi dạy tập trung có thể áp dụng được với một số em phạm pháp nặng, rối loạn nhân cách nặng cần phải cách ly để tránh nguy hiểm cho chung quanh Số trẻ nuôi tập trung không nên quá 25, 30 em và trung tâm nên để mở để có mối quan hệ với cộng đồng, xã hội bên ngoài hầu giúp trẻ bình thường hơn
ỷ lại, lười biếng trông chờ vào trợ cấp và nảy sinh các tệ nạn khác trong xã hội Ví dụ khuyến khích trẻ cách ly với gia đình quá sớm, khiến cho nền tảng gia đình càng ngày càng không vững chắc Việt Nam chưa có được sự bao cấp về ASNĐ nhưng với truyền thống muôn đời của dân VN “lá lành đùm lá rách” nhiều chương trình tự phát mọc lên để chăm
lo, giúp đỡ cho trẻ Tuy nhiên làm việc với tấm lòng không chưa đủ, chúng ta cần phải khoa học hóa việc làm của chúng ta Cần phải đưa kiến thức khoa học cũng như giáo dục
xã hội để có khái niệm rõ ràng về ASNĐ Phải nhận thức rõ về tiềm năng quý báu của dân tộc: yếu tố cộng đồng làng mạc với lối sống chan hòa đại gia đình đầy tình nghĩa Phải biết giữa gìn và phát huy những truyền thống này một cách có khoa học, có phương pháp để góp phần vào sự vững mạnh của đất nước
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- ESPINOLA, BASILICA In the street Working with street children in Asuncion, UNICEF : Asuncion, 1987
- FRIEND OF WOMAN Bibliography on child abuse and neglect Norway : radda barnen,
1988
- Nhiều tác giả : Mobilizing community Action for street children Manila KH 1989
- Nhiều tác giả : Việt Nam với công ước của Liên Hiệp Quốc về quyền trẻ em, H.: NXB Sự Thật,1991
- ZASTROW, CHARLES Social welfare institutions, Chicago : The Dorey Press, 1989
- QUỸ BẢO TRỢ TRẺ EM Kết quả khảo sát tình hình trẻ em lang thang, hư hỏng phạm pháp tại TP HCM, 1989
- SHIRLEY, ALLEN Alternatives to care for children in Asia (1990), SCF UK, 1990 (Những phương cách thay thế cho cách làm cũ trong chăm sóc trẻ em ở Châu Á, Nhóm NCCTXH TP HCM, 1991)
- BRIELAND, DONALD Contemporary social Work, New York : Mc Graw, hill book Company, 1980
-ENNEW,JUDITH, The next generation - Lives of 3rd World children, London : Zed books Ltd, 1989
- Tổ chức hỗ trợ - giáo dục trẻ em thiệt thòi Vấn đề quyền trẻ em, H : NXB sự thật, 1992
- ETZEN, D STANLY, Social problems USA, 1983
- KADUSHIN, ALFRED, child welfare services New York., 1980
- DALLAPE, FABIO, Trẻ em đường phố , Terre des Hommes, Lausanne, TP.HCM, 1991
- Thảm cảnh của trẻ em ở Xao Paolo, SGGP 28-05-92
- Trẻ em Ấn Độ đòi chính phủ can thiệp nạn bóc lột sức lao động trẻ em Phụ nữ 3-10-92
- Đường dây buôn lậu trẻ em ở Hungary Người LĐ cuối tuần số 112, 1993
Trang 16
Định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) : Sức khỏe là tình trạng thoải mái hoàn toàn
về mặt thể chất, tâm thần và xã hội (không phải chỉ là tình trạng không có bịnh tật)
1.2 Sức khỏe
Sức khỏe là một lãnh vực quan trọng của nền an sinh xã hội, nền tảng đời sống con người, vượt khỏi phạm vi y học, gắn liền với cuộc sống, cái chết, hạnh phúc con người và cộng đồng, với văn hóa, kỹ thuật của một xã hội Sức khỏe là mục tiêu và là hạt nhân thúc đẩy
sự phát triển toàn diện về kinh tế xã hội
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe :
Sức khỏe gắn liền với :
Trình độ kinh tế và tài nguyên xã hội : thuyết 3/4 ở các nước nghèo (3/4 dân số ở nông thôn, 3/4 bác sĩ ở thành thị, 3/4 tử vong ở trẻ em do những bệnh có thể phòng tránh được, 3/4 kinh phí dành cho các bịnh viện thành phố, 3/4 trang thiết bị dành phục vụ cho số ít người) Nạn thất nghiệp là nguyên nhân của một số bịnh tật (tim mạch, tâm thần )
Trình độ văn hóa, giáo dục : các thói quen, lối sống gây bịnh, sự mê tín trong trị bịnh Trình độ kỹ thuật : khoa học kỹ thuật giúp chẩn đoán và điều trị hiệu quả hơn, nhưng cầu
kỳ, nặng kinh doanh, phục vụ thiểu số
Yếu tố dân số : khi dân số gia tăng, sự đáp ứng nhu cầu sức khỏe cho từng người giảm, đặc biệt là dành cho phụ nữ và trẻ em, bất công xã hội thêm trầm trọng
Yếu tố môi trường : không khí, nước, thực phẩm, nơi ở, nơi làm việc
Do đó, chăm sóc sức khỏe là một nhu cầu thiết yếu cho con người Nó được thực hiện bằng những phương pháp phối hợp như :
Kỹ thuật thích hợp, rẻ tiền, dễ tiếp cận người dân
Sự nâng cao hiểu biết
II VAI TRÒ CTXH TRONG LÃNH VỰC SỨC KHỎE
2.1 Các nhu cầu tâm lý xã hội của cá nhân và gia đình người bịnh
Một nữ Bác sĩ Ấn độ Mira Shiva đã viết : “Trong bảo vệ sức khỏe, mối quan hệ hài hòa giữa tinh thần và thể xác, cái tôi và người khác, con người và thiên nhiên là cơ bản cho sức khỏe” CTXH đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tạo mối quan hệ hài hòa ấy, giúp
cá nhân người bịnh và gia đình họ thỏa mãn nhu cầu tâm lý, cải thiện mối quan hệ và thích nghi với môi trường sống Để làm được những công việc đó, nhân viên xã hội phải tìm hiểu nhu cầu tâm lý và xã hội của cá nhân và gia đình người bịnh, cụ thể là :
Trang 17Bịnh nhân luôn luôn rất lo âu về tình trạng gia đình mà mình phải xa rời, nhất là gia đình đang gặp khó khăn
Việc xa rời thân nhân là một yếu tố bất thuận lợi cho sự bình phục
Người bị bịnh hiểm nguy như : ung thư, sida, người sắp chết càng cần sự hỗ trợ tâm lý Ngoài ra, bịnh nhân cần được giúp thay đổi thói quen, lối sống, môi trường Sau khi bình phục, sự tái nội nhập vào cuộc sống bình thường cũng không dễ dàng, nếu bịnh nhân không được khuyến khích lấy lại tự tin, cải thiện các mối quan hệ
2.2 Lịch sử hình thành ngành CTXH trong lãnh vực sức khỏe:
Lãnh vực chính của CTXH ngành y tế là bịnh viện Công tác xã hội lần đầu tiên được đưa vào bịnh viện năm 1905 tại Boston và đến nay Tại Mỹ, phần lớn mọi bịnh viện đều có Phòng CTXH và đó cũng là điều kiện để được công nhận là hội viên của Hội Các Bịnh viện Mỹ Tại hầu hết các nước trên thế giới ngày nay, các bịnh viện đều có Phòng CTXH Ngoài các dịch vụ xã hội trực tiếp với người bịnh, nhân viên xã hội còn liên hệ đến gia đình và cộng đồng người bịnh và ngày càng tham gia tích cực vào công việc giáo dục và chăm sóc sức khỏe cộng đồng Nói chung, ngành CTXH can thiệp vào ở 3 cấp bậc :
Cấp chính sách, kế hoạch, giảng dạy, quản lý và phòng ngừa
Cấp thực hiện : nhân viên xã hội là một thành phần trong ê-kíp điều trị của bịnh viện Cấp hậu trị liệu : vai trò tư vấn của nhân viên xã hội khi bịnh nhân trở về cuộc sống bình thường
2.3 Vai trò của nhân viên xã hội ở bịnh viện
Tại vịnh viện, thường nhân viên xã hội là một thành phần trong ê-kíp trị liệu (bao gồm bác
sĩ, nhà tâm lý, y tế, dược sĩ, chuyên viên kỹ thuật, nhân viên xã hội) Nhân viên xã hội đóng vai trò quan trọng việc tìm hiểu nguyên nhân bịnh, phương pháp chữa trị thích hợp
do họ có được thông tin từ điều kiện sinh sống, môi trường, thói quen, cá tính, thu nhập của bịnh nhân và họ giúp làm rõ những gì mà thầy thuốc không thấy được, giúp thầy thuốc tránh những sai lầm (thường kém được chuẩn bị về mối liên lạc giữa bịnh nhân - thầy thuốc - gia đình trong tiến trình điều trị Nhân viên xã hội tùy vào trường hợp cụ thể mà áp dụng các phương pháp cá nhân hay nhóm Nhân viên xã hội tham gia vào kế hoạch xuất viện của bịnh nhân, giúp họ trở về với gia đình và cách dưỡng bịnh tại nhà Có thể nêu một
số công việc cụ thể của nhân viên xã hội tại bịnh viện :
Giúp bịnh nhân hoa liễu, sơ gan khắc phục cảm giác xấu hổ, tội lỗi
Giúp bịnh nhân đau tim cần biết cách nghỉ ngơi, tránh những áp lực (stress), ăn kiêng Giúp bịnh nhân bớt sợ trước khi mổ
Gặp người thân, bạn bè của bịnh nhân (tìm hiểu và nhờ họ hỗ trợ trong điều trị) - Tư vấn cho bịnh nhân chờ chết : giúp họ chết thanh thản
2.4 Vai trò của NVXH với gia đình và cộng đồng
Cùng với sự phát triển của các ngành chuyên môn khác nằm bên ngoài bịnh viện (khuyết tật, nghiện, n
Giúp những người mẹ còn quá nhỏ tuổi (cá nhân - nhóm)
Tại cộng đồng, NVXH cùng với nhân viên ngành y tế thực hiện các dịch vụ như sau :
Tư vấn về kế hoạch hóa gia đình, sức khỏe và bà mẹ trẻ em (trước và sau khi sinh), dinh dưỡng
Phục hồi thể chất và xã hội cho người tàn tật
Giáo dục sức khỏe cho trường học và gia đình
Chủng ngừa và phòng ngừa bịnh tật
Vận động tận dụng tài nguyên xã hội
Trang 18Vệ sinh môi trường (duy trì và cải thiện các điều kiện môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe như : không khí, nước uống, thức ăn, nơi vui chơi giải trí bằng luật lệ, quy định)
Giáo dục và thông tin, khuyến khích người dân tổ chức lại các vấn đề sức khỏe hiện có
Sự hình thành công tác sức khỏe cộng đồng và nhân viên sức khỏe cộng đồng bắt nguồn từ
ý thức nhận định phương hướng sai lệch của bịnh viện, dễ đầu tư vào kỹ thuật cao cấp, cầu
kỳ, tốn kém mà không nhìn thấy các vấn đề toàn diện của cộng đồng, bịnh viện ngày càng tách rời các vấn đề sức khỏe của cộng đồng Bằng công tác sức khỏe cộng đồng, chúng ta mới mở rộng được mạng lưới săn sóc sức khỏe đến tận nơi người dân sống và lao động, tạo
sự tham gia chủ động và tích cực của cộng đồng, để họ tự trách nhiệm, tự giải quyết những vấn đề sức khỏe và phát triển bằng chính họ, bằng những phương pháp thích hợp của họ
2.5 Các chính sách, biện pháp an sinh xã hội dành cho người bịnh ở một số nước
Theo nguyên tắc, việc bảo vệ sức khỏe ở một số nước phát triển nằm trong lãnh vực bảo hiểm xã hội, dành cho mọi người (lãnh vực công cũng như tư) Nguồn kinh phí được trích
từ thuế thu nhập và thuế lợi tức Bảo hiểm sức khỏe được thực hiện ở các lãnh vực như : phòng ngừa, chữa bịnh (nội trú - ngoại trú), cấp cứu tai nạn, sức khỏe tâm thần, các dịch vụ xét nghiệm, thuốc men
Có thể phân biệt hai loại bảo hiểm sức khỏe : một loại dành cho người cao tuổi từ 65 tuổi trở lên bao gồm các bảo hiểm về xét nghiệm, nằm viện hay chăm sóc tại nhà, thuốc men (medicare) Nhà nước đài thọ 50% bất kể bịnh nhân cao tuổiu hay nghèo và một loại dành cho người nghèo, thu nhập thấp, người cao tuổi, người khuyết tật, gia đình có con còn phụ thuộc (medicaid : nhà nước đài thọ 100% và trả thẳng cho bịnh viện, bác sĩ hay tổ chức y tế ) Tuy nhiên, chi phí chăm sóc sức khỏe quá cao đã làm phát sinh sự gian lận nơi thầy thuốc và bịnh viện nặng kinh doanh hơn là đáp ứng như cầu của cộng đồng Chế độ bảo hiểm sức khỏe tại Mỹ nặng về lợi nhuận cùng với trình độ cao về kỹ thuật, chiếm 9% tổng thu nhập quốc dân nhưng lại ít hiệu quả hơn chế độ bảo hiểm sức khỏe tại Anh, chú trọng
về cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người dân và chỉ chiếm 6% tổng thu nhập quốc dân
III VẤN ĐỀ SỨC KHỎE TẠI VIỆT NAM
3.1 Các yếu tố dân số, kinh tế, văn hóa, giáo dục tác động đến tình hình sức khỏe
Việt Nam là nước đông dân thứ 13 trên thế giới (1992 : 69 triệu và dự trù 80 triệu dân đến năm 2000) với tốc độ gia tăng dân số là 2,2%
Giáo Sư Phạm Song, Cựu Bộ trưởng y tế cho biết :
Năm 1954 1989
- Tuổi thọ 30 - 32 tuổi 60 - 62 tuổi
- Tỷ lệ trẻ chết dưới 1 tuổi 300%o 38%o
1991 : 6.591 cas), dịch tả, bịnh đường hô hấp, đường ruột (nhiễm khuẩn đường ruột ở trẻ tại miền Bắc : 70 - 85 % và ở miền Nam : 85%), đặc biệt bịnh hoa liễu, sốt rét (40% dân số
Trang 19cả nước nằm trong vùng nguy cơ bị bịnh) và nguy cơ đe dọa của bịnh sida Khí hậu, lối sống, tập quán ăn ở có ảnh hưởng nhất định đến sức khỏe :
Việt Nam có tỉ lệ 57% người mắc bịnh tim mạch (cao huyết áp, nhồi máu cơ tim) trên tổng
số người bịnh và tỉ lệ tử vong rất cao (63%)
Nạn nạo phá thai dưới 20 tuổi : tại Bịnh viện Phụ sản Từ Dũ trong 6 tháng đầu năm 92 có 12.371 cas (trong đó có 683 cas ở lứa tuổi 14 - 19 tuổi, khoảng 5,52%)
Ngoài ra, các nguyên nhân chính đưa đẩy đến suy sụp tinh thần để rồi tự tử ở những người
tự tử tại TP HCM là thất nghiệp (68% của lứa tuổi 16 - 25) và khó khăn kinh tế (45% của lứa tuổi trên 25), nhất là ở lứa tuổi 16 - 25 và nguồn gốc bất hoà chính là gia đình Tai nạn giao thông tại TP HCM cũng đang là mối lo cho mọi người (năm 1990 : 2.792 vụ, năm
1991 : 2.998 vụ được đưa đến Trung tâm Cấp cứu Saigon trong quý 1/92 có 249 vụ, gây
110 người chết và 286 người bị thương).()
3.2 Nhu cầu sức khỏe và vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người nghèo
Bịnh tật thường đi liền với nghèo đói Người nghèo ít quan tâm đến sức khỏe của mình và
vì không tiền nên ít khi chủ động đi tìm sự trợ giúp của ngành y tế Do đó, tỷ lệ bịnh mãn tính ở người nghèo rất cao và khi họ đến với bịnh viện, chính là lúc bịnh đang ở giai đoạn cuối, khó trị và nguy cơ tử vong cao Họ cần được hưởng thụ từ các chương trình săn sóc sức khỏe ban đầu, cụ thể là :
Chương trình chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và KHHGĐ
Chương trình tiêm chủng mở rộng cho trẻ
Chương trình dinh dưỡng bà mẹ và trẻ em (tỷ lệ trẻ sơ sinh đến 5 tuổi bị suy dinh dưỡng là 51%)
Chương trình vệ sinh môi trường - Chương trình phòng chống bịnh xã hội
Các chương trình này sẽ mang lại hiệu quả nếu cùng kết hợp với các nhân viên sức khỏe cộng đồng cùng mang dịch vụ sức khỏe đến với họ và qua sự giáo dục sức khỏe giúp họ tự nhận thức vấn đề thay đổi những thói quen, tập quán có hại cho sức khỏe
Hiện nay, trạm y tế phường, xã chưa đủ khả năng đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho người nghèo tại địa bàn dân cư và các bịnh viện cũng thường bị ngập tràn bởi các bịnh nhân và thân nhân của họ Điểm đặc biệt ở gia đình Việt Nam là khi người thân bịnh nằm viện thì cuộc sống của gia đình bị xáo trộn và thu nhập của gia đình bị ảnh hưởng rất nặng
và đôi khi kéo theo sự suy sụp sức khỏe nơi người khác trong gia đình
Người nghèo thường có khái niệm hạn hẹp cho rằng sức khỏe là thuốc và họ có khái niệm này cũng do thái độ của thầy thuốc Thầy thuốc thường không màng giải thích cho bịnh nhân về bịnh tình của họ, hoặc kê toa theo yêu cầu của bịnh nhân, hoặc xem người bịnh như “người chẳng biết chi” Do đó, xu hướng đúng đắn trong việc bảo vệ sức khỏe là tạo
sự cân bằng giữa 3 yếu tố tác động : môi trường, dinh dưỡng, và thuốc Đối với các bịnh của nghèo đói và dốt, thuốc không đẩy lùi tệ nạn mà là các biện pháp ở lãnh vực kinh tế -
xã hội
Hiện nay, Sở Y Tế thành phố Hồ Chí Minh đang dự trù thực hiện bán phiếu bảo hiểm sức khỏe Người mua phiếu bảo hiểm sẽ được điều trị miễn phí Đó là một nhu cầu cần thiết, nhưng đối với người nghèo thì họ có quan tâm đến không ? Người nghèo điều trị tại bịnh viện, không đủ khả năng thanh toán viện phí phải xin giấy xác nhận của địa phương cư trú
để được miễn giảm, nhưng đối với người nghèo không hộ khẩu hoặc nhà ở phải bỏ trốn bịnh viện hoặc không còn tiền xe để về nhà
Nhằm giải quyết các vấn đề nêu trên, nay đã hình thành một vài loại hình công tác xã hội tại một vài bịnh viện thành phố Hồ Chí Minh như ở Viện Tim (nhân viên xã hội đến tận gia đình để tìm hiểu hoàn cảnh thực nhằm xét miễn giảm viện phí cho bịnh nhân), ở Bịnh viện Phụ Sản Từ Dũ (có các dịch vụ trợ giúp tiền xe về nhà, cấp sữa, quần áo, ngăn ngừa
bỏ con, giới thiệu cha mẹ nuôi, tư vấn cho người muốn phá thai ) Trung tâm Cấp cứu
Trang 20Saigon đang rất cần người giúp tìm hiểu nguyên nhân cho những trường hợp tự tử, giúp gia đình giải quyết mâu thuẩn, ngăn ngừa tự tử lần thứ 2 của người tự tử được cứu sống vì người tự tử lần thứ 2 thường có nguy cơ tử vong cao Đó là những bước ban đầu của các dịch vụ CTXH trong khi còn chờ đợi sự quan tâm của giới hữu trách trong việc đề ra các chính sách xã hội cũng như giúp ngành khoa học CTXH có điều kiện để hoạt động và phát triển
IV KẾT LUẬN
Tại Hội nghị Quốc tế Arlington (Mỹ) về “Ảnh hưởng các chiến lược và chính sách quốc tế
để tiến tới một thế giới khỏe mạnh hơn” (tháng 6/89), nhà giáo dục về sức khỏe David Werner tỏ ra bi quan cho viễn cảnh tương lai về sức khỏe cho con người : “Không có sức khỏe cho một ai vào năm 2000" (Health for no one by the year 2000) Bi quan vì tình trạng bất công, nghèo đói, suy dinh dưỡng vẫn cứ gia tăng, các nước nghèo vẫn tiếp tục mang
nợ, nạn dốt và bịnh tật càng nhiều hơn trong khi các công ty đa quốc gia phát triển mạnh ngành công nghiệp giết người (rượu, thuốc lá, độc dược) tàn phá môi sinh Sức khỏe cho con người cuối cùng nằm trong tay các cường quốc, các đại công ty Do đó, tuyên bố Alma
- Ata (tháng 9/78) khẳng định chăm sóc sức khỏe là quyền cơ bản của con người và là một
bộ phận của công bằng xã hội Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân của Việt Nam (1990) có nêu : ”Công dân có quyền được bảo vệ sức khỏe Bảo vệ sức khỏe là sự nghiệp của toàn dân (điều 1, chương 1) Luật có quan tâm đến nhiều lãnh vực cần thiết, nhưng còn chung chung, chưa cụ thể rõ ràng ở từng lãnh vực (như trách nhiệm của nhà nước, của các tổ chức
xã hội, quyền được khám và chữa bịnh ) Vấn đề trọng tâm của chúng ta là phải đẩy mạnh giáo dục sức khỏe, tiếp cận được với người dân tại cộng đồng, song song với việc phát huy vai trò của các tổ chức nhân dân, các tổ chức phi chính phủ và của các ngành CTXH Nhân viên xã hội cần có mặt tại các bịnh viện (như Trung tâm Cấp cứu, Phụ sản, Lao, Hoa liễu, Nhi v.v ) Một phòng xã hội tại một bịnh viện sẽ giúp được nhiều vấn đề cho bịnh viện, cho trị liệu và cả những vấn đề mà luật, chính sách xã hội chưa đề cập đến Chúng ta có may mắn còn duy trì nói chung một nền văn hóa Đông Phương đặt nặng giá trị tinh thần về lối sống cũng như mối quan hệ giữa người và người, cái đang thiếu ở xã hội vật chất Phương Tây Chính Phương Tây cũng đang trở về với văn hóa Đông Phương để tìm cái nghĩa cần có cho cuộc sống, cái lạc quan yêu đời và sự cân bằng hài hòa giữa nội tại và môi sinh Đông Y vẫn cổ vũ cho lối sống ấy để có được một nền cơ bản cho sức khỏe lâu dài
N.N.L
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Charles Zastrow, Introduction to Social Welfare Institutions, Illionis, 1986
- Ronald C.Federico, The Social Welfare Institutions, Toronto, 1980
- The Health Development No 82, April 1990
- Nguyễn Thị Oanh : Thuốc cho con người
- BS Đỗ Hồng Ngọc, Sức khỏe và chăm sóc sức khỏe, báo KHPT, số 467, trang 2 1992
Trang 21Một loạt những nghiên cứu khác cho thấy tác dụng tốt lành của không khí hòa hợp trong gia đình để chống lại các stress Nhà tâm lý học Janice Kicolt Glasser, thuộc Đại học Ohio, hợp tác với chồng, Ronald, nhà miễn dịch học ở cùng đại học (một ví dụ điển hình về sự hòa hợp trong hôn nhân) thực hiện một loạt xét nghiệm trên 90 cặp vợ chồng sau cuộc cải cọ: Trong 24 giờ sau cơn gây gổ, sự bảo vệ miễn dịch của họ suy giảm Bác sĩ Kicolt-Glasser khẳng định: “Nếu ở gia đình bạn, vợ chồng càng chống đối, thù nghịch nhau thì nó càng có tác dụng xấu trên hệ thống miễn dịch của bạn” Kết quả trên người cũng phù hợp với kết quả các thí nghiệm trên khỉ macaque
Có người thân quanh ta, dường như cũng giúp ta tránh được chứng nhồi máu Bác sĩ John Cacioppo, thuộc Đại học Ohio, chỉ cho thấy những nạn nhân của cơn cấp phát tim có thể kéo dài cuộc sống gấp đôi nếu cạnh họ có ít ra hai người bạn thân Cũng cùng kết quả từ những cuộc nghiên cứu của bác sĩ Lisa Berkman, Đại học Yale: 27% nạn nhân của chứng nhồi máu, có thể trông cậy vào hai người thân hay hơn, chết vào năm kế tiếp sau tai nạn so với tỉ lệ 58% nơi những nạn nhân chỉ sống một mình Cũng phải kể đến các nghiên cứu của Andrew Cherlin, Đại học John Hopkins, được đăng trên tạp chí Science vào năm qua cho thấy hậu quả tai hại của việc ly dị của cha mẹ (đương nhiên phải tinh cả những xung đột trước đó) trên cách xử sự của con cái họ Cũng phải nói rằng tình trạng gia đình hiện tại - 1/3 các cặp vợ chồng chia tay và trước đó xung đột hàng ngày - đứng về phương diện y học mà nói, thì chẳng có gì là vui vẻ cả
và đẻ” Đàn bà cũng chịu tỉ lệ tử vong cao hơn đàn ông ở các bịnh có thể chữa trị được
Ở rất nhiều quốc gia, trẻ sơ sinh trai được yêu mến, chiều chuộng, chăm sóc hơn trẻ gái Theo một báo cáo từ Bombay (Ấn độ) thì trong 8.000 ca phá thai ở đây có 7.999 thai nhi giới nữ Ở nhiều nước đang phát triển, khi bị bệnh trẻ em trai được chăm lo chu đáo về thuốc men, đưa đi bệnh viện nhanh hơn, kịp thời hơn so với trẻ em gái Theo bản báo cáo
từ Pakistan thì 75% trẻ em trai và chỉ có 25% trẻ em gái được đưa vào bệnh viện chữa trị một căn bệnh Ở châu Phi, châu Mỹ La-tinh và một số nước châu Á, các nước Ả Rập trẻ
em trai dưới 5 tuổi chết ít hơn trẻ em gái Ở Haiti, cứ 1.000 trẻ em thì có 61 trẻ em gái và chỉ có 47 trẻ em trai chết yểu
WHO khẩn thiết kêu gọi cần có biện pháp có hiệu quả ngăn chặn việc mang thai quá sớm của thanh nữ để rồi sau đó phải nạo thai Không phải ai cũng biết rằng tỷ lệ tử vong ở các
bà mẹ trẻ quá cao hơn rất nhiều so với những đàn bà đã trưởng thành mọi mặt WHO cũng kịch liệt phê phán nhiều nước không nghiêm túc nghiên cứu những hậu quả mà bệnh xã hội gây ra cho phụ nữ Ở các nước công nghiệp tiên tiến có điều kiện và phương tiện chữa
Trang 22trị nhanh chóng và hiệu quả cho phụ nữ mắc bệnh xã hội, trong khi ở Ấn Độ 90% phụ nữ mắc bệnh này phải ly hôn hoặc biệt xứ Rất nhiều phụ nữ vô sinh ở các nước bị đối xử tàn
tệ
WHO cũng cho biết, bạo lực của đàn ông cũng đã gây ra cho phụ nữ những mất mát, đau khổ to lớn 70% tội phạm ở Pê-ru nhằm vào đối tượng phụ nữ Ở Băng cốc, cứ 2 phụ nữ thì một bị người chồng đánh đập thường xuyên Ở Mỹ, cứ 15 giây thì có 1 phụ nữ bị giết Mỗi ngày có 4 phụ nữ ở đây bị chết do hành vi tàn bạo trong gia đình
là 120 tuổi Qua cách chữa phản hồi thông tin sinh vật của nước ngoài đã chứng thực : Dùng sức tưởng tượng về lòng tin mãnh liệt để vẽ ra một bức tranh tế bào cắn bạch cầu, sau khi để người bệnh trở lại trạng thái bình thường, lấy máu hóa nghiệm thì thấy lượng bạch cầu tăng lên rất nhiều Ngược lại, ở trạng thái sợ hãi, thì bạch cầu giảm
Từ góc độ tâm lý, phân tích nguyên nhân tử vong của người mắc bệnh ung thư, phát hiện
đa số là chết do sợ hoặc đói Bởi vì, tinh thần họ quá căng thẳng, đến mức không ăn uống được gì dẫn tới thiếu dinh dưỡng để cơ thể huy động chống lại bệnh tật Còn khi bệnh nhân
có thái độ “cái gì đến mặc cho đến” thì thường là còn sống Qua nghiên cứu cho thấy : nóng nảy, bi quan, thắc mắc linh tinh v.v thường ảnh hưởng tới thần kinh khiến dịch thể tiết ra nhiều, làm tê liệt hệ thống miễn dịch dẫn tới giảm tác dụng đề kháng bệnh tật DIÊN NIÊN
(Theo “Giải phóng quân báo” 2 - 1993)
Báo Tiền Phong CN số 18/93 2/5/93
tử ở độ tuổi 16 - 30 chiếm hơn 60% mà tỉ lệ tử vong lại ở mức cao nhất
Cuối tháng 2 - 1993, T.Ng.T - sinh viên Trường ĐHKT (vừa tròn 20 tuổi) - đã tự tử lần thứ ba bởi những lý do đơn giản đến không ngờ: không được mua xe đời mới, không được đi chơi Những người thân của cô đã coi đó như những màn kịch không thành ! Một đôi bạn trẻ khác yêu nhau từ thời học phổ thông, dự định sẽ tổ chức đám cưới Vậy
mà từ chuyện xích mích nhỏ, hai người đi tìm cái chết để “giải độc” cho mối tình của mình N.T.K (23 tuổi) hiện quản lý cơ sở mộc cho gia đình, ở phường 14 - quận 5, còn Tr.T (19 tuổi) là thợ uốn tóc ở phường 1 - Tân Bình Ngày 24-2-1993 họ đã tự tử tại một khách sạn nhỏ, và may mắn được cứu sống
Ngày 26-2-1993, người ta lại phát hiện ra một đôi nam nữ thắt cổ chết trong kho của một
tổ hợp sản xuất áo mưa thuộc phường 5 - quận 10 Cô gái D.T.Y (21 tuổi), chàng trai Ng.Đ.Kh (29 tuổi) cùng làm chung một xưởng
Trang 23Trong hồ sơ lưu tại các bịnh viện, những hàng phụ chú ghi nguyên nhân tự tự thường là
“do buồn gia đình”, “chán đời” Đằng sau dòng chữ ngắn ngủi ấy chứa biết bao bi kịch của mỗi con người !
Hiện nay, tỉ lệ thất nghiệp khá cao trong thanh niên độ tuổi 19 - 30 Nhiều người đã phải làm những công việc không phù hợp hoặc trái nguyện vọng vì miếng cơm manh áo Đây chính là nguyên nhân đầu tiên phát sinh mọi tư tưởng tiêu cực, bất bình hay chán nản Cộng thêm vào đó là những ràng buộc trong lề lối, thói tục, sự bất hòa trong quan hệ chủ -
tớ, là mối tương giao bạn bè không trong sáng Chẳng hạn như trường hợp của T.K và Tr.T, ngoài tín ngưỡng khác nhau, họ lại bị gia đình cấm đoán vì chuyện “môn đăng hộ đối” Cộng thêm những ghen tuông vụn vặt trong tình cảm khiến họ không đủ minh mẫn
để lý giải hay xét đoán điều gì
Trường hợp của T.Ng.T thì ngược lại Vốn là người nhạy cảm và nhân hậu, cô đã từng mơ ước thi vào y khoa để cứu người, giúp đời song bị cha mẹ ngăn cản Vừa học cô vừa phụ gia đình buôn bán hàng điện tử - một công việc không hợp với cô - Cô tâm sự : “Mình muốn chết quách cho rồi, chẳng vì điều gì cả, chán đời vậy thôi” T có hối hận không ?
“Nghĩ lại nhiều lúc thấy mình ngu ngốc, nhưng tư tưởng muốn chết cứ luôn ám ảnh mỗi khi gặp chuyện buồn” - T nói Phải chăng cảm giác bị xã hội ruồng bỏ, không ai hiểu mình hay không hòa nhập được vào cuộc sống cộng đồng là căn bệnh cô độc của tuổi trẻ thời công nghiệp ? Cái chết tức tưởi của Kh và Y có thể vì một lý do nào đó trong nhiều lý do, chẳng hạn : ông bà chủ (dì, dượng ruột của Kh.) không tán thành đám cưới, có thể Kh mất một chỗ dựa, còn Y thì bị đuổi việc rồi đám cưới không thành, họ mất việc làm, không nhà ở v.v Nhưng Kh và Y là những thợ giỏi, công ăn việc làm không phải là điều khó
Họ lại yêu nhau và không đến nỗi cùng quẫn (khi chết Kh còn để lại 6 chỉ vàng ngoài tiền mặt) Như vậy không phải họ bế tắc về tiền bạc cũng như công việc, vậy phải chăng chính
do cảm giác về sự đơn độc trong xã hội khiến họ không đủ sức giúp nhau vượt qua những trở ngại ?
* Hãy giúp thanh niên vượt qua những bế tắc
Theo các bác sĩ chuyên khoa, đa số các trường hợp tự bằng cách uống những loại thuốc độc hoặc lạm dụng thuốc tây sẽ làm tụt huyết áp rất nhanh, làm trụy tim mạch hoặc gây ức chế men chuyển (bộ nối của các đầu dây thần kinh) làm ăn mòn hoặc gây phỏng, tổn thương dạ dày vĩnh viễn Có thể dẫn đến bị hẹp thực quản Về hậu quả lâu dài : làm thần kinh không ổn định hay chóng mặt, nhức đầu Với những người yếu, nó sẽ đẩy nhanh sự phát triển của các bệnh đang có sẵn Đặc biệt, tâm lý của một người đã một lần tự tử hay nóng nảy bồn chồn, dễ dẫn đến những hành động liều mạng Tử vong đã đành, người được cứu sống cũng bị những ảnh hưởng nặng nề cả sức khỏe, lẫn tinh thần và công việc Nó để lại một di sản khá nặng nề cho cả gia đình và xã hội
Có thể nói, trong 20 năm trở lại đây, thanh niên tự tử là vấn đề của nhiều nước trên thế giới Các nhà tâm lý học ở Mỹ đã nghiên cứu thấy rằng : hiện nay trong số những nguy cơ đáng sơ nhất mà thanh niên phải đối phó thị tệ nghiện rượu đứng hàng cao nhất, kế đó là nạn tự tử Thông thường không phải do một điều cụ thể nào mà từ sự tác động của hàng chuỗi sự kiện (đời sống, hoàn cảnh, môi trường xã hội) tạo chấn động tinh thần dẫn đến những hành động thiếu suy nghĩ trong giới trẻ Vai trò của các đoàn thể xã hội là thu hút thanh niên vào những sinh hoạt lành mạnh, kết hợp với việc giáo dục nâng cao trình độ dân trí, giúp thanh niên hiểu rõ trách nhiệm của mình với bản thân, gia đình và xã hội Về phía Nhà nước, vấn đề tạo điều kiện cho thanh niên có công ăn việc làm ổn định cũng là điều hết sức quan trọng Thiết nghĩ chúng ta cũng cần lập những đường dây nóng với những chuyên gia tâm lý để có thể giúp thanh niên giải quyết những bế tắc như một số nước đã làm khá hữu hiệu
Báo TT 20-04-93
Trang 24
Thu nhập quốc dân trên đầu người 500 USD 121 USD 267 USD
Chi phí y tế cho 1 người dân/năm 2 USD 5 USD
Tỷ lệ dân biết đọc biết viết (%) > 70% 87,6 91,2
Ngân sách Nhà nước chi cho y tế (%) > 5 2,7 8
Tỷ lệ hộ gia đình có nguồn nước sạch (%) 43 65,5
Tỷ lệ TE < 1 tuổi tiêm chủng đủ 6 bệnh truyền nhiễm (%) 80 88 89,95
Tỷ lệ trẻ em < 5 tuổi suy dinh dưỡng (%) < 10 51,5 25,1
Tỷ lệ tử vong bà mẹ (p.1000) 1,68 0,3
Tỷ lệ phát triển dân số (p.1000) 2,3 1,6
Tuổi thọ trung bình > 60 66 66
(Theo báo cáo tổng kết SSSKBD TP HCM 1992)
DÂN SỐ TP HỒ CHÍ MINH NĂM 1992
Các cuộc nghiên cứu về vấn đề nghiện ngập thường tập trung vào các vấn đề có liên quan đến hành vi tội phạm, lứa tuổi, giai cấp, giới tính và các nguyên nhân xã hội và tâm lý Vấn
đề nghiện ngập là một vấn đề xã hội phức tạp, không chỉ trong khuôn khổ của một quốc gia mà cũng là một vấn đề quốc tế từ lâu nay khó mà ngăn chặn được Nó tùy thuộc các tiến trình xã hội và hoàn cảnh xã hội, qua đó con người trở thành người nghiện Nghiện
Trang 25ngập ma túy đã và đang là một cái nạn của cả loài người Việc buôn bán ma túy trên thế giới hiện đang được xếp vào hàng quan trọng nhất gần như tương đương với việc buôn bán dầu lửa : giá trị kinh doanh trên thế giới là 500 tỷ USD (nước Đức chiếm hàng đầu trong việc sử dụng ma túy : năm 1988 có 80% người Đức có thử ma túy) Còn ở châu Mỹ La Tinh thì người dân nghiện ma túy để quên đi những buồn bực và nghèo khổ (khoảng 20 triệu trẻ em nghiện cocain)
2 CÁC LOẠI NGHIỆN NGẬP
Loại nghiện quan trọng nhất là nghiện các chất ma túy Kế đến là nghiện rượu và thuốc lá
2.1 NGHIỆN MA TÚY (drugs) : Các loại ma túy gồm có :
2.1.1 Nhóm narcotics
- Á phiện (opium) : được lấy từ nhựa cây thẩu (papaver somniferum) và được biết đến từ 4.000 năm trước Công nguyên Ở Trung quốc, năm 1838 có 2 triệu người nghiện á phiện
và 120 triệu người nghiện vào năm 1878 Riêng ở Việt Nam, năm 1953 có 8.000 động hút
á phiện có giấy phép và đến 1958 Chợ Lớn có 2.500 động Vào năm 1975, miền Nam Việt Nam có khoảng 500.000 người nghiện á phiện và các ma túy khác
- Morphine : được tách từ á phiện vào năm 1806 và được dùng chích cho thương binh khỏi rên la vì các vết thương trong chiến tranh giữa Pháp và Thổ Nhĩ Kỳ năm 1870-1871 Đến năm 1879 mới biết hội chứng nghiện morphine Năm 1939, do nhu cầu cho chiến tranh người Đức chế ra Péthidine, có tác dụng : - chống co giật, êm dịu thần kinh, chống đau - dùng péthidine để trị nghiện morphine (nhưng lại nghiện péthidine) Dùng morphine, con người có ảo giác, không muốn làm gì hết, không quan tâm đến cái gì cả, người dễ bị viêm nhiễm và suy dinh dưỡng
- Heroin (bạch phiến) : được tổng hợp từ morphine (acetyl hóa 2 lần morphine), mạnh hơn morphine (3mg heroin = 10 mg morphine), phát hiện từ năm 1874 và năm 1898 người Đức thực nghiệm trên người (tiếng Đức Heroisch = năng lực) vì lúc đó thấy trị được ho, suyễn
và lao Heroin chữa được nghiện morphine vì khi trị lao cho người lao bị nghiện morphine thì họ không cần morphine nữa Hiện nay, người ta dùng methadone (cũng tổng hợp từ á phiện) để trị nghiện heroin Người nghiện sử dụng heroin bằng cách hít, hút và chích (hút
xì ke - scag, tiếng lóng chỉ heroin)
- Codeine : được trích từ á phiện và morphine, có tác dụng an thần, tạo sự phấn chấn, dùng trị ho và ít bị nghiện hơn
2.1.2 Nhóm chất kích thích (stimulants) : Nhóm này có tác dụng kích thích hệ thống
thần kinh, giải khuây, làm tăng sự nhanh nhẹn, người sử dụng mang trạng thái thoải mái Thường dùng nhất là thuốc lá và caféin Riêng trong nhóm này có chất amphetamines, được điều chế từ năm 1887 và dùng trị liệu trong y học từ năm 1935, có tên thương mại: Dexedrine (Mỹ), Maxiton (Pháp), Rilatine, Mirapront, Obesitol (trị mập) Tác dụng của Amphetamines là gây tập trung cao, tính hung hăng hơn, hồ hởi, tánh tình dễ thay đổi, bất thường, dùng lâu dễ bị suy nhược trầm trọng và dễ viêm nhiễm, suy dinh dưỡng Giới thường hay sử dụng là lái xe tải, các lực sĩ chuyên nghiệp, sinh viên, học sinh học thi Thường có hai cách chơi : - Kết hợp đôi : chất kích thích + ma túy - Kết hợp tam : chất kích thích + ma túy + thuốc ngủ
2.1.3 Nhóm an thần (depressants) : Nhóm này có hai nhánh : nhánh an thần (như
valium, equanil, tranxene, placidyl ) và nhánh barbiturques do Bayer (Đức) sáng chế bằng cách kết hợp acide malonique với urée vào năm 1863 Năm 1822, Barbiturique mang tên Barbital và có tên Veronal, secobarbital (Seconal) vào năm 1903 Ở Việt Nam, người nghiện dùng seconal và binoctal (immenoctal + amobarbital) pha với ma túy và chích (thường gây bướu, hoại thư) Barbiturique có tác dụng gây cảm giác như trên thuyền, làm vui vẻ, thích hoạt động, đùa giỡn, tranh cãi, muốn gây gỗ
Trang 262.1.4 Nhóm gây ảo giác (Hallucinogen) : Nhóm này có mescaline, LSD (Lysergic acid
diethylamid) LSD được tổng hợp vào năm 1938 tại Mỹ bởi Ô Hofman và đến năm 1943, người ta mới khám phá ảnh hưởng tâm lý bất thường của LSD trên người Người dùng LSD thấy cảnh nhỏ to khác nhau, màu sắc lẫn lộn, di động, tai nghe tiếng động lạ thường, người mạnh dạn hơn, không biết đau đớn
2.1.5 Cần sa (Marijuana cannabis : loại cây đang mọc hoang ở Trung Á) hoặc bồ đà
Trung quốc biết đến cây này từ 2.700 năm trước công nguyên 1378 Á rập có luật bỏ tù người hút cần sa 1800 Napoléon Bonaparte cấm buôn bán cần sa Tại Việt nam trước đây cần sa mọc hoang mà không biết, khi ngựa hoặc heo ăn thì khỏe, mau lớn Khi lính Mỹ đổ
bộ vào Việt Nam thì người dân biết đến nó và trồng để bán Người hút cần sa thấy ai cũng buồn cười, phấn khởi, người nhẹ nhàng, màu sắc đẹp ra và tươi sáng
2.1.6 Cocaine : được chiết từ lá coca, bột trắng không mùi, người uống cocaine cảm thấy
hồ hởi và khi chích vào gân thì có ảo giác, kích thích sự hoạt động
2.2 NGHIỆN RƯỢU :
Nghiện rượu là vấn đề sức khỏe chính của Liên xô, Mỹ, Bắc Âu, Ireland và cả VN Nó đứng thứ ba trong danh sách các vấn đề sức khỏe công cộng trọng yếu (sau vấn đề Sida và nghiện thuốc lá Thường người ta tưởng lầm rượu là chất kích thích, nhưng nó lại làm yếu
hệ thần kinh Tuy nhiên, lúc đầu nó có vẻ kích thích, nếu uống nhiều thì nó làm giảm khả năng suy tính, nhìn, nói, hoạt động cơ bắp, hô hấp và tiến trình sinh hóa Nó có tác dụng an thần và giảm đau Nó là nguyên nhân tai nạn giao thông, gia đình tan vỡ, bệnh gan, gây thiệt hại về ngày công lao động ở xí nghiệp, làm tăng chi phí chăm sóc y tế, gây tai nạn lao động, mất trật tự công cộng và nhất là tội phạm
2.3 NGHIỆN THUỐC LÁ :
Nghiện thuốc lá là một vấn đề sức khỏe lớn đang được các nước trên thế giới quan tâm Nhiều nước đã có luật cấm hút thuốc ở những nơi công cộng và cấm quảng cáo thuốc lá trên hệ thống truyền thông công cộng Thuốc lá gây ung thư phổi và bệnh tim Chúng ta có thể ghi nhận những thiệt hại to lớn vì nghiện thuốc lá : trong năm 1991 thế giới có 3 triệu người chết, chiếm hơn 5% tổng số tử vong trên thế giới (Châu Âu và Bắc Mỹ : 30%, các nước đang phát triển : 30%), có một tỷ người nghiện và đốt 5.000 tỷ điếu thuốc / năm, tiêu phí khoảng 100 tỷ USD Trong khi các nước phương Tây đang ngăn ngừa và làm giảm tệ nạn nghiện thuốc lá thì lượng tiêu thụ thuốc lá ở các nước đang phát triển (ở Châu Phi, châu Mỹ La tinh và châu Á) tăng nhanh vì các công ty tư bản phương Tây tìm mọi cách
mở rộng thị trường thuốc lá sang các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam
3 NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ CỦA SỰ NGHIỆN NGẬP
3.1 NGUYÊN NHÂN :
Các nguyên nhân của sự nghiện ngập (nhất là về ma túy) rất đa dạng, tùy thuộc nhiều yếu
tố : tâm lý, tình cảm, thể chất, khủng hoảng niềm tin và lý tưởng, sự lệ thuộc và cả yếu tố
họ dễ chịu, yêu đời (vòng lẩn quẩn đưa họ đến sự nghiện ngập càng ngày càng nặng) Họ luôn luôn sợ hãi, vì thế người nghiện rượu, khi có rượu cảm thấy dễ trực tiếp đối đầu, mạnh dạn hơn và người nghiện ma túy thì lại tránh va chạm, cần sự hưởng thụ khoái cảm
Trang 27hơn Người nghiện ma túy khi có ma túy thì thương cha mẹ, kêu gào tình thương nhưng khi thiếu ma túy thì tỏ ra thù ghét, phẫn uất tất cả
Đối với giới trẻ, chúng ta có thể đề cập đến nguồn gốc của sự nghiện ngập là do yếu tố tò
mò và do áp lực của nhóm bạn : Yếu tố giải trí chỉ là thứ yếu Theo cuộc điều tra về nguyên nhân nghiện ma túy tại Thái Lan năm 1989 thì :
- Giải quyết buồn phiền 27,16%
Số người nghiện nữ có cao hơn Thái Lan
- Nam 88%
- Nữ 12%
3.1.2 Yếu tố thể chất Một số người trở thành nghiện do nhu cầu công việc, nghề nghiệp :
văn nghệ sĩ (ca sĩ thì hát hay hơn khi có ma túy), sinh viên, học sinh sử dụng ma túy để thức đêm Ngoài ra, những người bị suyễn, lao hoặc các thương binh khi trị bịnh, vết thương bằng thuốc gốc ma túy cũng dễ thành người nghiện sau một thời gian dài điều trị
3.1.3 Yếu tố lệ thuộc : Người nghiện hoàn toàn bị lệ thuộc vào ma túy Họ phải dùng liên
tục để khỏi bị triệu chứng vật vã khi không có ma túy Người ta đã cố gắng dùng các phương pháp phân tâm học để trị sự lệ thuộc này nhưng vẫn thất bại Hiện một số nước trên thế giới áp dụng cách dùng một ma túy này để thay một ma túy khác Có thể nói nghiện ma túy là một bệnh biến dưỡng
3.1.4 Yếu tố chính trị - xã hội : Trên bình diện quốc tế ma túy ảnh hưởng đến quan hệ
chính trị của một số nước trên thế giới như Pananma - Mỹ, Mỹ - Nicaragoa (Contras), Mỹ - nam Mỹ (Colombia) số tiền từ buôn bán ma túy được dùng để tài trợ cho các cuộc vận động tranh cử và gắn liền với chính sách tín dụng của các ngân hàng Mỹ (chuyển đổi tiền
ma túy ngoài vòng pháp luật thành đồng tiền bình thường) Nếu ngưng việc buôn bán ma túy thì phải cho các nước Mỹ La tinh hoãn nợ, nếu thế thì ngân hàng Mỹ sẽ chết theo Vừa qua, Mỹ cũng đã thông qua bọn buôn ma túy để viện trợ cho Contras (Nicaragoa) Tại miền Nam Việt Nam trước 1975 : Ngô Đình Nhu (từ năm 1957) lập hệ thống đường dây
ma túy Lào - Sàigon để lấy tiền xây dựng guồng máy công an mật vụ Ngoài ra, việc sử
Trang 28dụng ma túy còn tùy thuộc vào hoàn cảnh xã hội mất ổn định trong đó các giá trị bị đảo lộn, luật pháp lỏng lẻo, con người bị khủng hoảng niềm tin và đi tìm sự bù đắp qua ma túy, rượu
3.1.5 Hậu quả : Những hậu quả do nghiện ngập mang đến thật là nặng nề, gây thiệt hại
lớn lao cho gia đình và cho ngân sách nhà nước và cho xã hội Tại Mỹ, mỗi năm 200.000 trẻ sinh ra từ các bà mẹ nghiện ma túy bị tật nguyền về thể xác hoặc tinh thần, phân nữa bệnh nhân SIDA là nghiện ma túy Ma túy là nguồn gốc của 75% các vụ cướp, phân nữa tổng số vụ án mạng do thanh thiếu niên gây ra, tổn thất 60 tỷ USD/năm do mất năng suất lao động và tai nạn vì dùng ma túy Năm 1990, Mỹ phải bỏ ra 10 tỷ USD để chống ma túy Tại trường giáo dục lao động Thanh niên mới Bình Triệu, khi khảo sát ở 2500 bệnh nhân nghiện ma túy vào năm 1977 tỷ lệ phạm pháp là :
- Ăn cắp vặt 100%
- Trộm cướp 50%
- Giết người 2%
- Buôn bán ma túy 40%
- Gái mãi dâm 80% (trong số bệnh nhân nữ)
và mang các bệnh kết hợp như sau :
4 CÁC BIỆN PHÁP TRỊ LIỆU VÀ VAI TRÒ NHÂN VIÊN XÃ HỘI :
Các biện pháp trị liệu thì nhiều Các nước đang đi tìm cách thức trị nghiện ngập có hiệu quả nhất Ngành tâm lý học và phân tâm học cũng gặp nhiều khó khăn Lòng tin và ý chí con người là yếu tố quan trọng nhất trong chữa trị, kế đó là vấn đề phòng ngừa Một trung tâm cai ma túy ở Thamkrabok (Thái Lan) đã áp dụng yếu tố lòng tin và ý chí con người và đạt kết quả đến 75% (chữa trị trong 10 ngày : cho uống thuốc nôn ói và làm lễ long trọng cho bệnh nhân thề trước Phật không đụng đến ma túy Thuốc chữa trị chỉ đóng góp 20%, yếu tố chính là ý chí và niềm tin)
4.1 Trị liệu :
Về mặt lý thuyết, trị liệu nghiện ngập có 3 giai đoạn
- Giai đoạn 1 : chế ngự vật vã, tạo sự năng động, thiết lập mục tiêu cho cá nhân
- Giai đoạn 2 : tâm lý cá nhân, quan hệ người và người (giải quyết mâu thuẫn nếu có), tăng cường khả năng tâm lý xã hội
- Giai đoạn 3 : phục hồi, hội nhập cuộc sống bình thường phòng ngừa sự trở lại với ma túy
Ở các giai đoạn trên, cần phải có sự tham gia tích cực của gia đình Vai trò của nhân viên
xã hội đều phải có trong toán trị liệu ở các 3 giai đoạn trên, nhưng nặng nề hơn ở giai đoạn
sau cùng Trường Giáo Dục lao động Thanh niên mới Bình Triệu TP HCM, áp dụng các biện pháp như sau :
1) Biện pháp xóa bỏ hoặc vô hiệu hóa độc hại bằng phương pháp châm cứu phối hợp với thuốc Nam (đơn giản, ít tốn kém, có công hiệu) Từ 3-7 ngày là hết vật vã, sau đó dùng thuốc Nam và tập khí công (3 ngày)
2) Biện pháp thay thế :
- chữa về sinh lý : cắt cơn đau của cơ thể
Trang 29- chữa về tâm lý : giáo dục, sinh hoạt thể thao, giải trí, lao động Kết hợp với các nhân viên xã hội vãng gia tìm hiểu hoàn cảnh gia đình, tư vấn cho bệnh nhân và gia đình nhằm khôi phục lại niềm tin
4.2 Phục hồi xã hội : Ở giai đoạn tái phục hồi xã hội, vai trò nhân viên xã hội rất quan
trọng trong việc giúp bệnh nhân hội nhập lại với xã hội sau khi rời khỏi các Trung tâm cai nghiện (ma túy, rượu ) Thường có các loại dịch vụ như :
1 Vãng gia : mục đích khuyến khích người nghiện lánh xa thuốc với sự tham gia của gia đình
2 Hẹn đến tái khám thường kỳ cùng với nhân viên xã hội
3 Liên lạc bằng thư từ với nhân viên xã hội, (trường hợp không gặp trực tiếp được)
4 Nhân viên xã hội giúp họ tìm công ăn việc làm, làm cho họ thành người hữu ích cho xã hội, tạo thói quen mới trong lao động giải trí
2 Dùng tình cảm để thuyết phục vì họ cô đơn, mặc cảm tội lỗi, cần tìm hiểu nguyên nhân đưa họ vào con đường nghiện ngập
3 Phải tin họ : ở sự tự khắc phục, tích cực tiếp sức cho họ sự tự tin
4 Tôn trọng nhân phẩm của họ (nghi ngờ, xúc phạm nhân phẩm sẽ làm cho họ đau khổ và quay lại con đường nghiện ngập)
5 Nâng cao nhận thức : họ cần hiểu biết về tệ nạn xã hội này, giúp họ tích cực chủ động hợp tác giải quyết bệnh của mình
6 Tạo điều kiện cho họ có niềm tin trong công việc làm (không còn giờ rãnh để suy nghĩ
về những chuyện không hay)
số dân là 40.000 người (huyện này có 600 ha trồng thuốc phiện, mỗi năm sản xuất 6 tấn nhựa thuốc phiện tương đương 6 tỷ đồng) Toàn Yên Bái có 30.000 người nghiện Nhiều gia đình bán hết trâu bò, chấp nhận với chiếc lều giữa rừng với nàng tiên nâu Tại TP HCM, từ năm 1975 đến nay, Trung tâm Phòng chống lạm dụng ma túy đã tiếp nhận, quản
lý và cai nghiện cho khoảng 30.000 lượt người nghiện Năm 1991 có 1997 học viên nhập trường (trong số đó có 561 vi phạm lần đầu, số còn lại ít nhất là 2 lần và cao nhất là 16 lần) Kiểm tra 200 địa chỉ đã cai nghiện trước năm 1990 thì kết quả là :
- 25% không sử dụng lại, có công ăn việc làm ổn định
- 25% còn nghi ngờ
Trang 30- 50% nghiện trở lại
Hiện nay, bạch phiến tái xuất hiện sau một thời gian vắng bóng (sau 75), việc buôn bán ma túy (gồm tân dược và cần sa) đang gia tăng nghiêm trọng Ước lượng TP HCM hiện có khoảng 20.000 người nghiện (số này còn khiêm tốn), riêng Quận 10 có 200 tụ điểm mua bán, chích, hút ma túy
Chương trình Phòng chống Lạm dụng ma túy và lây nhiễm Sida (tại số 15/11 Quốc lộ 13
Bình Triệu, Thủ Đức TP HCM), gồm có những mục tiêu :
1 Quản lý việc sản xuất, chế biến và sử dụng các chất có ma túy
2 Truy bắt và trừng trị thật nghiêm khắc bọn buôn lậu ma túy
3 Quản lý, chữa trị, giáo dục lại tốt cho người nghiện và tạo điều kiện cho họ hội nhập xã hội
4 Tuyên truyền giáo dục phòng ngừa cho cộng đồng (bằng toán lưu động) nhằm ngăn chặn lạm dụng ma túy và lây nhiễm Sida và hướng dẫn vui chơi lành mạnh
Việc thực hiện các mục tiêu trên đây sẽ còn gặp khó khăn khi mà chưa có một nền tảng quản lý nhà nước có hiệu lực, luật pháp chưa được rõ rằng và nghiêm khắc và năng lực xã hội còn yếu kém
6 KẾT LUẬN :
Vấn đề nghiện ngập nhất là nghiện ngập về ma túy đang rất được quan tâm vì nó có mối quan hệ với việc lây nhiễm Sida Nghiện rượu cũng là một vấn đề thời sự trên báo chí hàng ngày (say rượu gây mất trật tự, tai nạn giao thông, gây án mạng ) Việc chống nghiện thuốc lá chưa được chú ý vì còn quảng cáo bán thuốc lá và cho ngoại quốc đầu tư sản xuất thêm thuốc lá Việc thuyết phục và tăng sự hiểu biết cho giới trẻ về tác hại của sự nghiện ngập còn rất hạn chế, giới trẻ chưa hiểu, lại muốn biết, tò mò và thử Nhóm tuyên truyền lưu động của Chương trình Phòng chống lạm dụng Ma túy và Lây nhiễm Sida là một biện pháp rất hữu hiệu nhằm tăng cường năng lực xã hội bằng cách tạo sự tham gia chủ động, thảo luận nhóm để tự khám phá vấn đề Nếu nhân rộng Nhóm tuyên truyền và được nhà nước và các tổ chức phi chính phủ hỗ trợ thì tệ nạn này mới có cơ may giảm Nhưng, những nỗ lực này sẽ tiêu phí nếu hệ thống quản lý nhà nước vẫn còn kém hiệu lực, Bộ luật hình sự còn có điều khoản lỗi thời, thiếu kiên quyết, trừng phạt quá nhẹ (người tổ chức dùng ma túy bị phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm, trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng bị phạt
tù từ 3 đến 10 năm, nghiêm trọng là như thế nào ?) Từ năm 76 đến năm 86, tòa án chỉ xử
100 vụ với 150 bị cáo (10 vụ / năm) có trường hợp buôn 50 kg thuốc phiện mà chỉ bị phạt
12 năm tù (năm 1986) trong khi tại singapore, chỉ cần mang trong người 20 g ma túy thì cũng đủ bị treo cổ (dù là người bản xứ hay ngoại kiều)
N.N.L
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Trương Thìn, Phạm Nguyễn Vinh, Nguyễn Quang Vân Chiến đấu với ma túy cao tuổinh lại con người, Hội CLB Y học Dân tộc, Sở Y tế : TP HCM, 1985
2 Nhân phẩm 1, số đặc biệt chuyên đề ma túy, Trung tâm Phòng chống lạm dụng ma túy :
TP HCM, 1990
3 Joseph L White, The troubled adolescent, Pergamon Press, USA, 1989
4 Annual Report, Drug abuse prevention and treatement dividion, Department of Health Bangkok Metropolitan Adm Thailand, 1989
5 Công giáo và Dân tộc, số 796, tháng 3 năm 1991
6 Charles Zastrow, Introduction to Social Welfare Institutions, Illinois, 1986
7 Hodgkinson, Liz., Addictions : New York, 1986
Trang 31
Bài đọc 1
CHÍNH PHỦ RA NGHỊ QUYẾT : PHÒNG, CHỐNG VÀ KIỂM SOÁT
MA TÚY : MỘT CHƯƠNG TRÌNH QUỐC GIA
* Ngăn chặn và chống tệ nạn mại dâm
Ngày 29-1, chính phủ đã ra nghị quyết về tăng cường chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy Theo đó, chính phủ đặt nhiệm vụ phòng, chống và kiểm soát ma túy thành chương trình quốc gia đồng bộ, có mục tiêu Nghị quyết đã đề ra các biện pháp tuyên truyền, vận động, giáo dục, xử lý hành chính và hình sự trong công tác phòng chống và kiểm soát ma túy :
- Tuyên truyền rộng rãi để mọi người, trước hết là thanh niên thấy được hậu quả tai hại của
tệ nạn ma túy Đưa vấn đề phòng, chống nghiện ma túy vào chương trình giáo dục ở các trường phổ thông, trung học chuyên nghiệp và đại học
- Vận động thuyết phục đồng bào miền núi dứt khoát thôi trồng cây anh túc, chuyển sang trồng các loại cây khác
- Kiểm soát nghiêm ngặt vận chuyển lưu thông các loại ma túy trên toàn lãnh thổ Tiêu hủy các sản phẩm là thuốc phiện và các chất ma túy khác thu được
- Tổ chức cai nghiện, chữa trị và thực hiện các biện pháp dạy nghề, tạo việc làm cho người nghiện
- Xây dựng các văn bản pháp quy về chống ma túy và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này Thành lập Ban chủ nhiệm chương trình quốc gia về phòng chống và kiểm soát ma túy do
bộ trưởng, chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc và miền núi làm chủ nhiệm và đại diện một số bộ, tổng cục có liên quan và Đoàn TNCSHCM, Hội Liên hiệp Phụ nữ làm thành viên
* Cùng ngày 29-1, chính phủ cũng đã ra nghị quyết về ngăn chặn và chống tệ nạn mại dâm Chính phủ quyết định những chủ trương và biện pháp xóa bỏ tên nạn mại dâm như sau :
- Sử dụng tổng hợp các biện pháp tuyên truyền giáo dục và các biện pháp hành chính, xử phạt theo pháp luật, tổ chức chữa trị bệnh, đồng thời tổ chức dạy nghề, tạo việc làm thích hợp cho số người mại dâm và do hoàn cảnh khó khăn
- Giáo dục lối sống lành mạnh, giữ gìn truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc trong nhân dân, nhất là thanh thiếu niên
- Điều tra phân loại người mại dâm Xử phạt thật nghiêm người chứa chấp, dụ dỗ, dẫn mối gái mại dâm dưới mọi hình thức, ở mọi nơi như khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng, vũ trường theo Luật hình sự Đối với người đi mua dâm, nếu là công chức Nhà nước, bất kỳ là cán bộ cấp nào, phải lập biên bản vi phạm, thông báo về cơ quan quản lý, xử lý nghiêm khắc về
NHỮNG VẾT ĐEN
Trang 32Điểm mặt, chỉ tên những kẻ chuyên tổ chức tiêm chích ma túy không phải là khó Xác định các tụ điểm “nổi tiếng” ở TP về tệ nạn này là việc đã rành rành Điều đáng nói là những
“vết đen” đó cứ tồn tại và hoành hành Lớp chủ chứa này bị bắt giữ, lập tức có lớp khác
“nối nghiệp”
Các điểm chích ma túy mang tiếng là hoạt động lén lút nhưng cả chủ và khách đều khá yên tâm vì đã có một mạng lưới canh gác báo động khá dày đặc, bảo vệ việc chích choác Khu vực cầu Xóm Vôi quận 8 có 2 chủ chích đã “thành danh” là bà Thành, bà Năm Sang Mỗi
“tụ” này lại chia ra 3, 4 ổ nhỏ Bến Bạch Đằng có bà Sương, Hồng gấu, Sáu ốm “hùng cứ” Khu vực công viên Hoàng Văn Thụ, cổng Phi Long, từ trước đến giữa năm 1992 do
Vũ Thị Ngọc Bích tự Titi “lũng đoạn độc quyền”, có “đại bản doanh” tại hẻm 190 Hoàng Văn Thụ, nổi tiếng về quy mô hoạt động và doanh số cao với mỗi ngày từ 200 đến 300 lượt khách Sau khi Titi bể ổ, một loạt chủ nhỏ trước kia đã chịu lép mở tiệc ăn mừng và khai trương lại động chích Ở khu vực bến xe Lê Hồng Phong có các “tổ hợp gia đình” chích choác, điển hình như Tăng Văn Lý, Lương Luân phục vụ cho đủ loại khách trong đó có không ít khách hạng “trung, thượng lưu” tới động bằng ô-tô, xe gắn máy đời mới Rồi khu vực Cầu Mống, Lăng Ông - Bà Chiểu, xóm Bình Khang, Cây Da Sà là những địa danh mời gọi dân ken các kiểu, lui tới để “được phục vụ tùy ý”
Nếu điều hấp dẫn dân nghiện là sự “tìm quên”, “đê mê”, “cảm giác lạ” v.v thì với những
kẻ tổ chức động chích chỉ đơn giản là tiền Một ống thuốc ngủ loại rẻ tiền nhất, như loại Diazuyam giá 400 đồng, tới tay dân ken phải là 1.200 đồng Bình quân cứ chích 1cc chất nước ma túy, chủ chứa lời từ 800 đến 1.000 đồng Lấy mức trung bình thấp, một người nghiện với “đô” 10cc/ngày, một động “thường thường bậc trung” có 100 khách/ngày, tiền
vô hầu bao chủ chứa vào khoảng 1 triệu đồng/ngày Đúng là một nghề “kinh doanh” quá béo bở đủ làm mờ mắt những kẻ có máu liều và có gan đi tù Khi kẻ nghiện là tù binh của ma túy, là những bóng ma vật vờ không sinh khí thì chủ chích cứ việc phây phây Hãy nghe Lương Luân - tức Cẩm Lin - một tay chủ chích cao tuổi đời trả lời CA lúc y bị bắt :
“Tôi không cần biết gì về SIDA, bệnh nào cũng là bệnh, ai vướng phải, ráng chịu” Kim chích ở động ông chủ Luân và hầu hết các động khác được mài để xài đi xài lại, bao giờ mòn tới không thể chích được thì thôi Dù vậy, dân nghiện chấp nhận tất cả, miễn là có chỗ
để “phi” Qua công tác điều tra, một cán bộ CA tạm phân loại : 60% dân nghiện xì-ke là người lao động tự do (!) (kể cả không nghề nghiệp, và nghề lưu manh trộm cắp) ; 30% là người có việc làm ổn định ở các đơn vị, số còn lại có không ít là học sinh phổ thông, trẻ vị thành niên từ 13 đến 15 tuổi Rõ ràng sự lạm dụng ma túy không chừa bất cứ ai, thành phần nào trong xã hội Những vết đen từ ma túy cứ ngày càng hằn dấu nặng nề
CUỘC CHIẾN KHÓ KHĂN
Thực tế cho thấy, chúng ta đã kiên trì, bền bỉ đấu tranh bài trừ tệ nạn ma túy từ nhiều năm nay Nhưng cho đến nay, những nỗ lực cho mục tiêu này đã không gặt hái được kết quả tương xứng Con số tái nghiện sau khi đã tập trung cai nghiện luôn ở mức 70 đến 75%
Và, 90% số chủ chứa tái phạm sau khi được tự do trở lại (hoặc sau các mức xử lý khác nhau) Một vòng tròn cứ lặp đi lặp lại : bắt - thả - tái phạm - bắt - thả và tệ nạn ngày càng trầm trọng
Một trong những mũi nhọn của cuộc chiến chống ma túy là lực lượng cảnh sát hình sự mà trực tiếp là Đội Chống ma túy và các tệ nạn khác Tìm hiểu về hoạt động của đội, chúng tôi mới biết cuộc chiến chống lạm dụng ma túy, chích choác khó khăn dường nào Họ đã nỗ lực biết bao nhưng kết quả vẫn chỉ là điều an ủi phần nào đối với mỗi người có trách nhiệm, lương tri trước loại tệ nạn khó trị này
Đã từng có nhiều ý kiến thắc mắc, tại sao việc chích choác diễn ra công khai giữa ban ngày ban mặt, nơi công cộng, CA ở đâu ? Có thể nói mỗi cán bộ, chiến sĩ Đội 6 đều biết rõ Nhưng để bắt được quả tang một vụ là cả một chuyện dài đầy khó khăn Hãy hình dung,
Trang 33chỉ có dân nghiện mới nhập vô điểm chích được dễ dàng Ngoài ra bất cứ người lạ nào có dấu hiệu “đáng ngại” xáp vô, dù đúng lúc mắt nhìn thấy họ đang chích, đều vô cùng khó khăn bởi bao điều cản ngại và cái chính là không còn tang chứng vì chỉ cần sau 1 giây dân nghiện đã có thể phủi tay vất kim và ống chích Bình quân mỗi tháng, cán bộ, chiến sĩ Đội
6 triệt phá quả tang 5 - 6 ổ chích - con số không nhỏ so với thực tại và khả năng sinh sôi của các động chích
Một chuyên án 8 tháng trời, Đội 6 tạm “dẹp yên” các ổ chích ở khu vực cầu Xóm Chỉ vào cuối năm 1992 Có lần các trinh sát bị cả trăm người bao vây hòng giải thoát kẻ phạm pháp quả tang Để bắt được Võ Thành Của, chủ chứa kiêm dân chích, con của “bà chủ” Năm San, trinh sát phải đóng vai dân nghiện vờ đưa tay cho y chích thuốc Nếu không có sự hợp đồng chặt chẽ, hoặc chiến sĩ trinh sát đó phải lãnh trọn mũi kim thuốc độc hoặc có thể nguy đến tính mạng Đến nay, dù không còn lộng hành như trước nhưng khu vực cầu Xóm Chỉ vẫn là tụ điểm “đầu bảng” về chích choác Bên cạnh đó, với 15 cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ trên một địa bàn rộng lớn, dân chủ chứa và dân chích “quá rành” mỗi CB -
CS Đội 6 Đội trưởng Lê Văn Quang nói, không ít lần các anh được những chủ chứa có máu mặt xin “tiếp kiến” để “dàn xếp chuyện làm ăn” - một sự mua chuộc Chủ chứa đã vậy Còn dân nghiện không ít lần cầm ống chích hăm đâm, nhảy vào cắn CA làm nhiệm
vụ Vũ khí của dân ken là “cùi không sợ lở” - Có kẻ đã dám vỗ ngực xưng đã nhiễm HIV
để hù CA Hiển nhiên đã đến lúc việc tiêm chích xì-ke không còn là “chuyện nhỏ” như ai
đó lầm tưởng như trước mà đã trở thành vấn đề báo động với mức độ nguy hại không lường Cuộc chiến đầy khó khăn chống ma túy đã đến lúc phải phát động toàn dân, toàn diện
CẦN MỘT “ĐÔ” TỔNG HỢP CỰC ĐẠI
Có lẽ đã đến lúc các ngành chức năng cần phải thực hiện những biện pháp kiên quyết hơn đối với tệ nạn này Cần có khung hình phạt đặc biệt dành cho những kẻ buôn bán, chứa chấp và tiêm chích ma túy Cần đầu tư rộng và nhiều hơn cho hệ thống trường trại cai nghiện, quản lý giáo dục đối tượng
Chúng ta hoàn toàn có thể ngăn chặn và đẩy lùi tệ nạn này nếu thực hiện các biện pháp kiên quyết và phối hợp đồng bộ, từ cơ quan chức năng chuyên môn tới chính quyền và CA phường Trong thời điểm hiện tại, khi các biện pháp toàn diện chưa khả thi, nên chăng các cấp ngành, đoàn thể mạnh dạn “tặng” kim chích cho người nghiện chích xài riêng Cách thức có vẽ “hữu khuynh” này lại chính là giải pháp hữu hiệu tương đối có tác dụng hạn chế
sự lây nhiễm SIDA Nhiều cán bộ CA nhận xét, tại mỗi địa bàn dân cư, cảnh sát khu vực
và tổ dân phố không thể không biết về sự tồn tại của động chích, người nghiện, nếu có Đối với những chủ chứa lì lợm cần có những biện pháp xử lý kiên quyết Tất cả các biện pháp
đó phải được đẩy lên thành cao trào và có sự phối hợp đồng bộ Đó chính là phương thuốc đặc trị liều cao nhằm ngăn chặn và đẩy lùi ma túy
bị nhiễm bệnh
Ở các nước phương Tây, hoạt động tình dục là con đường lây chính, với những cộng đồng loạn dâm đồng giới lên đến cả chục triệu người Đấy là cái giá rất đắt phải trả - chưa biết
Trang 34đến bao giờ - cho một lối sống phóng túng về tính dục, dưới những khẩu hiệu nguy hại của những cuộc “Cách mạng tính dục”, “Giải phóng tính dục” đã diễn ra trong những thập kỷ trước
Ở nước ta, ngay từ đầu chúng ta cũng đã rất chú ý đến con đường lây lan này, và đồng thời cũng rất cảnh giác đối với con đường lây lan bằng tệ nạn tiêm chích ma túy Nhưng có lẽ chúng ta chưa đánh giá hết mức độ quan trọng của mỗi con đường
Đối với người Á Đông nói chung và đối với người Việt Nam ta nói riêng, có thể do nền văn hóa, giáo dục, những phong tục tập quán lâu đời, nên trong xã hội và trong bản thân mỗi con người có một sự kềm chế nhất định nào đó chống lại sự phóng túng buông thả trong đời sống tính dục Vì thế nên trong một thời gian dài, khi đại dịch đã hoành hành dữ dội ở châu Mỹ, châu Phi, châu Âu, thì châu Á vẫn còn được coi như vùng đất an toàn Tính đến ngày 1 tháng 7 năm 1992, theo những số liệu mới nhất do Tổ chức Sức khỏe thế giới (OMS) công bố, trong khi cả châu Á với hơn ba tỷ dân chỉ có 1.552 trường hợp SIDA thì riêng một nước Hoa Kỳ, chỉ với hơn hai trăm triệu dân, đã có đến 218.301 người bị bệnh, tức là 140 lần nhiều hơn
Chúng ta không đánh giá thấp và coi thường tai họa lây lan bằng con đường tính dục, nhưng, theo những thông tin chính thức trong những ngày vừa qua, có thể chúng ta phải lưu tâm nhiều hơn nữa con đường lây lan bằng tiêm chích ma túy Trong số hơn 60 người phát hiện có huyết thanh dương tính vừa qua thì đại đa số là những người nghiện dùng cách tiêm chích ma túy Trong một hội thảo do Sở Thương binh - Xã hội thành phố Hồ Chí Minh tổ chức vào tháng 11-1988, người ta đã công bố một con số ước lượng có hơn 600 người nghiện trong thành phố mà 98% là trong lứa tuổi dưới 30 Có 200 tụ điểm chuyên bán, tiêm chích ma túy, mỗi tháng sử dụng hết 120 kg ma túy Những số liệu này, ngay vào thời điểm đó đã dưới sự thật nhiều rồi, nay sau hơn 4 năm chắc chắn còn vượt xa hơn nữa Hiện nay, trên thế giới, trong chiến lược chống SIDA đã có một số quan điểm được xét lại Bây giờ người ta nhận định : Không có nhóm nguy cơ, mà chỉ có “hành vi nguy cơ” Đối với người nghiện ma túy, phải tận mắt nhìn thấy lúc họ lên “cơn vã” (cơn nghiện) mới thấy hết ma lực của ma túy Lúc đó họ chẳng còn biết nguy hiểm là gì nữa, chỉ cốt sao tiêm được vào trong tĩnh mạch một liều ma túy đủ để đã cơn ghiền Họ dùng bất cứ thứ gì có trong tay : một ống chích đã qua nhiều người, chưa tiệt trùng, hoặc nếu không có thì tự tạo
ra ống chích bằng một vỏ bút Bic, một ve thuốc đau mắt đầu gắn một chiếc kim vào là xong Thuốc phiện sống gọi là “hằng cái” cho vào một cái lon đun sôi với nước, đổ ra một cái chén rồi hút qua miếng bông gòn để “lọc” thế là tiêm vào mạch máu - nếu bị choáng lên cơn rét thì gọi là “đi Đà Lạt” Đó là những “hành vi nguy cơ”
Để tránh những hành vi này, người ta khuyên : Nếu không nghiện thì đừng có “thử”, sẽ dễ bắt nghiện Nếu đã nghiện thì cố gắng đừng dùng cách tiêm chích, chỉ “thầu” thôi (nhai, nuốt) Nếu tiêm chích thì phải có ống tiêm riêng của cá nhân, và luộc sôi 20 phút trước khi dùng
Ai cũng biết : cắt cơn nghiện là một điều tương đối dễ - tất cả các cơ sở cai ma túy đều làm được rất tốt điều này - nhưng để không nghiện lại mới là một điều cực kỳ khó khăn Jean Cocteau, một nhà văn nghiện thuốc phiện, đã nói : “Trong mỗi con người nghiện ma túy,
dù khỏi rồi, dường như vẫn còn lại một con ma” Mỗi khi có 3 cơ hội - cụ thể là mỗi khi có
ma túy - là con ma, tuy nằm im đã lâu - vẫn có thể trỗi dậy, quậy phá, bắt người nghiện trở lại con đường cũ
Vì vậy muốn hạn chế bớt tác hại của ma túy - chiếc cầu nối hiện nay với SIDA - thì ngoài việc thông tin, giáo dục cho mọi người hiểu rõ để tự đấu tranh với bản thân mình và đấu tranh với những người chung quanh, còn cần phải có những biện pháp chính quyền thật nghiêm ngặt để chặt đứt con đường cung cấp ma túy Phải coi những “hang động” chuyên bán, chích ma túy cũng nguy hiểm như những ổ, đường dây mại dâm Phải coi những kẻ đi
“chích dạo” ở các quán cà-phê ôm, các chợ, các công viên thậm chí cả ở những trường
Trang 35học, là những kẻ phạm pháp Với giá một cc “hằng cái” từ 1.500 đến 1.800 đồng, họ đã dùng cái ống tiêm giết người của họ, như một khẩu súng liên thanh để giết hại biết bao nhiêu nhân mạng chỉ vì một số tiền nhỏ nhoi kiếm được một cách bất lương như thế Tai họa từ ma túy đưa đến SIDA đang là nỗi lo của những người nghiện đang bị đe dọa từng ngày từng giờ, từ cơn vã này đến cơn vã khác Vì đồng hội, đồng thuyền, ai có qua cầu mới hay, nên không ai thông cảm sâu sắc những nỗi đau khổ và lo sợ của người nghiện hơn chính bản thân một người nghiện khác Cho nên hiện nay, vì ý thức được điều này, nhiều người nghiện trên thế giới đã thành lập những “nhóm tham vấn”, tự nguyện đi lại, gần gũi, tâm sự với những người nghiện khác để giúp đỡ nhau cùng đấu tranh chống với tai họa này Những kết quả ghi nhận được nhiều khi đã vượt quá sự mong ước Rất đáng mừng là hiện nay ở thành phố ta cũng đã có những nhóm người tự nguyện làm công việc
đó Được trang bị những kiến thức thông thường về bệnh nhiễm HIV/SIDA, về các biện pháp đề phòng để tránh các hành vi nguy cơ, họ đang âm thầm và kiên trì làm một công việc cực kỳ hữu ích và hết sức đáng hoan nghênh Rất mong và cầu chúc họ đạt được nhiều thành công Xin trân trọng giới thiệu với họ tấm gương sáng của Alison Gertz, một cô gái
26 tuổi, mà bác sĩ Michael H.Merson, Giám đốc Chương trình toàn cầu phòng chống SIDA, đã tuyên dương với những lời tuyệt đẹp như sau :
“ Chúng ta sẽ còn nhớ mãi Alison như một người đi đầu trong giáo dục về phòng chống SIDA, vì những công việc mà cô đã làm qua các phương tiện truyền thông đại chúng, và sự
có mặt không mệt mỏi của cô tại các trường học, trường đại học và những nơi công cộng
Cô là một ví dụ điển hình của một người dù bị nhiễm bệnh vẫn có thể sống một cuộc đời cực kỳ tích cực và hữu ích
Mấy ai dám nói rằng mình đã cứu sống được hàng ngàn người ? - Rất ít Nhưng Alison đã làm được việc ấy Tôi chắc rằng đã có vô số bạn trẻ bây giờ đã chết hay đang chết dần, chết mòn nếu không được cô báo động cho hiểu nỗi nguy hiểm của SIDA "
SGGP B.S NGÔ VĂN QUỸ
Tôi tưởng tượng ra hình ảnh chị Tư đầu bù, tóc rối, ốm yếu, xanh xao và dáng vẻ chịu đựng của chị, tôi muốn được gặp chị để giúp chị một điều gì đó, ít ra cũng chia sẻ được với chị phần nào những buồn đau Chị hội trưởng đang bận việc không thể cùng đi với tôi, chị chỉ nhà và nhờ một đứa bé lên mười cùng xóm dẫn tôi đi Dọc đường thằng bé hỏi tôi :
- Cô tới nhà dì Tư để làm gì ?
- Cô thăm dì Tư, nghe nói dì Tư khổ lắm
Thằng bé có lẽ không hiểu chữ “khổ lắm” của tôi, nói tỉnh bơ :
- Khổ gì đâu mà khổ, con thấy “dỉ” chửi mấy đứa con “dỉ” tối ngày Kia kìa, nhà “dỉ” kia kìa, cô vô đó coi chừng có khi bị chửi luôn cho coi
Tôi hơi khựng lại một chút, cuối cùng tôi cũng làm gan bước vào nhà chị Tư Căn nhà ọp
ẹp và bừa bãi tứ tung quần áo và vật dụng Hai đứa bé gái ngồi chơi dưới sàn nhà nhìn tôi đăm đăm chẳng chào hỏi Tôi đành phải lên tiếng trước
- Có má ở nhà không con ?
- Không ! Kiếm “bả” làm chi ?
Trang 36- À à cô có chút chuyện - “Bả” đi chợ rồi, “bà” muốn đợi thì đợi
Tôi nhìn kỹ bé gái vừa đối đáp, cũng xinh dấy chứ, nhưng sao ? Tôi quay gót trở ra và gặp phải ánh mắt hiền lành của một bà cụ cao tuổi bán cóc ổi đầu hẻm : - Kiếm con Tư hả cháu ? Nó đi chợ chút về đó Đợi nó đi Nỗi tò mò lại gợn lên, tôi sà xuống bên bà cụ, và
cả cuộc sống của gia đình chị Tư lần lượt hiện ra qua lời kể của bà cụ :
- Qua là bà ngoại của sắp nhỏ Khổ lắm cháu ơi Gia đình nó tan nát rồi Mà cũng tại nó Hồi còn con gái nó đâu có vậy, sau rồi nghèo khổ quá lại sinh tật Cũng biết lo cho chồng cho con đó chớ nhưng hễ nó đi thì thôi, về nhà là nó chửi chồng chửi con suốt Qua có nói, cái gì hổng phải thì nhỏ nhẹ dạy dỗ con, khuyên lơn chồng Chớ cái gì nó cũng chửi, mấy đứa nhỏ làm bể cái chén cũng chửi, quên chẻ củi cũng chửi, thằng chồng đi đám giỗ mặt hơi đỏ đỏ cũng chửi, nó chửi có dây có nhợ, chuyện đâu từ hồi nào nó cũng lôi ra mà đay nghiến, chì chiết Qua là má nó, qua còn chịu hổng nổi thì nói chi là chồng, con nó Nói cho ngay, thằng chồng nó cũng hiền lành nhưng lại có cái tật nhậu và tính tình cộc cằn Bị con vợ vậy rồi sinh buồn đi uống rượu còn dữ hơn Cháu biết rồi đó, có rượu vô nó còn biết trời đất gì nữa, hễ cằn nhằn rủa xả nó là nó đập nó đánh Vậy mà cũng cứ chửi ! Cha
mẹ cứ đánh lộn đánh lạo tối ngày làm sao mà dạy được con Hai thằng lớn bỏ học đi bụi đời hồi nào vợ chồng nó cũng chẳng biết Đến khi biết thì một đứa đã bị bắt giam Tới đứa con gái lớn lên, có người để ý thương mà cũng chẳng dám bước tới, cha mẹ vậy ai dám làm sui Nó buồn cũng bỏ nhà đi Còn ba đứa nhỏ, tụi nó chưa điên là may, nhưng bây giờ
lì lắm rồi, có mắng chửi nó thì cũng như ca vọng cổ Chẳng dạy dỗ gì được, chắc cũng sắp hư tới nơi
Tôi từ giã bà cụ ra về Và bây giờ thì tôi xin gửi đến anh chị Tư vài lời :
Chắc anh chị không lấy gì làm lạ khi đọc những dòng này Vâng, tôi là người đã tới nhà anh chị hôm đó Tôi biết rằng anh chị sẽ phiền trách tôi tại sao lại đưa chuyện gia đình anh chị lên báo Nhưng tôi nghĩ không riêng gì gia đình anh chị mà có rất nhiều gia đình khác cũng ở trong hoàn cảnh tương tự Vì đâu ư ? Có lẽ vì cả đôi bên chẳng ai nhìn nhận khuyết điểm của mình
Là một đứa con đã từng chứng kiến những cảnh tượng không êm ấm của gia đình, tôi đã thấu hiểu được một cách sâu sắc nỗi bất hạnh của mỗi người trong gia đình anh chị (Vâng, mọi người chứ không phải chỉ có chị đâu chị Tư ạ!) Và vì thế tôi mong rằng anh chị hãy vì tương lai các cháu, vì hạnh phúc của gia đình, thử một lần nhìn lại mình Bất hạnh hay hạnh phúc trong trường hợp như gia cảnh anh chị, nào phải do người khác đem tới, đúng không, anh chị Tư?
Trang 37giao hợp hay thủ dâm có thu tiền hay một phần thưởng khác” () Cần quan tâm đến yếu tố
“thương mại” vì trường hợp một phụ nữ có quan hệ tình dục với nhiều người mà không nhằm vào lợi nhuận là khác MD được chính thức ghi nhận lần đầu tiên ở Ai Cập khi đồng tiền được phát minh () Khi nhắc đến MD người ta thường nghĩ đến phụ nữ MD là phần lớn nhưng luôn luôn có một số nam MD và gần đây có sự phát triển nạn MD trẻ em Trong tài liệu này chúng tôi bàn về phụ nữ MD
1.2 MD như một vấn đề XH
Một hiện tượng được gọi là vấn đề xã hội không chỉ xuất phát từ yếu kém của cá nhân mà
là kết quả của sự tương tác giữa nhiều nhân tố tâm lý, xã hội, kinh tế, chính trị
Theo thói quen người ta chỉ lên án người phụ nữ bán dâm nhưng các nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng trong hiện tượng mãi dâm ít lắm phải có 3 người : người bán, người mua, người
tổ chức hay mai mối là ma cô hay tú bà Nhưng thật ra phải nhìn xa và rộng hơn để thấy rằng đằng sau là cả một môi trường kinh tế xã hội văn hóa đang hỗ trợ, tổ chức, phát huy
và kiểm soát mối quan hệ giữa họ Những hành động tưởng chứng như riêng tư mang tính
xã hội rất cao Nhiều mối quan hệ đã có trước mối quan hệ giữa họ, nhiều tác nhân ít nhiều dấu mặt lợi dụng MD, khai thác nó về mặt kinh tế, tình cảm và cả đạo đức () Các nhà nghiên cứu đã tích lũy các thống kê cho thấy trong số những người có liên quan đến MD, đàn ông đông hơn đàn bà
1.2.1 Yếu tố kinh tế
Ở các nước nghèo cũng như nước cao tuổiu đa số phụ nữ đi vào MD do nghèo, thiếu công
ăn việc làm, hay có việc làm nhưng với đồng lương quá thấp so với đồng tiền thu nhanh bằng MD
MD cũng phát triển khi một bộ phận xã hội cao tuổiu lên đột ngột nhất là khi họ làm tiền quá dễ dàng và nhu cầu ăn chơi phát triển Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng MD là một cuộc trao đổi thương mại và trong thương mại có cung thì mới có cầu
1.2.2 Yếu tố xã hội
a Tội phạm có tổ chức
Người ta thường cho rằng MD là nghề xưa nhất nhưng có tác giả cho rằng cái nghề xưa nhất thật ra là nghề ma cô Ít khi một phụ nữ tự mình dấn thân vào MD mà họ bị dụ dỗ, ép buộc Có khi chính cha mẹ đem con đi bán hay người chồng đồng ý và tổ chức cho vợ mình đi bán dâm Ma cô là một nghề xưa có nghệ thuật riêng của nó Dân chuyên nghiệp rình rập theo dõi các cô gái bỏ nhà ra đi vì xích mích với cha mẹ, các phụ nữ bị chồng phụ bạc, lỡ bước sa cơ, cô đơn trong một môi trường xa lạ Một người đàn ông xuất hiện như một vị cứu tinh, giải thoát họ ra khỏi một nguy cơ nào đó, cung phụng về mặt vật chất, che chở về mặt tinh thần Kế đó họ tỏ tình và cô gái không thể nào không yêu say đắm một người mà họ vừa phục, vừa biết ơn Một khi trở thành người tình, người vợ, thì anh ta yêu cầu vì “tình yêu” với anh ta, người đàn bà phải đi làm gái và đem tiền về cho anh ta Có người thì không còn thoát ra nổi khỏi vòng nô lệ thuộc về mặt tâm lý nữa Ai đó có muốn cũng không thoát được vì tên ma cô hay mụ tú bà sẽ có những biện pháp mạnh để trừng phạt và kiểm soát như hành hung, giam nhốt hay giữ con của người phụ nữ làm con tin Nhưng đối với phụ nữ khó khắc phục thì anh ta đi thẳng vào việc bằng hãm hiếp dã man, tra tấn rồi ép buộc làm gái
Mặc dù hoạt động riêng lẻ nhưng các ma cô và vệ tinh của họ có các mối quan hệ thân hữu hay hợp tác với nhiều nhóm khác
Thường các nhà thổ chính thức hay trá hình, các phòng tắm hơi, mát xa v.v được điều hành bởi các băng nhóm tội phạm đã có tiền án trên nhiều lãnh vực ()
Thiếu nữ Việt Nam bị dụ dỗ sang Kampuchia làm gái cho lính UNTAC, sang biên giới Trung quốc đã được báo chí nhắc đến nhiều
b Phần lớn chị em trước khi đi vào MD đã là nạn nhân XH
Trang 38Đó là những em gái sống một tuổi thơ bất hạnh Thiếu tình thương của cha mẹ, người cha vắng mặt hay hư đốn, rượu chè Ở phương Tây như các nước Á châu khác, các cuộc nghiên cứu cho thấy một tỷ lệ rất đáng kể (ở Mỹ, Phi-lip-pin lên tới 50 - 60%) thiếu nữ đi vào MD đã bị cha ruột hay cha ghẻ, hoặc người thân khác trong gia đình lợi dụng về tình dục Có tác giả cho rằng họ đi vào mãi dâm để trả thù Nhiều em bị đánh đập phải bỏ nhà
ra đi Đây là những con mồi ngon của bọn ma cô Chúng còn tổ chức dụ dỗ, bắt cóc phụ nữ
ở vũ trường, đi đường một mình v.v
c Môi trường
Các nhà khoa học gọi sự nghèo đói và khó khăn trong gia đình là nhân tố chuẩn bị
Kế đó là khoái lạc, tiền là yếu tố hấp dẫn Nhiều bạn gái lãng mạn bị kích động bởi một xã hội luôn luôn đề cao tình dục Thực chất sách báo khiêu dâm là một kỹ nghệ đem lại cho một nước như Mỹ 4 tỉ đô la mỗi năm Mới đầu đi tìm khoái lạc do ham thích, tò mò, nhưng
từ đó đến mãi dâm là con đường rất ngắn
Ở một xã hội mà đồng tiền ngự trị sự cám dỗ đối với đồng tiền kiếm dễ dàng rất mãnh liệt
MD để sống còn trở thành MD để sống xa hoa Nhiều phụ nữ trong cơn túng quẩn định
“nhảy dù” một vài lần rồi trở lại cuộc sống bình thường nhưng khó thoát khỏi cạm bẫy Có người làm nhiều tiền nhưng rút cuộc phải góp cho ma cô, tú bà, chữa bịnh, sắm sửa, đánh bài, hút để giải khuây
Môi trường là một yếu tố thúc đẩy như xóm nghèo, bia ôm, vũ trường Môi trường chung cũng là môi trường văn hóa xã hội, coi chuyện ấy là bình thường, chấp nhận cho người đàn ông đi chơi bời Yếu tố VHXH chấp nhận MD như chuyện bình thường ở Thái Lan khiến cho việc phòng chống hết sức khó khăn Văn hóa hiểu theo đúng nghĩa xã hội học là những giá trị, niềm tin, tập quán ăn rất sâu vào thái độ và hành vi con người Thực chất khó mà cưỡng lại Văn hóa biểu hiện qua hành vi cụ thể không chỉ qua lời phát biểu Cho nên khi
ta nói “MD là đi ngược với văn hóa Việt Nam” mà MD đang tung hoành như thế thì các nhà xã hội học tự hỏi có phải thật như vậy không Hay có gì đó trong thái độ, niềm tin của người Việt Nam vô tình cho phép sự khai thác, bóc lột phụ nữ và trẻ em Tại sao cha hiếp dâm con gái, tại sao mẹ phải đem con đi bán trinh v.v ?
1.2.3 Yếu tố chính trị và quyền lực
Ở đây ta không đề cập đến chính trị đảng phái, hay ý thức hệ mà hiểu chính trị theo nghĩa rộng nhất Đó là các mối tương quan quyền lực, các lực lượng xã hội thống trị các nhóm xã hội khác Trong suốt lịch sử của nó, nạn MD hết sức khó giải quyết vì nó được tổ chức hay bao che bởi những quyền lực mạnh mẽ nhất Tội phạm có tổ chức thường ăn chịu với cảnh sát, tòa án hay các lực lượng chính trị khác Nhiều vụ án buôn bán phụ nữ ở cấp quốc tế bị
lờ đi vì lý do này MD đã trở thành một thảm họa ở Thái Lan vì chính quyền ở đây chủ trương nó để thu ngoại tệ Các nhà hoạt động chính trị vận động bầu cử bằng tiền đóng góp, thuế của các khách sạn, nhà hàng, vũ trường, phòng mát xa và nhiều nhà chứa trá hình khác Làm sao họ chống MD được Cũng từ đó các nhà nghiên cứu nói về những “quốc gia
ma - cô” (state pimp)
Xã hội học ngày nay rất quan tâm đến vấn đề quyền lực vì rốt cuộc kẻ mạnh khuất phục kẻ yếu và ép buộc làm theo ý mình Kẻ mạnh luôn luôn khai thác kẻ yếu
Sex tours, MD trẻ em là một hình thức thực dân mới của thế kỷ 20 Các công dân nước cao tuổiu sử dụng đồng tiền để mua vui cho bản thân bằng mọi cách trong đó có sự lạm dụng tình dục phụ nữ và trẻ em ở nước nghèo
Sự khao khát thể hiện quyền lực hay sức mạnh còn biểu hiện trong quan hệ giới tính Một bài báo VN minh họa rất đúng vấn đề quyền lực trong MD Trả lời tại sao ông ta đến bia
ôm, một khách hàng nói “Bia ôm có tất cả : gái, rượu, thuốc lá và nếu cần gầy sòng nhẹ tại bàn cũng được Trong tận cùng tâm hồn của đàn ông, bao giờ cũng là ao ước được THỐNG TRỊ - dù chỉ là sự thống trị phù du Ở quán bia ôm, mỗi thằng đàn ông là một hoàng đế : có gái (đẹp hay không đẹp chưa quan trọng lắm) phục vụ từ đầu đến chân ! Ăn
Trang 39có người đút, uống có người chuốc, thích cô nào có quyền ôm ấp, sờ soạng - mà điều này
là ân sủng dành cho tiếp viên, bởi sau đó họ được ”bo" đậm hơn người khác Nhìn người đàn bà làm trò, dù là trò yêu quỉ cũng khoái Dĩ nhiên trừ vợ mình " Và đây là ý nghĩ của một thanh niên mới tập tành vào làng chơi : “Nơi đó tụi tôi chứng tỏ mình là đàn ông chứ không phải là đứa con nít Tôi có quyền ra lệnh, sai bảo ” ()
1.2.4 Vấn đề quan điểm
Nguyên nhân thâm sâu nhất của MD là quan điểm trọng nam khinh nữ và xem phụ nữ như một món hàng, một trò tiêu khiển Người đi mua dâm không chỉ vì tình dục đơn thuần Cuộc nghiên cứu gần đây của tổ chức CARE theo đặt hàng của cơ quan Phòng chống Sida Trung ương cho biết người đàn ông Việt Nam “thường đi nhậu với bạn bè rồi đi tìm gái
Họ cho rằng đi chơi gái là một trò tiêu khiển của đàn ông, và có thể sự tác động bởi ham muốn tình dục với một người phụ nữ ít hơn tác động của lòng mong muốn có một sự gần gũi với bạn bè Thường chúng tôi chơi chung một cô, nếu cô ấy là gái điếm” ()
Các cuộc nghiên cứu thế giới cũng ghi nhận rằng người phụ nữ bán dâm phải chịu nhiều trò tiêu khiển mà người mua dâm không bao giờ dám làm với vợ hay người yêu của mình
Họ là nạn nhân của bạo dâm, loạn dâm đủ loại
Từ quan điểm xem thường phụ nữ xuất phát những dư luận, chính sách về MD như :
MD là điều cần thiết để tránh sự tan vỡ gia đình (vì thà người đàn ông đi chơi qua ngày hơn là dính líu lâu dài với vợ lẽ)
MD cần thiết cho thanh niên tập tành làm đàn ông, cho người cô đơn hay có bịnh tật về sinh lý có chỗ “giải quyết”
MD cần thiết để tránh sự quấy nhiễu tình dục với đàn bà tử tế v.v
MD cần thiết để thu ngoại tệ, phát triển nền kinh tế (Quan điểm dã man nhất thường xuất
từ miệng lưỡi những kẻ đạo đức giả)
Cũng từ quan điểm xem phụ nữ là đồ vật này sách báo khiêu dâm với hình ảnh phụ nữ và trẻ em gợi dục, phim con heo, không chỉ là trò chơi vô tình mà là một kỹ nghệ hốt bạc Số thu ở Mỹ là 4 tỉ đô la một năm Ở đây có sự cố tình lợi dụng thân xác phụ nữ và trẻ em, lắm khi sử dụng những thủ thuật tàn bạo để ép buộc Cũng trong hướng này các cuộc thi hoa hậu rẻ tiền, các hình quảng cáo phơi bày thân xác phụ nữ thật ra là kinh doanh trên thân xác con người
Các nhà phụ nữ học, đấu tranh cho nữ quyền chủ trương rằng MD là vấn đề của NAM như
NỮ Có cung mới có cầu và cả một xã hội nam giới đồng tình với sự chà đạp phụ nữ Từ những ma cô tổ chức MD, những tổ chức quyền lực bao che hay làm ngơ nó, từ những thanh niên, đàn ông coi chuyện đi chơi gái là bình thường khiến cho việc chống MD hết sức khó khăn
Hơn hết có sự bất công rất lớn giữa nam và nữ trong lao động Trong một nền kinh tế, các công việc làm tốt nam được ưu tiên, còn nữ nhất là người phụ nữ nghèo phải chấp nhận những công việc với đồng lương rẻ mạt, những công việc mà nhân phẩm phụ nữ bị chà đạp như lao công, rửa chén bát, gia nhân, vũ nữ v.v Do đó chưa giải quyết được nạn MD khi chưa có bình đẳng bình quyền nam nữ
1.3 Sự bùng nổ MD phụ nữ và trẻ em trên thế giới như một thảm họa của nhân loại
Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) với sự phát triển du lịch nhu cầu về mãi dâm càng tăng Ngày nay 420 triệu du khách chi tiêu 40 tỷ đô là hàng năm Đối với các nước nghèo du lịch
là cách thu hút ngoại tệ mạnh dễ dàng nhất Không phải tất cả 420 triệu du khách đều là khách hàng của Sex Tours nhưng số những người đi tìm “của lạ” không ít Ai cũng biết về hiện tượng nam giới đi du lịch một mình ở Thái Lan Họ đi du lịch chỉ nhằm mục đích Sex Cũng theo WHO mãi dâm đem lại hàng năm 2 tỷ đô la cho Nam Triều Tiên , 200 triệu đô
la cho Bra-xin()
Trang 40Thừa thãi tiền bạc và thời gian nam giới từ các nước phát triển đến các nước nghèo để tìm đến tình dục rẻ tiền (cheap sex), an toàn (safe sex) Việc đổ xô vào trẻ em gái và trai là để tránh Sida Báo chí thường đề cập đến việc “buôn thịt người” qua biên giới (từ Phi-lip-pin, Thái Lan sang Nhật, Đức, từ Trung quốc, Myanma sang Thái Lan, từ Việt Nam qua Campuchia và Trung quốc và cả từ Tây âu qua Trung đông v.v ) Các vụ cưới dâu bằng thư tín, tuyển lao động ra nước ngoài làm gia nhân hay vũ nữ rồi ép làm MD xảy ra thường xuyên Nạn nhân là hàng triệu phụ nữ và trẻ em ()
Đây là hình thức thực dân mới vô cùng dã man mà không chỉ các nước bị bóc lột phải chống trả mà ngay cả tại các nước đang bóc lột những phong trào nhân quyền đang nổi dậy
để chống đối
Các hình thức ăn chơi sa đọa, những gái bán dâm hết sức ngạo mạn từ Đông âu, dường như
là hậu quả của một cuộc khủng hoảng “tổng hợp” từ kinh tế, chính trị tới đạo lý
2 TÌNH HÌNH MD Ở VN HIỆN NAY
Con số ước lượng 50.000 gái MD (có người còn cho là 100.000) hoặc mấy trăm điểm chứa chính thức hay trá hình v.v không phải là điều phải xác định cụ thể Báo chí đã và tiếp tục mô tả khá kỹ
Vấn đề ở đây là phân tích hiện trạng, tìm hiểu các nguyên nhân để tìm các biện pháp thích hợp
2.1 Mãi dâm và các vấn đề liên hệ đang đến mức báo động
MD không chỉ tràn ngập ở Tp Hồ Chí Minh, mà ở các tỉnh thành lớn như Cần Thơ, Vũng Tàu, Đà Nẵng MD ở Thủ Đô Hà Nội cũng mang những đặc tính chung của MD Tp Hồ Chí Minh
“Sex Tours” không chỉ từ nước ngoài vào mà sex tours từ Cần Thơ, Tp Hồ Chí Minh tới Vũng Tàu hay ngược lại cho khách hàng nội địa cũng khá ồ ạt
Gái MD thuộc đủ hạng người : phụ nữ, thiếu nữ nghèo đứng đường để kiếm khách, gái choi choi đua đòi và con nhà sang trọng gia giáo thách thức với xã hội
Khách làng chơi không chỉ có người nước ngoài, thanh niên mới lớn tò mò mà đủ hạng người từ chú xích lô nghèo vào xóm Cây Điệp tới các ông Giám đốc được bảo vệ kỹ trong các vi-la sang trọng Dù muốn dù không, có thể nói MD gắn liền với cuộc khủng hoảng ăn chơi xả láng của một tầng lớp mới có quyền và tiền
Hình thức tổ chức MD cũng đa dạng từ những “nhà trọ” trong khu xóm bình dân, các nhà khách mini và khách sạn lớn Bia ôm và vũ trường là các nơi tạo điều kiện hẹn hò Khó đột nhập nhất là các phòng khách được che dấu kỹ bên trong các cơ quan nhà nước kín cổng cao tường
Rất khó phòng chống MD vì như ở khắp nơi trên thế giới MD được dung túng nếu không phải do người có quyền cũng do người có thế Nó gắn liền với nạn tham nhũng Cũng như
ở nơi khác, đụng vào nó là đụng cả vào mạng lưới chằng chịt mà có người gọi là “Mafia” Quán bia ôm nọ là nguồn sống của ông cán bộ hưu trí cho thuê mặt bằng Động chứa kia nhan nhản còn hoài là do anh công an địa phương thoái hóa nhắm mắt làm ngơ
2.2 Xã hội ta cũng đang trải qua một cuộc xáo trộn nhiều mặt
Không thể chỉ đổ lỗi cho du lịch và kinh tế thị trường Vi trùng chỉ có thể tấn công một cơ thể suy yếu
Chúng ta đang trải qua một cuộc xáo trộn toàn diện từ kinh tế, quản lý đến đạo lý Phân hóa xã hội nghèo đói, thất nghiệp, sơ hở trong quản lý, tham nhũng, mất lòng tin, các giá trị đạo lý, xã hội bị phá hủy Đồng tiền ngự trị
Với quá trình mở cửa và sức hấp dẫn của đời sống vật chất xa hoa, tất cả đóng góp vào sự bùng nổ của MD và các vấn đề xã hội có liên quan như Sida chẳng hạn