TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI - CƠ SỞ II --- ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN Tên đề tài: VAI TRÒ CỦA THÔNG TIN TRONG VIỆC NÂNG CAO NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY Giảng vi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI - CƠ SỞ II
-
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
SINH VIÊN
Tên đề tài:
VAI TRÒ CỦA THÔNG TIN TRONG VIỆC NÂNG CAO NHẬN THỨC
CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY
Giảng viên hướng dẫn: ThS Vũ Thị Hiên Sinh viên thực hiện: 1 Võ Trí Nhân
Lớp: Cầu Đường Bộ 2 – K53
2 Huỳnh Thị Kiều Nga
3 Ngô Thị Dung Lớp: Kế toán tổng hợp – K52
TP Hồ Chí Minh - 2013
Trang 2Trong suốt quá trình thực hiện đề tài nói trên, nhóm chúng tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm và ủng hộ, giúp đỡ tận tình của thầy cô, anh chị em
và bè bạn Bên cạnh đó, để hoàn thành tốt đề tài, nhóm chúng tôi không quên sự tạo điều kiện của phía nhà trường ĐH Giao thông vận tải – Cơ sở 2 cũng như Bộ Môn Cơ Bản
Ngoài ra, nhóm cũng xin gửi lời tri ân chân thành nhất đến cô Vũ Thị Hiên, là giảng viên hướng dẫn cho đề tài này Nhờ có cô hết lòng chỉ bảo mà nhóm đã hoàn thành đề tài đúng tiến độ và giải quyết tốt những vướng mắc gặp phải Sự hướng dẫn của cô đã là kim chỉ nam cho mọi hành động của nhóm và phát huy tối đa được mối quan hệ hỗ trợ giữa thầy và trò trong môi trường giáo dục
Lời cuối, xin một lần nữa gửi lời biết ơn sâu sắc đến các cá nhân, các thầy
cô đã dành thời gian chỉ dẫn cho nhóm Đây chính là niềm tin, nguồn động lực
to lớn để nhóm có thể đạt được kết quả này
Nhóm tác giả đề tài
Võ Trí Nhân Ngô Thị Dung Huỳnh Thị Kiều Nga
Trang 3TRANG LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, TỔNG QUAN VỀ THÔNG TIN VÀ NHẬN THỨC 1.1 KHÁI QUÁT VỀ THÔNG TIN - CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 5
1.2 LỊCH SỬ TIẾN TRIỂN CỦA CÁC HÌNH THỨC THÔNG TIN 7
1.3 CÁC CẤU TRÚC THU NHẬN VÀ CHỌN LỌC THÔNG TIN 8
1.4 VAI TRÒ CỦA THÔNG TIN ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG XÃ HỘI 12
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NHẬN THỨC THÔNG TIN CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY 2.1 THỰC TRẠNG NHẬN THỨC THÔNG TIN CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY 17
2.2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG 25
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP GIA TĂNG KHẢ NĂNG TIẾP NHẬN THÔNG TIN ĐỂ NÂNG CAO NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN 3.1 ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HỌC TẬP CHỦ ĐỘNG 29
3 2 ỨNG DỤNG GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ TRONG GIẢNG DẠY 30
3.3 XÂY DỰNG TRANG MẠNG KHOA HỌC TRỰC TUYẾN 31
3 4 NÂNG CAO PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP TÍCH CỰC CHO SINH VIÊN 32
3.5 PHÁT TRIỂN CÁC KỸ NĂNG CẦN THIẾT 33
3.6 NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ PHÁP LUẬT VÀ SỨC KHỎE SINH SẢN CHO SINH VIÊN 36
KẾT LUẬN 39
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
Trang 4Tên bảng biểu và hình vẽ Trang
Biểu đồ 2.1: Nhận thức của sinh viên về việc học 19 Biểu đồ 2.2: Nhận thức về việc tự học của sinh viên 21 Biểu đồ 2.3: Đánh giá của sinh viên về việc sử dụng hiệu quả
nguồn thông tin trong quá trình học tập theo hệ tín chỉ 26
Trang 5
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI - CƠ SỞ II
-
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
SINH VIÊN
Tên đề tài:
VAI TRÒ CỦA THÔNG TIN TRONG VIỆC NÂNG CAO NHẬN THỨC
CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY
Giảng viên hướng dẫn: ThS Vũ Thị Hiên Sinh viên thực hiện: 1 Võ Trí Nhân
Lớp: Cầu Đường Bộ 2 – K53
2 Huỳnh Thị Kiều Nga
3 Ngô Thị Dung Lớp: Kế toán tổng hợp – K52
TP Hồ Chí Minh – 2013
Trang 7MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Để có thể bắt kịp với thời đại mới, tốc độ phát triển của xã hội, thực tiễn
đã đặt ra cho bản thân con người những yêu cầu cấp bách về việc tiếp cận thông tin Vai trò quan trọng của thông tin mang đến cho con người đó là việc làm tăng
sự hiểu biết khoa học, sự hiểu biết về thế giới Đây chính là nguồn gốc nhận thức của con người hiện đại và cũng là cơ sở của các quyết định Mặt khác, năng lực thông tin là một chìa khóa vạn năng đưa con người đến với cánh cửa tri thức
và mở ra cơ hội nghề nghiệp cho bản thân họ Thông tin thực sự đã mang lại rất nhiều lợi ích không chỉ cho mọi người mà còn cho cả sinh viên, học sinh; khi mà các kiến thức khoa học, nhận thức ngành nghề, chuyên môn cũng được cập nhật liên tục và tích lũy nhiều hơn, ngày càng phổ cập thông qua các phương tiện truyền thông hay sách báo Do đó để tồn tại và phát triển kịp với thời đại thì ta cần phải tiếp cận nhiều nguồn thông tin và ngày nay, nó đã trở thành một nhu cầu thường xuyên trong cuộc sống
Chính vì thông tin là một hành trang không thể thiếu đối với sinh viên nói riêng và con người nói chung nên cần đánh giá rõ vai trò của thông tin, sự chi phối của thông tin đối với quá trình phát triển nhận thức, tư duy của sinh viên Ngoài ra, cần thiết phải định hướng hành động của sinh viên trong thực tế; đưa
ra một số bài học, kinh nghiệm tiếp thu thông tin trong môi trường giáo dục để sinh viên có thể dễ dàng nắm bắt, rèn luyện và nâng cao tầm nhận thức của mình
Mặt khác, môi trường làm việc, học tập ngày càng hiện đại và năng động hơn thì sức ép, sự canh tranh ngày càng gay gắt, đòi hỏi khả năng thích ứng, tự tìm tòi thông tin và trao dồi các kỹ năng cao Bản thân mỗi cá nhân phải biết tìm kiếm các thông tin cho phù hợp với mục đích của mình, biết cách xử lý chúng và vận dụng vào từng trường hợp cụ thể Nhưng thực trạng ngày nay, phần lớn đầu
Trang 8ra sinh viên đều kém thích ứng và hạn chế về khả năng thu nhận nguồn thông tin
mới Sinh viên chưa hình thành cho mình một “bộ máy sàng lọc” những nguồn
thông tin từ bên ngoài Bởi vì trong thực tế thông tin luôn tồn tại hai mặt đối lập của nó Nguồn thông tin có lợi sẽ giúp sinh viên chủ động trong học tập, tăng khả năng tiếp thu, sáng tạo; đồng thời khả năng tư duy, nhận thức sẽ trở nên nhạy bén và đúng đắn hơn Tuy nhiên, nguồn thông tin không phù hợp sẽ làm mất thời gian, hạn chế hiệu quả đào tạo, ảnh hưởng đến việc tiếp thu của sinh viên Từ đó kéo theo những mặt tiêu cực khác thể hiện thông qua các hành động sai lệch khi thiếu kiến thức Vì vậy, sinh viên cần rèn luyện kỹ năng nhận dạng nhu cầu thông tin cho bản thân, định vị nguồn thông tin phù hợp để nhận thức
ngày càng nâng cao hơn Do đó, chúng tôi chọn vấn đề “Vai trò của thông tin trong việc nâng cao nhận thức của sinh viên hiện nay ” để nghiên cứu
2 MỤC ĐÍCH ĐỀ TÀI
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của thông tin, trên cơ sở đó đánh giá thực trạng nhận thức thông tin của sinh viên hiện nay, đưa ra biện pháp
nâng cao khả năng tiếp nhận thông tin của sinh viên
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của thông tin với nhận thức
Phạm vi nghiên cứu: Sinh viên các trường Đại học Số liệu trong 5 năm
trở lại đây
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu dữ liệu thứ cấp được sử dụng để nghiên cứu cơ
sở lí luận cho việc đề xuát các phương án tiếp cận các nguồn thông tin mới một cách hiệu quả Phương pháp này được sử dụng để xem xét, nghiên cứu và hệ thống hóa tất cả các kết quả nghiên cứu, những nhận định mang tính khoa học cũng như các kết quả điều tra của các tổ chức uy tín có liên quan đến đề tài Trên
cơ sở đó hiểu được xu hướng tiếp cận thông tin hiện nay để áp dụng vào việc
Trang 9xây dựng và đề xuất các phương án thiết thực nhằm góp phần nâng cao nhận thức của sinh viên để phù hợp với xu hướng hiện đại ngày nay
Ngoài ra, phương pháp thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp cũng góp phần quan trọng trong việc tìm hiểu và tổng hợp các vấn đề có liên quan đến việc tiếp cận các nguồn thông tin và ảnh hưởng của nó đới với nhận thức của
sinh viên
5 TÍNH MỚI CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài mang đến cái nhìn sâu sắc bản chất hơn về vai trò của thông tin, xác định vị trí không hề nhỏ của thông tin để sinh viên có sự nhìn nhận đúng mực Song, đề tài cũng chỉ ra những sai lầm cơ bản nhất của sự thu nhận thông tin phiến diện, hạn chế, yếu kém ở sinh viên làm nền tảng để đề tài có thể mở rộng thêm các kỹ năng chọn lọc, kỹ năng hiểu bài, tư duy phản biện logic cho sinh viên
6 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài bao gồm 3 chương 12 tiết Ngoài ra còn phần mục lục và tài liệu tham khảo
Trang 10Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, TỔNG QUAN VỀ THÔNG
về giới hạn Theo từ điển Tiếng Việt: Thông tin là “Tin tức về các sự kiện diễn ra trong thế giới xung quanh”[13, tr1088] Do vậy theo ý kiến khách quan của nhóm tác giả, để có thể làm rõ nhất bản chất chung của thông tin chúng ta phải tiếp cận với nó từ góc độ triết học, cũng là nghĩa là chúng ta đang tiếp cận với
khái niệm thông tin ở hai mặt: bản thể luận và nhận thức luận
* Mặt bản thể luận của thông tin
+ Thứ nhất, thông tin là một hiện tượng vốn có của vật chất, là thuộc tính khách quan của thể giới vật chất Nếu trong một sự vật đang diễn ra những biến
đổi phản ánh lại sự tác động của một sự vật khác, thì có thể nói, sự vật thứ nhất đang trở thành vật thể mang thông tin về sự vật thứ hai Nội dung của thông tin chính là những thuộc tính, tính chất vốn có của các sự vật hiện tượng được bộc
lộ ra, thể hiện ra thông qua tác động qua lại của sự vật ấy với các sự vật khác Thông tin vì thế cũng chính là sự phủ định, là sự xóa bỏ tính không khác nhau
+ Nội dung thứ hai của mặt bản thể luận của khái niệm thông tin là: thông tin luôn gắn liền với quá trình phản ánh Phản ánh là năng lực của hệ thống vật
chất này tái hiện ở trong nó (dưới dạng ít hay nhiều đã biến đổi) những đặc điểm, thuộc tính của một hệ thống vật chất khác khi nó chịu tác động của hệ thống vật chất ấy Những dấu ấn để lại chính là thông tin của hệ thống vật chất này đối với hệ thống vật chất khác Và sự phản ánh của vật chất chính là sự phản
Trang 11ánh của thông tin Theo lẽ đó, thông tin không tồn tại chung chung mà là thông
tin cụ thể về sự vật A với sự vật B nào đó
* Mặt nhận thức luận của thông tin
Ta thấy rằng, bản thân thông tin đã là hiện tượng vốn có của thế giới vật chất Vì vậy thông tin trở thành đối tượng được nghiên cứu trực tiếp, tổng quan của các ngành điều khiển học, lý thuyết thông tin và tin học Xét trên góc độ đánh giá vai trò thông tin, E.Pietch cho rằng “Thông tin là một sản phẩm mà với
ý nghĩa, công dụng của nó có thể xem ngang hàng với trữ lượng nguyên liệu của nước đó”; theo R.Esbi cho rằng “thông tin truyền đưa độ đa dạng”; hoặc “thông tin là nội dung thế giới bên ngoài thể hiện bên trong sự nhận thức con người”
(N.Viner) Nhưng để tiếp cận với bản chất chung nhất của thông tin – hiện tượng vốn có của thế giới vật chất thì ta luôn cần đến vai trò khái quát của triết học
Sự phát triển của khoa học hiện đại cùng lý thuyết phản ánh của Lenin, đặc biệt là lý thuyết thông tin, điều khiển học và tin học, chúng ta dần tiếp cận
được bản chất thông tin chính là “cái đa dạng được phản ánh” Như vậy, thông
tin đi liền với sự phản ánh, thông tin không là phản ánh nhưng cũng không nằm bên ngoài phản ánh
1.1.2 Khái niệm năng lực thông tin
Nói đến khả năng làm chủ thế giới thông tin, làm chủ nguồn tri thức của nhân loại, các nhà khoa học – đặc biệt là các nhà giáo dục, các chuyên gia thông tin thư viện rất quan tâm đến khái niệm năng lực thông tin
Năng lực thông tin gắn liền với khả năng có thể tự nghiên cứu độc lập trong môi trường làm việc và có thể gắn với việc tự học tập, trao dồi nghiên cứu trong suốt cuộc đời Theo hiệp hội Các thư viện chuyên ngành và các trường Đại
học Hoa Kỳ đã nhận định rằng: “ Người có năng lực thông tin là người đã học được cách thức để học Họ biết cách học bởi họ nắm được phương thức tổ chức tri thức, tìm kiếm thông tin và sử dụng thông tin, do đó những người khác có thể
h ọc tập được từ họ Họ đã được chuẩn bị khả năng có thể học tập suốt đời bởi lẽ
Trang 12họ luôn luôn tìm được nguồn thông tin cần thiết cho bất kỳ quyết định hay nhiệm
vụ, công việc nào một cách chủ động nhất”
Một trong những đặc điểm quan trọng của người có năng lực thông tin là khả năng nhận biết nhu cầu thông tin của bản thân Tức là họ dễ dàng xác định được vấn đề mà họ đang cần quan tâm, cũng như phân tích, diễn đạt chúng thành các thuật ngữ tìm kiếm thông tin Nói cách khác, họ cần chủ động làm chủ lĩnh vực mình quan tâm, có khả năng trình bày các nội dung cụ thể Kinh nghiệm bản thân khó mà đem lại cho họ sự hiệu quả cao trong hoạt động làm việc
1.2 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC HÌNH THỨC THÔNG TIN
Các hình thức thông tin được đánh dấu khi có sự xuất hiện của “phong hỏa đài” (Trung Quốc) hoặc “quang hiệu báo” (châu Âu) với những trạm nối tiếp theo khoảng cách nối thành mạng lưới truyền tin tức theo chiều dài và chiều rộng
Quan trọng hơn, ngôn ngữ ra đời khi đã xuất hiện thông tin truyền miệng Một khi đã có chữ viết thì việc lưu trữ các thông tin và việc diến đạt thông tin một cách dễ dàng Sự ra đời của nghề in đã đưa nội dung chuyển tải thông tin lên tầm vóc cao hơn qua các ấn phẩm, sách báo Đặc biệt, năm 1837: Xê-mu-en Mooc-xơ đã chế tạo máy điện báo mở đầu cho kỹ thuật điện báo Năm 1876: giáo sư vật lý A-lếch-xan Ben-lơ cùng sự hoàn thiện của nhà phát minh Thomas Edison, điện thoại ra đời nối liền mọi khoảng cách trên phạm vi quốc gia và thế giới Năm 1895: A-lếch-xan pô-pốp thí nghiệm thành công máy phát sóng dựa trên nguyên lý sóng điện từ của Hen-ric Hec-sơ tạo nền móng cho kỹ thuật thông tin vô tuyến điện.Bước vào thế kỷ 20, loài người đã có một mạng thông tin xuyên trong lòng đất (cáp ngầm), dựng trên tầm cao (dây trần và anten) và bay trong không gian
Vào nửa sau thế kỷ 20, trên thế giới, thông tin Bưu điện đã xuất hiện sự
“bùng nổ” trong khoa học kĩ thuật Vệ tinh nhân tạo đầu tiên của Liên Xô được
Trang 13phóng ngày 4/10/1957, năm 1962 vệ tinh Telstar đã ra đời ở Mỹ mở ra liên lạc bằng vệ tinh với 23 nước châu Âu và 23 thành phố nước Mỹ Ngày nay có hàng trăm vệ tinh thông tin bay trên bầu trời gồm cả vệ tinh địa tĩnh và vệ tinh di động Những năm gần đây, sự ra đời của cáp sợi quang cũng đã mang lại cho con người bước tiến vượt bậc trong truyền báo thông tin.
1.3 CÁC CẤU TRÚC THU NHẬN VÀ CHỌN LỌC THÔNG TIN
Để góp phần hiểu rõ hơn sự tác động của thông tin với nhận thức, nhóm tác giả xin được làm rõ các cấu trúc thu nhận, chọn lọc thông tin thông qua: sơ
đồ xen phủ trục truyền thông & cấu trúc phân tầng hệ thống tiếp thu thông tin
1.3.1 Sơ đồ xen phủ trục truyền thông
NHÂN TỐ CHI PHỐI
Giai đoạn tiền nhận thức:
Đặt ra nhu cầu nhận thức cũ phải được bổ sung bằng thông tin mới để hình thành nhận thức mới
Ngoại cành, môi trường tiếp xúc, yêu
cầu công việc, áp lực của tiến độ học tập
“Sự xen phủ hai nhân tố”
Giai đoạn kiến tạo nhận thức: Định hình nguồn thông tin đang cần Đây là giai đoạn có sự tiếp xúc trực tiếp với dữ liệu tri thức mới
Môi trường học tập, sách vở, đồng
nghiệp, môi trường giáo dục, các
phương tiện truyền thông
“Sự xen phủ hai nhân tố”
Nhận thức sơ bộ thông tin:
Là giai đoạn mang lại những sự hiểu biết đầu tiên nhưng chưa được đối chiếu với tri thức đúng đắn Ở giai đoạn này, tầm hiểu biết tạm thời được nâng cao nhưng sự tin tưởng về
nhận thức vẫn chưa hoàn thiện
Kỹ năng nghe nói đọc hiểu
“Sự xen phủ hai nhân tố”
Nhận thức cao cấp Hình thành nguồn thông tin tương đối đúng đắn và phù hợp
Sự phản biện của các tri thức khác, nhận
thức khác, sự cải biến tri thức của các
nguồn thông tin
Trang 141.3.2 Cấu trúc phân tầng hệ thống tiếp thu thông tin
+ Nấc 1: Là nguồn thông tin ngoại biên với các đường dẫn nối giúp gợi
mở và tiếp nhận Đây là thời điểm thông tin được chọn lựa nhưng chưa có sự sàng lọc; là số thông tin khách quan mà thụ thể tiếp nhận không thể tránh khỏi
Nó được các giác quan tiếp nhận nhưng chưa thể tiếp thu vì thiếu các kỹ năng
cho phép
+ Nấc 2: Các bộ máy “lọc” dữ liệu ngoại biên trong não bộ bắt đầu hoạt
động, bước đầu đã định vị được thông tin “hợp số khóa” với “ổ khóa” tương ứng Đây là nguồn thông tin cần thiết được xác định sẵn nhu cầu sử dụng và mức độ chọn lọc vừa phải sao cho phù hợp với thụ thể và năng lực tiếp nhận
NN
+ Nấc 3: Thông tin được trí óc và não bộ phân dạng qua tri giác, đây là thời
điểm xảy ra phản ứng ngược đồng thời với việc não đưa ra tín hiệu chấp nhận cho việc thu nhận hay không và đào thải thông tin dư thừa hay không
HIỆU ỨNG THẮT CỔ CHAI THÔNG TIN
Trang 15+ Nấc 4: Thông tin được phân dạng bước đầu hoàn chỉnh Tại giai đoạn
này, xảy ra sự hòa hợp của thông tin tương ứng với nguồn thông tin khác đã có sẵn, chúng đối chứng và phản biện cho nhau Hình thành nên logic phán đoán và
đấu tranh logic học
* Hiệu ứng thắt cổ chai thông tin
Từ nấc 1 đến nấc 4 diễn ra một trình tự thời gian khá dài cho việc gợi nhớ
và lưu giữ thông tin Điểm thắt nút là thời điểm quyết định sự thành bại khi thông tin có thể được nhân lên trong tiềm thức hoặc chính nó sẽ bị mất đi bởi năng lực não bộ không đủ để tiếp nhận hoặc chính nó không tạo ra “sức hút” để
có thể được giữ lại
+ Nấc 5: Thông tin đã được giữ lại và nhân lên trong một khối cấu trúc
thông tin miền Từ thông tin miền, nếu có phản ứng hay xúc tác kích thích thì tại
vị trí kích thích, não bộ sẽ gợi nhớ thông tin đã được hình thành như thế nào; đưa đến sự phân tích và phối hợp với các dạng thông tin khác
+ Nấc 6: Đây là giai đoạn tác động nhận thức: thông tin trở thành bất di bất dịch (tuy chỉ tương đối) nhưng vẫn có thể tác động đến nhận thức để giúp nhận thức xử lý được các vấn đề liên quan đến thông tin ấy Đây là giai đoạn kết quả của thông tin đến tư duy vì thông tin tạo đường dẫn có chung điểm giao nhau với các đường dẫn của các loại thông tin khác
+ Cấu trúc có dạng rộng về phía ngọn, hẹp dần đến điểm thắt nút biểu thị
sự siết chặt lượng thông tin dịch chuyển vi mô trong não bộ càng được thu hẹp
và chỉ phần nhỏ tồn tại để phân nhánh đến các thông tin khác Ngoài ra, sự rộng dần từ phía điểm thắt nút đến đáy chỉ sự thông thoáng lưu thông của dạng tri thức, thông tin đã được chọn lọc Tuy nhiên, lượng tri thức phát sinh này vẫn kém nguồn thông tin ngoại biên ở phần đỉnh (cạnh dưới bé hơn cạnh trên)
Trang 161.4 VAI TRÒ CỦA THÔNG TIN VỚI ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
1.4.1 Thông tin là nguồn lực của nền kinh tế mới – nền kinh tế tri thức
Hiện nay, trên thế giới đang tồn tại một sự khác biệt rất lớn giữa các khu vực và giữa các nước về hai tham số cơ bản là: trình độ khoa học – giáo dục và khả năng với tới thông tin – tri thức 90% số nhà khoa học trên thế giới hiện đang làm việc ở khoảng 20 nước công nghiệp phát triển, 93% số bằng phát minh sáng chế chế được ghi nhận là của các nước này Trong khi đó tại 150 quốc gia còn lại tiềm lực khoa học chỉ chiếm có chưa đầy 10% Đây là sự mất cân đối chính và phản ánh tính không đồng đều trong quá trình phát triển
Hơn 30 năm trước, nhà nghiên cứu D Bell (1973) đã tiên liệu về vị trí và vai trò của nguồn lực thông tin và tri thức sẽ thay chỗ của nguồn lực lao động và tiền Là loại tài sản vô hình, thông tin và tri thức khác với các nguồn lực vật chất
truyền thống ở những đặc điểm nổi trội, ví như: “không bị giới hạn về trữ lượng; trong quá trình sử dụng giá trị của thông tin không bị “hao mòn” hoặc bị mất đi thậm chí có thể được làm giàu hơn”
Kể từ khi nền khoa học thế giới trưởng thành với thẩm quyền là “khoa học lớn” (Theo Derek J de Solla Price), lượng thông tin của nhân loại phát triển theo tốc độ hàm mũ Với sự phát triển của mạng Internet, không gian thông tin của nhân loại được mở rộng và lớn hơn rất nhiều Ngày càng có nhiều trang Web được xây dựng trên mọi lĩnh vực để đăng tải và truyền thông tin Các bản tin, các loại ấn phẩm, các cơ sở dữ liệu, các cuộc thảo luận và tham vấn được xuất hiện trên mạng Internet Mọi hoạt động trong xã hội hiện đại điều phải dựa trên thông tin Ngày nay, chúng ta càng thấy thấm thía hơn lời tiên tri của N Winear – cha đẻ của ngành Cybernetics cách đây nửa thế kỷ, “Cuộc sống có chất lượng
là cuộc sống với thông tin” Trong thời đại thông tin, lợi thế so sánh sẽ thuộc về quốc gia nào có năng lực tổ chức khai thác với hiệu quả cao nhất các nguồn thông tin và tri thức hiện có của nhân loại
Trang 17Rõ ràng, trong thời đại thông tin, nguồn tài nguyên quý giá và trọng tâm cạnh tranh để giành ưu thế trên thế giới của một quốc gia đã được chuyển từ các nhân tố hữu hình có tính vật chất sang phương thức kiểm soát, thu thập, xử lý và khai thác các nguồn thông tin quốc gia và quốc tế Để có sức cạnh tranh trong môi trường của nền kinh tế tri thức, điều cốt yếu cho mỗi quốc gia là phải có năng lực tiếp thu thông tin, dựa trên thông tin sáng tạo ra nhiều tri thức và tích cực đổi mới Do đó, thông tin là thứ tài sản quý báu nhất, làm tiền đề, làm nền móng và là nguồn lực tối tân nhất cho sự phát triển của quốc gia trên mọi mặt
1.4.2 Vòng tuần hoàn của thông tin khoa học – kỹ thuật – sản xuất:
Thông tin là một trong những yếu tố cơ bản và cần thiết trong sản xuất và đời sống Một mặt, nhu cầu đặt ra cho việc sản xuất luôn ngày càng nâng cao, khuynh hướng sản xuất cũng ngày càng mở rộng; mặt khác, các vật liệu sản xuất mới đang dần xuất hiện càng nhiều, các thiết bị mới với nhiều tính năng cũng được nâng cấp hơn Như vậy, thông tin giúp cho con người đổi mới, hoàn thiện các quy trình và các phương pháp sản xuất hiện hành để phát triển kinh tế và nâng cao sức sản xuất
Từ giữa thế kỉ XX, nền sản xuất công nghiệp và kinh tế hàng hóa đã phát triển mạnh mẽ, nhu cầu thông tin và xử lý thông tin đã bắt đầu nảy sinh nhanh chóng Sản xuất cũng đòi hỏi thông tin Nhu cầu, giá cả và kỹ thuật đáp ứng kịp thời, do đó vai trò của thông tin càng quan trọng Trong cách mạng khoa học, công nghệ khoa học kỹ thuật và sản xuất có mối quan hệ khăng khít với nhau tạo nên chu trình “khoa học – kỹ thuật – sản xuất” Trong đó mỗi bộ phận vừa là tiền đề, vừa là điều kiện thúc đẩy các điều kiện khác phát triển mà thực chất là
sự trao đổi thông tin Có thể nhận định khách quan rằng, quá trình trao đổi thông tin đã phần nào phản ánh sự vận động của thông tin từ khoa học đến sản xuất và
từ sản xuất đến khoa học
Trang 181.4.3 Tầm quan trọng của thông tin trong nghiên cứu khoa học
Vai trò của thông tin được thể hiện trong chính quy luật nội tại của khoa học – tính kế thừa và tính quốc tế của nó Một phát minh khoa học là sản phẩm lao động của nhiều người, nhiều thế hệ chứ không phải một cá nhân nào đó trong một thời điểm nhất định nào đó Newton đã nói rằng: “Nửa tôi nhìn được
xa hơn người khác phần nào đó là do tôi được đứng trên vai những người khủng lồ” Thế hệ sau có sự chọn lọc, hệ thống hóa thế hệ trước để phát triển thành những quy luật mới Quy luật mới này là sản phẩm khoa học, cũng là thông tin khoa học mới Do đó, hoạt động nghiên cứu khoa học là hoạt động đặc thù của con người nhằm thu hút nhiều thông tin khoa học mới dựa trên cơ sở những thông tin xã hội mà loài người đã tích lũy được
Thông tin có tầm quan trong đặc biệt trong nghiên cứu khoa học vì thông tin có thể giúp cho nhà nghiên cứu biết được vấn đề nào đã được nghiên cứu, từ
đó người nghiên cứu có thể quyết định xem có nên tiếp tục đề tài đó hay không Mặt khác, bằng cách tham khảo những kết quả nghiên cứu trước, nhà nghiên cứu có thể dẫn giải cho đề tài của mình đồng thời tiết kiệm được thời gian, không phải đi nghiên cứu lại… Nghiên cứu khoa học là quá trình thu thập và xử
lý thông tin vì thông tin cần thiết trong tất cả các trường hợp sau:
Tìm kiếm chủ đề nghiên cứu Nhận dạng vấn đề nghiên cứu Xác nhận lý do nghiên cứu Đặt giả thiết nghiên cứu
Tìm hiểu lịch sử nghiên cứu Tìm hiểu luận cứ để chứng minh
giả thuyết Xác định mục tiêu nghiên cứu Xác nhận tính đúng đắn vấn đề
Trang 191.4.4 Vai trò năng lực thông tin đối với sinh viên đại học
Sinh viên ngày nay đang được học tập trong một môi trường rộng mở và linh hoạt, nơi mà các kiến thức và kỹ năng xử lý, sử dụng thông tin được xem như nhân tố quan trọng hàng đầu Nhà khoa học Rader (1996) đã khuyến cáo như sau: "Giáo dục cần phải được đổi mới thông qua các hình thức học tập mới
để giúp sinh viên trở nên tích cực và chủ động hơn trong kỷ nguyên thông tin Theo đó:
+ Việc học tập nên dựa trên các nguồn thông tin về thế giới thực
+ Việc học tập nên hướng vào vấn đề "tương tác" và "tích hợp", hơn là bị động và manh mún
+ Việc học tập phải dựa trên cơ sở "cộng tác” và nên sử dụng các công nghệ truyền thông hiện đại trong việc học tập"
Nhìn chung, sinh viên sẽ chỉ giữ lại một chút gì nghe được trên lớp hoặc ở các môi trường học tập khác nếu như sinh viên không thể tham gia một cách tích cực vào các quá trình học tập, áp dụng tri thức mới vào việc giải quyết các vấn
đề cụ thể Chính vì điều này, phương pháp giáo dục cũng cần phải được nâng cấp và đổi mới nhằm đưa sinh viên trở thành trung tâm của quá trình dạy và học Eskola (1998), gọi đây là "activating teaching" (giảng dạy tích cực), nơi sinh viên không phải là những người tiếp nhận một cách thụ động tri thức, mà phải là người xử lý và tạo ra tri thức một cách chủ động
Chính tính tất yếu dẫn tới tính cấp thiết của năng lực thông tin trong việc cung cấp cho sinh viên khả năng học tập suốt đời và xu thế tích hợp năng lực thông tin vào các tiêu chí tốt nghiệp của sinh viên (theo Doskatsch, 2001):
"Những điều đó sẽ xác định đặc điểm năng lực thông tin của sinh viên Với tư
cách là một thành viên của một cộng đồng học thuật, sinh viên thường có những nhu cầu thông tin hết sức phức tạp về diện bao phủ của nội dung, tính xác thực,
độ chính xác, tính cập nhật của nguồn tin"
Trang 20Chương 2: THỰC TRẠNG NHẬN THỨC THÔNG TIN CỦA
2.1 THỰC TRẠNG NHẬN THỨC THÔNG TIN CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY
Những năm qua, hoạt động thông tin ở nước ta có bước phát triển mạnh
mẽ, toàn diện cả về tính chất, nội dung, hình thức và loại hình Việc tiếp cận thông tin không chỉ là một quyền của con người mà còn là một nhu cần cấp thiết đang được xã hội quan tâm Đây là tiền đề để phát triển năng lực tư duy và nhận thức của con người và đặc biệt là sinh viên
Hiện nay, sinh viên có rất nhiều cách để thu thập các nguồn thông tin trên
từ bên ngoài như thông qua website, facebook, blog, truyền thông, thu thập các nguồn thông tin sơ cấp, thứ cấp…và đặc biệt là việc thu thập thông tin qua các phương tiện công nghệ thông tin ngày càng trở nên phổ biến Lượng thông tin sau khi được thu thập cần phải được xử lí; tùy thuộc vào từng loại thông tin và mục đích sử dụng mà ta có các hình thức xử lí khác nhau
Tuy nhiên, với tốc độ phát triển hiện đại ngày nay thì việc tiếp cận các nguồn thông tin vẫn còn thiếu cân đối Đó là sự chồng chéo về nội dung, hình thức, đồng thời là sự thiếu hụt về thông tin ở một số lĩnh vưc, một số địa bàn dân cư Nhu cầu thông tin của một số bộ phận sinh viên vẫn còn chưa được đáp ứng; cơ hội tiếp cận thông tin ở một số lĩnh vực còn hạn chế và không đồng đều, đặc biệt là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng ven biển, hải đảo Vì vậy, việc tiếp cận các nguồn thông tin sai lệch ngày càng phổ biến, công tác quản lí thông tin còn nhiều thiếu sót và khuyết điểm Do đó, đòi hỏi mỗi người sinh viên cần phải cẩn trọng hơn trong quá trình thu thập và xử lí thông tin để có được nguồn thông tin hiệu quả cho bản thân
Trang 212.1.1 Thực trạng về thông tin khoa học
Tri thức khoa học đóng vai trò to lớn trong việc bồi dưỡng phẩm chất sinh viên Nhận thức được tầm quan trọng này, ngành giáo dục đào tạo nước ta, đặc biệt là giáo dục ở bậc đại học, không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng để đào tạo ra những nhà khoa học giỏi về chuyên môn, có năng lực tư duy phát triển ở trình độ cao nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và xây dựng chủ
nghĩa xã hội của đất nước
* Mặt tích cực của việc tiếp nhận thông tin khoa học
Với sự năng động, sáng tạo và ham học hỏi, sinh viên cũng đã không ngừng tự đổi mới phương pháp học tập của mình sao cho lượng kiến thức mà họ tiếp thu được là tối đa nhất Họ không chỉ học tập trong một phạm vi hẹp ở trường, lớp mà còn luôn phát huy tinh thần học tập ở mọi nơi, mọi lúc Nhiều sinh viên ngoài việc học tập trên lớp còn tham gia vào các cuộc thi tìm hiểu kiến thức nhằm tăng khả năng học vấn của mình Đặc biệt hơn, có một số trường Đại học, Cao đẳng tổ chức nhiều sân nhằm bổ sung kiến thức cuộc sống cho sinh
viên trong trường Chương trình “Mở cửa kiến thức”- do trường ĐH Giao thông
vận tải - Cơ sở II tổ chức đã là một chương trình nổi bật, thu hút được sự quan tâm của nhiều sinh từ các trường bạn trong khu vực Quận 9 và Quận Thủ Đức -
TP HCM
Việc tham gia làm đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên ngày càng trở nên phổ biến Đã có nhiều sinh viên nhận được bằng phát minh, sáng chế; và không
ít trong số những phát minh ấy được áp dụng, được biến thành những sản phẩm
hữu ích trong thực tiễn
* Mặt hạn chế của việc tiếp nhận thông tin khoa học
Tuy nhiên, ngoài những biểu hiện tích cực trên, còn nhiều hạn chế mà sinh viên thường vấp phải do việc sử dụng không đúng và hợp lí những nguồn thông tin hiện có Vì vậy đa phần nhận thức sinh viên vẫn còn nhiều yếu kém, cụ thể như:
Trang 22+ Nhiều sinh viên vẫn chưa biết xác định cho mình thế nào là cách học đem lại hiệu quả tối ưu nhất Qua khảo sát thực tiễn, đa số sinh viên đều hiểu được vai trò của tự học Tuy nhiên, sức ì và tính thụ động ở sinh viên vẫn còn khá lớn Số liệu khảo sát cho thấy có đến 75% ý kiến cho rằng sinh viên không
có thói quen tự học, chuẩn bị bài trước khi đến lớp
+ Qua khảo sát có thể nhận thấy cách phân bổ thời gian của sinh viên cho các hoạt động của mình như sau:
Biểu đồ 1: Nhận thức của sinh viên về việc học
Biểu đồ 1 cho thấy phần lớn sinh viên (45%) hiểu rõ mục đích của việc học nên thời gian đầu tư học tập, tìm kiếm tài liệu, đi làm thêm để nâng cao kiến thức cho bản thân họ được chiếm phần lớn Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận không nhỏ (26%) sinh viên có xu hướng chây lười và kém tập trung vào vấn đề học tập
Dễ thấy thực tế hiện nay là sinh viên rất lười đọc sách Mặc dù đã được giáo viên hướng dẫn cụ thể từng nội dung bài học nhưng khi được hỏi về việc này, số đông sinh viên đều lúng túng Trong khi đó, đọc sách chính là cách để tiếp cận thông tin hiệu quả và nhanh chóng; đặc biệt đối với bậc ĐH, việc đọc sách là cách tăng chuyên môn, tăng tri thức về nghề nghiệp thực sự hiệu quả Qua một vài số liệu khảo sát cũng cho thấy: 85% cho rằng sinh viên có đọc tài
Trang 23liệu nhưng đó chỉ là một số cuốn sách chuyên ngành khi phải trình bày, báo cáo hay kiểm tra 15% còn lại cho rằng họ không đọc tài liệu tham khảo, có những sinh viên năm cuối chưa từng một lần đến thư viện tìm sách
Mặt khác, sinh viên lại có thái độ thiếu tích cực khi ngồi trên ghế giảng đường Đại học đang diễn ra một cách thường xuyên Theo số liệu khảo sát của báo Tuổi trẻ thì chỉ 30% trong số những sinh viên được hỏi có thái độ tích cực
trong học tập; có đến 60% chọn giải pháp học đối phó
* Nguyên nhân
+ Thứ nhất: Phần lớn sinh viên trước khi lên lớp không đọc trước giáo
trình, mặc dù khi giáo viên bắt đầu giảng dạy một học phần mới ngoài việc giới thiệu đề cương chương trình, hình thức thi, thời gian thi còn giới thiệu rất nhiều loại tài liệu quan trọng như tài liệu chính, tài liệu tham khảo; và đôi khi còn giới thiệu cả kinh nghiệm và phương pháp học tập của học phần đó cho học sinh - sinh viên
+ Thứ hai: số lượng sinh viên đến thư viện hoặc học tổ, học nhóm ngày
càng ít đi Qua quan sát thì thấy số lượng sinh viên đến mượn và đọc sách ở thư viện trường không nhiều Hầu hết số đến thư viện thường là những sinh viên học chăm chỉ, chịu khó Theo khảo sát mà nhóm chúng tôi đã làm, có bảng về việc
tự học ở thư viện của sinh viên ĐH Giao thông vận tải - Cơ sở 2 như sau:
Biểu đồ 2: Nhận thức về việc tự học của sinh viên
Trang 24Như vậy, mặc dù số lượng sinh viên luôn muốn học tập ở thư viên là khá cao (hơn 80/ người); nhưng số sinh viên có thói quen làm việc khác ngày càng chiếm tỉ lệ cao Điều này đòi hỏi phải xem xét lại cách tổ chức và học tập tại thư viện để sinh viên có đủ điều kiện phát triển năng lực học tập và tư duy của mình
một cách tốt nhất
+ Thứ ba: Nhiều sinh viên không có sự chuẩn bị kĩ càng các kiến thức mà
mình đang học Đến tận ngày thi, ngày kiểm tra nhiều sinh viên học vội, học
vàng rồi rủ nhau đến các điểm phô tô tìm phao cứu sinh
+ Thứ tư: Trong thời đại công nghệ hiện đại ngày nay, nhiều sinh viên tự
lựa chọn cho mình những kênh thông tin từ các trang web Điều này tuy tốt nhưng vì quá lạm dụng nên đại đa số sinh viên đã bỏ lỡ một kho tàng tri thức khoa học có giá trị - đó là những cuốn sách tham khảo Ngay cả việc tra cứu thông tin trên Internet, sinh viên vẫn chưa biết cách thu thập và xử lí những nguồn thông tin đa dạng đó như thế nào để có thể thu được những kiến thức thật
sự cần thiết và có hiệu quả
+ Thứ năm: Một trong những vấn đề quan trọng thường gặp hiện nay
chính là tình trạng học tiếng Anh của sinh viên Nhiều sinh viên đã mất kiến thức về từ vựng, ngữ pháp và kể cả mất gốc môn tiếng anh ngay từ khi còn học THPT
Khách quan mà nói sinh viên ngày nay vẫn chưa biết cách hoc tập theo hình thức tự học trong giảng đường đại học Phương pháp học tập theo kiểu đối phó, phong trào, học để thi vẫn là hình thức tự học hiện nay Liệu phương pháp học tập này cho mang lại hiệu quả gì cho việc tiếp cận thông tin và nâng cao
nhận thức của sinh viên, đó là vấn đề cấp thiết đang được đặt ra!
2.1.2 Thực trạng thông tin về pháp luật và sức khỏe
* Thông tin về pháp luật
Trong đời sống xã hội, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng, là phương tiện không thể thiếu nhằm bảo đảm cho sự tồn tại, vận hành bình thường của xã
hội nói chung và của nền đạo đức nói riêng Do đó, việc cung cấp thông tin về