Chương trình trang bị cho sinh viên nhữngđạo đức nghề nghiệp như: nắm vững những kiến thức cơ bản về kinh tế- xã hội vàpháp luật, có thái độ và tác phong làm việc chuyên nghiệp và biết p
Các chuẩn đầu ra của ngành quản trị kinh doanh
1.2.1 Vận dụng được kiến thức nền t愃ऀng khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn vào hoạt động qu愃ऀn tr椃⌀ kinh doanh
Kiến thức nền tảng về khoa học tự nhiên không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ vấn đề mà còn phát triển nó theo hướng logic Ngoài ra, nó còn hỗ trợ trong việc trình bày thông tin khoa học một cách đơn giản, đầy đủ và dễ hiểu.
- Nhận ra điểm sai và chỉnh sửa được, đưa ra được những nhận định phê phán có liên quan đến chủ đề thảo luận.
- Đề xuất vấn đề, đặt câu hỏi cho vấn đề.
- Đưa ra phán đoán và xây dựng giả thuyết.
- Lập kế hoạch thực hiện.
- Nghiên cứu về giới tính và phụ nữ.
Mỗi một l椃̀nh vực nghiên cứu đều giúp ích cho hoạt động quản trị kinh doanh.
Hiểu biết về luật pháp không chỉ giúp chúng ta tránh được những khoản phạt có vẻ vô lý mà còn mang lại sự an tâm trong cuộc sống xã hội Tâm lý và kiến thức pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi cá nhân và tạo ra một môi trường sống công bằng hơn.
Kinh tế hiện nay đang phát triển mạnh mẽ trong thời đại 4.0, với Internet trở thành một trong những con đường kinh doanh mới Nhiều người đã tận dụng các ứng dụng như Facebook, Zalo, và TikTok để bán hàng và giới thiệu sản phẩm, thể hiện sự sáng tạo trong kinh tế Mặc dù việc kinh doanh trực tuyến mang lại sự thuận tiện và giảm chi phí, nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro lớn như lừa đảo và vấn đề an ninh mạng Nếu áp dụng sự sáng tạo một cách hợp lý, chúng ta có thể thu được nhiều lợi ích từ nền kinh tế số.
Phân tích và tổng hợp bối cảnh hoạt động của doanh nghiệp là yếu tố quan trọng để hình thành và phát triển cơ hội khởi nghiệp, từ đó tạo ra ý tưởng mới cho sản phẩm và dịch vụ Việc đổi mới và sáng tạo trong hoạt động quản trị sẽ giúp nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Phân tích bối cảnh xã hội doanh nghiệp đang hoạt động có những gì biến động
- Tổng hợp lại đầy đủ nhất bức tranh toàn cảnh của hoạt động doanh nghiệp.
Để thích ứng với bối cảnh hiện tại, cần hình thành và phát triển những cơ hội mới, bao gồm các ý tưởng khởi nghiệp sáng tạo và những đổi mới trong kinh doanh, nhằm giúp doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ trong mọi tình huống.
Trong bối cảnh dịch bệnh hiện nay, nhiều doanh nghiệp đã chuyển sang hình thức kinh doanh trực tuyến Đặc biệt, một số doanh nghiệp ở tâm dịch như Bắc Giang vẫn nỗ lực phát triển kinh tế bằng cách xây dựng kế hoạch cho công nhân ăn, ngủ và nghỉ ngay tại công ty.
Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, dịch vụ ngân hàng trực tuyến ngày càng phát triển, cho phép người dùng dễ dàng tạo tài khoản ngân hàng ngay tại nhà, thay vì phải đến trực tiếp như trước đây.
Việc xây dựng và đánh giá kế hoạch kinh doanh là rất quan trọng trong quản trị doanh nghiệp, vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công của doanh nghiệp Một kế hoạch phù hợp giúp xác định tính khả thi, cũng như những ưu nhược điểm, từ đó đưa ra quyết định đúng đắn cho sự phát triển bền vững.
- Cần được xây dựng ngắn gọn súc tích
- Phù hợp với mục đích của doanh nghiệp và với người đọc
- Không nên sợ việc xây dựng kế hoạch kinh doanh cũng như lên ý tưởng. c) Để đánh giá kế hoạch kinh doanh cần chú ý:
- Sự hài lòng của khách hàng
- Tiếp thị dựa trên giá trị
- Phân tích điểm hòa vốn
- Tạm dừng để xem xét
1.2.5 Phân Bổ và sử dụng hiệu qu愃ऀ các nguồn lực của tổ chức (Gồm 3 giai đoạn ) a) Giai đoạn 1: Định vị
Để xác định các đặc tính cơ bản về kinh tế và kỹ thuật của chiến lược mới, cần thực hiện quá trình nghiên cứu, phân tích và lựa chọn một cách kỹ lưỡng.
Bức tranh này thể hiện rõ ràng cách thức, ý tưởng và hành động của chiến lược, đồng thời cho thấy sự tương tác và phản hồi với các nguồn lực cũng như bối cảnh môi trường của doanh nghiệp Chiến lược này thường được thực hiện bởi đội ngũ quản lý cấp thấp trong các phòng ban của doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp sử dụng các cách khác nhau để phân tích, đánh giá các thách thức mà họ có thể gặp phải từ môi trường.
Kết hợp cả hai phương pháp trong giai đoạn triển khai là hoạt động phân bổ nguồn lực ở hai cấp độ: cấp độ công ty và cấp độ kinh doanh.
Ở cấp công ty, việc phân bổ nguồn lực dựa trên hai yếu tố chính: nhận thức về mức độ thay đổi nguồn lực và kỳ vọng từ cấp cao, hay còn gọi là mục tiêu chiến lược Từ đó, có bốn loại phân bổ nguồn lực được hình thành.
Mức độ kỳ vọng cao yêu cầu phải thiết lập thứ bậc ưu tiên cho các đơn vị, chức năng và nguồn lực Việc phân bổ nguồn lực sẽ được thực hiện từ cấp cao xuống theo thứ tự ưu tiên của các bộ phận.
Mức độ kỳ vọng thấp thường xuất hiện khi doanh nghiệp đang trong tình trạng ổn định hoặc có xu hướng suy giảm, dẫn đến việc phân bổ nguồn lực thông qua cạnh tranh tự do giữa các bộ phận.
+ Mức độ kỳ vọng đều thấp, các nguồn lực sẽ được phân bổ thông qua mặc cả tự do giữa các bộ phận.
Để thực hiện chiến lược hiệu quả tại cấp kinh doanh, doanh nghiệp cần thiết lập quy trình và phân bổ các bước cụ thể cho các bộ phận và đơn vị chức năng Hoạt động phân bổ lại trong từng bộ phận được thực hiện thông qua đàm phán, tương tự như ở cấp công ty đã đề cập.
- Bối cảnh gồm các hoạt động điều chỉnh, cập nhật, bổ sung phân bổ nguồn lực theo bối cảnh thực thi chiến lược và những biến động thị trường.
Vị trí việc làm sau khi học quản trị kinh doanh
1.3.1 Có thể tự mình khởi nghiệp kinh doanh:
Những yếu tố cần để khởi nghiệp:
- Năng lực sáng tạo không giới hạn
- Có vốn khởi nghiệp kinh doanh
- Sự kiên trì không bỏ cuộc
- kỹ năng cơ bản về kiến thức chuyên môn
- kỹ năng tìm hiểu và nghiên cứu thị trường
- kỹ năng quản lí tài chính
- kỹ năng ủy quyền giao quyền
- kỹ năng lập kế hoạch và xây dựng chiến lược
1.3.2 Giám đốc, trợ lí giám đốc:
Giám đốc điều hành cấp cao:
- Thường chính là giám đốc điều hành (CEO) trong một tổ chức chính phủ, tổ chức phi chính phủ, doanh nghiệp hoặc tổ chức phi lợi nhuận.
Nhiệm vụ bao gồm quyết định các hoạt động kinh doanh, tư vấn chiến lược cho chủ tịch, xây dựng và quản lý cơ cấu doanh nghiệp, cũng như duy trì các mối quan hệ hợp tác.
- Những phẩm chất trở thành giám đốc:
+ Có khả năng phán đoán.
+ Có sự sáng tạo đổi mới.
+ Có khả năng tìm kiếm nhân tài.
Trợ lý giám đốc là người hỗ trợ công việc cho giám đốc, yêu cầu kiến thức và kỹ năng chuyên nghiệp Họ cần có khả năng am hiểu rộng, nhạy bén và có thể thực hiện nhiều nhiệm vụ cùng lúc.
1.3.3 Nhà qu愃ऀn tr椃⌀ cấp cao:
- Xây dựng chiến lược hành động và phát triển tổ chức, đề ra các mục tiêu dài hạn và các giải pháp lớn để thực hiện…
- Các chức danh của nhà quản trị cấp cao thường là chủ tịch, tổng giám đốc, giám đốc, hiệu trưởng…
Nội dung công việc của nhà quản trị cấp cao
- Xác định mục tiêu doanh nghiệp trong từng thời kì, phương hướng, biên pháp lớn.
- Tạo dựng bộ máy quản trị doanh nghiệp.
- Phối hợp hoạt động của các bên có liên quan.
- Xác định nguồn lực và đầu tư kinh phí cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Quyết định các biện pháp kiểm tra, kiểm soát như chế độ báo cáo, kiểm tra, thanh tra, định giá, khắc phục hậu quả.
*K椃̀ năng của nhà quản trị cấp cao cần có k椃̀ năng k椃̀ thuật, k椃̀ năng nhân sự và k椃̀ năng tư duy.
- Đề xuất các kế hoạch kinh doanh cho tổ chức.
- Tạo lập và duy trì các mối quan hệ với đối tác và khách hàng.
- Phối kết hợp với các phòng ban, bộ phận trong tổ chức để đảm bảo hoạt động kinh doanh được diễn ra một cách trơn tru, nhịp nhàng.
- Đảm bảo hoàn thành các mục tiêu về doanh số trước ban lãnh đạo.
- Thường xuyên báo cáo công việc với cấp.
1.3.5 Ngoài ra còn có một số vị trí khác:
Nhân viên kinh doanh có trách nhiệm tìm kiếm và tư vấn khách hàng tiềm năng, thuyết phục họ trở thành khách hàng thực sự Mục tiêu chính của họ là ký kết hợp đồng và gia tăng doanh số bán hàng.
Giám sát bộ phận kinh doanh của công ty, đảm bảo hiệu suất công việc và doanh thu đạt yêu cầu Chịu trách nhiệm thiết lập mục tiêu kinh doanh, phân tích dữ liệu để đưa ra quyết định chính xác, đồng thời tạo chương trình đào tạo và giám sát nhân viên kinh doanh hiệu quả.
Giúp các công ty nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách giảm chi phí và tăng doanh thu, chúng tôi xuất sắc trong việc tìm kiếm và đánh giá thông tin liên quan đến vấn đề, thiết kế quy trình cải tiến và khuyến nghị các thay đổi có tính hệ thống.
Cung cấp dịch vụ kiểm toán, lập báo cáo tài chính và thiết kế hệ thống kế toán.
- Chuyên viên phân tích, nghiên cứu thị trường:
Giúp công ty tìm hiểu đối tượng khách hàng mục tiêu, các sản phẩm có nhu cầu cao.
- Nhân viên hành chính nhân sự:
+ Quản lý hồ sơ, giấy tờ; Công tác lễ tân; Xử lý bảng tính lương.
+ Lưu trữ cơ sở dữ liệu và hồ sơ hiện tại.
+ Công tác quản lý tài sản, thiết bị.
+ Quản lí chất lượng sản phẩm.
+ Là đảm bảo chất lượng sản phẩm đầu ra đáp ứng được các yêu cầu và tiêu chuẩn chất lượng theo quy định của doanh nghiệp.
Chịu trách nhiệm xây dựng và kiểm soát hệ thống tiêu chuẩn chất lượng cho từng loại sản phẩm, đồng thời quản lý các phương tiện, công cụ và thiết bị đo lường cần thiết.
+ Thường xuyên theo dõi, kiểm tra để kịp thời phát hiện các sản phẩm không đáp ứng được các tiêu chuẩn chất lượng.
+ Đưa ra các chỉ dẫn và chỉ đạo bộ phận sản xuất xử lý các sản phẩm không đạt.
Phẩm chất người quản trị
- Trung thực là yếu tố đầu tiên và tiên quyết.
- Khả năng giao tiếp xuất sắc.
- Tính quyết đoán và đưa ra quyết định sáng suốt.
- Sự tự tin tỏa ra tích cực và oai phong.
- Có tinh thần trách nhiệm vì tập thể
- Khả năng đồng cảm và thấu hiểu nhân viên.
- Học tập mọi lúc mọi nơi.
2.1 Các khái niệm cơ bản.
Theo Điều 4, khoản 16 của Luật Doanh nghiệp 2014, kinh doanh được định nghĩa là hoạt động liên tục thực hiện một hoặc nhiều công đoạn trong quá trình đầu tư, bao gồm sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường với mục tiêu tạo ra lợi nhuận.
1 Định hướng tiêu dùng, tạo ra văn minh tiêu dùng.
2 Tạo ra những sản phẩm, dịch vụ đáp ứng thỏa mãn những nhu cầu của người tiêu dùng, thị trường, thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
3 Tạo ra giá trị gia tăng, đóng góp ngân sách nhà nước,… góp phần chung vào giải quyết một số vấn đề xã hội.
4 Cơ sở hình thành nên những mắt xích quan trọng trong quá trình tái sản xuất mở rộng và liên kết chuỗi.
5 Tạo đội ngũ lao động sở hữu chuyên môn, tay nghề cao, có ý thức tổ chức kỉ luật cao.
2.1.2 Qu愃ऀn tr椃⌀ kinh doanh
Quản trị kinh doanh là quá trình thực hiện các hành vi quản lý nhằm duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
2.1.3 Doanh nghiệp và qu愃ऀn tr椃⌀ doanh nghiệp
KHÁI QUÁT VỀ KINH DOANH VÀ PHẨM CHẤT NGƯỜI QUẢN TRỊ
Các khái niệm cơ bản
Theo Luật Doanh nghiệp 2014, kinh doanh được định nghĩa là hoạt động liên tục thực hiện một hoặc nhiều công đoạn trong quá trình đầu tư, bao gồm sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường với mục tiêu sinh lời.
1 Định hướng tiêu dùng, tạo ra văn minh tiêu dùng.
2 Tạo ra những sản phẩm, dịch vụ đáp ứng thỏa mãn những nhu cầu của người tiêu dùng, thị trường, thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
3 Tạo ra giá trị gia tăng, đóng góp ngân sách nhà nước,… góp phần chung vào giải quyết một số vấn đề xã hội.
4 Cơ sở hình thành nên những mắt xích quan trọng trong quá trình tái sản xuất mở rộng và liên kết chuỗi.
5 Tạo đội ngũ lao động sở hữu chuyên môn, tay nghề cao, có ý thức tổ chức kỉ luật cao.
2.1.2 Qu愃ऀn tr椃⌀ kinh doanh
Quản trị kinh doanh là quá trình thực hiện các hành vi quản lý nhằm duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
2.1.3 Doanh nghiệp và qu愃ऀn tr椃⌀ doanh nghiệp
Theo Điều 4, Khoản 7, Luật Doanh nghiệp 2014:
Doanh nghiệp là một tổ chức có tên riêng, sở hữu tài sản và có trụ sở giao dịch, được thành lập theo quy định của pháp luật với mục đích kinh doanh.
- Doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế được thành lập để thực hiện các hoạt động kinh doanh nhằm múc đích kiếm lời.
*Đăc trưng cơ bản của doanh nghiệp:
Doanh nghiệp là tổ chức bao gồm những người lao động và các thành viên tham gia, do đó, mọi tác động đến doanh nghiệp đều ảnh hưởng đến con người Con người và mối quan hệ giữa họ được coi là yếu tố trung tâm trong quản trị doanh nghiệp.
Doanh nghiệp là một thực thể hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh hàng hóa, dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường Doanh nghiệp có tên riêng, sở hữu tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định và được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật.
Doanh nghiệp hoạt động với hai chức năng chính là sản xuất và kinh doanh, hai chức năng này liên kết chặt chẽ, tạo thành một chu trình khép kín trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.
Doanh nghiệp hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, và để thực hiện điều này, họ cần cải thiện khả năng đáp ứng nhu cầu của thị trường ngày càng hiệu quả hơn.
Doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường cần chấp nhận cạnh tranh để tồn tại và phát triển Để đạt được điều này, các doanh nghiệp cần xây dựng những chiến lược và kế hoạch kinh doanh phù hợp với từng giai đoạn và hoàn cảnh cụ thể.
Quản trị doanh nghiệp là quá trình có tổ chức và có mục tiêu, trong đó chủ thể doanh nghiệp tác động đến toàn bộ người lao động để tối ưu hóa cơ hội và tiềm năng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra trong môi trường kinh doanh biến động.
*Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp gồm: môi trường bên trong và môi trường bên ngoài.
Môi trường bên trong: gồm các yếu tố như tài chính, nhân sự, truyền thống doanh nghiệp, tầm nhìn và sứ mệnh doanh nghiệp.
Môi trường bên ngoài gồm; môi trường v椃̀ mô và môi trường vi mô.
Môi trường vĩ mô bao gồm các yếu tố như chính trị, môi trường tự nhiên, công nghệ, văn hóa xã hội và luật pháp, tất cả đều có ảnh hưởng lớn đến doanh nghiệp Doanh nghiệp không thể thay đổi những yếu tố này, nhưng cần phải thích ứng để phát triển bền vững.
Môi trường vi mô bao gồm các yếu tố nhỏ có ảnh hưởng đến doanh nghiệp, nhưng doanh nghiệp có khả năng điều chỉnh chúng Những yếu tố này bao gồm khách hàng, đối tác, nhà cung cấp và đối thủ cạnh tranh.
2.1.5 Mối liên hệ giữ môi trường kinh doanh và doanh nghiệp
Doanh nghiệp và môi trường kinh doanh có mối liên hệ chặt chẽ, ảnh hưởng lẫn nhau Môi trường tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển, trong khi doanh nghiệp biết nắm bắt cơ hội sẽ hoạt động hiệu quả hơn Ngược lại, nếu doanh nghiệp không thích nghi với môi trường, nó có thể trở thành gánh nặng, kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp không chỉ chịu ảnh hưởng từ môi trường mà còn tác động ngược lại lên nó Những tác động này có thể dẫn đến những phản ứng tích cực, nhưng cũng có thể gây ra những hệ quả tiêu cực.
Phân loại doanh nghiệp và các loại hình doanh nghiệp
Theo Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 thì có 6 loại hình doanh nghiệp:
1 Công ty TNHH một thành viên.
2 Công ty TNHH hai thành viên trở lên.
Hiện nay, khái niệm “doanh nghiệp nhà nước” đã được thay thế bằng các công ty cổ phần, trong đó nhà nước giữ vai trò là cổ đông lớn nhất, hoặc các công ty TNHH một thành viên với nhà nước là thành viên duy nhất.
2.2.1 Công ty TNHH một thành viên
Công ty TNHH một thành viên là loại hình doanh nghiệp do một cá nhân hoặc tổ chức sở hữu, trong đó chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty, giới hạn trong phạm vi số vốn điều lệ.
- Công ty TNHH một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp.
- Công ty TNHH một thành viên không có quyền phát hành cổ phần.
Chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên có quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến hoạt động của công ty Họ có khả năng chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ cho tổ chức hoặc cá nhân khác, đồng thời chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản của công ty trong phạm vi vốn điều lệ.
Cơ cấu tổ chức quản lý nội bộ của công ty TNHH một thành viên có thể được thiết lập dưới hình thức chủ tịch công ty hoặc hội đồng thành viên.
Công ty TNHH một thành viên còn có những ưu, nhược điểm như: Ưu điểm:
Các thành viên của công ty TNHH một thành viên không phải chịu trách nhiệm cá nhân về nợ của doanh nghiệp, do đó, tài sản và quỹ cá nhân của họ được bảo vệ khỏi rủi ro.
Các công ty TNHH một thành viên được áp dụng thuế "chuyển tiếp", cho phép lợi nhuận được chuyển trực tiếp cho các thành viên Thay vì nộp thuế thu nhập liên bang ở cấp công ty, các thành viên sẽ báo cáo thu nhập này trên tờ khai thuế cá nhân của họ.
- Cơ cấu kinh doanh của một công ty tnhh một thành viên tạo ra nhiều cơ hội huy động vốn khác nhau.
- Chuyển quyền sở hữu công ty dễ dàng hơn.
Công ty TNHH một thành viên mang lại diện mạo chuyên nghiệp hơn so với việc hoạt động dưới tên của chủ sở hữu, giúp dễ dàng thu hút khách hàng và nhận được sự tôn trọng từ họ.
- Tăng chi phí khởi động và vận hành.
- Tăng thủ tục giấy tờ.
Ý thức bảo mật thông tin trong các công ty TNHH một thành viên đang gặp phải vấn đề nghiêm trọng do báo cáo hàng năm không bắt buộc Điều này dẫn đến sự lơ là trong việc lưu trữ hồ sơ kinh doanh, gây bất lợi cho chủ sở hữu doanh nghiệp khi phải đối mặt với các vụ kiện do thiếu các tài liệu cần thiết.
2.2.2 Công ty TNHH hai thành viên trở lên
Công ty TNHH hai thành viên trở lên là doanh nghiệp mà trong đó:
- Thành viên có thể là tổ chức hay cá nhân, số lượng thành viên không vượt quá 50.
- Thành viên chịu trách nhiệm về khoản nợ và ngh椃̀a vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp.
- Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại các điều 43,44,45 của Luật Doanh nghiệp 68/2014/QH13.
- Công ty TNHH hai thành viên trở lên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp.
- Công ty TNHH hai thành viên trở lên không có quyền phát hành cổ phần để huy động vốn.
- Những ưu điểm và nhược điểm của công ty TNHH hai thành viên trở lên về cơ bản có nét tương đồng với công ty TNHH một thành viên
- Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn.
- Là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn và trực tiếp thành lập.
- Quản lý và hoạt động theo mục tiêu kinh tế xã hội nhà nước giao.
- Chịu trách nhiệm hữu hạn về hoạt động sản xuất kinh doanh trong phạm vi vốn nhà nước giao.
- Có tư cách pháp nhân.
- Tài sản của doanh nghiệp là một phần tài sản của nhà nước.
Những ưu điểm và nhược điểm của doanh nghiệp nhà nước: Ưu điểm:
- Các doanh nghiệp nhà nước nhận được hỗ trợ tài chính từ chính phủ.
- Các doanh nghiệp nhà nước được biết đến là nơi được tiếp cận với các chính sách thuận lợi như:
+ Giảm thuế đối với một số sản phẩm nhất định.
+ Giảm lãi suất cho các khoản vay từ các ngân hàng quốc doanh.
+ Tiếp cận lượng khách hàng tiềm năng lớn và ổn định
- Kiểm soát chặt chẽ của chính phủ và các hạn chế xung quanh hoạt động chung và ra quyết định.
Công việc thường xuyên ít có sự đổi mới, và thành công chủ yếu phụ thuộc vào ý kiến của cấp trên trực tiếp về hiệu suất làm việc của bạn, thay vì dựa vào các mục tiêu cụ thể đã được đặt ra.
Các doanh nghiệp nhà nước chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ các mục tiêu chính trị, do sự giám sát của Ủy ban Quản lý và Giám sát Tài sản Nhà nước (SASAC), cơ quan có quyền quyết định cuối cùng trong các quyết định kinh doanh quan trọng.
- Các doanh nghiệp nhà nước bắt buộc phải thành lập liên đoàn lao động
Lực lượng lao động tại các doanh nghiệp nhà nước thường tập trung vào việc duy trì công việc một cách hoàn hảo, nhưng điều này dẫn đến tầm nhìn hạn hẹp, gây bất lợi cho công ty Đối với công nhân trong khu vực này, việc tránh sai lầm được coi trọng hơn là khuyến khích đổi mới sáng tạo.
Doanh nghiệp tư nhân là loại hình doanh nghiệp do một cá nhân hoặc tổ chức sở hữu, chịu trách nhiệm hoàn toàn bằng tài sản của mình cho mọi hoạt động của doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kì loại chứng khoán nào.
- Mỗi cá nhân chỉ được thành lập một doanh nghiệp tư nhân.
- Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp tư nhân không được công nhận là một pháp nhân như các loại hình doanh nghiệp khác, cho phép chủ doanh nghiệp tự mình hoặc thuê người quản lý để điều hành tất cả các hoạt động của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp tu nhân sở hữu những ưu và nhược điểm:
Công ty tư nhân có quyền giữ bí mật tài chính, không bắt buộc phải công khai kết quả tài chính cho công chúng Việc này giúp loại bỏ áp lực tiết lộ thông tin, từ đó bảo vệ lợi ích cạnh tranh của doanh nghiệp trước những rủi ro có thể phát sinh từ việc công khai các chi tiết kinh doanh.
Các công ty tư nhân có lợi thế trong việc lập kế hoạch dài hạn, không bị áp lực từ cổ đông như các công ty giao dịch công khai Điều này cho phép họ tập trung vào sự phát triển bền vững và quản lý hiệu quả Họ có thể đánh giá các mục tiêu ngắn hạn trong khi dành thời gian nghiên cứu và xem xét các mục tiêu dài hạn một cách liên tục.
Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Tất cả các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường đều có những mục tiêu sản xuất kinh doanh khác nhau, và những mục tiêu này có thể thay đổi theo từng giai đoạn Tuy nhiên, mục tiêu chung của các doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận Để đạt được mục tiêu này, doanh nghiệp cần
Xây dựng kế hoạch thực hiện.
Đặt ra các mục tiêu chi tiết và thực tế, phù hợp với tiềm năng của doanh nghiệp, là bước quan trọng để huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực Từ đó, doanh nghiệp có thể tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là quá trình khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong nền kinh tế để tạo ra sản phẩm và dịch vụ, đáp ứng nhu cầu thị trường và mang lại lợi nhuận.
2.4 Những đức tính phẩm chất cần có của một nhà quản trị
Nhà quản trị kinh doanh là người có khả năng truyền đạt, điều hành, hoạch định kế hoạch và quản lý Họ làm việc dưới sự lãnh đạo của giám đốc doanh nghiệp và hỗ trợ nhân viên kinh doanh, đóng vai trò là cánh tay phải của chủ doanh nghiệp và là bạn tri tâm của nhân viên.
Để trở thành một nhà quản trị cần có một số năng lực sau:
- Năng lực khống chế, điều phối sản phâm và thị trường.
- Năng lực bồi dưỡng, quản lý thuộc cấp.
- Năng lực phối hợp giao tiếp với chủ công ty, nhân viên dưới quyền và khách hàng.
- Năng lực chấp hành, chỉ huy công việc, tích cực học tập cầu tiến.
- Đạo đức nghề nghiệp tốt.
Ngoài những năng lực để hoàn thành tốt chức năng nhiệm vụ và hợp tác tốt với chủ doanh nghiệp, nhà quản trị cần có những tố chất.
- Hiểu ý lãnh đạo: Là cánh tay phải của chủ doanh nghiệp, nhà quản trị kinh doanh cần hiểu ý của cấp trên.
- Khả năng truyền đạt tốt: Họ phải biết cách biểu đạt và diễn giải một số điều mà chủ doanh nghiệp không thể trực tiếp nói ra.
Cán bộ doanh nghiệp giỏi cần có năng lực làm việc cao và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đồng thời đặt ra các mục tiêu cụ thể Họ cũng phải biết sắp xếp nhân sự hợp lý và xử lý công việc một cách có hệ thống.
Các nhà quản trị kinh doanh cần có khả năng kết hợp giữa kỹ năng kinh doanh và quản lý, để nắm bắt kịp thời diễn biến tình hình và báo cáo cho chủ doanh nghiệp Việc này giúp đưa ra những điều chỉnh cần thiết về phương hướng phát triển, chiến lược và kế hoạch của công ty, đồng thời ổn định tâm lý của nhân viên khi cần thiết.
2.5 Tìm hiểu về doanh nghiệp FPT.
FPT là tên viết tắt của Financing Promoting
Technology, tên Tiếng Anh là FPT Group là công ty cung cấp dịch vụ công nghệ lớn nhất Việt Nam.
FPT đã trở thành công ty xuất khẩu phần mềm số
Việt Nam hiện đang đứng trong danh sách 100 Nhà cung cấp Dịch vụ Ủy thác toàn cầu (Top 100 Global Outsourcing) do IAOP đánh giá, với quy mô nhân lực và doanh số ấn tượng, cùng sự hiện diện tại 22 quốc gia trên toàn thế giới.
FPT là một công ty cổ phần
Hoạt động trên ba l椃̀nh vực chính: Công nghệ, viễn thông, giáo dục
Hạ tầng viễn thông: phủ khắp 59/63 tỉnh thành ở Việt Nam, hoạt động trên thị trường toàn cầu với 48 văn phòng ở 22 quốc gia và vùng lãnh thổ bên ngoài
Với trên 30 năm thành lập, FPT có một bề dày về lịch sử:
Vào ngày 13/9/1988, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Công nghệ Quốc gia đã ký quyết định thành lập Công ty Công nghệ Thực phẩm, tên gọi đầu tiên của FPT, và bổ nhiệm ông Trương Gia Bình làm Giám đốc.
Năm 1989, FPT đã chuyển hướng sang lĩnh vực tin học, bắt đầu với hợp đồng cung cấp máy tính cho Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong kinh doanh tin học của công ty Sau khi tham gia vào ngành hàng không, FPT tiếp tục thực hiện các dự án tin học hóa cho nhiều bộ ngành trọng điểm của Việt Nam, bao gồm ngân hàng, tài chính công, viễn thông và điện lực.
Năm 1994, FPT bắt đầu hoạt động trong lĩnh vực phân phối với mục tiêu đưa công nghệ mới vào Việt Nam, khẳng định quyết tâm giao dịch trực tiếp với các hãng sản xuất lớn như IBM, Compaq, HP Sau khi Mỹ bãi bỏ chính sách cấm vận, FPT nhanh chóng tiếp cận và thuyết phục các hãng máy tính chọn mình làm đại lý chính thức IBM, một trong những công ty Mỹ đầu tiên mở văn phòng tại Việt Nam, đã công nhận FPT là đối tác đầu tiên, tiếp theo là Compaq và HP, đánh dấu sự khởi đầu cho lĩnh vực phân phối sản phẩm công nghệ chuyên nghiệp của FPT.
Năm 1997, FPT đã có những bước đột phá quan trọng trong lĩnh vực Internet tại Việt Nam Trước đó, vào năm 1996, FPT đã khởi động mạng cộng đồng Trí tuệ Việt Nam (TTVN) với hơn 10.000 thành viên Nhờ vào kinh nghiệm từ việc điều hành TTVN, FPT đã đóng góp lớn vào việc nâng cao hạ tầng truy cập Internet của Việt Nam, giúp đất nước trở thành một trong những quốc gia có hạ tầng Internet tốt nhất thế giới.
Năm 1999, FPT bắt đầu mở rộng ra thị trường quốc tế với mục tiêu chiến lược là sản xuất phần mềm Khủng hoảng tài chính khu vực và biến động kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 1997 – 1998 đã tạo ra thách thức lớn cho các công ty như FPT chuyên kinh doanh thiết bị và sản phẩm nhập khẩu Tại Hội nghị Diên hồng FPT năm 1998, công ty đã xác định chiến lược cho 10 năm tới, tập trung vào xuất khẩu phần mềm nhằm nâng cao vị thế của Việt Nam trên bản đồ trí tuệ toàn cầu.
Năm 2000, FPT đã nhận chứng chỉ ISO 9001, đánh dấu bước khởi đầu cho hệ thống quản trị toàn diện của công ty Để đạt được mục tiêu xuất khẩu phần mềm, FPT cần tuân thủ quy trình chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế Đến năm 2004, FPT trở thành công ty Việt Nam đầu tiên đạt chứng chỉ CMM 5, mức cao nhất trong đánh giá năng lực quy trình sản xuất của tổ chức phát triển phần mềm, do Viện Công nghệ phần mềm cấp.
FPT là công ty tiên phong trong việc áp dụng các công cụ quản trị hiện đại, với hệ thống quản trị toàn diện được xây dựng vào năm 2005 và là hệ thống duy nhất được đăng ký bảo hộ tại Mỹ (SEI).
Vào ngày 26/02/2001, FPT đã cho ra mắt VnExpress, một trong những báo điện tử đầu tiên tại Việt Nam, với ước mơ mang đến thông tin được cập nhật tức thì trên mặt báo VnExpress thể hiện khát vọng rằng một ngày nào đó, toàn bộ người dân Việt Nam sẽ truy cập internet để đọc báo.
Tìm hiểu về doanh nghiệp FPT
FPT là tên viết tắt của Financing Promoting
Technology, tên Tiếng Anh là FPT Group là công ty cung cấp dịch vụ công nghệ lớn nhất Việt Nam.
FPT đã trở thành công ty xuất khẩu phần mềm số
Việt Nam hiện đang đứng trong danh sách 100 Nhà cung cấp Dịch vụ Ủy thác toàn cầu (Top 100 Global Outsourcing) do IAOP đánh giá, với quy mô nhân lực và doanh số ấn tượng, cùng sự hiện diện tại 22 quốc gia trên toàn thế giới.
FPT là một công ty cổ phần
Hoạt động trên ba l椃̀nh vực chính: Công nghệ, viễn thông, giáo dục
Hạ tầng viễn thông: phủ khắp 59/63 tỉnh thành ở Việt Nam, hoạt động trên thị trường toàn cầu với 48 văn phòng ở 22 quốc gia và vùng lãnh thổ bên ngoài
Với trên 30 năm thành lập, FPT có một bề dày về lịch sử:
Vào ngày 13/9/1988, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Công nghệ Quốc gia đã ký quyết định thành lập Công ty Công nghệ Thực phẩm, tên gọi đầu tiên của FPT, và bổ nhiệm ông Trương Gia Bình làm Giám đốc.
Năm 1989, FPT đã chuyển hướng sang lĩnh vực tin học, bắt đầu với hợp đồng cung cấp máy tính cho Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, đánh dấu bước khởi đầu cho hoạt động kinh doanh tin học của công ty Sau khi tham gia vào ngành hàng không, FPT tiếp tục thực hiện các dự án tin học hóa cho nhiều bộ ngành quan trọng của Việt Nam, bao gồm ngân hàng, tài chính công, viễn thông và điện lực.
Năm 1994, FPT bắt đầu hoạt động trong lĩnh vực phân phối với mục tiêu đưa công nghệ mới vào Việt Nam, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giao dịch trực tiếp với các hãng sản xuất lớn như IBM, Compaq, và HP Sau khi Mỹ bãi bỏ chính sách cấm vận, FPT nhanh chóng tiếp cận và thuyết phục các hãng máy tính chọn mình làm đại lý chính thức tại Việt Nam IBM đã công nhận FPT là đối tác Việt Nam đầu tiên, tiếp theo là Compaq và HP, mở ra cơ hội cho FPT phát triển lĩnh vực phân phối sản phẩm công nghệ chuyên nghiệp.
Năm 1997, FPT đã có những bước đột phá quan trọng trong lĩnh vực Internet tại Việt Nam Trước đó, vào năm 1996, FPT đã khởi động mạng cộng đồng Trí tuệ Việt Nam (TTVN) với hơn 10.000 thành viên Nhờ vào kinh nghiệm từ việc điều hành TTVN, FPT đã đóng góp lớn vào việc nâng cao hạ tầng truy cập Internet của Việt Nam, giúp đất nước trở thành một trong những quốc gia có hạ tầng Internet tốt nhất thế giới.
Năm 1999, FPT bắt đầu mở rộng ra thị trường quốc tế với mục tiêu chiến lược là sản xuất phần mềm Khủng hoảng tài chính khu vực và biến động kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 1997 – 1998 đã tạo ra thách thức lớn cho các công ty như FPT chuyên kinh doanh thiết bị và sản phẩm nhập khẩu Tại hội nghị Diên hồng FPT năm 1998, công ty đã xác định chiến lược cho 10 năm tới, tập trung vào xuất khẩu phần mềm nhằm nâng cao vị thế Việt Nam trên bản đồ trí tuệ toàn cầu.
Năm 2000, FPT đã nhận chứng chỉ ISO 9001, đánh dấu bước khởi đầu cho hệ thống quản trị toàn diện của công ty Để đạt được mục tiêu xuất khẩu phần mềm, FPT cần tuân thủ quy trình chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế Đến năm 2004, FPT trở thành công ty Việt Nam đầu tiên đạt chứng chỉ CMM 5, mức cao nhất trong đánh giá năng lực quy trình sản xuất của tổ chức phát triển phần mềm, do Viện Công nghệ phần mềm cấp.
FPT là công ty tiên phong trong việc áp dụng các công cụ quản trị hiện đại, với hệ thống quản trị toàn diện được xây dựng vào năm 2005 và là hệ thống duy nhất được đăng ký bảo hộ tại Mỹ (SEI).
Vào ngày 26/02/2001, FPT đã cho ra mắt VnExpress, một trong những báo điện tử đầu tiên tại Việt Nam, với ước mơ mang đến thông tin cập nhật tức thì trên mặt báo VnExpress thể hiện khát vọng rằng một ngày nào đó, toàn bộ người dân Việt Nam sẽ truy cập internet để đọc báo.
Năm 2006, trường Đại học FPT được thành lập và niêm yết trên sàn chứng khoán Để giải quyết vấn đề nhân lực cho xuất khẩu phần mềm, FPT đã hợp tác với Aptech, một trong những tập đoàn giáo dục và đào tạo CNTT hàng đầu thế giới, để thành lập hai trung tâm Đào tạo Lập trình viên quốc tế FPT Aptech tại Hà Nội và TP.HCM.
Mặc dù hàng chục nghìn lập trình viên được cung cấp cho thị trường, con số này vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu nhân lực trong lĩnh vực CNTT Số lượng sinh viên tốt nghiệp đại học về tin học không chỉ thiếu mà còn kém về chất lượng, đặc biệt là kỹ năng ngoại ngữ Ngày đầu tiên niêm yết, cổ phiếu của FPT được giao dịch với giá 400.000 đồng/cổ phiếu, và công ty này hiện vẫn là một trong những doanh nghiệp có giá trị thị trường cao nhất.
Vào tháng 2 năm 2012, FPT đã quyết định mở rộng chuỗi bán lẻ FPT với mục tiêu đạt 150 cửa hàng vào năm 2014 Đến nay, FPT Shop đã có mặt tại 63/63 tỉnh thành ở Việt Nam, với số lượng cửa hàng không ngừng gia tăng qua các năm Chuỗi bán lẻ này được ra mắt vào tháng 3 năm 2012, áp dụng mô hình B2B2C.
Sendo.vn của FPT là sàn thương mại điện tử đầu tiên kết hợp với các nhà cung cấp logistic và ngân hàng, mang đến cho khách hàng trải nghiệm giao dịch trọn gói FPT hướng tới việc biến Sendo.vn thành trang thương mại điện tử có số lượng giao dịch cao nhất bằng cách cung cấp dịch vụ chất lượng vượt trội với mô hình mua bán đảm bảo.
Vào tháng 6/2014, FPT đã hoàn tất thương vụ M&A đầu tiên bằng việc mua lại công ty RWE IT Slovakia, một thành viên của tập đoàn năng lượng hàng đầu châu Âu, RWE Thương vụ này giúp FPT có được Giấy phép triển khai hạ tầng tuyến trục quốc gia, cho phép cung cấp đầy đủ các dịch vụ viễn thông cố định và các dịch vụ giá trị gia tăng khác.
Vào năm 2015, FPT đã chính thức nhận được Giấy phép Cung cấp dịch vụ Viễn thông tại Myanmar, cho phép công ty triển khai hạ tầng tuyến trục quốc gia và cung cấp đầy đủ các dịch vụ viễn thông cố định cùng các dịch vụ giá trị gia tăng khác.