LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ Công tác xã hội đề tài “Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp phụ nữ bị bạo lực gia đình
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ THANH HUYỀN
VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG TRỢ GIÚP PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI XÃ NGHĨA THÁI, HUYỆN NGHĨA HƯNG,
TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
Hà Nội - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ THANH HUYỀN
VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG TRỢ GIÚP PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI XÃ NGHĨA THÁI, HUYỆN NGHĨA HƯNG,
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ
Công tác xã hội đề tài “Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp phụ nữ bị bạo lực gia đình tại xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định” là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong
cùng lĩnh vực
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Hà Nội, ngày 18 tháng 9 năm 2019
Học viên
Vũ Thanh Huyền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tập thể thầy cô giáo trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tận tình và truyền đạt cho tôi những kiến thức, kinh nghiệm, tâm huyết với nghề nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Nguyễn Hồi Loan người đã hướng dẫn
và chỉ bảo cho tôi rất tận tình trong suốt quá trình thực hiện luận văn để bảo
vệ trước và sau hội đồng Nhờ có sự chỉ bảo giúp đỡ của thầy, tôi đã có được nhiều kinh nghiệm quý báu trong việc triển khai và thực hiện đề tài nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn đến các thành viên trong ban hội đồng đã cho tôi những lời nhận xét, góp ý thực tiễn mà đề tài của tôi còn thiếu sót; đặc biệt là PGS.TS Nguyễn Thị Như Trang đã chỉ bảo tận tình và giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thiện luận văn tốt hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Đảng ủy – UBND, chính quyền địa phương, hội liên hiệp phụ nữ, các cán bộ đa ngành và người dân xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình đã tạo điều kiện cho tôi cũng như sự cổ vũ, động viên, khích lệ của người thân, thầy cô và bạn bè giúp tôi hoàn thành luận văn Thạc sĩ
Hà Nội, ngày 18 tháng 9 năm 2019
Học viên
Vũ Thanh Huyền
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 5
3 Ý nghĩa của nghiên cứu 12
4 Mục đích nghiên cứu 12
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 12
6 Đối tượng nghiên cứu 13
7 Phạm vi nghiên cứu 13
8 Câu hỏi nghiên cứu 14
9 Giả thuyết nghiên cứu 14
10 Nguyên tắc phương pháp luận nghiên cứu 15
11 Kết cấu của đề tài 17
PHẦN NỘI DUNG 18
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 18
1.1 Một số khái niệm công cụ 18
1.1.1 Nhân viên công tác xã hội 18
1.1.2 Cộng tác viên công tác xã hội (Nhân viên công tác xã hội bán chuyên) 18
1.1.3 Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp phụ nữ bị bạo lực gia đình 1.1.3.1 Vai trò của nhân viên công tác xã hội 20 1.1.4 Công tác xã hội cá nhân 24
1.1.5 Phụ nữ bị bạo lực gia đình 25
1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 29
1.2.1 Lý thuyết nhu cầu của A.Maslow 29
1.2.2 Lý thuyết nhận thức – hành vi 30
1.2.3 Lý thuyết hệ thống 31
Trang 61.2.4 Lý thuyết vai trò, vị thế xã hội 32
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 33
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI XÃ NGHĨA THÁI, HUYỆN NGHĨA HƯNG, TỈNH NAM ĐỊNH HIỆN NAY 34
2.1 Khái quát địa bàn nghiên cứu 34
2.1.1 Điều kiện tự nhiên của địa bàn nghiên cứu 34
2.1.2 Điều kiện kinh tế - văn hoá – xã hội của địa bàn nghiên cứu 34
2.2 Thực trạng phụ nữ bị bạo lực gia đình tại xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định 36
2.2.1 Các hình thức bạo lực tại địa bàn nghiên cứu 36
2.2.2 Lý do phụ nữ cam chịu bị bạo lực gia đình tại địa bàn nghiên cứu 48
2.2.3 Hậu quả của việc phụ nữ bị bạo lực gia đình tại địa bàn nghiên cứu 54
2.3 Hỗ trợ can thiệp của cộng tác viên công tác xã hội (nhân viên công tác xã hội bán chuyên) với phụ nữ bị bạo lực gia đình tại xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định 57
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 64
CHƯƠNG 3 THỰC HÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN TRONG TRỢ GIÚP PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI XÃ NGHĨA THÁI, HUYỆN NGHĨA HƯNG, TỈNH NAM ĐỊNH 66
3.1 Mô tả, phân tích trường hợp cụ thể và áp dụng tiến trình CTXH cá nhân tại địa phương 66
3.2 Vai trò tham vấn 86
3.3 Vai trò biện hộ 93
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 97
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHỤ LỤC 107
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Gia đình là một thiết chế văn hoá - xã hội đặc thù, là cái nôi của tình yêu thương, là nơi cuộc sống nảy mầm và tình yêu không bao giờ kết thúc Gia đình chính là món quà tuyệt vời nhất, bởi nếu không có gia đình, con người sẽ không có sự tái tạo Chính vì thế, gia đình đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc sống Nó chính là nhân tố cho sự tồn tại và phát triển của xã hội Trải qua lịch sử nhân loại, gia đình không chỉ là tổ ấm, nuôi dưỡng tâm hồn và nhân cách con người mà còn là điểm tựa vững chắc nhất, là bến đỗ bình yên cho mỗi chúng ta Có thể thấy, một gia đình tuyệt vời sẽ là nơi tràn ngập tiếng cười, niềm yêu thương và hạnh phúc Tuy nhiên không phải ai cũng có được niềm hạnh phúc gia đình Trên thực tế, không ít người đang phải vô hình gánh chịu những hình thức bị tra tấn, tổn thương không chỉ về mặt tinh thần, thể chất mà còn đe doạ đến tính mạng khi mái ấm của họ trở
thành “địa ngục trần gian” Ẩn dưới những mái ấm ấy là quá trình hình thành
và tiếp diễn những hành vi bạo lực gia đình Đó là những hành vi phá vỡ hạnh phúc gia đình, ảnh hưởng những người xung quanh và gia tăng nguy cơ những hành vi lệch chuẩn, tội phạm trong xã hội
Bạo lực gia đình là một hiện trạng tiêu cực đang tồn tại không chỉ ở Việt Nam mà còn ở bất cứ đâu trên thế giới Phần lớn, chúng ta có thể bắt gặp, nghe hoặc đọc về các trường hợp bạo lực gia đình đang diễn ra thông qua báo, đài – tivi Trong đó, nạn nhân của các vụ bạo lực gia đình thường là người phụ nữ và bạo lực gia đình diễn ra dưới bốn hình thức khác nhau như bạo lực về thể chất, bạo lực về tinh thần, bạo lực kinh tế hoặc lao động và bạo lực tình dục Để có góc nhìn tổng quát về hiện trạng bạo lực gia đình thì bạo lực thể chất là các hành vi tấn công bằng vũ lực, đánh đập hay tra tấn thân thể người phụ nữ Bạo lực tinh thần chiếm phần lớn tổng số các vụ bạo lực hiện nay Chúng xảy ra dưới hành động cố tình tra tấn người phụ nữ bằng ngôn
Trang 8ngữ, lời nói hay kiểm soát, cô lập họ…Bên cạnh đó, bạo lực kinh tế hoặc lao động diễn ra thông qua việc cưỡng ép hoặc chiếm đoạt tài sản, công sức đóng góp của người phụ nữ, hay đơn thuần là ép buộc họ làm việc quá sức Cuối cùng, bạo lực tình dục chính là hành vi cưỡng đoạt tình dục người phụ nữ Vì vậy, chúng ta không thể phủ nhận rằng bạo lực gia đình dù xảy ra dưới hình thức nào cũng kéo theo rất nhiều hệ luỵ, gây nên sự tổn thương nghiêm trọng đối với cá nhân phụ nữ bị bạo lực và gia đình nói chung Đồng thời, ảnh hưởng đến nền văn minh, kéo lùi sự phát triển của xã hội Như vậy, đây là một thực trạng rất cần mỗi cá nhân trong cộng đồng quan tâm sâu sắc và có
sự can thiệp kịp thời, đúng đắn; trong đó nhân viên công tác xã hội là một trong những người được đào tạo và trang bị kiến thức, kỹ năng chuyên môn
để hỗ trợ phụ nữ bị bạo lực gia đình một cách hiệu quả nhất
Hiện nay, theo số liệu thống kê năm 2015 của Sở lao động thương binh
và xã hội tại xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định, tổng số phụ
nữ bị bạo lực gia đình là 67 người Đây được coi là chỉ số đáng lo ngại, mặc
dù đã được giảm thiểu còn 42 người vào năm 2016 Nhìn chung trong những năm gần đây, chính quyền địa phương, các cơ quan tổ chức tại xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định, đã không ngừng thực hiện nhiều chương trình ý nghĩa, hoạt động tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức, tăng cường năng lực đối phó và giải quyết vấn đề cho người dân Song, thực trạng phụ nữ
bị bạo lực gia đình vẫn đang diễn ra Việc thực hiện hiệu quả vai trò của nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp cho phụ nữ bị bạo lực gia đình tại xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định vô cùng cần thiết và quan
trọng Chính vì vậy, đề tài “Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp cho phụ nữ bị bạo lực gia đình tại xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định” sẽ nghiên cứu thực trạng phụ nữ bị bạo lực gia đình tại xã; đề
cao các vai trò của nhân viên công tác xã hội, đặc biệt là vai trò tham vấn và vai trò biện hộ nhằm trợ giúp phụ nữ thúc đẩy khả năng tự giải quyết vấn đề bạo lực gia đình, tăng cường sự thay đổi chất lượng cuộc sống, giảm thiểu bạo
Trang 9lực gia đình và thúc đẩy an sinh xã hội trong giai đoạn hiện nay và trong những năm tới
2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
2.1 Những nghiên cứu trên thế giới:
Bạo lực gia đình là hiện tượng phổ biến, diễn ra khắp nơi trên thế giới Bạo lực gia đình không phân biệt màu da, độ tuổi, vai trò – vị thế xã hội hay dân tộc Dưới đây là những số liệu thống kê về thực trạng phụ nữ bị bạo lực gia đình xảy ra ở một số nước trên thế giới:
Hiện nay ở nước cộng hoà Ireland, dẫn theo Cơ quan Liên minh châu
Âu về quyền cơ bản – FRA (European Union Agency for Fundamental Rights) thì Ireland là nước có số lượng phụ nữ cao thứ hai bị bạo lực gia tình
tại Châu Âu Theo Báo cáo tác động viện trợ của phụ nữ năm 2017, tỷ lệ bạo lực gia đình đối với phụ nữ lên tới 15.833 vụ, trong đó ghi nhận 21,451 phụ
nữ đã có sự liên lạc với dịch vụ hỗ trợ trực tiếp của phụ nữ Thống kê số liệu cho thấy có 10.281 trường hợp phụ nữ bị bạo lực tinh thần, chủ yếu về tình cảm; 3.502 trường hợp về bạo lực thể chất và 1.443 trường hợp về bạo lực kinh tế Cùng năm đó, báo cáo đã chỉ ra có 607 vụ bạo lực tình dục với phụ
nữ (323 trường hợp cưỡng hiếp) Dịch vụ hỗ trợ phụ nữ (The Women's Aid One to One Support Service), các cộng tác viên công tác xã hội đã cung cấp
dịch vụ cho 728 người, vận động cho 1.743 người phụ nữ trong suốt cả năm
2017
Đối với nước Anh, theo Khảo sát tội phạm Anh năm 2000 (Anh và xứ Wales), bạo lực gia đình có tỷ lệ nạn nhân lặp lại cao hơn bất kỳ loại tội phạm nào khác Một báo cáo của Anh –CEMACH (The Confidential Enquiry into Maternal and Child Health) năm 2007 trích dẫn bạo lực gia đình trong thai kỳ
như một chỉ báo quan trọng về kết cục sức khỏe người mẹ và trẻ em nghèo, bao gồm tử vong, thấy 70 trong số 295 phụ nữ (24%) đã tử vong trong thai kỳ hoặc trong vòng 6 tuần sau sinh do có dấu hiệu của bạo lực gia đình 19 trong
số những phụ nữ này đã bị người chồng sát hại
Trang 10Bên cạnh đó, theo tác giả David Waston với nghiên cứu“Bạo lực gia đình và bảo vệ trẻ em: kinh nghiệm của phụ nữ có can thiệp công tác xã hội - Domestic abuse and child protection: women’s experience of social work intervention” (2017) đã nhấn mạnh đến nhân viên công tác xã hội có vai trò
trong việc giúp phụ nữ nhận ra việc bạo hành gia đình Khi sự công nhận này
đã diễn ra, vai trò của nhân viên công tác xã hội có thể bắt đầu kết nối phụ nữ với các nguồn lực, hỗ trợ và cơ hội cần thiết để vượt qua sự kiểm soát cưỡng chế, thoát khỏi tình trạng bạo lực Nghiên cứu cũng đề cập đến ý nghĩa thực tiễn cho thấy để thực hiện vai trò hỗ trợ phụ nữ bị bạo hành có hiệu quả, các nhân viên công tác xã hội cần phải lắng nghe nạn nhân, tránh mối đe doạ và
sự đổ lỗi, đáp ứng nhu cầu của thân chủ và làm việc để tăng khả năng của phụ
nữ về sự an toàn, sự tự do và chăm sóc trẻ em
Theo thống kê quốc gia của tờ thông tin về bạo lực gia đình ở Mỹ (The National Statistics Domestic Violence Fact Sheet), phụ nữ gia đình trong độ
tuổi từ 18-24 thường bị đàn ông lạm dụng Trong đó có 45,4% trường hợp phụ nữ bị bạo lực tình dục; 35,6% bị bạo lực về thể chất, 22% bị bạo lực kinh
tế Mặc dù chính phủ Mỹ và các cơ quan, tổ chức chính phủ/phi chính phủ, đội ngũ nhân viên công tác xã hội và người dân đã rất nỗ lực trong việc phòng, chống bạo lực gia đình Tuy nhiên, tình trạng bạo lực gia đình tại Mỹ vẫn diễn ra phổ biến, sự gia tăng về số vụ và mức độ ngày một nghiêm trọng hơn
Cũng theo bài viết trên trang Hiệp hội những nhà công tác xã hội quốc
gia Mỹ (NASW-National Association of Social Worker) cho biết nhân viên
công tác xã hội luôn đi đầu trong việc ngăn chặn bạo lực gia đình và điều trị nạn nhân của bạo lực gia đình Ví dụ như, nhân viên xã hội thực hiện vai trò kết nối, cung cấp tư vấn và hỗ trợ thông qua các chương trình tạm trú, tư vấn cho các cá nhân và vận động tòa án Nhân viên xã hội cũng ủng hộ các chương trình và pháp luật để giải quyết bạo lực gia đình Ở Mỹ, tháng nhận thức về Bạo lực Gia đình diễn ra vào tháng mười Nhân viên xã hội của
Trang 11NASW sẽ giúp bạn hiểu hơn về phạm vi bạo lực gia đình, cách nhận biết các dấu hiệu đang xảy ra và những gì có thể được thực hiện để giúp đỡ nạn nhân
và cách ngăn chặn bạo lực trong tương lai
Tác giả Nicole Brown, chuyên gia quản lý truyền thông của Hiệp hội
Công tác xã hội toàn cầu với bài viết “Nhân viên dịch vụ xã hội có thể giúp chấm dứt bạo lực đối với phụ nữ” (Social service workers can help and violence against women) đăng trên tạp chí Y tế quốc tế năm 2015 cho biết
Hiệp hội công tác xã hội toàn cầu sẽ đào tạo các nhân viên dịch vụ xã hội để phân tích và tìm hiểu lý do các lý do phức tạp và khác nhau mà bạo lực xảy ra với phụ nữ và có thể hỗ trợ cộng đồng thay đổi hành vi xã hội và ngăn ngừa bạo lực Nhân viên dịch vụ xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ tư vấn, kết nối và giới thiệu để nạn nhân được chăm sóc và điều trị sức khoẻ, thể chất, tinh thần và tâm lý xã hội Nhân viên công tác xã hội cũng
có thể là người vận động chính sách cho các nạn nhân và đôi khi có vai trò dẫn đầu trong việc hỗ trợ pháp lý cho nạn nhân bằng cách làm việc chặt chẽ với cơ quan thực thi pháp luật
Thông qua những dẫn chứng thực tế, bản tóm tắt của các quốc gia đã chứng minh thực trạng phụ nữ bị bạo lực gia đình đang xảy ra vô cùng nghiêm trọng và là vấn đề đáng lo ngại cho sự an sinh xã hội của mỗi đất nước Từ đó, chính phủ các nước đã tự đưa ra những đề xuất, nhắc nhở chú tâm, đưa vấn đề này ưu tiên hơn trong các vấn nạn xã hội hiện nay Đồng thời, chú trọng phát triển ngành công tác xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội; đào tạo nguồn lực, đội ngũ nhân viên công tác xã hội, cộng tác viên công tác xã hội cũng như thúc đẩy vai trò, nhiệm vụ của nhân viên công tác xã hội nhằm giảm thiểu vấn nạn bạo lực gia đình, loại bỏ các hành vi tiêu cực, lệch chuẩn trong xã hội, giúp người phụ nữ thoát khỏi tình trạng bạo lực và có đời sống hạnh phúc hơn
Trang 122.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Kết quả từ nghiên cứu Quốc gia về bạo lực gia đình với phụ nữ ở Việt Nam năm 2010, khảo sát phụ nữ bị bạo lực gia đình trong độ 18–60 tuổi trên
cả nước chỉ ra rằng 32% phụ nữ phải gánh chịu bạo lực thể xác từ người chồng, chiếm 5% phụ nữ bị bạo lực thể xác đang trong thời kỳ mang thai Đối với khía cạnh bị bạo lực tình dục, người phụ nữ gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình tiết lộ và chia sẻ những trải nghiệm hơn bạo lực thể xác Kết quả của các buổi phỏng vấn cho thấy có 10% phụ nữ đã từng bị người bạn đời bạo lực tình dục Bên cạnh đó, bạo lực tinh thần và kinh tế do người chồng – người bạn đời gây ra cũng ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc sống của người phụ nữ trong gia đình Kết quả chỉ số cho thấy tổng quan phụ nữ bị bạo lực tinh thần chiếm 54%, cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ bị bạo lực thể xác; và bạo lực kinh
tế chiếm 9%
Tác giả Đặng Xuân Trường với bài viết trên tạp chí Xã hội học năm
2013 về “Tìm hiểu bạo lực gia đình với phụ nữ ở Hà Nội” đã chỉ ra 92% nạn
nhân là phụ nữ bị bạo lực gia đình ở độ tuổi từ 20 đến 49 tuổi, tuổi bạo lực gia đình chiếm 89,2% Đồng thời, tác giả cũng nhấn mạnh rằng phụ nữ bị bạo lực gia đình ở nông thôn có tỷ lệ cao hơn với thành thị (45% so với 38,4%) Số liệu trên phù hợp với kết quả Nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình với phụ
nữ Việt Nam năm 2010 Chỉ số trong 12 tháng qua là 27%, tỷ lệ bạo lực phụ
nữ trong gia đình ở nông thôn chiếm 35,4% và thành thị là 32,2%
Uỷ ban các vấn đề xã hội của Quốc hội năm 2006 đã tiến hành điều tra, khảo sát tổng số 2.000 mẫu người dân, bao gồm nạn nhân là phụ nữ bị bạo lực gia đình; người gây bạo lực gia đình – người chồng; cán bộ xã, cán bộ y tế, công an, phụ nữ, tòa án nhân dân cấp huyện Kết quả thống kê chỉ ra 23% số
gia đình có hành vi bạo lực về thể chất (đánh đập, hành hung, tra tấn…), 25%
số gia đình có hành vi bạo lực tinh thần (tấn công bằng lời nói, lăng mạ…)và
30% là số cặp vợ chồng có hiện tượng ép buộc quan hệ tình dục
Trang 13Năm 2006, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Thống kê, Viện Gia đình và Giới, UNICEF thực hiện điều tra gia đình Việt Nam Tổng số 9.300 mẫu đưa ra kết luận: tỷ lệ bạo lực thể chất, bạo lực tinh thần và tình dục chiếm khoảng 21.2% Trong đó, kết quả số gia đình xảy ra 1 hiện tượng bạo lực kể trên là 10,8% thì số gia đình xảy ra hai hiện tượng bạo lực chiếm khoảng 7,3%
Thống kê của Tòa án Nhân dân tối cao đã chỉ ra kết luận có khoảng 8.000 vụ ly hôn, nguyên nhân từ bạo lực gia đình diễn ra trung bình một năm trên cả nước Trong khi đó, kết quả nghiên cứu của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, số vụ xung đột nguyên do từ sự mặc cảm, thiếu tự ti của nam giới – người chồng cảm thấy mình thấp bé, không đủ điều kiện hoặc vị trí trụ cột gia đình bị lung lay
PGS Nguyễn Hữu Minh, Viện truởng Viện nghiên cứu Gia đình và Giới, cho biết năm 2012, theo điều tra khảo sát của Viện nghiên cứu gia đình
và giới tại 4 tỉnh về bình đẳng giới thì hậu quả của bạo lực gia đình để lại đối với phụ nữ nói riêng, cộng đồng nói chung hết sức nghiêm trọng Thống kê 87,5% trường hợp bạo lực thể chất, gây ra tổn hại về sức khoẻ, thể chất cho người phụ nữ; 89% tổn thương về tinh thần, tâm lý Bạo lực gia đình còn chiếm 90% là nguyên nhân chính dẫn đến tan vỡ hạnh phúc; 89% gây rối loạn trật tự trị an, an toàn xã hội và 91% có tác động, ảnh hưởng tiêu cực mạnh mẽ đến sự phát triển của trẻ em trong môi trường gia đình, khiến chúng mất niềm tin vào gia đình hoặc có hành vi lệch chuẩn, vi phạm pháp luật
Tác giả Lê Thị Quý và Đặng Vũ Cảnh Linh (2007) trong sách “Bạo lực gia đình – một sự sai lệch giá trị” đã trình bày những lý luận và phương
pháp luận; thực trạng về bạo lực gia đình; đề cao mô hình, công tác phòng, chống bạo lực trong gia đình ở Việt Nam Cuốn sách nhấn mạnh vai trò của
chính quyền, các tổ chức xã hội (chính phủ/ phi chính phủ) và nhân dân trong
việc xây dựng chương trình, mô hình, hoạt động tuyên truyền công tác phòng, chống bạo lực
Trang 14Tác giả Linh Nguyễn với bài viết trên tạp chí lao động xã hội năm 2016
về “Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp phụ nữ bị bạo hành”
đã nêu lên các vai trò quan trọng của nhân viên công tác xã hội trong cung cấp dịch vụ xã hội, hỗ trợ pháp lý, tham vấn tâm lý, truyền thông, nâng cao nhận thức cho những phụ nữ bị bạo lực gia đình Cụ thể, nhân viên công tác
xã hội thực hiện vai trò kết nối các nạn nhân bị bạo lực đến các cơ sở, dịch vụ thăm khám chữa bệnh; hỗ trợ pháp lý như ly hôn, ly thân; giới thiệu việc làm… Một trong những thách thức lớn đối với nạn nhân là phụ nữ bị bạo lực gia đình là tái hoà nhập cộng đồng Do đó, bài viết đề cập đến vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc xây dựng kế hoạch, chương trình giúp thân chủ dễ dàng đón nhận, hoà nhập cộng đồng trở lại Bên cạnh đó, bài viết cũng đề cao vai trò truyền thông của nhân viên công tác xã hội trong việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền và giáo dục, phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức cho người dân, đặc biệt là phụ nữ để phòng, chống bạo lực gia đình
Tác giả Đỗ Thị Vân với đề tài: “Vai trò của nhân viên công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình” (2014) nhấn mạnh tầm quan trọng vai trò
của nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp đối tượng bị bạo lực giảm được hậu quả; phòng, chống bạo lực gia đình và tạo sự thay đổi tích cực của xã hội trước vấn nạn bạo lực Cụ thể, tác giả đã đề cập và phân tích sáu vai trò là vai trò tham vấn, tư vấn; vai trò truyền thông giáo dục việc phòng, chống bạo lực; vai trò hoà giải; vai trò trợ giúp pháp lý, vai trò biện hộ và là người kết nối nguồn lực trong việc hỗ trợ phụ nữ bị bạo hành tại địa phương nghiên cứu Một số thành tựu đạt được trong đề tài cho thấy có trên 80% các vụ việc bạo lực gia đình trong đề tài nghiên cứu được xử lý bằng biện pháp hoà giải thực hiện bởi vai trò của nhân viên công tác xã hội Tổ chức được trên 72 cuộc tư vấn, truyền thông tư vấn dựa trên mỗi quý và trên khoảng 100 chị em phụ nữ tham gia dưới sự điều phối của Phòng Lao động thương binh và Xã hội, Hội liên hiệp phụ nữ và các cán bộ đa ngành, nhân viên công tác xã hội bán chuyên… Nhìn chung, đề tài của tác giải đề cao vai trò của nhân viên công
Trang 15tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo hành hiện nay, thể hiện dưới sáu vai trò đã nêu nhằm giảm hậu quả bạo lực gia đình, trợ giúp phụ nữ thúc đẩy khả năng
tự giải quyết vấn đề bạo lực gia đình, tăng cường sự thay đổi chất lượng cuộc sống, giảm thiểu bạo lực gia đình và thúc đẩy an sinh xã hội trong giai đoạn
2014 và trong những năm tới
Bài viết “Công tác xã hội với nạn nhân của bạo lực gia đình” (2017)
của Ban biên tập được đăng trên trang thông tin tuyên truyền nghề công tác
xã hội tỉnh Yên Bái đã chỉ ra đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình, nhân viên công tác xã hội thực hiện vai trò là người kết nối nguồn lực, cung cấp dịch vụ
xã hội qua các hoạt động như lập kế hoạch hỗ trợ, điều phối dịch vụ xã hội phù hợp với nhu cầu của đối tượng Đánh giá mức độ tổn thương tâm lý, xác định phương pháp tham vấn, trị liệu qua vai trò tư vấn, tham vấn… Bài viết đưa ra mục tiêu cho tỉnh trong giai đoạn 2016 – 2020, chú trọng nâng cao năng lực, phát huy vai trò của nhân viên công tác xã hội tại các xã, phường và phát triển mạng lưới cộng tác viên công tác xã hội trong hỗ trợ phụ nữ bị bạo lực gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình tại tỉnh Yên Bái
Những nghiên cứu, công trình sách báo trên đã chỉ ra vấn nạn bạo lực gia đình tại Việt Nam đang diễn ra ở khắp mọi nơi như nông thôn, thành thị Các vụ bạo lực gia đình đã để lại hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng đến đời sống của người phụ nữ, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội Dưới sự hỗ trợ của ngành Công tác xã hội phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên ngành, cụ thể là đội ngũ nhân viên công tác xã hội, cán bộ cộng tác viên công tác xã hội
đã thực hiện tốt vai trò của mình trong các hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình địa phương, toàn quốc; phát triển và cải thiện chính sách xã hội nhằm biện hộ và bảo vệ pháp lý, quyền lợi cho những phụ nữ bị bạo lực gia đình; loại bỏ, phòng ngừa tệ nạn bạo lực gia đình; hướng tới nền văn minh và an sinh xã hội
Căn cứ trên các nghiên cứu tổng quan về phụ nữ bị bạo lực gia đình, vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc trợ giúp phụ nữ bị bạo hành
Trang 16gia đình trên thế giới và đặc biệt ở Việt Nam, tôi lựa chọn đề tài “Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp cho phụ nữ bị bạo lực gia đình tại xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định” nhằm tập trung nghiên cứu
thực trạng phụ nữ bị bạo lực gia đình và đề cao vai trò của nhân viên công tác
xã hội, đặc biệt là vai trò tham vấn và vai trò biện hộ trong trợ giúp phụ nữ tại
xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
3 Ý nghĩa của nghiên cứu
- Ý nghĩa lý luận: Chỉ ra được những cơ sở lý luận của vai trò của nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp cho phụ nữ bị bạo lực gia đình tại xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
- Ý nghĩa thực tiễn: Khái quát chung về thực trạng, nguyên nhân và hậu quả của việc người phụ nữ bị bạo lực gia đình tại xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định; mô tả trường hợp phụ nữ bị bạo lực gia đình cụ thể tại xã; đánh giá vai trò của nhân viên công tác xã hội, chủ yếu vai trò tham vấn
và biện hộ trong trợ giúp cho phụ nữ bị bạo lực gia đình tại xã
4 Mục đích nghiên cứu
Đề tài làm sáng tỏ cơ sở lý luận, khảo sát thực trạng phụ nữ bị bạo lực gia đình tại xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định Mô tả trường hợp cụ thể phụ nữ bị bạo lực gia đình và đánh giá vai trò của nhân viên công tác xã hội, cụ thể là hai vai trò: vai trò tham vấn và biện hộ trong việc trợ giúp phụ nữ là nạn nhân của bạo lực gia đình tại xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
Từ đó, đề xuất một số kiến nghị và biện pháp nhằm cải thiện hiệu quả, nâng cao vai trò của nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp cho phụ nữ bị bạo lực gia đình tại xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng phụ nữ bị bạo lực gia đình diễn ra tại xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
Trang 17- Tìm hiểu và phân tích trường hợp cụ thể về phụ nữ bị bạo lực gia đình
ra tại xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
- Vai trò của nhân viên công tác xã hội, đề cao vai trò tham vấn và biện
hộ trong việc trợ giúp phụ nữ bị bạo lực gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình tại xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
- Kết luận, đề xuất một số kiến nghị nhằm thực hiện và nâng cao vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc trợ giúp phụ nữ bị bạo lực gia đình
và phòng, chống bạo lực gia đình tại xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
6 Đối tƣợng nghiên cứu
6.1 Đối tượng nghiên cứu
Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp phụ nữ bị bạo lực gia đình tại xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
6.2 Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: 55 phụ nữ đã và đang bị bạo lực gia đình giai
đoạn 2017 - 2018, 11 cộng tác viên công tác xã hội (nhân viên công tác xã hội bán chuyên) và nhân viên công tác xã hội thực hiện trợ giúp phụ nữ bị bạo lực
gia đình
7 Phạm vi nghiên cứu
7.1 Nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung làm rõ các nội dung cơ bản sau:
- Nghiên cứu được cơ sở lý luận, trình bày các khái niệm công cụ: nhân viên công tác xã hội, vai trò của nhân viên công tác xã hội, phụ nữ, phụ nữ bị bạo lực gia đình; hệ thống hoá những lý thuyết ứng dụng
- Tìm hiểu, đánh giá thực trạng và các hình thức bạo lực gia đình diễn
ra tại xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định và xác định rõ các yếu tố, nguyên nhân và hậu của của việc phụ nữ bị bạo lực gia đình tại xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
Trang 18- Mô tả và phân tích trường hợp cụ thể về phụ nữ bị bạo lực gia đình ra tại xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
- Phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội, cụ thể là vai trò tham vấn và biện hộ trong việc trợ giúp phụ nữ bị bạo lực gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình tại xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc trợ giúp phụ nữ bị bạo lực gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình tại xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
7.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Nghiên cứu tập trung bạo lực gia đình đối với phụ nữ đã lập gia đình, độ tuổi từ 20 đến 65 tuổi trong địa bàn xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
- Thời gian: Nghiên cứu vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc trợ giúp phụ nữ bị bạo lực gia đình tại xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định trong khoảng thời gian từ tháng 5 năm 2018 đến tháng
11 năm 2018
8 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng phụ nữ bị bạo lực gia đình tại xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định đang diễn ra như thế nào?
- Nguyên nhân và hậu quả của việc phụ nữ bị bạo lực gia đình tại xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định là gì?
- Những vai trò của nhân viên công tác xã hội trong hỗ trợ, trợ giúp người phụ nữ bị bạo hành gia đình là gì? Việc thực hiện vai trò của nhân viên công tác xã hội diễn ra như thế nào? Các yếu tố thuận lợi, khó khăn trong việc
hỗ trợ người phụ nữ bị bạo lực gia đình?
9 Giả thuyết nghiên cứu
- Thực trạng phụ nữ bị bạo lực gia đình vẫn đang xảy ra nhiều tại xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
Trang 19- Nguyên nhân khởi nguồn của bạo lực gia đình với phụ nữ do nhiều yếu tố cấu thành như: định kiến xã hội, bất bình đẳng giới, phong tục tập quán, trình độ học vấn, phân biệt giai cấp… Hậu quả của bạo lực gia đình gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống vật chất và tinh thần của người phụ nữ, tuy nhiên bản thân họ chưa nhận thức sâu sắc được tình trạng mình đang gặp phải
- Do thiếu đội ngũ, cán bộ nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp trong trợ giúp phụ nữ bị bạo lực gia đình nên tiến trình hỗ trợ thân chủ bị bạo lực gia đình tại xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định chưa đạt hiệu quả cao
10 Nguyên tắc phương pháp luận nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu cụ thể
a Phương pháp nghiên cứu văn bản và tài liệu
Nhằm khái quát cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu dựa trên phân tích
và tổng hợp các tài liệu, công trình nghiên cứu, sách báo liên quan đến đề tài trong việc nghiên cứu thực trạng phụ nữ bị bạo lực gia đình nói chung trên toàn quốc, phụ nữ bị bạo lực gia đình nói riêng tại xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định trong những khoảng thời gian khác nhau
Tổng hợp, đưa ra đánh giá về thực trạng, nguyên nhân và hậu quả của việc bạo lực gia đình với phụ nữ
Mô tả, phân tích và đánh giá vai trò của nhân viên công tác xã hội
Các bước thực hiện:
- Thu thập và phân loại sơ bộ tài liệu
- Phân tích tài liệu
- Đọc tổng quát
- Đọc kỹ và ghi chép
- Thực hiện tóm tắt lược thuật
- Báo cáo tổng hợp
Trang 20b Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Mục đích: Thu thập được những thông tin về quan điểm, tiến trình trợ
giúp và vai trò của những cán bộ xã, cán bộ hội liên hiệp phụ nữ, cán bộ liên ngành… trong trợ giúp phụ nữ bị bạo lực gia đình tại huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định hiện nay Trong những năm gần đây, thực trạng phụ nữ bị bạo lực gia đình tại địa bàn nghiên cứu đã thuyên giảm và chỉ còn 55 đối tượng phụ
nữ bị bạo lực và được các cộng tác viên công tác xã hội (nhân viên công tác
xã hội bán chuyên) và nhân viên công tác xã hội trợ giúp Đây là con số chính
xác tại địa phương trong giai đoạn 2017 – 2018 Chính vì thế, đối với đề tài nghiên cứu này, tôi sử dụng mẫu điều tra tổng thể với 55 phụ nữ bị bạo lực gia đình tại địa phương bằng bảng hỏi
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi sẽ bao gồm kỹ năng đặt các câu hỏi đóng và câu hỏi mở trọng tâm về chủ đề: Thực trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ; tiến trình trợ giúp, vai trò của nhân viên công tác xã hội bán chuyên nghiệp trong việc hỗ trợ phụ nữ bị bạo hành; những thuận lợi, khó khăn trong việc thực hiện tiến trình hỗ trợ
Các bước tiến hành:
- Xây dựng kết quả điều tra
- Chọn mẫu phiếu điều tra với các thông số, các chỉ tiêu cần làm
- Chọn mẫu phiếu điều tra
- Xử lý phiếu điều tra
- Kiểm tra kết quả nghiên cứu
c Phương pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp phỏng vấn sâu nhằm phỏng vấn, lấy ý kiến của phụ nữ bị bạo lực gia đình, các cán bộ, lãnh đạo đã từng tham gia hỗ trợ phụ nữ bị bạo lực gia đình để hiểu rõ hơn về vai trò của nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp tại huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
Phỏng vấn được tiến hành trong không khí thoải mái, cởi mở giữa người phỏng vấn và đối tượng khảo sát xoay quanh các vấn đề, đề tài liên
Trang 21quan Khách thể được trả lời tự do dựa trên những câu hỏi mở, gợi ý Khách thể được thoải mái trong việc bày tỏ quan điểm, suy nghĩ, thái độ tình cảm, chính kiến của mình trong các vấn đề được phỏng vấn Ngoài ra, người phỏng vấn có thể đưa ra câu hỏi khảo sát thông qua các dạng câu hỏi khác nhau để kiểm tra độ tin cậy, chính xác các câu trả lời của người được phỏng vấn nhằm mục đích làm sáng tỏ các thông tin chưa rõ
Trong nghiên cứu này, phương pháp phỏng vấn sâu được tiến hành với
10 phụ nữ bị bạo lực gia đình và 11 cán bộ đã từng tham gia hỗ trợ phụ nữ giải quyết vấn đề bạo lực gia đình tại huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
d Phương pháp xử lý tài liệu bằng phần mềm SPSS 20.0
Số liệu thu được khảo sát thực tiễn được xử lý bằng chương trình phần mềm SPSS (viết tắt của Statistical Package for the Social Sciences) Các chỉ
số được dùng trong phân tích thống kê mô tả và phân tích thống kê suy luận thể hiện rõ mối quan hệ tương quan, độ lệch chuẩn hay tần suất và chỉ số phần trăm các phương án lựa chọn cho từng ý kiến trong bảng hỏi đã được hoàn thiện Từ đó, khái quát rõ tiến trình trợ giúp và vai trò nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp tại huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
11 Kết cấu của đề tài
Đề tài bao gồm phần mở đầu, phần kết luận, kiến nghị, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo Về phần nội dung nghiên cứu, đề tài được xây dựng trên các chương:
Chương 1 - Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2 - Thực trạng phụ nữ bị bạo lực gia đình tại xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
Chương 3 – Thực hành công tác xã hội cá nhân trong trợ giúp phụ nữ bị bạo lực gia đình tại xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
Trang 22PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Một số khái niệm công cụ
1.1.1 Nhân viên công tác xã hội
Nhân viên công tác xã hội (Social worker) là một tên gọi được ra đời từ
rất sớm Tính đến thời điểm hiện nay, có rất nhiều khái niệm tương đồng như nhân viên xã hội, cán bộ xã hội, cán bộ trợ giúp… Tuy nhiên, hai thuật ngữ thường được sử dụng nhiều nhất là nhân viên công tác xã hội hay nhân viên
xã hội
Theo Hiệp hội các nhà công tác xã hội chuyên nghiệp Quốc tế - IASW
(Irish Association of Social Workers), định nghĩa về nhân viên xã hội: “Nhân viên xã hội là người được đào tạo và trang bị các kiến thức và kỹ năng trong công tác xã hội, họ có nhiệm vụ: trợ giúp các đối tượng nâng cao khả năng giải quyết và đối phó với vấn đề cuộc sống; tạo cơ hội để các đối tượng tiếp cận được nguồn lực cần thiết; thúc đẩy sự tương tác giữa các cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng thông qua hoạt động nghiên cứu và hoạt động thực tiễn”[12]
Qua đó, ta có thể hiểu nhân viên công tác xã hội là những người được đào tạo và trang bị những kiến thức, kỹ năng chuyên môn nhằm trợ giúp đối
tượng yếu thế (cá nhân, nhóm, cộng đồng…) trong xã hội giải quyết các vấn
đề khó khăn trong cuộc sống Nhân viên công tác xã hội nỗ lực thúc đẩy sự cung cấp dịch vụ, nguồn lực trợ giúp; kết nối thân chủ với các nguồn lực, tài nguyên có sẵn trong xã hội; tham gia vào xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách, góp phần thúc đẩy an sinh xã hội
1.1.2 Cộng tác viên công tác xã hội (Nhân viên công tác xã hội bán chuyên)
Theo Thông tư 07/2013/TT-BLĐTBXH ngày 24/05/2013 về quy định tiêu chuẩn nghiệp vụ cộng tác viên công tác xã hội xã, phường, thị trấn làm
Trang 23việc theo chế độ hợp đồng cộng tác viên công tác xã hội, được hưởng phụ cấp hàng tháng bằng mức lương tối thiểu chung do Chính phủ quy định [22]
Tiêu chuẩn của cộng tác viên công tác xã hội cấp xã:
1 Tiêu chuẩn năng lực
a) Nắm được quy trình, kỹ năng thực hành công tác xã hội ở mức độ cơ bản để trợ giúp đối tượng;
b) Hiểu biết về chế độ chính sách trợ giúp đối tượng;
c) Nắm vững chức trách, nhiệm vụ của cộng tác viên công tác xã hội; d) Tổ chức phối hợp hiệu quả với các cơ quan, đơn vị liên quan trong quá trình thực hiện nhiệm vụ về công tác xã hội
2 Tiêu chuẩn về trình độ
Có chứng chỉ, chứng nhận đã tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức hoặc có bằng cấp về nghiệp vụ công tác xã hội, tâm lý, xã hội học, giáo dục đặc biệt và các chuyên ngành xã hội khác phù hợp với nhiệm vụ công tác xã hội
Từ năm 2015, cộng tác viên công tác xã hội cấp xã đạt chuẩn tối thiểu trình độ trung cấp nghề công tác xã hội hoặc chuyên ngành khác có liên quan đến công tác xã hội
3 Tiêu chuẩn về đạo đức
Cộng tác viên công tác xã hội cấp xã phải có tư cách đạo đức tốt; thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; chưa có tiền án, tiền sự [22]
Có thể thấy, theo Thông tư của Bộ Lao động Thương binh và xã hội đã ban hành các quy định về tiêu chuẩn nghiệp vụ cộng tác viên công tác hội xã, phường, thị trấn nhưng vẫn chưa có khái niệm riêng về cộng tác viên công tác
xã hội Do đó, dựa trên phạm vi đề tài nghiên cứu, tôi xin đưa ra khái niệm
cộng tác viên công tác xã hội (nhân viên công tác xã hội bán chuyên) là
những người được đào tạo về công tác xã hội, tuy nhiên họ không phải là những người được đào tạo bài bản như những cử nhân, thạc sỹ hay tiến sỹ
Trang 24chuyên ngành công tác xã hội mà họ chỉ được tập huấn về công tác xã hội Đồng thời là người được tham gia vào quá trình hỗ trơ thân chủ giải quyết vấn
đề, từ đó họ đúc kết kinh nghiệm về các hoạt động trong công tác xã hội
1.1.3 Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp phụ nữ
bị bạo lực gia đình
1.1.3.1 Vai trò của nhân viên công tác xã hội
Xuất phát từ mục tiêu trợ giúp những đối tượng yếu thế nâng cao năng lực giải quyết và đối phó với các vấn đề trong cuộc sống mà nhân viên công tác xã hội sẽ thực hiện những vai trò và hoạt động trợ giúp khác nhau tuỳ theo mỗi trường hợp cụ thể, dựa trên chức năng và đối tượng mà nhân viên công tác xã hội làm việc
Vào năm 1973, Feyerico đưa ra quan điểm nhân viên công tác xã hội với tư cách là người hành nghề công tác xã hội sẽ thực hiện những vai trò như sau [3]:
- Vai trò là người vận động nguồn lực: Với sự am hiểu, kiến thức phong phú mà nhân viên công tác xã hội có được, họ sẽ trở thành người trợ giúp cho các đối tượng yếu thế tìm kiếm nguồn lực có sẵn trong xã hội nhằm giải quyết các vấn đề hiện hữu Căn cứ vào các trường hợp cụ thể, nhân viên công tác xã hội sẽ biết vận động nguồn lực nào phù hợp với đối tượng yếu thế Trong đó, nguồn lực bao gồm nội lực và ngoại lực, như nguồn lực về con người, cơ sở vật chất, tài chính…
- Vai trò là người kết nối: Đóng vai trò là người trung gian, nhân viên công tác xã hội sẽ là cầu nối, hỗ trợ đối tượng yếu thế tiếp cận được các nguồn tài nguyên, dịch vụ, chính sách có sẵn từ các bên liên quan như cá nhân, cơ quan tổ chức, chính quyền địa phương Việc tiếp cận giúp cho đối tượng yếu thế có thêm nguồn sức mạnh, tăng cường năng lực đối phó và giải quyết vấn đề một cách hiệu quả
- Vai trò là người biện hộ: Có thể hiểu nhân viên công tác xã hội là người bảo vệ những quyền lợi, quyền ưu tiên cho đối tượng yếu thế trong
Trang 25những trường hợp đối tượng bị từ chối hay khước từ các dịch vụ, chính sách
mà trên thực tế họ được thừa hưởng
- Vai trò là người vận động/hoạt động xã hội: Kế thừa vai trò là người biện hộ, nhân viên công tác xã hội trở thành nhà hoạt động xã hội thông qua việc tổ chức các chương trình, hành động xã hội nhằm biện hộ, tuyên truyền, duy trì và bảo đảm quyền lợi cho đối tượng yếu thế
- Vai trò người tạo sự thay đổi: Được đánh giá như một vai trò thiết
yếu, nhân viên công tác xã hội trở thành người tạo ra sự thay đổi (nhỏ hoặc lớn) cho cá nhân/nhóm/cộng đồng yếu thế Hỗ trợ đối tượng có sự chuyển
biến tích cực hơn trong nhận thức, thái độ và hành vi
- Vai trò là người tư vấn: Nhân viên công tác xã hội là người hướng dẫn, cung cấp những thông tin, dịch vụ cơ bản và thiết yếu cho các đối tượng yếu thế có nhu cầu như chăm sóc sức khoẻ, chăm sóc sinh sản, trung tâm bảo trợ, chế độ dinh dưỡng… Ở vai trò này, nhân viên công tác xã hội sẽ phối hợp với các nhà chuyên môn khác để mang đến những dịch vụ tốt nhất cho đối tượng cần hỗ trợ
- Vai trò là người tham vấn: Nhân viên công tác xã hội có sự tác động đến đối tượng và các mối quan hệ xung quanh nhằm mục đích giúp họ tự vấn, xem xét vấn đề và đưa ra sự tự thay đổi
- Vai trò là người trợ giúp xây dựng và thực hiện kế hoạch cộng đồng: Sau khi đã xác định được vấn đề của cộng đồng, nhân viên công tác xã hội hỗ trợ các thành viên trong cộng đồng tự đánh giá năng lực; song hành trong việc thiết lập, nâng cao năng lực cho cộng đồng giúp họ có thể tự đưa ra quyết định lựa chọn kế hoạch nào tối ưu, phù hợp nhất với điều kiện hoàn cảnh, tiềm năng vốn có của cộng đồng Qua đó, nhân viên công tác xã hội phối hợp cùng cộng đồng thực hiện kế hoạch theo các quy định, nguyên tắc và biện pháp đã đề ra, tránh tình trạng áp đặt ý kiến chủ quan của cá nhân cộng đồng hoặc nhân viên công tác xã hội
Trang 26- Vai trò là người chăm sóc, người trợ giúp: Trong một số trường hợp, đối tượng yếu thế không có khả năng tự phục vụ, đáp ứng nhu cầu cơ bản của chính mình, nhân viên công tác xã hội còn đóng vai trò như là người cung cấp
và thực hiện các dịch vụ trợ giúp cho đối tượng yếu thế như ở mô hình tại nhà, các trung tâm bảo trợ xã hội…
- Vai trò là người xử lý dữ liệu: Nhân viên công tác xã hội sẽ trở thành người nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề, thu thập và phân tích thông tin Kết hợp với vai trò là người tư vấn, nhân viên công tác xã hội đưa ra những cơ sở đã được xử lý cho đối tượng yếu thế, trợ giúp đối tượng tăng cường năng lực tự quyết vấn đề
- Vai trò là người quản lý hành chính: Nhân viên công tác xã hội làm việc trong các tổ chức chính phủ/phi chính phủ, cơ quan/chính quyền địa phương thực hiện công việc quản lý và thi hành các chương trình chính sách,
kế hoạch nguồn lực, hoạt động dịch vụ theo đúng tiến trình Chính Phủ đã đề
ra cho đối tượng yếu thế
- Vai trò là người tìm hiểu, khám phá cộng đồng: Nhân viên công tác
xã hội thâm nhập vào cộng đồng thông qua 3 tiêu chí ăn cùng dân, ở cùng dân
và làm việc cùng dân Từ đó, nhân viên công tác xã hội tìm hiểu và xác định vấn đề cộng đồng, vận động hoặc chuyển giao nguồn lực, dịch vụ thiết yếu cho cộng đồng, hỗ trợ cộng đồng triển khai kế hoạch hiệu quả
- Vai trò khác …
Dựa trên đặc thù nghề nghiệp và sự đa dạng trong vai trò mà nhân viên công tác xã hội có thể thực hiện một hay nhiều vai trò khác nhau cùng một thời điểm khi đảm đương vị trí chức năng của mình Vì vậy, nhân viên công tác xã hội có khả năng hoạt động và làm việc trong nhiều lĩnh vực khác nhau,
đa dạng trong phạm vi từ nông thôn đến thành thị.Việc thực hiện tốt nghiệp
vụ chuyên môn, phát huy hiệu quả vai trò của nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp những đối tượng yếu thế, thiệt thòi sẽ góp phần cải thiện và nâng cao
Trang 27chất lượng cuộc sống cho thân chủ; giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội
1.1.3.2 Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp phụ nữ bị bạo lực gia đình
Trước thực trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ ngày nay, các chuyên gia xã hội học đã chỉ ra rằng sự hỗ trợ của ngành Công tác xã hội nói chung, vai trò của nhân viên công tác xã hội nói riêng trong việc hỗ trợ phụ nữ bị bạo lực là rất cần thiết Cũng như các đối tượng yếu thế khác trong xã hội, nhân viên công tác xã hội trợ giúp phụ nữ bị bạo lực gia đình sẽ thực hiện một hoặc
nhiều vai trò khác nhau (như tham vấn, biện hộ, kết nối nguồn lực…) trợ giúp
thân chủ dựa trên từng trường hợp, hoàn cảnh cụ thể Tuỳ vào từng giai đoạn, từng vấn đề và hoàn cảnh thân chủ gặp phải mà nhân viên công tác xã hội sẽ xác định và thực hiện vai trò cho phù hợp Việc vận dụng vai trò có hiệu quả trong hỗ trợ phụ nữ không chỉ trấn an tâm lý, tập huấn kỹ năng bảo vệ bản thân mà còn nâng cao nâng cao năng lực, tăng cường khả năng đối phó và giải quyết vấn đề bạo lực đang diễn ra đối với người phụ nữ
Hiện nay, trong đa dạng vai trò của nhân viên công tác xã hội thì vai trò tham vấn và vai trò biện hộ đang được các cộng tác viên công tác xã hội tại xã Nghĩa Thái quan tâm chú trọng và sử dụng nhiều, do tính hiệu quả cao Về ý nghĩa thực tiễn, vai trò tham vấn cho phụ nữ bị bạo lực gia đình không chỉ giúp thân chủ nâng cao khả năng giải quyết vấn đề mà còn hỗ trợ thân chủ tự nhận thức, hiểu chính mình cũng như hoàn cảnh hiện tại của mình Vai trò biện hộ là đại diện của thân chủ, đứng trên quan điểm của phụ nữ bị bạo lực
để đảm bảo quyền lợi và đem lại công bằng xã hội cho thân chủ Do đó, đề tài
“Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp cho phụ nữ bị bạo lực gia đình tại xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định” của tôi sẽ tập
trung nghiên cứu và đề cao vai trò tham vấn và vai trò biện hộ của nhân viên công tác xã hội trong tiến trình trợ giúp phụ nữ bị bạo lực gia đình nâng cao năng lực tự đối phó và giải quyết vấn đề
Trang 281.1.4 Công tác xã hội cá nhân
Theo tác giả Farley và các tác giả khác (2000), công tác xã hội cá nhân
là “Hệ thống giá trị và phương pháp được các nhân viên xã hội chuyên nghiệp sử dụng, ở đó các khái niệm về tâm lý xã hội, hành vi và hệ thống được chuyển thành các kỹ năng giúp đỡ cá nhân và gia đình giải quyết những vấn đề nội tâm, quan hệ giữa các cá nhân, kinh tế xã hội và môi trường thông qua các mối quan hệ “mặt đối mặt” [9, tr.26]
Theo tác giả Nguyễn Thị Oanh (1998), công tác xã hội cá nhân được định nghĩa rất ngắn gọn và tập trung vào can thiệp những vấn đề nhân cách
của đối tượng: “Công tác xã hội cá nhân là một biện pháp can thiệp quan tâm đến những vấn đề về nhân cách mà một đối tượng cảm nghiệm” [9, tr.26]
Tác giả Lê Chí An (2006) trình bày một khái niệm bao quát từ trọng tâm của phương pháp khoa học đên những kỹ năng công cụ được sử dụng
trong công tác xã hội cá nhân để giúp thân chủ có những thay đổi: “Công tác
xã hội cá nhân là một phương pháp giúp đỡ con người giải quyết các vấn đề khó khăn Nó mang tính đặc thù, khoa học và nghệ thuật Nó giúp các cá nhân có những vấn đề riêng tư cũng như những vấn đề bên ngoài và vấn đề môi trường Đó là một phương pháp giúp đỡ thông qua mối quan hệ để khai thác tài nguyên cá nhân và những tài nguyên khác nhằm giải quyết các vấn
đề Lắng nghe, quan sát, vấn đàm, vãng gia và đánh giá là những công cụ chủ yếu của công tác xã hội cá nhân Nhờ tính năng động của mối qua hệ trong công tác xã hội cá nhân mà cá nhân chủ thay đổi thái độ, suy nghĩ và hành vi của mình” [9, tr.27]
Qua đó, ta có thể hiểu công tác xã hội cá nhân là phương pháp của công tác xã hội được nhân viên công tác xã hội vận dụng nhằm trợ giúp cá nhân, đối tượng yếu thế nâng cao năng lực đối phó và giải quyết vấn đề của mình thông qua tiến trình công tác xã hội cá nhân khoa học và chuyên nghiệp
Tiến trình công tác xã hội cá nhân là quá trình tương tác hỗ trợ giữa nhân viên công tác xã hội và cá nhân đối tượng mà ở đó diễn ra các bước hoạt
Trang 29động chuyên môn chuyên nghiệp nhằm hỗ trợ đối tượng tăng cường năng lực
tự giải quyết vấn đề Tiến trình công tác xã hội cá nhân gồm 6 giai đoạn như sau [9, tr.100]:
(1) Tiếp cận thân chủ,
(2) Thu thập thông tin,
(3) Đánh giá và xác định vấn đề,
(4) Lập kế hoạch can thiệp/hỗ trợ,
(5) Triển khai thực hiện kế hoạch,
(6) Lượng giá/chuyển giao
Với phạm vi nghiên cứu đề tài “Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp cho phụ nữ bị bạo lực gia đình tại xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định”, tôi sẽ mô tả, phân tích và vận dụng hiệu quả tiến trình
công tác xã hội cá nhân của nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp phụ nữ
bị bạo lực gia đình nâng cao năng lực tự đối phó và giải quyết vấn đề
1.1.5 Phụ nữ bị bạo lực gia đình
1.1.5.1 Bạo lực gia đình
- Bạo lực: Theo Tổ chức Y tế thế giới, bạo lực được xác định là hành vi
có mục đích, sử dụng vũ lực hoặc quyền lực, nhằm đe dọa hoặc trong thực tế,
là hành động chống lại chính mình, một người khác hay chống lại một nhóm người/cộng đồng, đồng thời dẫn đến kết quả có khả năng gây thương tích cao, cái chết, tổn thương tâm lý, sự phát triển không toàn diện Mặc dù người/nhóm/cộng đồng thừa nhận rằng những kết quả trong định nghĩa về việc sử dụng vũ lực trên đã được mở rộng hơn so với sự hiểu biết thông thường về từ bạo lực [27]
- Gia đình: Theo Điều 8, Luật hôn nhân và gia đình của Quốc hội Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, khái niệm về gia đình: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này” [17]
Trang 30Có thể hiểu, gia đình là tế bào của xã hội, là cơ sở để hình thành và phát triển nhân cách con người Gia đình chính là điều quan trọng nhất trên thế giới, là nơi đã trang bị cho bạn những hành trang quý giá nhất để mỗi cá nhân bước vào ngưỡng cửa cuộc đời Hơn thế, gia đình luôn là điểm tựa quan trọng nhất trong cuộc đời dù chúng ta có muốn thừa nhận hay không
- Bạo lực gia đình: “Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với các thành viên khác trong gia đình”, theo Điều 1, Luật phòng, chống
4 Bạo lực kinh tế hoặc lao động
Theo Chương I – Những quy định chung, Điều 2 - Các hành vi bạo lực
gia đình của Luật phòng, chống bạo lực gia đình [15], các hình thức bạo lực
gia đình được thể hiện thông qua những hành vi sau:
- Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;
- Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
- Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;
- Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;
- Cưỡng ép quan hệ tình dục;
- Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ;
Trang 31- Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình;
- Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;
- Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở
Ở Việt Nam, thực trạng bạo lực gia đình ngày càng phổ biến và là một trong những vấn đề cần được quan tâm Bạo lực gia đình thường xuất phát đơn phương hoặc song/đa phương trong mối quan hệ gia đình, nạn nhân chủ yếu của loại bạo lực này là phụ nữ hoặc trẻ em
1.1.5.2 Phụ nữ bị bạo lực gia đình
Trên thực tế, bạo lực gia đình có thể diễn ra ở các nhóm thành viên khác nhau như của vợ với chồng, của con cái với cha mẹ cao tuổi, của cha mẹ với con cái, của mẹ chồng với nàng dâu, của anh chị em với nhau Nhưng dựa trên nội dung và phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tôi chỉ tập trung vào nhóm phụ nữ là nạn nhân của bạo lực gia đình chồng đối với vợ do thực trạng bạo lực gia đình đối với người phụ nữ tại xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định vẫn còn tồn tại
Từ những khái niệm trên, có thể hiểu phụ nữ bị bạo lực gia đình là những người thuộc phái yếu bị đối xử bất bình đẳng; đánh đập, ngược đãi hoặc các hành vi cố ý khác diễn ra theo nhiều hình thức khác nhau ảnh hưởng đến tâm lý, sức khoẻ, tính mạng của người phụ nữ trong mối quan hệ gia đình
do người chồng gây nên Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do định kiến
xã hội, bất đồng quan điểm hay sự ảnh hưởng của các tác nhân bên ngoài…
1.1.5.3 Đặc điểm của phụ nữ bị bạo lực gia đình
Dựa trên nhiều tài liệu tham khảo về bạo lực gia đình đối với phụ nữ,
đặc biệt là kết quả nghiên cứu Quốc gia về “Bạo lực phụ nữ trong gia đình ở
Trang 32Việt Nam năm 2010”, tôi xin đưa ra những đặc điểm của phụ nữ bị bạo lực
gia đình như sau [11]:
o Đặc điểm về tâm lý của phụ nữ bị bạo lực gia đình:
- Rơi vào trạng thái bị đe doạ sự ổn định về mặt thể chất, tinh thần, tác động tiêu cực đến các hoạt động, đời sống hằng ngày của người phụ nữ
- Suy giảm trí nhớ hoặc giảm khả năng tập trung
- Tổn thương tâm lý (mặc cảm, e ngại, xấu hổ…), căng thẳng hoặc hoảng
sợ bất thường, trầm cảm, lo âu
- Tự cô lập, thu mình trong khuôn viên nhà, lảng tránh hoặc không có sự giao tiếp, giao lưu với người khác do tâm lý xấu hổ, mặc cảm bởi bị bạo lực gia đình
- Mặc cảm bản thân, không muốn tham gia vào các hoạt động xã hội bởi
họ có cảm giác phụ thuộc, tâm lý thụ động do bị bạo lực, sợ sệt người có hành
vi bạo lực gia đình không cho tham gia
- Giảm sự quan tâm tới các hình thức bên ngoài như ăn mặc (hoặc mặc quần áo bất thường để che giấu vết thương), chăm sóc bản thân để giao lưu,
o Đặc điểm về sinh lý của phụ nữ bị bạo lực gia đình:
- Bị tổn thương đến thể chất, sức khoẻ suy yếu (tất cả các mức độ thương tật, kể cả tử vong)
- Giảm khả năng sinh hoạt hoặc lao động
- Sảy thai, thai chết lưu, các biến chứng sản khoa
- Các biến chứng, tổn thương ngoài ý muốn [11]
Trang 331.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
1.2.1 Lý thuyết nhu cầu của A.Maslow
Vào những năm 50 của thế kỷ XX, khi mà nhu cầu là một phần quan trọng trong bản chất của con người Mọi giá trị, niềm tin và tập tục của con người tuy có sự khác biệt theo từng quốc gia hay từng nhóm người, nhưng về
cơ bản mọi người đều có những nhu cầu chung Dựa trên những nhu cầu chung đó, nhà tâm lý học người Mỹ – Abaraham Maslow (1908-1970) đã tiên
phong và xây dựng học thuyết phát triển nhu cầu con người – năm 1943 [16]
Hệ thống: Dựa trên hệ thống thứ bậc nhu cầu, Maslow đã cho ra đời
tháp nhu cầu dựa trên 5 nhu cầu cơ bản sau đây [16]:
- Nhu cầu bậc 1: Nhu cầu sinh lý - nhu cầu cơ bản nhằm duy trì cuộc
sống của con người như thức ăn, nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi…
- Nhu cầu bậc 2: Nhu cầu về an toàn, đòi hỏi cảm giác yên tâm về các
khía cạnh đa dạng như thân thể, công việc, gia đình, sức khỏe, lao động được đảm bảo
- Nhu cầu bậc 3: Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được thừa nhận
Thể hiện qua mong muốn được hoà nhập, yêu thương và bảo vệ trong gia đình, cộng đồng; được chia sẻ, gần gũi với bạn bè, người thân; các cung độ tình cảm khác trong cuộc sống
- Nhu cầu bậc 4: Nhu cầu về sự tôn trọng, có mong muốn hoặc khát
vọng được người khác tôn trọng, kính mến và tin tưởng
- Nhu cầu bậc 5: Nhu cầu cao nhất trong tháp về tự thể hiện bản thân
hay khẳng định bản thân - muốn được tự chủ, sáng tạo, trình diễn khả năng, phát triển toàn diện bản thân và được công nhận là thành đạt,
Việc vận dụng lý thuyết nhu cầu của A.Maslow trong nghiên cứu sẽ trợ giúp nhân viên công tác xã hội lý giải vì sao con người có những bậc thang nhu cầu khác nhau, không nhất thiết tuân theo quy luật từ thấp đến cao (nhu cầu bậc 1 đến bậc 5) Dựa trên việc thu thập và xử lý thông tin, số liệu, nhân
Trang 34viên công tác xã hội tiến hành liệt kê các thứ bậc nhu cầu hiện có hoặc còn thiếu của thân chủ Qua đó, nhân viên công tác xã hội xác định nhu cầu nào là thiết yếu, cần ưu tiên đáp ứng trước hoặc sau căn cứ theo trường hợp của thân chủ Việc đánh giá chính xác nhu cầu thân chủ sẽ giúp nhân viên công tác xã hội thực hiện tiến trình trợ giúp thân chủ một cách thuận lợi hơn, qua đó nhằm đem lại hiệu quả tối ưu, giúp thân chủ là phụ nữ bị bạo lực gia đình nâng cao năng lực đối phó, giải quyết vấn đề và tái hoà nhập cộng đồng xã hội
1.2.2 Lý thuyết nhận thức – hành vi
Từ những năm 1960, Albert Ellis là người tiên phong trong trường phái tham vấn nhận thức – hành vi, khiến trường phái hay lý thuyết này trở nên phổ biến [16]
- Khái niệm về nhận thức: Nhận thức được định nghĩa là quá trình phản
ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn, đồng thời qua đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể
- Khái niệm về hành vi: là một chuỗi các hành động lặp đi lặp lại, là xử
sự của con nguời trong 1 hoàn cảnh cụ thể, biểu hiện ra bên ngoài bằng lời nói, cử chỉ nhất định Hành vi có thể thuộc về ý thức, tiềm thức, công khai hay bí mật, và tự giác hoặc không tự giác Hành vi là một giá trị có thể thay đổi qua thời gian
Thuyết nhận thức - hành vi nghiên cứu, nhấn mạnh về cách thức con người hành động xuất phát từ sự hiểu biết và nhận thức của họ Nghiên cứu mối liên hệ giữa hành vi và nhận thức Cách tiếp cận của lý thuyết thể hiện qua việc nhân viên công tác xã hội sử dụng phương pháp tiếp cận nhận thức – tiếp cận xúc cảm cảm lý Cách tiếp cận này dựa trên thuyết cho rằng việc thay đổi nhận thức dẫn đến thay đổi hành vi [16]
Mối quan hệ giữa nhân viên công tác xã hội với thân chủ trong lý thuyết trên mang tính chất là mối quan hệ tích cực như là điểm tốt trong quá
Trang 35trình tham vấn Phương pháp lý thuyết nhận thức – hành vi chú trọng tới hành
vi, nhận thức nhưng là ở hiện tại (hoặc quá khứ), sau đó bằng cách tác động
trực tiếp lên nhận thức lệch lạc của thân chủ, nhân viên công tác xã hội giúp thân chủ học hỏi tiếp thu dẫn đến thay đổi tạo ra những khuôn mẫu hành vi có kết quả
1.2.3 Lý thuyết hệ thống
Vào những năm 30 và 40 của thế kỷ XX, lý thuyết hệ thống được phát triển bởi nhà sinh học Luvig Von Bertalanffly Có thể nói, lý thuyết hệ thống được nghiên cứu và vận dụng trong mọi lĩnh vực như kinh tế, xã hội học, sinh học Ông cho rằng một hệ thống là một tổng thể phức tạp do các yếu tố từ vi
mô, trung mô đến vĩ mô cấu thành và có sự tác động qua lại lẫn nhau trên toàn bộ hệ thống [16]
Theo lý thuyết trên, mỗi cá nhân được coi là một hệ thống vi mô, gồm
ba tiểu hệ thống: hệ thống tâm lý, hệ thống hành vi và hệ thống sinh học Do con người sinh sống và tồn tại trong xã hội nên các tiểu hệ thống của mỗi cá nhân sẽ chịu sự ảnh hưởng và tác động của cả hệ thống gia đình - hệ thống trung mô và hệ thống xã hội – hệ thống vĩ mô Vì thế, khi hệ thống vĩ mô tác động trực tiếp lên hệ thống trung mô cũng là đồng thời tác động đến hệ thống
vi mô - mỗi cá nhân Đồng thời, nhà sinh học Bertalanffly chỉ ra mỗi tiểu hệ thống có ba vai trò là: vai trò của tiểu hệ thống trong mối quan hệ gia đình, trong mối quan hệ với đồng nghiệp và trong mối quan hệ với cộng đồng xã hội [16]
Việc vận dụng hiệu quả lý thuyết hệ thống trong đề tài trên sẽ góp phần đưa ra mối quan hệ giữa phụ nữ bị bạo lực gia đình với những người xung quanh, cộng đồng và xã hội; với nhân viên công tác xã hội Bên cạnh đó, chỉ
ra sự tác động, hỗ trợ kịp thời của nhân viên công tác xã hội và các bên liên quan trong tiến trình trợ giúp thân chủ đối phó và giải quyết vấn đề bạo lực gia đình
Trang 361.2.4 Lý thuyết vai trò, vị thế xã hội
Trong xã hội, mỗi người đều đảm nhận một hay nhiều vị trí và vai trò khác nhau Lý thuyết vai trò, vị thế xã hội cho rằng vị thế của một người là cái mà xã hội công nhận ở người này một cách tương đối trong các thang bậc
xã hội Sự khác nhau trong vị thế xã hội sẽ được thể hiện ở những môi trường, hoàn cảnh khác nhau do nó còn phụ thuộc vào các nhân tố thiết lập nên quyền
và nghĩa vụ Khi nắm giữ vị thế, việc tập hợp các quyền và trách nhiệm của một người đang thực hiện cũng được coi là vị thế xã hội Chính vì vậy, vị thế trong xã hội hiện nay đều có sự phân biệt cao và thấp Vị thế xã hội có bốn loại như: Vị thế gán cho – có sẵn; vị thế đạt được; vị thế mang tính có sẵn và đạt được; vị thế chủ yếu – thứ yếu [16]
Lý thuyết trên đã chỉ ra vai trò và vị thế xã hội là mối liên hệ gắn bó, không thể tách rời Vai trò xã hội là chức năng xã hội; là tổng hợp, mô hình các hành vi được nhận định và xác lập một cách khách quan dựa trên yếu tố vị thế xã hội tồn tại trong hai hệ thống: hệ thống các quan hệ cá nhân hoặc hệ thống các quan hệ xã hội Như vậy, có thể hiệu vai trò xã hội là sự tập hợp thái độ, hành vi cụ thể và sự tự thực hiện chức năng, nghĩa vụ của một người
tương ứng với vị thế người đó đang chiếm giữ Tuỳ theo chuẩn mực (độ tuổi, dân tộc, nguồn gốc gia đình…) của các quốc gia, đất nước về vị thế xã hội mà
sự mong chờ của xã hội đó về vai trò xã hội cũng được thể hiện dưới các hành
vi, thái độ và chức năng khác nhau [16]
Dựa trên lý thuyết vai trò, vị thế xã hội trong ngành Công tác xã hội, nhân viên công tác xã hội vận dụng lý thuyết trên nhằm mục đích tìm hiểu, lý giải và đánh giá tổng hợp các hành động, thái độ của cá nhân, nhóm và cộng đồng dựa trên vị trí mà họ đang chiếm giữ trong xã hội Nhân viên công tác
xã hội giúp mỗi cá nhân, nhóm và cộng đồng nhận thức đúng đắn về vị thế xã hội, giúp họ sẽ thực hiện tốt các vai trò xã hội trong trường hợp họ bị mất cân bằng hay lẫn lộn về vị thế và vai trò của mình trong xã hội
Trang 37TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong chương 1, tôi đã trình bày một số vấn đề lý luận về vai trò của nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp phụ nữ bị bạo lực gia đình Trình bày các khái niệm liên quan đến nhân viên công tác xã hội, cộng tác viên công tác
xã hội (nhân viên công tác xã hội bán chuyên), vai trò của nhân viên công tác
xã hội nói chung, trong việc trợ giúp phụ nữ bị bạo hành gia đình nói riêng, công tác xã hội cá nhân, bạo lực gia đình và phụ nữ bị bạo lực gia đình Bên cạnh đó, tôi cũng đưa ra một số lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu như trên
Qua đó, hệ thống cơ sở lý luận ở Chương 1 sẽ định hướng cho việc
nghiên cứu đề tài “Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp phụ
nữ bị bạo lực gia đình tại xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định”
Trang 38CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI XÃ NGHĨA THÁI, HUYỆN NGHĨA HƯNG, TỈNH NAM ĐỊNH HIỆN NAY
2.1 Khái quát địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Điều kiện tự nhiên của địa bàn nghiên cứu
Nghĩa Thái là xã thuộc huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định Là xã đồng bằng, được Unesco vinh danh cùng 5 xã, thị trấn nằm ở cực nam của huyện Nghĩa Hưng trở thành các địa danh thuộc khu dự trữ sinh quyển châu thổ Sông Hồng Với diện tích của xã là 8,84km2, mật độ dân số của xã Nghĩa Thái tương đương với 9.550 người Xã Nghĩa Thái nằm giữa hai dòng sông Đào và sông Ninh Cơ, phía đông có đường tỉnh lộ 55, phía bắc giáp xã Nghĩa Thịnh, phía Nam giáp xã Nghĩa Thuỷ Vị trí xã nằm gần vùng tiếp giáp với cửa sông Ninh Cơ là các bãi cát, các đụn cát và đầm nước mặn cùng các ruộng muối
Nghĩa Thái là một xã thuộc huyện Nghĩa Hưng – huyện thuần nhất đồng bằng ven biển cùng điều kiện tự nhiên rất thuận tiện về giao thông đường bộ, đường thuỷ và hệ thống thuỷ lợi Do đó, Nghĩa Thái trở thành xã thuận lợi phát triển kinh tế nông nghiệp đa dạng, đặc biệt thuận tiện cho việc tưới, tiêu cho trồng lúa và chăn nuôi kết hợp một số nghề phụ khác
2.1.2 Điều kiện kinh tế - văn hoá – xã hội của địa bàn nghiên cứu
Về phương diện kinh tế, xã Nghĩa Thái có nền kinh tế địa phương ổn định và có xu hướng phát triển chỉ tiêu theo hằng năm Cơ cấu kinh tế của xã Nghĩa Thái tập trung vào các ngành nghề Nông nghiệp chiếm 75% - bao gồm trồng lúa, khoai, lạc, và chăn nuôi gia súc như vịt, lợn Ngành công nghiệp chiếm 15% và riêng ngành nghề đánh bắt, chế biến hải sản và vận tải đường sông tuy chỉ chiếm 10% nhưng cũng là một tiềm năng kinh tế mới của xã Chính vì đặc thù cơ cấu kinh tế, xã Nghĩa Thái hiện nay có tổng diện tích trồng lúa là 720 ha, rất thuận lợi cho việc trồng lúa nước và chăn nuôi gia súc với năng suất trên 7 tấn/1 ha một năm Theo kết quả thống kê năm 2017: Số
Trang 39thóc tổng xã Nghĩa Thái thu được một năm là 6.480.000 tấn, số lượng chăn nuôi gia súc là 155.000 tấn Về vận tải đường sông của xã là 6.500.000 tấn/ hằng năm Trong đó, thu nhập bình quân đầu người của xã Nghĩa Thái là 31.000.000 đồng/người/năm Có thể thấy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, chính quyền xã Nghĩa Thái đã vươn lên làm chủ về mọi mặt để trở thành một trong những huyện giàu mạnh, thúc đẩy kinh tế phồn thịnh cho đời sống nhân dân ngày một ấm no, sung túc, bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, góp phần xây dựng xã ngày càng giàu mạnh và văn minh
Về khía cạnh văn hoá - xã hội, Nghĩa Thái là xã có truyền thống cách mạng luôn luôn chấp hành, thực hiện tốt mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Qua các dấu mốc lịch sự, xã Nghĩa Thái đẩy mạnh xây dựng hình ảnh nông thôn mới với 19 tiêu chí đã đạt được bao gồm việc trở thành một xã văn hoá tốt của địa phương, xây dựng các nhà văn hoá theo cụm
cư dân để mọi người dân sinh hoạt, hội họp và tập luyện sức khoẻ…
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích đã đạt được, nhìn chung ở xã Nghĩa Thái, dân trí vẫn còn thấp và trình độ phát triển không đều Hiện nay, vẫn còn tồn tại nhiều tư tưởng, hủ tục lạc hậu, hay định kiến giới ở xã Nghĩa
Thái như “tư tưởng trọng nam khinh nữ” trong xã hội, quan điểm “nam trưởng, nữ phó”, ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của đời sống nhân
dân, đặc biệt là đối tượng phụ nữ tại xã Có thể thấy, họ vẫn chịu thiệt thòi về nhiều mặt và phải chịu sự bất bình đẳng nam nữ trong đời sống gia đình và xã hội
Một số đặc điểm của Uỷ ban nhân dân xã Nghĩa Thái:
Uỷ ban nhân dân xã Nghĩa Thái có tổng số cán bộ là 31 người, trong đó chuyên trách, công chức là 16 người; cán bộ không chuyên trách là 15 người
Cụ thể về bộ phận công chức và chính quyền xã bao gồm 01 bí thư Đảng bộ
xã, 01 phó bí thư đảng bộ xã, 01 cán bộ văn phòng đảng uỷ xã, 01 chủ tịch xã
và 02 phó chủ tịch xã Trong đó, một phó chủ tịch xã đại diện cho phương diện nội chính kinh tế, văn hoá- xã hội và một phó chủ tịch xã đại diện, chịu
Trang 40trách nhiệm cho hệ thống pháp lý Về bộ phận giúp việc, hỗ trợ cho chính quyền xã bao gồm 01 đồng chí phụ trách văn phòng uỷ ban, 01 trưởng công
an xã, 01 xã đội trưởng chịu trách nhiệm quản lý quân số của xã, 01 bí thư đoàn thanh niên, 01 đồng chí phụ trách hội trưởng phụ nữ Bên cạnh, xã còn
có 01 đồng chí Chủ tịch Hội đồng Nhân Dân, 01 Chủ tịch hội cựu Chiến Binh, 01 đồng chí phụ trách mảng Lao động Thương Binh và Xã Hội và 01 đồng chí ban tài chính xã quản lý tài chính, nguồn thu/chi ngân sách của xã
2.2 Thực trạng phụ nữ bị bạo lực gia đình tại xã Nghĩa Thái, huyện
Nghĩa Hƣng, tỉnh Nam Định
2.2.1 Các hình thức bạo lực tại địa bàn nghiên cứu
Thực trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định, theo số liệu thống kê vào năm 2015 của Sở lao động thương binh và xã hội tại xã, tổng số phụ nữ bị bạo lực gia đình là 67 người Chỉ số trên đã được giảm thiểu còn 42 người vào năm 2016 và tiếp tục giảm đến năm 2018 chỉ còn 17 trường hợp Nhìn chung, thực trạng phụ nữ bị bạo lực gia đình tại xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định đã thuyên giảm theo từng năm, tuy nhiên những con số trên chưa phải đã phản ánh đúng thực tế bởi đây chỉ là những trường hợp được báo cho chính quyền địa phương hoặc được sự trợ giúp từ chính quyền địa phương Do đó, có thể còn có rất nhiều nạn nhân vì những nguyên do khác nhau như sự ảnh hưởng đến nhân phẩm gia đình, sự an toàn của con cái… khiến họ chấp nhận hoàn cảnh, âm thầm chịu đựng tình trạng bạo lực gia đình
Hiện nay, số liệu khảo sát phụ nữ bị bạo lực gia đình diễn ra tại địa phương trong những năm qua cho thấy các khách thể bị bạo lực thường bắt đầu ở độ tuổi từ 20 đến 65 tuổi Theo thống kê thực trạng phụ nữ bị bạo hành gia đình diễn ra tại xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định giai đoạn 2015 đến 2018 cho thấy phụ nữ bị bạo lực gia đình diễn ra ở 4 nhóm độ tuổi khác nhau như bạo lực kinh tế thường xuyên xảy ra với phụ nữ từ 20 đến
30 tuổi; bạo lực thể chất là từ 30 đến 40 tuổi; bạo lực tình dục thường là 40