1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc can thiệp hỗ trợ phụ nữ nghèo dân tộc thiểu số tại xã đồng văn, huyện bình liêu, tỉnh quảng ninh

76 130 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đề tài luận văn: “Vai trò của nhân viên Công tác xã hội trong việc can thiệp hỗ trợ phụ nữ nghèo dân tộc thiểu số tại xã Đồng Văn, huyện Bình Liêu, tỉnh Qu

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

- -

PHẠM THỊ BÍCH YẾN

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC CAN THIỆP HỖ TRỢ PHỤ NỮ NGHÈO DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI XÃ ĐỒNG VĂN,

HUYỆN BÌNH LIÊU, TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Hà Nội - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

- -

PHẠM THỊ BÍCH YẾN

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC CAN THIỆP HỖ TRỢ PHỤ NỮ NGHÈO DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI XÃ ĐỒNG VĂN,

HUYỆN BÌNH LIÊU, TỈNH QUẢNG NINH

Chuyên ngành: Công tác xã hội (định hướng ứng dụng)

MÃ SỐ 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS PHẠM VĂN QUYẾT

Hà Nội - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài luận văn: “Vai trò của nhân viên Công tác xã

hội trong việc can thiệp hỗ trợ phụ nữ nghèo dân tộc thiểu số tại xã Đồng Văn, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh” là công trình nghiên cứu của cá nhân

tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Văn Quyế và những kết quả nghiên

cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực

Hà Nội, ngày 31 tháng 7 năm 2019

Học viên

Phạm Thị Bích Yến

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực hiện bài luận tốt nghiệp chuyên ngành Công tác

xã hội với đề tài: “Vai trò của nhân viên Công tác xã hội trong việc can thiệp

hỗ trợ phụ nữ nghèo dân tộc thiểu số tại xã Đồng Văn, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh” ngoài sự nỗ lực, cố gắng của bản thân, học viên đã nhận được sự

giúp đỡ nhiệt tình, những lời động viên sâu sắc từ phía thầy cô, gia đình và bạn bè

Lời đầu tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS TS

Phạm Văn Quyết, người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo và giúp đỡ

em trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Học viên xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới trường Đại học Khoa học

xã hội và nhân văn đặc biệt là các thầy giáo, cô giáo trong khoa Xã hội học đã giảng dạy và trang bị cho em những kiến thức cũng như những kỹ năng sống trong suốt những năm học vừa qua, cung cấp cho em những kiến thức bổ ích để

hoàn thành bài luận văn này

Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến Huyện ủy Bình Liêu, Hội LHPN huyện Bình Liêu, UBND xã Đồng Văn, Ban XĐGN xã Đồng Văn, Hội LHPN xã Đồng Văn, các cán bộ hội phụ nữ thôn 8, xã Đồng Văn đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp

em hoàn thành luận văn này

Luận văn này cũng là món quà tinh thần em muốn gửi đến gia đình và bạn

bè thân yêu của mình để tỏ lòng biết ơn sâu sắc những người đã luôn ở bên động viên, khuyến khích em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 31 tháng 7 năm 2019

Học viên

Phạm Thị Bích Yến

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 5

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 10

4 Mục đích và nhiệm vụ can thiệp 10

5 Đối tượng, khách thể và phạm vi can thiệp 11

6 Phương pháp can thiệp 11

7 Bố cục luận văn 14

PHẦN NỘI DUNG CHÍNH 15

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 15

1.1 Khái niệm công cụ 15

1.2 Các lý thuyết vận dụng trong đề tài 21

1.2.1 Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow 21

1.2.2 Lí thuyết hệ thống 23

1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và tình hình nghèo đói tại xã Đồng Văn, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh 24

1.3.1 Vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên xã hội 24

1.3.2 Tình trạng nghèo đói tại Đồng Văn, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh 26

CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VỚI PHỤ NỮ NGHÈO VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI XÃ ĐỒNG VĂN 30

2.1 Mục tiêu, dự kiến kế hoạch làm việc với thân chủ trước khi tiếp cận 30

2.2 Tiến trình công tác xã hội cá nhân với thân chủ 30

2.2.1 Tiếp cận thân chủ 30

2.2.2 Thu thập thông tin 32

2.2.3 Chẩn đoán 37

2.2.4 Lập kế hoạch can thiệp 42

2.2.5 Triển khai kế hoạch 45

2.2.6 Lượng giá 53

Trang 6

2.2.7 Kết thúc, chuyển giao 54

2.3 Nhận xét về hiệu quả công việc của NVCTXH 55

2.4 Bài học kinh nghiệm 58

PHẦN KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

PHỤ LỤC 65

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam là một nước đang phát triển, phải đối mặt với rất nhiều vấn đề xã hội, đặc biệt là nghèo đói Trong hơn mươi năm đổi mới, công tác giảm nghèo đạt được những thành tựu đáng khích lệ Tuy nhiên, tình trạng nghèo đói vẫn tồn tại và đang là một cản trở trong công cuộc xây dựng đất nước Để xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, đòi hỏi sự cố gắng và nỗ lực của toàn xã hội trong cuộc chiến với đói nghèo

Đói nghèo là một trong những vấn đề xã hội bức xúc mang tính toàn cầu, nó tồn tại ở mọi quốc gia, mọi Châu lục và không trừ một ngoại lệ nào Bước sang thế kỷ XXI nhưng một phần tư thế giới vẫn đang sống trong sự cùng cực của nghèo khổ, không thể đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người Hàng triệu người khác có nguy cơ tái nghèo cao

Đói nghèo không chỉ làm cho hàng triệu người không có cơ hội được hưởng những thành quả văn minh tiến bộ của loài người mà còn gây ra những hậu quả nghiêm trọng về kinh tế xã hội Đói nghèo còn ảnh hưởng đến nhiều đối tượng khác nhau kể cả đối với người già và trẻ em, làm gia tăng bệnh tật, trẻ em không

có được cơ hội đến trường,… Từ đó nảy sinh ra những tệ nạn xã hội, ngăn cản

cơ hội tiếp cận với các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe

Đặc biệt, càng khó khăn hơn khi đó là những người phụ nữ nghèo đơn thân làm chủ gia đình Họ không chỉ là nạn nhân của đói nghèo mà họ còn gánh vác trọng trách nuôi sống cả gia đình, trong sự thiếu thốn tình cảm, mặc cảm, tự ti, ít giao tiếp xã hội và sống khép mình, chịu sự kỳ thị của cộng đồng… Bởi vậy, hạn chế tình trạng nghèo đói là nhiệm vụ của các cấp các ngành nói riêng và toàn thể cộng đồng nói chung Trong đó, NVCTXH là những người có trách nhiệm cao trong giúp đỡ những phụ nữ nghèo đơn thân tự vượt qua những khó khăn trong cuộc sống dựa trên những kiến thức và kỹ năng chuyên môn của bản thân Tại huyện Bình Liêu, qua một năm thực hiện Chương trình Xóa đói giảm nghèo, tỉ lệ hộ nghèo năm 2016 đã giảm xuống còn 1362 hộ chiếm 5,01% Công

Trang 9

tác giảm nghèo trong thời gian qua đã có những thay đổi, đời sống của người dân được nâng cao

Tuy nhiên cho đến nay số lượng hộ nghèo của huyện vẫn cao, đặc biệt là tỉ lệ phụ nữ nghèo đơn thân dân tộc thiểu số Theo danh sách thống kê của huyện, tỉ

lệ hộ nghèo do phụ nữ dân tộc làm chủ hộ chiếm 28,8% Trong đó xã Đồng Văn

là một trong những xã có nhiều phụ nữ nghèo đơn thân dân tộc thiểu số Đây là một xã vùng cao khó khăn nhất của huyện Bình Liêu, phần lớn phụ nữ nghèo

đơn thân là dân tộc thiểu số (Nguồn: Báo cáo UBND xã Đồng Văn, năm 2017)

Vì những lý do trên, tác giả chọn đề tài luận văn “Vai trò của nhân viên

Công tác xã hội trong việc can thiệp hỗ trợ phụ nữ nghèo dân tộc thiểu số tại

xã Đồng Văn, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh”

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Một số nghiên cứu trên thế giới

Nghiên cứu về giảm nghèo đã được thực hiện dưới nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, dưới góc độ công tác xã hội còn rất mới, trong một số công trình gần đây Nghèo đói là một vấn đề lớn có tính chất toàn cầu.Vì thế vấn đề giảm nghèo không chỉ giành được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, của các tổ chức xã hội của nhiều nước trên thế giới Ở nước ta cũng có rất nhiều công trình nghiên cứuvà các triển khai hoạt động ứng dụng can thiệp giảm nghèo, đáng chú ý là một số công trình sau:

Giảm nghèo và vai trò của nhân viên công tác xã hội (Poverty eradication

and the role for social workers) của Nairobi (tháng 1 năm 2010): Trong thực tế tất cả các nơi trên thế giới, những người làm công tác xã hội lo ngại về đói nghèo đã tăng lên, những nguồn lực thiếu, nguyên nhân của việc đẩy con người vào đói nghèo Ở cấp độ vi mô của thực hành hàng ngày, các nhân viên xã hội làm việc một cách sáng tạo để giúp người dân (cá nhân và cộng đồng) hiểu tình hình của họ và thay đổi hành vi và môi trường của họ Một vai trò quan trọng là phát triển cộng đồng, đòi hỏi kỹ năng phân tích cộng đồng, lập kế hoạch xã hôi,

tổ chức cộng đồng và hoạt động xã hội Phát triển cộng đồng đòi hỏi khả năng

để thúc đẩy các cơ hội kinh tế cho người dân khu vực thông qua việc duy trì

Trang 10

công nghiệp, phát triển doanh nghiệp địa phương, đào tạo việc làm.Vai trò khác giúp mọi người khám phá nguồn tài nguyên riêng và khả năng riêng của bản thân để tạo ra ảnh hưởng và thay đổi tích cực Tầm quan trọng của điều này đã được nhấn mạnh bằng cách nhận ra rằng nghèo đói liên quan đến các tương tác giữa các đặc điểm cá nhân và một nguồn lực của cộng đồng và các cơ hội Với những khó khăn, nhân viên công tác xã hội đánh giá về rủi ro của các cá nhân và

họ phải sử dụng, khả năng để bảo vệ các nạn nhân của đói nghèo.Ví dụ như tình trạng bạo lực gia đình, lạm dụng trẻ em hoặc sức khỏe tâm thần Nhân viên công tác xã hội làm việc với những người nghèo đói và chứng kiến hành vi của họ Trong phương pháp này, quá trình kết hợp với các cá nhân và gia đình, tập trung vào nguồn lực và cơ hội tăng cường cùng với năng lực cá nhân, tìm ra các nguyên nhân của nghèo đói Đó là điều cần thiết cho xóa đói giảm nghèo

Vai trò của công tác xã hội trong các chương trình giảm nghèo ở Philippines: tư tưởng, chính sách và các ngành nghề (The role of social work in

Philippine poverty - reduction program: ideology, policy, and the profession): bài viết (Châu Á Thái Bình Dương Tạp chí Công tác xã hội và Phát triển, tập 23,

số 1, năm 2013, trang 35-47) xem xét vai trò của công tác xã hội trong 3 chương trình xóa đói giảm nghèo ở Philippines, nhấn mạnh vào các giá trị và nguyên tắc

để bắt nguồn và duy trì mối quan hệ Có ý kiến cho rằng, vai trò của công tác xã hội trong các chương trình này phản ánh tư tưởng thống trị trong chính sách xã hội Philippines (Trích theo Vi Văn Tình, 2017) [16]

Một số nghiên cứu tại Việt Nam

XĐGN và phát triển bền vững là một trong những vấn đề đang được toàn thế giới quan tâm, từ Liên hợp quốc, các tổ chức quốc tế đa phương, song phương, các tổ chức phi chính phủ đến các vùng lãnh thổ, các quốc gia, chính quyền địa phương các cấp Trên bình diện toàn cầu, Liên hợp quốc xác định XĐGN là một trong những nhiệm vụ trọng yếu trong các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ Ở phạm vi quốc gia, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam cũng đã xác định XĐGN là một trong những hành động được ưu tiên nhất Đồng thời, nghèo đói cũng trở thành một chủ đề nghiên cứu được tranh luận nhiều

Trang 11

Xung quanh vấn đề nghèo đói đã có không ít các công trình nghiên cứu các

cơ quan nghiên cứu thuộc Trung Tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia,

Bộ Lao động và Thương binh & Xã hội và đặc biệt là các tổ chức quốc tế tại Việt Nam (Ngân hàng thế giới, Liên Hợp Quốc, tổ chức ActionAid - Việt Nam,

Oxfam tại Việt Nam) như: “Đói nghèo ở Việt Nam” tác giả Nguyễn Thị Hằng,

“Giảm nghèo trong nông thôn hiện nay” tác giả Nguyễn Văn Tiêm 1993, “Giảm nghèo Việt Nam” của UNICF năm 1995; “Vấn đề nghèo đói ở Việt Nam” của ADUKI năm 1995; “vấn đề xóa đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay”

của tác giả Nguyễn Thị Hằng 1997… Các nghiên cứu vĩ mô cũng đề cập khá chi

tiết đến yếu tố phân tầng xã hội ở Việt Nam như “Báo cáo về tình trạng nghèo đói và công bằng ở Việt Nam” của tổ chức Oxfam năm 1999 hay công trình “Kinh

tế thị trường và sự phân hóa giàu nghèo ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nước ta hiện nay” do Lê Du Phong và Hoàng Văn Hoa chủ biên Những nghiên

cứu này đề cập đến vấn đề nghèo đói từ nhiều cấp độ khác nhau như vùng miền,

đô thị, nông thôn, miền núi xã nghèo, hộ nghèo…

Đề cập đến các vấn đề nghèo đói của phụ nữ có thể kể đến đề tài “Phát triển bền vững nông thôn vùng Bắc Trung Bộ: xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm”, Viện nghiên cứu Môi trường và Phát triển Mục đích chính của đề tài là

xem xét đánh giá thực trạng tình hình nông thôn vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam dưới góc độ thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam và thực hiện các mục tiêu Thiên niên kỷ mà Việt Nam đã cam kết trên các lĩnh vực chủ yếu: xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm

Một đề tài khác thuộc nhóm này là “Vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế ở đồng bằng sông Hồng”do trung tâm nghiên cứu khoa học về Phụ

nữ và Gia đình cũng đã tiến hành năm 2006 Bên cạnh vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế XĐGN nghiên cứu cũng đã đề cập đến vai trò của các đoàn thể chính trị - xã hội như Hội LHPN, Hội nông dân,… trong phát triển kinh tế - xã hội, nói chung và phong trào giảm nghèo nói riêng

Vấn đề xóa đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay của tác giả

Nguyễn Thị Hằng (1997): Tác phẩm đánh giá được tình hình nghèo đói của

Trang 12

nông thôn Việt Nam sau 3 năm dỡ bỏ cấm vận, nền kinh tế có bước chuyển động đầu tiên nhưng tỷ lệ hộ nghèo ở nông thôn Việt Nam vẫn còn cao Qua đi sâu nghiên cứu tình hình đói nghèo ở nông thôn, tác giả đã chỉ ra những khó khăn cũng như những biện pháp thực hiện xóa đói giảm nghèo trong điều kiện hiện tại [3]

Nghèo đói và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam của tác giả Lê Xuân Bá và các đồng

nghiệp (2001) đã chỉ ra rằng vấn đề xóa đói giảm nghèo luôn gắn bó và chịu ảnh hưởng của quan hệ giai cấp và chế độ xã hội khác nhau Hiện tượng bị tha hóa và tự tha hóa con người dưới chế độ tư bản chủ nghĩa luôn là một lực cản đối với công việc xóa đói giảm nghèo Trong tác phẩm này tác giả đã đưa ra được những cái nhìn chung nhất, tổng quát nhất về tình hình nghèo đói và công tác xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam Nghèo đói được nhìn nhận và đánh giá ở nhiều mức độ khác nhau.Cũng trong tác phẩm này, công tác xóa đói giảm nghèo cũng được nhìn nhận dưới nhiều khía cạnh

và góc độ khác nhau Bên cạnh việc đánh giá tình hình chung, tác phẩm còn đưa ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả giảm nghèo bền vững [1]

Văn hóa của nhóm nghèo ở Việt Nam của tác giả Lương Hồng Quang

(2001).Tác giả cho rằng nghèo khổ và văn hóa của nhóm nghèo có liên quan tới các vấn đề thuộc phạm trù văn hóa của nhóm nghèo đóng khung trong một khu vực, nó phụ thuộc vào bối cảnh lịch sử Nghiên cứu về văn hóa của nhóm nghèo tác giả chủ yếu dựa vào tiêu chí thu nhập bình quân, nhưng tác giả tập trung nghiên cứu tâm lý, lối sống, cách tiếp cận của họ đối với xã hội Tác giả thấy rằng những người nghèo có trình độ văn hóa thấp hoặc mù chữ, họ thường cảm thấy

cô lập, tự ti, bị tước đoạt những cái mà người khác có được, khi được trợ cấp xã hội thì dường như họ lại trông chờ ỷ lại Tác giả cũng đưa ra được những giải pháp khoa học có tính khả thi, tuy nhiên các giải pháp đó chủ yếu là dựa vào nguồn ngân sách Nhà nước chứ chưa tập trung phát huy được tổng lực của toàn

xã hội, sự tự lực của người nghèo bởi nâng cao trình độ văn hóa cho người nghèo cần phải có một thời gian dài Tác giả cho rằng, muốn xóa được tận gốc của cái nghèo và có tính bền vững thì phải nâng cao văn hóa cho người nghèo vì khi con người có tri thức thì họ tiếp cận được và thế giới bên ngoài và tiếp thu khoa học

kỹ thuật nhanh đặc biệt là trong việc sản xuất kinh doanh [11]

Trang 13

Luận văn thạc sỹ chuyên ngành xã hội học của tác giả Đặng Đỗ Quyên về đề

tài: “Đặc trưng kinh tế và xã hội của hộ nghèo tại tỉnh Bắc Cạn” năm 2006 với

những nội dung chủ yếu là: phân tích các đặc trưng kinh tế và xã hội cả hộ nghèo nhằm nhận diện hộ nghèo theo chuẩn mới; chỉ ra mối liên hệ của các đặc trưng kinh tế xã hội với tình trạng và mức độ nghèo đói của họ đồng thời tìm hiểu những khó khăn và nhu cầu cần được trợ giúp của hộ nghèo Từ đó, đưa ra những dự báo

về xu hướng biến đổi đặc trưng kinh tế - xã hội của hộ nghèo và bước đầu đề xuất một số kiến nghị và giải pháp

Luận văn thạc sỹ xã hội học của tác giả Hà Thị Thu Hòa về: “Hoạt động giảm nghèo đối với phụ nữ nghèo tại ngoại thành Hà Nội” (Nghiên cứu trường

hợp hai xã Cổ Nhuế và Xuân Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội) năm 2008 đã đi sâu tìm hiểu về thực trạng nghèo đói của các hộ gia đình ở hai xã Cổ Nhuế và Xuân Phương; làm rõ hoạt động của các đoàn thể với công tác XĐGN đặc biệt

là vai trò của Hội liên hiệp phụ nữ huyện trong việc triển khai các hoạt động giảm nghèo của người phụ nữ ở ngoại thành Hà Nội Từ đó, đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường hoạt động của các tổ chức chính trị- xã hội trong hoạt động XĐGN trên địa bàn hai xã này

Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Kim Thắng về “CTXH với vấn đề giảm nghèo ở người dân tộc thiểu số tại xã Ianan, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia rai”, đã phân tích được thực trạng tình hình nghèo đói và sự trợ giúp của CTXH đối với tình trạng nghèo ở vùng dân tộc Việc trợ gúp của CTXH được thực hiện trên các lĩnh vực như dịch vụ xã hội, chăm sóc sức khỏe, y tế, giáo dục đào tạo, phát triển kinh tế hộ gia đình, nâng cao nhận thức, phòng ngừa tái nghèo [17]

Hiện nay, nhiều nghiên cứu về đói nghèo được thực hiện cả về lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về phụ nữ nghèo dân tộc thiểu số ở xã Đồng Văn, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh, là điểm mới,

sáng tạo của luận văn Mục đích của luận văn nhằm làm rõ hơn về những khó

khăn của phụ nữ nghèo dân tộc thiểu số tại xã, đồng thời áp dụng CTXHCN vào

nâng cao chất lượng cuộc sống, cải thiện đời sống cho họ tại địa bàn nghiên cứu

Trang 14

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

3.1 Ý nghĩa khoa học

Dựa trên cách tiếp cận của các lý thuyết xã hội học và công tác xã hội, trong

đó có CTXHCN, kết hợp với sử dụng các kỹ năng và các phương pháp thu thập thông tin, kết quả nghiên cứu đã ứng dụng vào can thiệp trường hợp cụ thể Mục đích nhằm kiểm tra và lý giải việc sử dụng và ứng dụng các lý thuyết đó vào trường hợp thực tiễn

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp CTXHCN với phụ nữ nghèo đơn thân Sau khi đánh giá trường hợp, nhận định vấn đề và nhu cầu của thân chủ, tác giả luận văn sử dụng phương pháp can thiệp cá nhân để hỗ trợ giải quyết các vấn đề tâm lý xã hội của thân chủ Kết quả mang lại lợi ích và sự thay đổi cho thân chủ Thông qua các liệu pháp can thiệp, thân chủ có cơ hội bày tỏ, chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống, những tâm tư nguyện vọng cũng như những định hướng cho tương lai để vươn lên xóa đói giảm nghè, ổn định cuộc sống Nghiên cứu sẽ có thể là dữ liệu dành cho các nhà công tác xã hội tại địa phương tham khảo, vận dụng nhằm góp phần thực hiện công tác giảm nghèo cho phụ nữ Đồng thời kết quả nghiên cứu cũng giúp ích cho các tổ chức hoạt động

vì cộng đồng trong hỗ trợ can thiệp giảm nghèo cho các nhóm yếu thế, đặc biệt

là nhóm phụ nữ nghèo đơn thân

4 Mục đích và nhiệm vụ can thiệp

Luận văn sử dụng phương pháp CTXHCN đối với phụ nữ nghèo dân tộc thiểu số nhằm tìm hiểu những vấn đề, nhu cầu của họ, từ đó cùng thân chủ xây dựng kế hoạch cụ thể nhằm giải quyết vấn đề, hỗ trợ, định hướng và kết nối họ với các nguồn lực để giúp thân chủ vươn lên trong cuộc sống

Các mục tiêu cụ thể là:

- Làm rõ các khái niệm, hình thành cơ sở lý thuyết cho can thiệp hỗ trợ phụ

nữ nghèo theo hướng CTXH cá nhân

Trang 15

- Xác định thân chủ phân tích nhu cầu, nhận diện nan đề khó khăn của thân chủ trên cơ sở đó vận dụng tiến trình CTXHCN để hỗ trợ thân chủ vượt qua khó khăn về tâm lý – xã hội và vươn lên thoát nghèo

- Tham vấn tâm lý và kết nối với nguồn lực giúp thân chủ tự tin, có nghị lực sống, ổn định tâm lý và hòa nhập cuộc sống

- Lượng giá, đánh giá kết quả can thiệp và rú ra bài học cho hoạt động CTXH hỗ trợ giảm nghèo ở địa phương

5 Đối tượng, khách thể và phạm vi can thiệp

5.1 Đối tượng can thiệp

Làm rõ vai trò của nhân viên CTXH trong can thiệp hỗ trợ phụ nữ nghèo thông qua hoạt động can thiệp hỗ trợ trực tiếp đối với trường hợp phụ nữ nghèo

dân tộc thiểu số tại xã Đồng Văn, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh

5.2 Khách thể can thiệp

Trường hợp Chị Vũ Thị Thu- sinh năm 1982 là phụ nữ nghèo dân tộc thiểu

số sống tại thôn 8, xã Đồng Văn, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh

5.3 Phạm vi can thiệp

- Phạm vi không gian: Thôn 8, xã Đồng Văn - Bình Liêu - Quảng Ninh

- Phạm vi thời gian: từ tháng 7/2018 đến tháng 3/2019

- Phạm vi nội dung: Vai trò của nhân viên CTXH trong can thiệp hỗ trợ phụ

nữ nghèo nhằm giảm nghèo ở một địa phương cụ thể được thể hiện qua rất nhiều hoạt động như huy động, kết nối nguồn lực, vận động chính sách, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, kinh nghiệm sản xuất…; các hoạt động này có thể thực hiện theo hướng CTXH cá nhân, CTXH nhóm… Để phù hợp với 1 luận văn chuyên ngành CTXH theo định hướng ứng dụng, phù hợp với thời gian, điều kiện thực hành và công việc của học viên, nên giới hạn của LV được xác định gắn với hoạt động CTXH cá nhân của nhân viên CTXH đối với trường hợp phụ nữ nghèo dân

tộc thiểu số tại xã Đồng Văn

6 Phương pháp can thiệp

Trang 16

6.1 Phương pháp thu thập thông tin

Phân tích tài liệu

 Giáo trình, sách tham khảo về CTXH theo định hướng ứng dụng

 Luận văn, luận án liên quan đến công tác xã hội, xóa đói giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số theo định hướng ứng dụng

 Tài liệu từ internet

 Báo cáo kinh tế chính trị của xã Đồng Văn năm 2017, 2018, báo cáo của LHPN xã Đồng Văn, các tài liệu về phụ nữ,…

 Số liệu của cuộc khảo sát xác định hộ nghèo theo chuẩn mới (danh sách

hộ nghèo năm 2017, 2018 xã Đồng Văn)

Phương pháp quan sát

Phương pháp quan sát được sử dụng nhằm thu thập thông tin tại thực địa Thông qua quan sát NVCTXH có thể đánh giá và nhận diện các vấn đề mà thân chủ đang gặp phải và tìm hiểu nhu cầu cần hỗ trợ

Phương pháp phỏng vấn sâu

NVCTXH sử dụng một bảng phỏng vấn bán cấu trúc nhằm tìm hiểu kỹ lưỡng hơn vấn đề của thân chủ, tìm hiểu thái độ và quan điểm của thân chủ về nghèo đói và tình trạng hiện nay của thân chủ

Trang 17

Tác giả luận văn sử dụng phương pháp trên để tìm hiểu về thực trạng các vấn đề nghèo đói và những chính sách hỗ trợ của địa phương Ngoài ra, tác giả cũng tìm hiểu nỗ lực của địa phương trong thực hiện hỗ trợ phụ nữ nghèo dân tộc thiểu số thoát nghèo, đề xuất của chính quyền xã và cán bộ chính sách về công tác xóa đói giảm nghèo tại vùng

Số lượng phỏng vấn sâu được thực hiện là: 14 phỏng vấn (với 1 thân chủ, 1 trưởng ban xóa đói giảm nghèo xã, 01 Chủ tịch Hội Phụ nữ xã, 1 Hội trưởng Hội phụ nữ thôn 8 và 10 phụ nữ nghèo dân tộc thiểu số) Mục đích của phỏng vấn nhằm thu thập nhiều thông tin, chẳng hạn như thực trạng và nguyên nhân dẫn đến tình trạng phụ nữ nghèo đơn thân, những khó khăn và nguyện vọng của họ nhằm có một cuộc sống tốt đẹp hơn…

6.2 Phương pháp can thiệp trực tiếp: công tác xã hội với cá nhân phụ

nữ nghèo đơn thân vùng dân tộc thiểu số

Phương pháp Công tác xã hội với cá nhân, là liệu pháp can thiệp 1-1, hỗ trợ giải quyết các vấn đề tâm lý xã hội của từng người Liệu pháp có thể hỗ trợ cá nhân cải thiện chức năng tâm lý xã hội, ổn định tâm lý, tiếp tục cuộc sống và hòa nhập vào cộng đồng Trong luận văn, phương pháp được sử dụng là một phụ nữ đơn thân nghèo dân tộc thiểu số tại thôn 8, xã Đồng Văn, Huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh Dựa vào kiến thức và kỹ năng chuyên môn, NVCTXH nhận diện vấn đề, khích lệ thân chủ nói lên những tâm tư nguyện vọng của họ Đồng thời, NVCTXH cùng thân chủ đưa ra giải pháp để giúp tăng cường việc làm, thoát nghèo và tăng kĩ năng để thân chủ đối mặt với những khó khăn trong cuộc sống

Phương pháp CTXHCN được tiến hành thông qua 7 bước cụ thể, đó là: Bước 1 Tiếp cận thân chủ; Bước 2 Xác định vấn đề; Bước 3 Thu thập thông tin; Bước 4 Chuẩn đoán; Bước 5 Lên kế hoạch trị liệu; Bước 6 Trị liệu; Bước

7 Lượng giá và kết thúc Mỗi bước sẽ có chương trình làm việc và đánh giá hiệu quả cụ thể, trước khi chuyển giao sang bước khác Quá trình làm việc với thân chủ sẽ giúp tác giả luận văn thu thập các kiến thức và kỹ năng cũng như kinh nghiệm làm việc thực tiễn

Trang 18

Một số kỹ năng có thể được kết hợp trong khi sử dụng phương pháp can thiệp CTXHCN, như: tiếp cận thân chủ, quan sát, phỏng vấn, đặt câu hỏi, giao tiếp… Các kỹ năng là nền tảng cho việc tiếp cận và hiệu quả của tiến trình làm việc Các kỹ năng được kết hợp đan xen, nhuần nhuyễn nhằm thu thập được hầu hết các thông tin cần thiết cho tiến trình can thiệp

7 Bố cục luận văn

Phần Mở đầu

Phần Nội dung

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2: Vai trò của nhân viên CTXH trong Hoạt động công tác xã hội cá nhân với phụ nữ nghèo vùng dân tộc thiểu số tại xã Đồng Văn

Phần Kết luận và khuyến nghị

Trang 19

PHẦN NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Ở chương này, tác giả luận văn nghiên cứu một số cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến xóa đói giảm nghèo cho phụ nữ vùng dân tộc thiểu số Các nội dung được đề cập đến, đó là các khái niệm liên quan, các lý thuyết được vận dụng và đặc điểm địa bàn nghiên cứu cùng một số đặc điểm tâm lý của phụ nữ nghèo

1.1 Khái niệm công cụ

“Nghèo”

Nghèo đói là một vấn đề kinh tế - xã hội mang tính toàn cầu Nghèo đói không chỉ là vấn đề xã hội ở các nước lạc hậu, kém phát triển mà ngay cả những nước công nghiệp phát triển cũng tồn tại một bộ phận dân cư bị đánh giá là nghèo Tuy vậy, quan niệm về nghèo đói vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, cho tới nay cũng chưa có khái niệm chính thống về đói nghèo

Nghiên cứu của Rowntree năm 1991 cho thấy, nghèo đói là sự thiếu hụt một lượng dinh dưỡng nào đó để tồn tại được

Vào những năm 1970, Townsend quan niệm rằng “nghèo đói không chỉ thiếu khả năng đáp ứng các nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu mà còn thiếu khả năng theo kịp chuẩn mực của một xã hội nhất định nào đó” [13]

Cũng trong thời kỳ này, nghèo đói đã được mở rộng từ quan niệm về thu nhập sang một khái niệm rộng hơn đó là nhu cầu cơ bản Theo đó, nghiên cứu

của ILO cho rằng “nghèo đói không chỉ là thiếu thốn về thu nhập mà thiếu sự tiếp cận với các dịch vụ y tế, giáo dục và các dịch vụ cơ bản khác” [13]

Tại hội nghị chống nghèo đói do Ủy ban kinh tế - xã hội khu vực Châu Á Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc – Thái Lan vào tháng 9/1993,

đã đề cập tới nghèo đói như sau: “nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu

ấy đã được xã hội thừa nhận phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của địa phương” [13]

Tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội, tổ chức tại Copenhagenr, Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể về người

Trang 20

nghèo “Người nghèo là tất cả những ai mà có thu nhập thấp hơn dưới 1USD mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại” [13]

Tóm lại, có thể đưa ra một khái niệm chung về nghèo đói như sau:

Nghèo đói là một phạm trù chỉ mức sống của một cộng đồng hoặc một nhóm dân cư là thấp, không đảm bảo được những nhu cầu tối thiểu của con người mà những nhu cầu này theo một tiêu chuẩn đã được xã hội thừa nhận

Phụ nữ nghèo

Theo tổ chức Escap đưa ra tại hội nghị chống đói nghèo năm 1993 thì “Phụ

nữ nghèo là những người chỉ có điều kiện thỏa mãn một phần nhu cầu tối thiểu

cơ bản của cuộc sống và có mức thu nhập thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện”

Phương pháp Công tác xã hội cá nhân

Khái niệm

- Công tác xã hội cá nhân là một phương pháp giúp đỡ cá nhân con người thông qua mối quan hệ một-một Nó được nhân viên xá hội ở các cơ sở xã hội sử dụng để giúp những người có vấn đề về chức năng xã hội và thực hiện chức năng xã hội (theo Grace Mathew) [9]

- Công tác xã hội cá nhân là một tiến trình được các cơ quan lo về an sinh con người sử dụng để giúp các cá nhân đối phó hữu hiệu hơn với các vấn đề thuộc về chức năng xã hội của họ (theo HELEN HARRIS PERLMAN) [9] Hiện nay quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đã đem lại cho đất nước nhiều thành tựu to lớn về mọi mặt nhưng những vấn đề như thiên tai, dịch bệnh, khủng bố, thảm họa, nghèo đói, ô nhiễm môi trường, đặc biệt là người nghèo dân tộc thiểu số đang sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn vẫn cần sự hỗ trợ của Nhà nước để vươn lên thoát nghèo

Nhằm giải quyết những thách thức trên cần có sự chung tay của toàn xã hội, trong đó công tác xã hội đóng vai trò rất quan trọng Ở Việt Nam nghề công tác

xã hội mới chỉ ở bước đầu hình thành và phát triển từ khi Thủ tướng Chính phủ

Trang 21

ký Quyết định 32/2010/QĐ-TTg (còn gọi là Đề án 32) về phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010 - 2020 Từ khi Đề án được ban hành, công tác xã hội mới chính thức được coi như một ngành khoa học, một nghề chuyên môn với việc ban hành mã ngành đào tạo và mã số ngạch viên chức Tuy nhiên, công tác

xã hội đối với người nghèo chưa có chính sách cụ thể mà chủ yếu vẫn lồng ghép vào các hoạt động của ngành lao động thương binh và xã hội; Mặt trận và các đoàn thể; các dịch vụ cung cấp cho người nghèo còn bỏ ngỏ dẫn đến các chính sách được thực hiện song hiệu quả mang lại chưa cao Do đó vấn đề đặt ra là cần

có những chính sách cụ thể nhằm phát triển nghề công tác xã hội, trong đó có chính sách nhằm phát triển công tác xã hội đối với người nghèo dân tộc thiểu số, nhằm giúp họ tăng năng lực, chủ động tự tin thụ hưởng các chính sách của Nhà nước Mặt khác, cần phát triển mạng lưới cung cấp các dịch vụ cho người nghèo dân tộc thiểu số Các giải pháp mà nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ người nghèo dân tộc thiểu số tiếp cận các chính sách, các dịch vụ: Hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ y tế; các dịch vụ về nhà ở, đất sản xuất; các dịch vụ thông tin liên lạc, truyền thông Hỗ trợ sản xuất cho người nghèo dân tộc thiểu số nhằm phát triển sản xuất, tăng thu nhập, làm giàu chính đáng; Hỗ trợ kỹ năng đối thoại chính sách giảm nghèo cho người nghèo dân tộc thiểu số; Trên cơ sở các chính sách hỗ trợ về giáo dục, đào tạo và dạy nghề cho người nghèo dân tộc thiểu số

và con em họ đi học, nhân viên công tác xã hội hỗ trợ cho hộ nghèo dân tộc thiểu số tiếp cận một cách tốt nhất các chính sách về giáo dục, như: hỗ trợ, tư vấn cho con em họ tự tin đến trường và thấy được những lợi ích của việc học Mặt khác, kết nối với các cơ quan thực hiện các chính sách miễn, giảm học phí cho con em hộ nghèo dân tộc thiểu số được hưởng các chính sách một cách tốt nhất, làm cho người nghèo dân tộc thiểu số và các cơ quan cung cấp, thực hiện chính sách hiểu nhau và chia sẻ những khó khăn của nhau Bên cạnh đó nhân viên công tác xã hội khi làm việc với các thành viên của hộ nghèo dân tộc thiểu

số, sẽ xác định được nhu cầu học nghề của từng thành viên trong gia đình, từ đó

có kế hoạch kết nối với các tổ chức, cá nhân, các trung tâm dạy nghề để hỗ trợ

họ chọn học nghề phù hợp, giúp họ tự tin khi tham gia học nghề và tìm nghề

Trang 22

nghiệp ổn định sau khi học Mặt khác nhân viên xã hội sẽ kết nối các doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm khi người nghèo dân tộc thiểu số làm ra, giúp họ ổn định được đầu ra của sản phẩm và có thu nhập ổn định Nhân viên công tác xã hội phối hợp với các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương thực hiện khảo sát xác định nhu cầu học nghề của lao động nghèo dân tộc thiểu số trên địa bàn từng huyện, thành phố làm căn cứ để cơ quan chức năng xây dựng kế hoạch đào tạo nghề cho lao động nghèo dân tộc thiểu số hằng năm

Ngoài ra, nhân viên công tác xã hội còn là người chuyển tải ý kiến của người nghèo dân tộc thiểu số đến với các cơ quan chức năng, giúp các cơ quan chức năng thực hiện đầy đủ các chính sách cho người nghèo, nhất là chính sách hỗ trợ

hộ nghèo dân tộc thiểu số tại các xã đặc biệt khó khăn, bảo đảm đúng quy định

và từng bước xã hội hóa, từ đó giúp người nghèo thụ hưởng đầy đủ các chính sách

Tiến trình công tác xã hội cá nhân

Tiến trình CTXH Cá nhân là một chuỗi hoạt động tương tác giữa NVXH với thân chủ để giải quyết vấn đề Trong quá trình này, thông qua mối quan hệ tương giao giữa NVCTXH với thân chủ, NVXH dùng chính các quan điểm, giá trị, kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm và kĩ năng của mình để giúp thân chủ hiểu rõ vấn đề của mình đồng thời khích lệ họ biểu đạt tâm tư, nhu cầu, phát huy tiềm năng, tham gia tích cực vào quá trình giải quyết vấn đề, cải thiện điều kiện sống của mình

Tiến trình CTXHCN là quá trình bao gồm các bước của các hoạt động do NVXH và thân chủ thực hiện để giải quyết vấn đề Trong quá trình giúp đỡ từ nhiều nguồn khác nhau, có những bước kéo dài suốt quá trình như thu thập dữ liệu, thẩm định và lượng giá Có thể mô phỏng theo 7 bước sau:

Bước 1: Tiếp cận thân chủ

Tiếp cận ca là bước đầu tiên có thể thân chủ tự tìm đến với nhân viên công tác xã hội khi họ gặp vấn đề và cần sự giúp đỡ, song trong một chừng mực nào

đó cũng có thể chính nhân viên công tác xã hội lại là người tìm đến với thân chủ

Trang 23

trong phạm vi hoạt động theo chức năng của mình Ở bước tiếp cận này nếu nhân viên xã hội tạo được ấn tượng tốt với thân chủ thì những bước sau sẽ thuận tiện hơn

Bước 2: Thu thập thông tin

Sau khi tiếp cận với thân chủ nhân viên công tác xã hội phải tiến hành thu thập thông tin nhằm xác định vấn đề thân chủ đang gặp khó khăn trong việc tìm

ra hướng giải quyết Đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình công tác xã hội cá nhân, nó đóng vai trò quan trọng trong cá quá trình và kết quả của nó là sự định hướng cho tất cả các bước tiếp theo bởi nếu nhận diện đúng sẽ dẫn tới chẩn đoán và cách trị liệu đúng

Bước 3: Chuẩn đoán

Gồm 3 thành tố: Chuẩn đoán, Phân tích, Thẩm định

- Chuẩn đoán xem xét tính chất của vấn đề và những trục trặc của nó trên

cơ sở các dữ liệu thu nhân được

- Phân tích là chỉ ra nguyên nhân hay nhân tố dẫn đến khó khăn

- Thẩm định là xem có thể giảm bớt những khó khăn này thông qua những năng lực nào của thân chủ

Khi hoàn thành cuộc thẩm định tình huống có vấn đề và cá nhân liên quan trong đó, nhân viên công tác xã hội làm ngay một kế hoạch trị liệu cho dù đây mới chỉ là kế hoạch tạm thời

Để tiến hành chuẩn đoán tốt nhằm xây dựng kế hoạch trị liệu hiệu quả, nhân viên công tác xã hội có thể sử dụng một số công cụ như: Cây phả hệ; Biểu đồ sinh thái; Bảng phân tích điểm mạnh và điểm yếu của thân chủ… để có thể phân tích sâu và đưa ra chuẩn đoán chính xác

Bước 4: Lên kế hoạch trị liệu

Trong giai đoạn này nhân viên công tác xã hội sẽ xác định mục đích trị liệu

và mục tiêu cụ thể để đạt được mục đích Nhiệm vụ của hoạt động này:

- Xác định nội dung và mục tiêu phải đạt được: phải làm gì, đi đến đâu, phải đạt được gì, tạo được sự thay đổi gì và đích đến là gì

- Xác định hoạt này cho ai, nhóm nào và ở đâu

- Xác định cách thức, phương sách để đi đến mục tiêu: làm như thế nào

Trang 24

- Xác định rõ vai trò người thực hiện: ai là người thục hiện nhân viên xã hội nhân viên hay thân chủ

- Xác định thời gian, lịch trình thực hiện bằng khi nào? Bao lâu?

Bước 5: Trị liệu

Là quá trình nhân viên xã hội cùng đối tượng thực thi các hoạt động cụ thể

có thể đi đến mục tiêu đặt ra Đó là sự giải tỏa hay giải quyết một số vấn đề trước mắt và điều chỉnh sự khó khăn với sự chấp nhận và tham gia của thân chủ Nhiều trường hợp mục tiêu chỉ là giữ cho tình hình không trở nên xấu hơn thông qua các hỗ trợ về vật chất và tâm lý

Bước 6: Lượng giá

Là việc xem xét lại toàn bộ những bộ phận trong tiến trình công tác xã hội cá nhân để thẩm định kết quả Lượng giá là một hoạt động liên tục, đồng thời dù cho là một bộ phận của tiến trình của công tác xã hội cá nhân và chỉ tìm được mục tiêu và biểu hiện đầy đủ sau một khoảng thời gian hoạt động

Khi các cuộc lượng giá định kì cho thấy có sự tiến bộ hoặc không thay đổi thì tiếp tục điều trị và người lại là phải thay đổi phương pháp trị liệu

- Nếu kết quả cho thấy chiều hướng xấu thì xác định mức độ đến đâu từ đó thay đổi hoặc bổ sung kế hoạch trị liệu

- Nếu kết quả cho thấy tích cực có sự thay đổi tiến bộ của thân chủ thì nhân viên công tác xã hội chủ động giảm dần vai trò tạo điều kiện giúp thân chủ tăng tính độc lập trong việc thực hiên kế hoạch trị liệu

Kết thúc quá trình trị liệu là khi vấn đề của thân chủ đã được giải quyết hoặc sự hiện diện của nhân viên xã hội không còn cần thiết hoặc không thay đổi được vấn đề

Bước 7: Kết thúc, chuyển giao

Kết thúc là chấm dứt mối quan hệ giữa nhân viên xã hội với thân chủ thường

là khi nhân viên xã hội hoàn thành nhiệm vụ giúp thân chủ giải quyết vấn đề hoặc là chuyển ca sang một cơ quan hoặc nhân viên xã hội khác giải quyết và sự hiện điện của nhân viên xã hội là không còn cần thiết

Việc kết thúc ca dựa trên:

- Nhu cầu và quyền lợi của thân chủ

Trang 25

- Không kéo dài vì ý tưởng chủ quan của thân chủ

- Không kết thúc vì sự duy ý chí của nhân viên xã hội

- Trước khi kết thúc cần nới lỏng quan hệ [9]

1.2 Các lý thuyết vận dụng trong đề tài

1.2.1 Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow

Abraham Maslow (1908 - 1970) là nhà tâm lý học người Mỹ Ông được thế giới biết đến như là người tiên phong cho trường phái tâm lý học nhân văn (Humanistic psychology) - một trường phái nhấn mạnh những giá trị, sự tự do, sáng tạo, khuynh hướng tự chủ, những kinh nghiệm của con người - bởi hệ thống lý thuyết về “thang bậc nhu cầu” (Hierarchy of Needs) của con người Ông cho rằng, con người cần được đáp ứng những nhu cầu cơ bản để tồn tại

và phát triển đó là nhu cầu thể chất, nhu cầu an toàn, nhu cầu tình cảm xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu được hoàn thiện Các nhu cầu này được sắp xếp theo thứ tự thang bậc từ nhu cầu cơ bản nhất, có vị trí nền tảng nhất đến nhu cầu cao hơn Vì vậy, lý thuyết nhu cầu còn được gọi là bậc thang nhu cầu Trong cách tiếp cận của ông con người thường có xu hướng thỏa mãn trước tiên những nhu cầu quan trọng nhất ở vị trí bậc thang đầu tiên rồi sau đó mới hướng tới thỏa mãn những nhu cầu cao hơn

Có thể mô hình hóa bậc thang nhu cầu của A Maslow như sau:

n

Nhu cầu được tôn trọng

Nhu cầu xã hội

Nhu cầu an toàn

Nhu cầu vật chất Nhu cầu hoàn thiện

Trang 26

Nhu cầu thể chất sinh lý:

Đó là nhu cầu về thức ăn, nước uống, không khí, tình dục… Ông cho rằng Đây là những nhu cầu cơ bản nhất để con người có thể tồn tại và duy trì sự sống của bản thân vì vậy nó là một nhu cầu cần được đáp ứng trước tiên

Nhu cầu vật chất

Là những nhu cầu cơ bản nhất, như ăn, mặc ở, đi lại,… để đảm bảo cuộc sống đơn giản nhất Khi có được những nhu cầu này, họ mới bắt đầu phát triển các nhu cầu khác

Nhu cầu về an toàn:

Con người cần có một môi trường sống an toàn, đảm bảo về an ninh để tính mạng của họ được đảm bảo Họ có nhu cầu tránh sự nguy hiểm, đe dọa từ môi trường không ổn định và đầy nỗi sợ hãi

Nhu cầu tình cảm xã hội:

Đây là nhu cầu thuộc về nhóm xã hội của con người, là sự mong muốn nhận được sự quan tâm của các thành viên trong nhóm xã hội Con người cần có gia đình, cần tới trường để học tập và vui chơi trong nhóm bạn bè cùng lớp, cần được tham gia vào nhiều nhóm trong xã hội Trong các nhóm xã hội thì gia đình

là nhóm xã hội đặc thù, cơ bản nhất của con người

Nhu cầu được tôn trọng

Khi con người bắt đầu thỏa mãn nhu cầu được chấp nhận là thành viên trong

xã hội thì họ có xu thế tự trọng và muốn được người khác tôn trọng, họ cần được bình đẳng, được lắng nghe và không bị coi thường, dù họ là ai, trẻ em hay người tàn tật, người giàu hay người nghèo

Nhu cầu hoàn thiện

Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong cách phân cấp của ông Đó là nhu cầu được đến trường, được nghiên cứu, lao động sáng tạo…để phát triển một cách toàn diện [14]

Dựa trên thang nhu cầu của Maslow, NVCTXH áp dụng vào đề tài nhằm xác định, đánh giá những nhu cầu thực tế của thân chủ, để xem họ đang ở bậc thang nhu cầu nào từ đó có biện pháp can thiệp phù hợp, kịp thời, mang lại hiệu quả cao

Trang 27

1.2.2 Lí thuyết hệ thống

Trong CTXH có hai loại thuyết hệ thống nổi bật được đề cập đến là thuyết

hệ thống tổng quát và thuyết hệ thống sinh thái Trong nghiên cứu này học viên

sử dụng lý thuyết hệ thống sinh thái, lý thuyết này được sử dụng rất nhiều trong

“Hệ thống là tập hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau để hoạt động thống nhất” Một hệ thống bao gồm nhiều nhiều hệ thống, đồng thời

hệ thống đó cũng là một bộ phận của hệ thống lớn

Bản thân mỗi cá nhân cũng là một hệ thống, bao gồm các tiểu hệ thống như là: Sinh lý, nhận thức, tình cảm, hành động, phản ứng Tìm hiểu về nhóm hệ thống lớn hơn bao gồm các hệ thống cá nhân Mỗi cá nhân là một mắt xích trong

hệ thống, khi một mắt xích thay đổi thì dẫn đến sự thay đổi của toàn hệ thống Nghiên cứu này sẽ tìm hiểu các đặc điểm về sinh lý, nhận thức, tình cảm cũng như tâm tư, nguyện vọng của các cá nhân trong nhóm như một hệ thống Từ đó tìm hiểu về một hệ thống các mối quan hệ của cá nhân Có 3 hình thức hệ thống chính thức

Hệ thống phi chính thức: Gia đình, bạn bè, làng xóm

Hệ thống chính thức: Nhóm Cộng đồng, tổ chức đoàn thể

Hệ thống xã hội: Bệnh viện, trường học

Các hệ thống luôn có sự tác động lên cá nhân đó có thể là tác động tích cực, cũng có thể là tác động tiêu cực Bên cạnh đó không phải tất cả mọi người đều

có khả năng tiếp nhận sự hỗ trợ như nhau về nguồn lực có từ các hệ thống tồn tại xung quanh Mỗi cá nhân chịu sự tác động khác nhau từ các hệ thống mà họ tồn tại Với phụ nữ nghèo dân tộc thiểu số cũng vậy, họ chịu tác động bởi nhiều hệ thống và mỗi cá nhân lại có khả năng tiếp cận khác nhau, nghiên cứu sẽ tìm hiểu tác động của hệ thống lên phụ nữ nghèo dân tộc thiểu số

Lý thuyết hệ thống được sử dụng để giúp cho NVCTXH hiểu được thân chủ như một hệ thống với các yếu tố tương tác với nhau, và để thân chủ thực hiện được các hoạt động thì phải tương tác với các hệ thống khác bên ngoài Đối tượng thường xuyên có những nhu cầu luôn thay đổi để đạt được mục đích, mục tiêu và duy trì sự cân bằng, ổn định Vì vậy cần huy động nguồn lực hỗ trợ từ

Trang 28

các hệ thống để đáp ứng nhu cầu Và nghiên cứu cũng vậy, nghiên cứu xuất phát

từ việc đánh giá nhu cầu của phụ nữ nghèo dân tộc thiểu số để tìm nguồn hỗ trợ phù hợp dành cho đối tượng, NVCTXH là một trong những hệ thống thường xuyên tương tác với thân chủ, đặc biệt trong giai đoạn đầu tiến trình Hệ thống này không chỉ đóng vai trò chia sẽ, thấu cảm những khó khăn mà còn tìm hiểu

để kết nối các hệ thống dịch vụ cung cấp cho các thân chủ

Thuyết hệ thống giúp cho NVCTXH hiểu được các thể chế, sự tương tác của các hệ thống này với nhau và với thân chủ Với nghiên cứu và thực hành nghề này, nhiệm vụ quan trọng của học viên là đánh giá sự thay đổi của thân chủ đồng thời xác định liên hệ của thân chủ với các hệ thống hỗ trợ bên ngoài, xác định mối liên hệ nào là chặt chẽ nhất mối liên hệ nào là lõng lẽo để từ đó phát huy, cải thiện hay kết nối với nhau [15]

Tóm lại lý thuyết hệ thống giúp NVCTXH đánh giá được những nhu cầu của đối tượng trong hệ thống chung đó để tìm ra nguồn hỗ trợ phù hợp từ các nguồn

hệ thống Việc tiếp cận thuyết hệ thống cho chúng ta hiểu hơn các yếu tố tác động đến phụ nữ nghèo và qua đó sẽ hiểu và phát huy các nguồn lực để hổ trợ cũng như giúp đỡ họ vượt qua hoàn cảnh khó khăn hiện tại

1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và tình hình nghèo đói tại xã Đồng Văn, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh

1.3.1 Vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên xã hội

Đồng Văn cách trung tâm thị trấn Bình Liêu 24km Với diện tích tự nhiên gần 6.300ha, Đồng Văn có địa hình nhiều đồi núi, thung lũng với trên 2.500ha rừng hồi và rừng phòng hộ trải dài hùng vĩ, có đỉnh núi Cao

Ba Lanh cao 1.050m so với mực nước biển Mặc dù là xã đặc biệt khó khăn của huyện Bình Liêu, tuy nhiên với sự vào cuộc mạnh mẽ của cấp ủy, chính quyền, các ngành, đoàn thể, năm 2017 Đồng Văn trở thành một trong những xã đứng trong top đầu của huyện Bình Liêu về hoàn thành các chỉ tiêu phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh

Để thực hiện tốt nhiệm vụ đề ra, đầu năm 2017, Đảng ủy xã đã tổ chức triển khai quán triệt Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 3/12/2016 của Tỉnh ủy,

Trang 29

Nghị quyết số 09-NQ/HU ngày 29/12/2016 của Huyện ủy và ban hành Nghị quyết số 01-NQ/ĐU ngày 31/12/2016 của Ban Chấp hành Đảng ủy xã

về phương hướng, nhiệm vụ năm 2017 Hằng tháng, hằng quý, Đảng ủy xã

ra nghị quyết lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ toàn diện; tập trung cụ thể hóa chỉ tiêu phát triển kinh tế, xã hội và củng cố quốc phòng, an ninh phù hợp với từng thôn, bản Đảng ủy xã chỉ đạo đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát những nhiệm vụ khó, giải quyết những vấn đề nổi cộm, nhất là trong xây dựng nông thôn mới, giải phóng mặt bằng xây dựng công trình cơ bản Trong năm 2017, Đảng bộ, chính quyền xã đã tuyên truyền, vận động nhân dân hiến được 53.296m2 đất, 1.278 cây hồi, quế và 81 cây ăn quả các loại; vận động được 46 hộ dân dọc tuyến đường 18C tự tháo dỡ cổng, mái đua vi phạm hành lang đường

Bên cạnh đó, Đảng ủy xã đã chỉ đạo tuyên truyền thực hiện các chương trình, dự án, phát triển kinh tế - xã hội đến nhân dân ở 8 thôn, bản trên địa bàn xã Trong năm 2017, các ngành, đoàn thể của xã đã hướng dẫn, đứng

ra tín chấp cho đoàn viên, hội viên vay vốn gần 10,567 tỷ đồng để sản xuất, phát triển kinh tế hộ gia đình Xã phối hợp với Ban Dân tộc tỉnh hỗ trợ 28

hộ khó khăn về nhà ở với kinh phí 820 triệu đồng Ngoài ra còn hỗ trợ 11 nhà di dân theo đề án của tỉnh

Bên cạnh những kết quả đạt được cũng còn những tồn tại, hạn chế là: Công tác lãnh đạo, chỉ đạo một số nhiệm vụ trong phát triển kinh tế xã hội, đôi khi cũng chưa thật sự quyết liệt, một số chi bộ và đảng viên chưa phát huy được năng lực lãnh đạo, cũng như việc phát huy vai trò hạt nhân, nòng cốt; Mặc dù đời sống của nhân dân đã được cải thiện, nâng lên nhưng vẫn còn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo còn cao; Công tác cấp giấy chứng nhận cấp quyền sử dụng đất ở chưa đạt kế hoạch đề ra; Công tác cấp thẻ bảo hiểm y tế cho nhân dân còn chậm và sai sót; Công tác xây dựng nông thôn mới còn gặp nhiều khó khăn, chưa có những chuyển biến rõ rệt Việc triển khai các dự án phát triển sản xuất thuộc nguồn vốn xây dựng nông thôn mới và chương trình 135 chưa đạt tiến độ theo kế

Trang 30

hoạch đề ra; công tác tiêm phòng chưa đạt kế hoạch theo chỉ đạo, phòng chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi chưa chủ động, còn để sảy ra dịch bệnh trên đàn gia xúc Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn nhiều hạn chế; Công tác vận động xóa bỏ các tập tục, tập quán lạc hậu, công tác

vệ sinh môi trường, ăn ở hợp vệ sinh ở các thôn bản, hộ gia đình chuyển biến chậm, chưa đạt yêu cầu Tính trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ, đầu tư của Nhà nước trong một bộ phận người dân vẫn còn Xã Đồng văn là địa bàn có xuất phát điểm nền kinh tế còn thấp, trình độ dân trí còn nhiều hạn chế do đó sự hiểu biết về pháp luật, kiến thức khoa học, kỹ thuật trong một

bộ phận nhân dân còn nhiều hạn chế Sản xuất hàng hóa chưa phát triển còn mang nặng tính tự cung tự cấp Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền xã có những việc chưa thật sự quyết liệt Trình độ, năng lực, ý thức trách nhiệm của một số cán bộ, công chức từ xã đến các thôn bản còn hạn chế; công tác kiểm tra, giám sát chưa được thường xuyên

1.3.2 Tình trạng nghèo đói tại Đồng Văn, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh

Số lượng hộ nghèo, cận nghèo

Đảng ủy xã xây dựng kế hoạch giảm nghèo năm 2018 để tổ chức triển khai thực hiện.Thường xuyên quan tâm đến công tác xóa đói giảm nghèo, kết quả rà soát đến hết năm 2017 còn 676 hộ, hộ nghèo 255/676 hộ = 37,72 %

hộ cận nghèo còn 178/676 hộ = 26,33% Lập danh sách đề nghị khen thưởng các hộ thoát nghèo (71 hộ) Thống kê thực trạng hộ nghèo, cận nghèo đăng ký phấn đấu thoát nghèo năm 2018 để có những giải pháp hỗ trợ phát triển sản xuất, nhà ở, các chỉ số thiếu hụt… (139 hộ phấn đấu thoát nghèo, 110 hộ phấn đấu thoát cận nghèo) kết quả giảm nghèo năm 2018 là: 130/ 130 hộ = 100% KH và giảm cận nghèo 83/90 hộ = 92,2% KH Đến cuối năm 2018 tỷ lệ hộ nghèo còn 125 hộ/ 702 hộ chiếm 17,8% (giảm

19,9% so với đầu kỳ) và cận nghèo còn 203 hộ/702 hộ = 28,9% (Nguồn: Báo cáo UBND xã Đồng Văn, năm 2017)

Thường xuyên quan tâm giải quyết kịp thời các chính sách xã hội cho các đối tượng được hưởng (Trong đó: Cấp phát thẻ BHYT cho hộ nghèo

Trang 31

904 thẻ, DTTS được 1385 thẻ, trẻ em dưới 6 tuổi 377, cựu chiến binh 9 thẻ, Người cao tuổi 1 thẻ, dân tộc Kinh 30 thẻ

Năm 2017, Đồng Văn đạt 11/20 tiêu chí và 32/52 chỉ tiêu trong chương trình xây dựng nông thôn mới Toàn xã có 104 hộ thoát nghèo, vượt 48,6% so với

kế hoạch Bà con nơi đây còn phát triển đàn gia súc, gia cầm Công tác xây

dựng thôn, bản văn hoá, gia đình văn hoá được quan tâm (Nguồn: Báo cáo UBND xã Đồng Văn, năm 2017)

Năm 2017, toàn xã có 82,7% hộ đạt danh hiệu Gia đình văn hóa Quốc phòng, an ninh của xã được giữ vững và củng cố, góp phần giữ vững an ninh biên giới, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Ông Lý Văn B- Bí thư

Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Đồng Văn, cho biết: “Năm 2018, Đảng bộ, quân và dân trong xã sẽ tiếp tục nỗ lực phấn đấu sớm đưa Đồng Văn ra khỏi diện xã đặc biệt khó khăn của huyện”

Bảng 1: Số lƣợng hộ nghèo, hộ cận nghèo ở các thôn tại xã Đồng Văn,

Bình Liêu, Quảng Ninh

TT Thôn, xóm Tổng số hộ Hộ nghèo Hộ cận nghèo

Trang 32

Nhiều phụ nữ phải sống trong tình cảnh thiếu thốn vật chất và tinh thần và phải đối mặt với nhiều rủi ro trong cuộc sống, theo số liệu thống kê của xã thì

năm 2017 toàn xã có 46/180 hộ nghèo có phụ nữ nghèo làm chủ hộ

Phụ nữ nghèo dân tộc thiểu số tại xã Đồng Văn không những thiếu thốn về mặt vật chất mà đời sống tinh thần cũng không được đảm bảo Theo kết quả của

10 cuộc phỏng vấn thì có tới 7 phụ nữ nghèo tại xã trả lời họ không có thời gian nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động xã hội Như vậy chúng ta có thể thấy rằng

sự khó khăn về đời sống vật chất đã khiến cho đời sống tinh thần của phụ nữ nghèo ở xã Đồng Văn không được đảm bảo Theo kết quả của các cuộc phỏng vấn tác giả luận văn thấy hầu hết phụ nữ nghèo tại xã có nhu cầu vươn lên thoát nghèo, được hướng dẫn làm kinh tế và được vay vốn để sản xuất Trong những năm gần đây với sự nỗ lực của chính quyền xã Đồng Văn và đặc biệt là những hoạt động của hội phụ nữ đã giảm tỉ lệ phụ nữ nghèo, theo số liệu thống kê của hội phụ nữ xã năm 2016 toàn xã có 68 hộ nghèo có phụ nữ làm chủ hộ, đến năm

2017 đã giảm xuống còn 46 hộ Đây là nỗ lực rất lớn tuy nhiên chính quyền xã cần có nhiều chính sách hơn nữa để nâng cao đời sống phụ nữ nghèo (Ủy ban Nhân dân Xã Đồng Văn, 2017)

Đặc điểm tâm lý của phụ nữ nghèo

Phụ nữ nghèo tại xã Đồng Văn là những người sống trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn về vật chất và tinh thần, nhiều phụ nữ phải đảm nhận vai trò quan trọng trong gia đình Khi nền kinh tế ngày càng phát triển thì nhiều phụ nữ

có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh nghèo khổ, thậm chí họ còn là nạn nhân của bạo lực gia đình và tệ nạn xã hội Tuy nhiên, nguyên nhân này không phải lúc nào cũng xuất phát từ chính những phụ nữ nghèo, trong xã hội vẫn còn tồn tại những cái nhìn không tốt và kì thị đối với phụ nữ nghèo đặc biệt là những phụ nữ có hoàn cảnh đặc biệt Chính những thái độ kì thị đã làm cho vấn đề của những phụ

nữ nghèo trầm trọng hơn, nhiều người còn cho rằng phụ nữ nghèo là những người thấp hèn trong xã hội, là những người lao động chân tay Đây cũng là lí

do khiến nhiều phụ nữ nghèo tại xã Đồng Văn không dám vươn lên thoát nghèo

Trang 33

Tâm lí phó mặc cho số phận cũng đã gây ra tình trạng trông chờ, ỷ lại của phụ nữ nghèo vào những chính sách chủ trương xóa đói giảm nghèo của địa phương Điều này sẽ làm tăng tính thụ động của phụ nữ nghèo và khó khăn cho chính quyền địa phương trong việc giúp phụ nứ thoát nghèo

Đặc điểm tâm lí tiếp theo đó là nhiều phụ nữ nghèo dân tộc thiểu số tại xã Đồng Văn tính khí thất thường, hay nổi cáu, họ không muốn tiếp xúc với người ngoài Vì hoàn cảnh nghèo khổ, lao động vất vả lại chiụ nhiều định kiến của xã hội nên nhiều phụ nữ nghèo thường hay nổi nóng và ngại tiếp xúc với người ngoài Phần lớn phụ nữ nghèo dân tộc thiểu số tại xã cho biết họ ít khi tham gia các hoạt động xã hội và ngại nói lên chính kiến của mình ở chỗ đông người Điều này sẽ khiến phụ nữ nghèo dân tộc thiểu số tại xã không tiếp cận với những kinh nghiệm làm kinh tế và làm cho người khác càng xa lánh họ

Trang 34

CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VỚI PHỤ NỮ NGHÈO VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI XÃ ĐỒNG VĂN

Trợ giúp của công tác xã hội đối với phụ nữ nghèo có nhiều ý nghĩa đối với cuộc sống của cá nhân và gia đình họ Trong khuôn khổ luận văn, tác giả can thiệp với 01 phụ nữ nghèo đơn thân, với phương pháp can thiệp cá nhân Mục đích là giúp họ giải quyết một số vấn đề đặc trưng của phụ nữ nghèo đơn thân, tìm cách để họ tự khắc phục và vươn lên trong cuộc sống

2.1 Mục tiêu, dự kiến kế hoạch làm việc với thân chủ trước khi tiếp cận

Trước khi thực hiện tiến trình can thiệp cá nhân đối với phụ nữ nghèo, NVCTXH cũng đặt ra một số mục tiêu và kế hoạch làm việc, trước khi tiếp cận trực tiếp đối với thân chủ Trước hết, mục tiêu được đặt ra là các chỉ dẫn cho tiến trình làm việc sau này, bao gồm: (1) Có thể tiếp cận, nói chuyện làm việc với thân chủ, tìm hiểu nhu cầu và nhận diện được các vấn đề mà thân chủ gặp phải; (2) Hỗ trợ thân chủ tự lên kế hoạch giải quyết các vấn nạn của bản thân, kết hợp với kế hoạch làm việc cụ thể

Kế hoạch làm việc dự kiến là tiếp cận với thân chủ trong một khoảng thời gian xác định, đủ để thân chủ chia sẻ và đề xuất, thực hiện được một số hoạt động nhằm thay đổi tình trạng của bản thân Kết quả mong muốn là thân chủ chấp nhận và chia sẻ các thông tin, tìm kiếm được nguồn lực, thực hiện được một số hoạt động trợ giúp cho cuộc sống của bản thân Hy vọng sau tiến trình làm việc với NVCTXH, thân chủ có cái nhìn lạc quan, yêu đời và có ý thức vươn lên trong cuộc sống

2.2 Tiến trình công tác xã hội cá nhân với thân chủ

2.2.1 Tiếp cận thân chủ

Được sự giới thiệu Ban XĐGN xã Đồng Văn, Hội LHPN xã Đồng Văn, NVCTXH đã chủ động tìm đến gặp gỡ trao đổi với anh Nguyễn Văn T - Bí thư kiêm Trưởng thôn và Chị Nông Thị B - Chi hội trưởng hội phụ nữ

Trang 35

Mục tiêu của buổi làm việc này nhằm thiết lập mối quan hệ với với cán bộ cơ

sở qua đó tìm hiểu một số thông tin về tình hình phụ nữ nghèo đói trên địa bàn thôn qua trao đổi với cán bộ và thông qua hồ sơ hộ nghèo được lưu trữ tại thôn

Sau khi có được danh sách và một số thông tin về những hộ nghèo do phụ

nữ làm chủ, NVCTXH đặc biệt quan tâm đến hoàn cảnh của chị Vũ Thị Thu bởi chị không chỉ thiếu thốn về vật chất mà còn thiếu hụt về tình cảm Hơn nữa chị

Vũ Thị Thu là một người luôn mang trong mình sự mặc cảm, tự ti, và mối lo khôn nguôi khi một mình nuôi 02 con, trong đó có cậu con trai nhỏ bị tàn tật Tiếp xúc với phụ nữ nghèo dân tộc thiểu số là không dễ bởi họ luôn có tâm

lý mặc cảm, tự ti, sống khép mình… Do vậy, ngay từ đầu NVCTXH cần phải thật khéo léo, chân thành để tạo sự tin tưởng với thân chủ

Từ hồ sơ hộ nghèo học viên thu thập được một số thông tin về thân chủ như tên tuổi, địa chỉ, hoàn cảnh, mức thu nhập như sau:

Họ và tên thân chủ: Vũ Thị Thu Sinh năm: 1982

Nghề nghiệp: Nông nghiệp

Con trai thứ nhất: Nông Văn Minh - sinh ngày 07/5/2006

Con trai thứ hai: Nông Duy Mạnh - Sinh ngày 02/1/2009

Thu nhập: 650.000đ/tháng

Theo đúng kế hoạch ngày 10/8/2018, NVCTXH đã chủ động tìm đến nhà đối tượng Dưới đây là mô phỏng buổi gặp gỡ đầu tiên giữa NVCTXH và thân chủ nhằm tạo lập mối quan hệ thân thiện và cởi mở, lắng nghe và chia sẻ

“Chị đừng ngại Em thực sự đánh giá rất cao nghị lực của chị, có gì buồn chị cứ tâm sự với em, việc giữ bí mật cho thân chủ là một trong những nguyên tắc quan trọng của NVCTXH, những gì chị chia sẻ với em, em sẽ giữ bí mật và không nói cho ai, nếu thực sự cần nói em sẽ xin ý kiến của chị” (Phúc đáp của NVCTXH, 2018)

Trong buổi gặp gỡ và trao đổi, làm việc với thân chủ, NVCTXH đã giới thiệu về bản thân, trình xuất giấy giới thiệu, trình bày với thân chủ về mục đích, nguyên tắc của NVCTXH,… nhằm xây dựng niềm tin với thân chủ, giúp thân chủ hiểu hơn về CTXH đồng thời giúp thân chủ cởi mở hơn trong việc giao tiếp

Trang 36

và làm việc với NVCTXH Qua buổi tiếp xúc, trò chuyện đầu tiên này, NVCTXH cũng nhận thấy thân chủ có phần bi quan trong cuộc sống nên đã sử dụng kỹ năng khích lệ, đồng cảm nhằm giúp cho thân chủ giảm bớt bi quan trong cuộc sống và tự ti trong giao tiếp

Trong buổi tiếp xúc này, NVCTXH cũng tranh thủ thu thập một số thông tin

để xác định vấn đề ban đầu thông qua thân chủ

Chị Vũ Thị Thu sinh ra trong gia đình nghèo, năm 2005 chị Thu đã kết hôn cùng anh Nông Văn Thái và sinh được hai cậu con trai, cuộc sống gia đình tuy vất vả nhưng rất hạnh phúc Đến năm 2015 không may anh Thái lại găp tại nạn giao thông bị qua đời, chị Thu một mình phải nuôi 02 con, trong đó có 01 bé bị khuyết tật Gia đình chị chỉ có 3 sào ruộng nên chị Thu phải đi làm thuê để kiếm tiền trang trải cho cuộc sống của gia đình, hoàn cảnh chị Thu trở nên khó khăn hơn khi chồng chết, chị thường xuyên không ăn ngủ được người gầy và xanh, 01

đứa con trai hay bị ốm đau (Phúc đáp của NVCTXH, 2018)

Như vậy, bằng kỹ năng thấu cảm, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng giúp thân chủ trực diện với vấn đề, kỹ năng cung cấp thông tin đồng thời qua quan sát và trò chuyện ban đầu NVCTXH nhận thấy đối tượng đang gặp phải phải một số vấn

đề như sau:

- Vấn đề 1: Thân chủ là người gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế

- Vấn đề 2: Thân chủ luôn mặc cảm, tự ti về bản thân

- Vấn đề 3: Thân chủ gặp nhiều khó khăn trong chăm sóc con nhỏ bị khuyết tật

2.2.2 Thu thập thông tin

Sau những buổi vãng gia, thăm, gặp và trò chuyện với đối tượng NVCTXH nhận thấy thân chủ và gia đình đã dành cho mình những sự tin cậy nhất định, NVCTXH tiến hành bước tiếp theo đó là: “Thu thập thông tin”

Để thu thập được những thông tin cần thiết NVCTXH đã sử dụng rất nhiều

kỹ năng như: kỹ năng lắng nghe, quan sát, khuyến khích làm rõ ý, phỏng vấn sâu để khai thác được từng vấn đề cụ thể của đối tượng

Công việc thu thập thông tin hầu như được tiến hành trong suốt tiến trình can thiệp NVCTXH thông qua một số nguồn có thể tiếp cận được như: thân

Trang 37

chủ, hàng xóm thân chủ, những người thân, BCH thôn và câu lạc bộ phụ nữ để thu thập thông tin Các thông tin thu thập được bao gồm:

2.2.2.1 Nhận diện vấn đề của thân chủ

Đầu tiên, NVCTXH lắng nghe thân chủ tự bộc lộ về gia đình, bản thân, những khó khăn, bức xúc mà họ đang gặp phải Qua đó, NVCTXH xác nhận một số vấn đề mà thân chủ hiện đang gặp phải:

Thứ nhất: Thân chủ là người gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế

Hiện tại thân chủ đang rất khó khăn và chật vật về kinh tế Thân chủ chỉ có 3 sào ruộng là nguồn thu nhập chính Thỉnh thoảng chị mới có thời gian đi kiếm bắt ngêu, ngao để kiếm tiền thuốc thang, rau cháo còn phần lớn thời gian chị phải ở nhà chăm sóc hai con

“Chị chỉ có 3 sào ruộng thôi, mùa xong, giờ hầu hết thời gian của chị Thu quanh quẩn ở mảnh vườn nhỏ nên đã túng càng túng thêm Hầu như cả tháng chị chẳng có thu nhập gì ngoài tiền trợ cấp theo chế độ theo Nghị định 136 của Chính phủ cho chị và của con bé, tổng cộng được 1.400.000đ Trước đây, thì chị con có con gà, ngan nhưng do bị dịch nên đã chết, vay thì sợ lỡ nó dịch tiếp lấy đâu ra tiền

mà trả giá cả thì ngày càng tăng, chị không biết xoay sở sao nữa”

(PVS, thân chủ)

Thứ hai: thân chủ luôn có tâm lý mặc cảm, tự ti

Qua thực tế quan sát tiếp xúc, trò chuyện NVCTXH nhận thấy thân chủ luôn mặc cảm với quá khứ và cả hiện tại Chính sự nghèo đói, sự định kiến của xã hội, sự mặc mặc cảm, tự ti đã khiến thân chủ thành người ít nói, ít có các mối quan hệ và giao tiếp xã hội

“Dạo này thỉnh thoảng nó đòi chị đẩy ra đường chơi nhưng hàng thôn họ không thích lại gần hoặc con chị chơi chung với con họ Nhà một minh là mẹ lại gánh vác thêm công việc làm cha nữa đã nghèo con lại còn bị khuyết tật, nhiều lúc chị muốn buông xuôi tất cả cho xong ”

(PVS, thân chủ)

Thứ ba: Thân chủ gặp nhiều khó khăn trong chăm sóc con trai nhỏ bị khuyết tật

Trang 38

Theo như lời kể của chị Thu và qua quan sát NVCTXH nhận thấy, thân chủ

là người chăm lo cuộc sống cho con trai út bị khuyết tật trong tất cả mọi việc từ

ăn uống, tắm rửa, vệ sinh bởi Mạnh không chỉ bị tật co quắp chân tay, mà chân tay Mạnh còn rất yếu không thể cử động được Chính vì thế, phần lớn thời gian chị phải ở bên Mạnh để chăm sóc nhất là khi trái gió trở trời

“Con trai nhỏ của chị bị dị tật bẩm sinh, hai chân và hai tay không thể tự làm bất cứ việc gì từ ăn uống, đi lại, vệ sinh cá nhân đều một tay chị phải làm hết Nó

ở nhà cả ngày, nhiều lúc cũng buồn bực khổ lắm ”

Ngoài thu thập thông tin qua thân chủ, NVCTXH cũng chủ động thu thập thông tin từ các nguồn khác như: hàng thôn, BCH thôn, hội phụ nữ để bổ sung cho các thông tin được hoàn chỉnh hơn

Thông qua, hàng thôn NVCTXH biết được hoàn cảnh của chị đặc biệt khó khăn bắt đầu từ khi đứa con ra đời

“Cuộc đời chị ấy khổ lắm, nhất là từ khi cái thêm thằng con trai bé nó ra đời Không như người ta được con lành lặn lại thêm khuyết tật nhiều bữa tôi

sang thấy 3 mẹ con chỉ có một nồi cháo với nắm rau lang luộc ” (PVS, Chị

Hoàng Thị K, hàng xóm của thân chủ)

Ngoài ra, thông qua hội phụ nữ thôn, NVCTXH cũng tìm hiểu được một số các thông tin không chỉ về hoàn cảnh của thân chủ mà còn có những hoạt động của Hội phụ nữ đối với thân chủ như hoạt động thăm hỏi tặng quà ngày lễ tết, ngày kỷ niệm của Hội (8/3, 20/10 ) hay các ngày vì người nghèo, ngày người khuyết tật

“Chị Thu là một trong những trường hợp phụ nữ nghèo làm chủ gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Chị một thân một mình nuôi 02 con nhỏ, trong đó

có một con nhỏ khuyết tật, ruộng ít, vốn liếng lại không có Chi hội cũng đã có những biện pháp giúp đỡ như tặng xe lăn nhân ngày 20/10, tặng quà ngày tết và động viên tinh thần để chị tham gia vào CLB phụ nữ nhưng hình như chị vẫn còn nhiều mặc cảm nên vẫn chưa tham gia sinh hoạt”

(PVS Chi hội phụ nữ thôn 8)

Ngày đăng: 16/02/2020, 14:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. Vi Văn Tình (2017), https://text.xemtailieu.com/tai-lieu/cong-tac-xa-hoi-trong-xoa-doi-giam-ngheo-tu-thuc-tien-huyen-muong-nhe-tinh-dien-bien-tt-1447983.html, , truy cập ngày 23/5/2019 Link
1. Công tác xã hội và xóa đói giảm nghèo (Social word and poverty reduction) được nghiên cứu tại Umuebu - Nigeria Khác
2. Đỗ Thị Bình (2003), Gia đình Việt Nam và phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ CNH – HĐH đất nước, Nhà xuất bản Hà Nội Khác
3. Đỗ Thị Bình - Lê Ngọc Lân (1996), Phụ nữ nghèo nông thôn trong điều kiện kinh tế thị trường, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996 Khác
4. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 10, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
5. Phạm Văn Quyết, Nguyễn Quý Thanh, Phương pháp nghiên cứu xã hội học, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội Khác
6. Định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam (chương trình Nghị sự 21 Việt Nam), 2004 Khác
7. Hội LHPN tỉnh Quảng Ninh (2016), Dự án: Hỗ trợ phụ nữ nông thôn học nghề, tạo việc làm giai đoạn 2016 - 2020” Khác
8. Phạm Tất Đồng, Lê Ngọc Hùng (đồng chủ biên) (2001). Giáo trình XHH, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Khác
9. Trường Đại học Lao động xã hội (2005), Giáo trình công tác xã hội cá nhân, NXB Lao động Xã hội Khác
10. Nguyễn Thị Oanh. Phát triển cộng đồng, đại học mở bán công TP HCM Khác
11. UBND xã Đồng Văn (2017). Báo cáo công tác xóa đói giảm nghèo ở xã Đồng Văn Giai đoạn 2016- 20120 Khác
12. UBND Xã Đồng Văn (2017). Báo cáo tình hình thực hiện kinh tế - xã hội năm 2017 và phương hướng nhiệm vụ phát triển năm 2018 Khác
13. Bùi Thị Tân, Bài giảng vấn đề nghèo đói và các khuynh hướng xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam Khác
17. Lê Kim Thắng (2016), luận văn thạc sĩ “Công tác xã hội với vấn đề giảm nghèo ở người dân tộc thiểu số tại xã Ianan, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Rai, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w