I PAGE I Đặt vấn đề Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc Mặc dù mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng trong sự thống nhất và đa dạng của nền văn hóa Việt Nam, nhưng trong tiến trình lịch sử lâu dài dựng[.]
Trang 1I.Đặt vấn đề.
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc Mặc dù mỗi dân tộc có bản sắc vănhóa riêng trong sự thống nhất và đa dạng của nền văn hóa Việt Nam, nhưngtrong tiến trình lịch sử lâu dài dựng, giữ và phát triển đất nước, các dân tộc luôn
kề vai sát cánh đấu tranh kiên cường và giành thắng lợi trước mọi kẻ thù xâmlược Do đó, đoàn kết các dân tộc là một nhu cầu khách quan, cấp thiết và trởthành truyền thống quý báu của nhân dân ta
Ngày nay, công cuộc xây dựng và phát triển đất nước trong bối cảnh trongnước và quốc tế có nhiều thay đổi càng đòi hỏi chúng ta phải tăng cường đoànkết các dân tộc hơn bao giờ hết Để có thể thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu,nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, các dân tộc trong cả nước cầnnêu cao tinh thần đoàn kết, phát huy truyền thống vì lợi ích tối cao của Tổ quốc,đồng tâm nhất trí đưa đất nước ta vững bước tiến lên phía trước, vì tương lai của
Tổ quốc và tiền đồ của dân tộc, vì thế hệ hôm nay và con cháu mai sau Việcxây dựng và củng cố đoàn kết giữa các dân tộc có ý nghĩa hết sức quan trọng,vừa có thể phát huy hết tiềm năng và sức mạnh nội lực của đất nước tạo nên mộtthế trận vững chắc, một sức mạnh tổng hợp vừa có thể khắc phục được mặt tráicủa những vấn đề như mâu thuẫn, xung đột dân tộc hay sự lợi dụng của các thếlực thù địch
Hiện nay, đoàn kết các dân tộc nói riêng, vấn đề dân tộc nói chung đang trởthành vấn đề quốc tế mang tính thời sự sâu sắc Chủ nghĩa đế quốc và các thếlực thù địch của cách mạng ý thức rõ sức mạnh của đoàn kết dân tộc, luôn luôntìm cách phá hoại khối đoàn kết thống nhất dân tộc Chúng ra sức lợi dụng tínhphức tạp và nhạy cảm của vấn đề dân tộc, đặc biệt là lợi dụng những khó khăncủa các dân tộc thiểu số, để kích động, chia rẽ, gây rối và can thiệp vào côngviệc nội bộ của đất nước, chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt
Trang 2Nam Kể từ khi Việt Nam thực hiện đường lối đổi mới, các thế lực thù địch lạicàng tăng cường lợi dụng các vấn đề dân tộc để chống phá quyết liệt, đã đôi lúcchúng gây cho ta những khó khăn nhất định Vấn đề đoàn kết dân tộc có nhiềudiễn biến phức tạp Trong khi đó, cuộc đấu tranh ngăn chặn các thủ đoạn vàhành vi lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá đất nước, tuy đã có cố gắng nhưngvẫn còn có một số hạn chế, sai lầm nhất định.
Trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, trước âm mưu, thủ đoạn của các thếlực thù địch, Đảng ta đã nhận định: “ Đại đoàn kết dân tộc là động lực chủ yếu
để phát triển đất nước trong thời kỳ đổi mới”
II Cơ sở lý luận:
2.1 Một số khái niệm
* Khái niệm “dân tộc”:
Khái niệm “Dân tộc”: có hai cấp độ hay hai phương diện khác nhau:
Cấp độ chung phổ quát: Dân tộc – quốc gia: dân tộc đồng nghĩa với quốcgia (nation) hay đất nước, Tổ quốc, ví dụ: dân tộc Việt Nam, dân tộc Đức… Ởđây, khái niệm dân tộc được dùng để chỉ một cộng đồng người ổn định, làmthành nhân dân một nước, có một lãnh thổ quốc gia, một nền kinh tế thống nhất,
có ngôn ngữ chung và có tâm lý chung biểu hiện trong văn hóa của quốc gia dântộc
Cấp độ hẹp hơn: Dân tộc – tộc người (ethnie), thường được dùng như kháiniệm công cụ của các ngành dân tộc học, nhân chủng học, xã hội học, văn hóahọc, lịch sử… Ở đây, khái niệm dân tộc dùng để chỉ cộng đồng người hìnhthành, phát triển trong lịch sử với ba đặc trưng cơ bản đó là có chung một ngônngữ tộc người, một bản sắc văn hóa tộc người và đặc biệt có ý thức tự giác tộcngười
Trang 3* Khái niệm “đoàn kết” :khái niệm đoàn kết nên được hiểu là sự dung hòa giữa các nhóm người (dân tộc, giai cấp, tầng lớp, cộng đồng dân cư, họ tộc,
gia đình…) về quyền lợi, về chính kiến và niềm xác tín vì lợi ích tối cao củaquốc gia, của dân tộc, trên cơ sở các quy định của pháp luật
2.2 Phân tích cơ sở lý luận
2.2.1 Xuất phát từ truyền thống yêu nước, nhân ái, tinh thần cố kết cộng đồng của dân tộc Việt Nam:
Tinh thần yêu nước, nhân ái,tinh thần cố kết cộng đồng dân tộc của dân tộc ViệtNam, đại đoàn kết dân tộc đã hình thành và củng cố trong lịch sử dựng nước vàgiữ nước của dân tộc, tạo thành truyền thống bền vững thấm sâu vào tư tưởng,tình cảm, tâm hồn của mỗi con người Việt Nam Đối với mỗi người Việt Nam,yêu nước, nhân nghĩa và đoàn kết trở thành một tình cảm tự nhiên, một triết lýsống, thành phép tư duy và ứng xử chính trị
Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, tinh thần yêu nước gắn liền với
ý thức cộng đồng, ý thức cố kết dân tộc, đoàn kết dân tộc Việt Nam đã hìnhthành và củng cố, tạo thành một truyền thống bền vững Tinh thần ấy, tình cảm
ấy theo thời gian đã trở thành lẽ sống của mỗi con người Việt Nam, làm cho vậnmệnh mỗi cá nhân gắn chặt vào vận mệnh của cộng đồng, vào sự sống còn vàphát triển của dân tộc Nó là cơ sở của ý chí kiên cường, bất khuất, tinh thầndũng cảm hy sinh vì dân, vì nước của mỗi con người Việt Nam, đồng thời là giátrị tinh thần thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng và của mỗi cá nhân trong quátrình dựng nước và giữ nước, làm nên truyền thống yêu nườc, đoàn kết của dântộc Dù lúc thăng, lúc trầm nhưng chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đoàn kếtcủa dân tộc Việt Nam bao giờ cũng là tinh hoa đã được hun đúc và thử nghiệmqua hàng nghìn năm lịch sử chinh phục thiên nhiên và chống giặc ngoại xâmbảo vệ Tổ quốc của ông cha ta Chủ nghĩa yêu nước, truyền thống đoàn kết,
Trang 4cộng đồng của dân tộc Việt Nam là cơ sở đầu tiên, sâu xa cho sự hình thành tưtưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc.
2.2.2 Quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lê nin: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng
Chủ nghĩa Mác- Lênin cho rằng, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhândân là người sáng tạo lịch sử; giai cấp vô sản muốn thực hiện vai trò là lãnh đạocách mạng phải trở thành dân tộc, liên minh công nông là cơ sở để xây dựng lựclượng to lớn của cách mạng Chủ nghĩa Mác-lênin đã chỉ ra cho các dân tộc bị
áp bức con đường tự giải phóng Lê-nin cho rằng, sự liên kết giai cấp, trước hết
là liên minh giai cấp công nhân với nông dân là hết sức cần thiết, bảo đảm chothắng lợi của cách mạng vô sản Rằng nếu không có sự đồng tình và ửng hộ của
đa số nhân dân lao động với đội ngũ tiên phong của nó, tức giai cấp vô sản, thìcách mạng vô sản không thể thực hiện được Nếu không có sự tham gia củaquần chúng nhân dân thì không thể làm chuyển biến cách mạng Đây là mộtchân lý, nó hoàn toàn phù hợp với quy luật vận động và phát triển của xã hộiloài người
2.2.3 Tổng kết kinh nghiệm thành công và thất bại của các phong trào yêu nước, phong trào cách mạng Việt Nam và thế giới
Hồ Chí Minh tổng kết, đánh giá các di sản truyền thống về tư tưởng tập hợp lựclượng của các nhà yêu nước Việt Nam tiền bối và các phong trào cách mạng ởnhiều nước trên thế giới, nhất là các phong trào giải phóng dân tộc thuộc địa, từ
đó Người rút ra bài học kinh nghiệm để hình thành và hoàn chỉnh tư tưởng vềđại đoàn kết của mình Các phong trào cách mạng Việt Nam thực tế vừa hàohùng, vừa bi tráng đã chứng tỏ nếu chỉ có yêu nước thôi thì không đủ để đánhthắng giặc "Sử ta đã dạy cho ta rằng, khi nào dân ta biết đoàn kết thì khi đó dân
ta giành thắng lợi."
Trang 5Yêu cầu của thời đại mới là phải có lực lượng lãnh đạo đủ sức qui tụ cả dân tộcvào đấu tranh cách mạng, đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, xây dựng khốiđại đoàn kết dân tộc bền vững thì mới giành thắng lợi Hồ Chí Minh đã thấy hạnchế trong phương pháp tập hợp lực lượng của các nhà yêu nước tiền bối, Bác đãtìm cách sang Pháp để tìm hiểu và trở về giúp đồng bào mình.
Khi ở nước ngoài, Hồ Chí Minh khảo sát tình hình các nước tư bản chủ nghĩa vàcác nước thuộc địa, Bác nhìn thấy tiềm ẩn to lớn của họ và cũng thấy hạn chế làcác dân tộc thuộc địa chưa có tổ chức, chưa biết đoàn kết, chưa có sự lãnh đạođúng đắn Trong các phong trào cách mạng thuộc địa và phụ thuộc, Hồ ChíMinh đặc biệt chú ý đến cách mạng của Trung quốc và Ấn độ, với tư tưởng làđoàn kết các giai tầng, các đảng phái, các tôn giáo nhằm thực hiện mục tiêucủa từng giai đoạn cách mạng
Thắng lợi của cách mạng tháng mười Nga, Người đã tìm hiểu thấu đáo conđường cách mạng tháng Mười, bài học kinh nghiệm quý báu, đặc biệt là bài họchuy động lực lượng quần chúng công - nông giành và giữ chính quyền xô-viếtnon trẻ Người cho rằng đây là cuộc cách mạng đến nơi, đến chốn Đó là cơ sởthực tiễn cho việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc
2.2.4 Xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời
kỳ mới
Sự nghiệp CNH-HĐH xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp toàn dân; sứcmạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh cảu khối đại đoàn kết dân tộc Vì vậy trongthời kỳ mới, Đảng ta nêu cao nhiệm vụ tăng cường thực hiện tốt các chính sáchdân tộc của Nhà nước nhằm xây dựng, củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàndân, tạo ra sức mạnh to lớn thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệvững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN
2.3 Phân tích cơ sở thực tiễn qua các thời kỳ đất nước.:
Trang 6Nói về sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng
định: “Trong sự nghiệp thiêng liêng chống Mỹ, cứu nước, trải qua muôn nghìn gian khổ hy sinh, nhân dân ta đã lập nên những chiến công vô cùng oanh liệt Dân tộc ta có thể tự hào là một dân tộc anh hùng, trước hết là do toàn dân ta đoàn kết một lòng, quyết đánh và quyết thắng giặc Mỹ xâm lược”( Hồ Chí Minh
toàn tập, Tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.448.)
Có thể nói: Chiến lược Đại đoàn kết giữ một vai trò quan trọng, thể hiện sáng rõtrong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và trong sự nghiệp xây dựng chủnghĩa xã hội của Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh Chiến lược Đại đoàn kết đãgiải quyết một cách đúng đắn lợi ích của dân tộc và lợi ích của giai cấp.Đảng vàngười luôn đặt lợi ích của dân tộc lên trên hàng đầu Sức mạnh của toàn dân chỉphát huy khi được tập hợp trong mặt trận dân tộc,điều đó đã rất thành công trongviệc xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất để phát huy cao độ sức mạnh của toàndân Sự thành công của chiến lược Đại đoàn kết còn thể hiện ở đức độ, sự khoandung đối với con người, nhất là những người đã lầm đường, lạc lối Dưới ánhsáng của chiến lược Đại đoàn kết, cách mạng Việt Nam đã đi tới thắng lợi cuốicùng trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc
2.3.1.Thời kỳ chống Pháp
Trong giai đoạn này,Đảng và chủ tịch, Hồ Chí Minh tiếp tục đánh giá đúng vai trò, vị trí của các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo trong xã hội để tổ chức đưa họ vào công cuộc kháng chiến kiến quốc.
Mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp là mối quan hệ biện chứng không thểtách rời của một thể thống nhất Nhận thức về vấn đề này, Đảng đã rất đúng
và sáng suốt khi quan niệm: quyền lợi của dân tộc là trên hết nhưng khôngbao giờ có một dân tộc siêu hình phi giai cấp cũng như không có một giai cấpsiêu hình đứng ngoài dân tộc Dù quyền lợi kinh tế, chính trị, xã hội khácnhau nhưng tất cả các giai cấp đều tồn tại trong lòng dân tộc Từ nhận thức
Trang 7khoa học đó,Đảng đánh giá đúng vai trò, vị trí của các giai cấp, tầng lớp xãhội, tôn giáo, dân tộc và đưa họ vào công việc cứu nước rất thành công ở thời
kỳ đấu tranh giành chính quyền
*Trên cơ sở liên minh công nông và trí thức,Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh đã có biện pháp tổ chức và xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất phù hợp với yêu cầu của từng thời kỳ cách mạng.
Xây dựng MTDTTN, tạo ra cái cốt vật chất để chứa đựng nội dung đoàn kết, đốivới Hồ Chí Minh là một vấn đề có tính chiến lược lâu dài Vì vậy, thống nhấtquốc gia trong MTDTTN được xem như một thứ vũ khí sắc bén, quan trọnghàng đầu để chiến thắng mọi loại kẻ thù của cách mạng Việt Nam Dưới con mắtduy vật biện chứng và lịch sử, hình thức mặt trận thống nhất, tuỳ từng giai đoạnlịch sử cụ thể, có thể khác nhau, thậm chí cùng một lúc tồn tại nhiều loại mặttrận, nhưng mục đích chính trị của nó không biến đổi
*Từ điểm tựa là khối đại đoàn kết dân tộc,Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng được một mặt trận đoàn kết với nhân dân thế giới rất rộng rãi và hoạt động đạt hiệu quả cao.
Trong thời kỳ chống Pháp,Đảng ta luôn nêu cao bản chất chính nghĩa của cuộckháng chiến Ngay từ đầu chúng ta chú trọng tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của
nhân dân thế giới, kể cả chính phủ các nước đế quốc Nguyên tắc cơ bản của Người là: bảo đảm tính độc lập tự chủ về chính trị và tôn trọng, bình đẳng lẫn nhau giữa các dân tộc,chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm cho nhân dân thế giới từng bước hiểu ta, cùng với quá trình đó, nhân dân ta cũng hiểu thế giới hơn Những yếu tố đó làm cho nhân dân ta tin vào mình, vào dân tộc mình mà kiên trì kháng chiến, đây cũng chính là nhân tố quan trọng để thực hiện chiến lược Đại đoàn kết quốc tế nói chung và nhất là đối với các nước ở Đông Dương nói riêng.
Trang 8Thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II, Đại hội thống nhất Việt Minh liên Việt được triệu tập từ ngày 3-7/3/1951, Đại hội đã thông qua nhiều quyết định quan trọng: Thống nhất hai mặt trận Việt Minh - Liên Việt thành Mặt trận Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (gọi tắt là mặt trận Liên Việt) Tại Đại hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch danh dự, Bác Tôn được bầu làm Chủ tịch Mặt trận.
2.3.2.Thời kỳ chống Mỹ
Việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước là sự tiếp nối đường lối đoàn kết dân tộc của Đảng ta trong cuộckháng chiến chống thực dân Pháp; mà theo đó, tư tưởng “Đoàn kết, đoàn kết, đạiđoàn kết Thành công, thành công, đại thành công” của lãnh tụ Hồ Chí Minh đãđược vận dụng một cách sáng tạo, với nhiều hình thức phong phú, vào điều kiệnlịch sử mới - điều kiện đất nước tạm thời bị chia làm hai miền, cả nước đồngthời thực hiện hai chiến lược cách mạng, dưới sự lãnh đạo của một Đảng
Ở miền Bắc, sau ngày giải phóng, tháng 9-1955, Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) ViệtNam được thành lập Mặt trận đã đoàn kết đại bộ phận 17 triệu nhân dân miềnBắc, dựa chắc trên nền tảng của khối liên minh công - nông và đội ngũ trí thức,
để thực hiện công cuộc xây dựng và bảo vệ miền Bắc; đồng thời, chi viện đắclực cho cuộc đấu tranh của nhân
Ngày 20-12-1960, Mặt trận dân tộc giải phóng (MTDTGP) miền Nam Việt Namđược thành lập Mặt trận chủ trương đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân, cácgiai cấp, các dân tộc, các đảng phái, các đoàn thể, các tôn giáo và nhân sỹ yêunước, không phân biệt xu hướng chính trị, nhằm đánh đổ ách thống trị của đếquốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiện độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập, tiến tớihòa bình thống nhất Tổ quốc Dựa chắc vào khối liên minh công – nông, Mặttrận chủ trương tranh thủ bất cứ người nào có thể tranh thủ được, đoàn kết bất
cứ người nào có thể đoàn kết được, nhằm triệt để phân hóa và cô lập kẻ thù, tập
Trang 9hợp rộng rãi tất cả các tầng lớp nhân dân miền Nam chĩa mũi nhọn vào đế quốc
Mỹ xâm lược và bọn tay sai phản động Thông qua cương lĩnh đúng đắn,chương trình hành động thiết thực, bằng những mục tiêu phù hợp, với nhữngbước đệm: tự do, dân chủ, cải thiện dân sinh, hòa bình trung lập…, Mặt trận đãthu hút không chỉ các tầng lớp nhân dân lao động (công nhân, nông dân, tiểuthương), mà còn lôi cuốn được cả các tầng lớp trí thức, học sinh, sinh viên, tín
đồ các tôn giáo, ngoại kiều, tư sản dân tộc, lớp dưới trong bộ máy chính quyềnngụy Sài Gòn… vào cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược, để thực hiệnthống nhất đất nước Đứng trước khả năng đế quốc Mỹ trực tiếp đưa quân vàothực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu
tập Hội nghị chính trị đặc biệt vào ngày 27-3-1964 Với hơn 300 đại biểu gồm
những người tiêu biểu cho các ngành, các giới, đại diện cho 31 triệu đồng bào cảhai miền: Nam, Bắc, Hội nghị biểu thị khối đại đoàn kết toàn dân và ý chí quyếttâm sắt đá chiến đấu bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổquốc Được xem như là một “Hội nghị Diên Hồng” của dân tộc trong thời đạimới, Hội nghị chính trị đặc biệt đã thôi thúc cao trào hành động cách mạng trong
cả nước Trong cao trào tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, ngày 20-4-1968,Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam ra đời, tậphợp những người Việt Nam có cảm tình với cuộc đấu tranh của ta, nhưng vì lý
do này hay lý do khác mà chưa tham gia vào MTDTGP miền Nam Việt Nam
Sự ra đời của Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam(một hình thức tập hợp “ngoài mặt trận” của Đảng) và việc phối hợp chặt chẽhoạt động của Liên minh với hoạt động của MTDTGP miền Nam Việt Nam đãgóp phần cô lập cao độ kẻ thù, tạo nên sức mạnh mới của khối đại đoàn kết toàndân Tất cả những hoạt động của quân và dân 2 miền trong giai đoạn này lànhững biểu hiện sinh động của sự đoàn kết Bắc – Nam, đoàn kết quân – dân,đoàn kết nhân dân nông thôn và nhân dân thành thị, đoàn kết tất cả các tầng lớpnhân dân vì mục tiêu chung: giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; đócũng chính là sự biểu dương ý chí và lực lượng của quân và dân ta dưới sự lãnh
Trang 10đạo của Đảng, nhằm đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam vàchiến tranh phá hoại ở miền Bắc của đế quốc Mỹ trong thời kỳ này.
Tiếp theo đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, MTTQ Việt Nam, MTDTGP miềnNam Việt Nam và Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình ViệtNam đã phối hợp chặt chẽ, hỗ trợ nhau để tiếp tục phân hóa và cô lập cao độ kẻthù, tập hợp các tầng lớp nhân dân đoàn kết đấu tranh buộc địch phải thực hiệnnghiêm chỉnh Hiệp định Pa-ri; đồng thời, tranh thủ thời cơ, với quyết tâm đưacuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến ngày toàn thắng Mùa xuân 1975,chớp lấy thời cơ mới xuất hiện, Đảng ta hạ quyết tâm động viên sức mạnh caonhất của cả nước để giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.Hướng ra tiền tuyến, miền Bắc đã dốc toàn bộ sức mạnh hiện có và tiềm tàngcủa mình cho miền Nam tổng tiến công và nổi dậy Trên chiến trường miềnNam, các hoạt động tiến công quân sự của các binh đoàn chủ lực, của các lựclượng vũ trang địa phương và nổi dậy tại chỗ của nhân dân các địa phương đãphối hợp, hỗ trợ nhau, nhanh chóng đập tan sự kháng cự của địch, buộc chínhquyền ngụy Sài Gòn phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện vào ngày 30-4 SàiGòn được giải phóng trong trạng thái hầu như nguyên vẹn, tràn ngập cờ, hoa củacác tầng lớp nhân dân chào đón Quân giải phóng; không có một cuộc “tắmmáu”, hay trả thù nào như kẻ thù tuyên truyền, xuyên tạc là minh chứng hùnghồn về sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc ngay trong chiến dịch cuối cùng củacuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 – Chiến dịch Hồ Chí Minh lịchsử
2.3.3.Thời kỳ đổi mới
Trong bối cảnh hiện nay, tình hình thế giới đang có những biến động hết sứcphức tạp và nhanh chóng Việc giữ vững khối đại đoàn kết toàn dân để đưa đấtnước vượt qua thách thức là điều rất quan trọng Do đó, tăng cường đoàn kết
Trang 11toàn dân để chiến thắng nghèo nàn lạc hậu, giữ vững độc lập dân tộc và thànhquả cách mạng là trách nhiệm hết sức nặng nề của toàn Đảng, toàn dân ta.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, khối đại đoàn kết giữa các dân tộc anh em đã có sựtrưởng thành vượt bậc Sự bình đẳng, hợp tác giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộcanh em trên đất nước ta ngày càng được thực hiện tốt và thu được nhiều thànhtựu to lớn Nhất là, trong thời kỳ đổi mới, khối đại đoàn kết các dân tộc anh emđược nâng lên một tầm cao mới cả về nhận thức lẫn hoạt động thực tiễn Tronghoàn cảnh đất nước còn nhiều khó khăn, Đảng, Nhà nước vẫn kiên trì chính sách
ưu tiên, ưu đãi đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, nhất là đồng bào ở vùngsâu, vùng xa Nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về kinh tế,văn hóa, xã hội đã đưa sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đồng bào lênmột nhịp độ mới Hệ thống cơ sở hạ tầng ở miền núi đã có bước phát triển tíchcực, đời sống vật chất và tinh thần của các dân tộc thiểu số đã có mặt được cải
thiện đáng kể Cụ thể là, trong kinh tế, Đảng và Nhà nước đã trợ giá, trợ cước
phí vận tải, giảm thuế ; giao đất, giao rừng ; giúp vốn, kỹ thuật, hỗ trợ chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, phát huy thế mạnh sản xuất hàng hóa Trong văn hóa giáo dục, bằng nhiều phương thức, chúng ta mở thêm trường lớp, cung cấp dụng cụ
giảng dạy, sách giáo khoa ; vận động cán bộ vùng thấp bám trụ giúp đỡ vùng
cao, vùng sâu vùng xa Trong lĩnh vực phát triển y tế, văn hóa, chúng ta từng
bước hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở, chăm sóc sức khỏe cho đồng bào, hướngdẫn nhân dân thực hiện lối sống mới ngày càng văn minh và tiến bộ Hệ thốngđài phát thanh và truyền hình bằng tiếng dân tộc thiểu số đang được quan tâmphát triển ; xóa vùng trắng văn hóa, xóa đói giảm nghèo, xóa mù chữ, bảo toànngôn ngữ, chữ viết, bảo vệ truyền thống văn hóa quý báu của các dân tộc thiểu
số, giúp họ hòa nhập với cộng đồng
Có thể nói, Đảng, Nhà nước ta đã làm tất cả những gì có thể làm được để đồngbào các dân tộc thiểu số chủ động vượt lên, thực hiện sự bình đẳng và hợp tácgiúp đỡ lẫn nhau, cùng cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội Có lẽ chưa bao giờ bức
Trang 12tranh hòa hợp dân tộc ở nước ta lại có được những gam màu tươi sáng và rực rỡnhư ngày nay Đó là kết quả sinh động của các chính sách chăm lo lợi ích chínhđáng các tầng lớp nhân dân, các cộng đồng dân cư, các vùng, miền, thu hẹp dần
sự cách biệt trong đời sống, làm cơ sở cho hòa hợp, đoàn kết toàn dân của Đảng
và Nhà nước ta Những điều đó đã khẳng định quyết tâm rất cao của Đảng, Nhànước ta trong việc thực hiện sự bình đẳng, hợp tác giúp đỡ các dân tộc anh emcùng tiến bộ và phát triển ; khẳng định tình đoàn kết keo sơn, gắn bó giữa cácdân tộc Việt Nam cùng nhau thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh
Để thực hiện đại đoàn kết toàn dân, Đảng, Nhà nước ta cũng rất chú ý đến việcthực hiện đoàn kết giữa đồng bào có tín ngưỡng và tôn giáo khác nhau Là mộtđất nước có truyền thống lâu đời về lòng nhân hậu, mặc dù có nhiều tôn giáokhác nhau, nhưng đồng bào ta vẫn luôn luôn hòa hợp và cùng phát triển Ngay
từ khi giành được chính quyền (1945), Đảng và Nhà nước ta, đứng đầu là Bác
Hồ vĩ đại, đã luôn luôn thực hiện đoàn kết giữa đồng bào lương và giáo ; tôntrọng tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo, ngăn chặn mọi sự bài xích hay kỳ thị tôngiáo, tín ngưỡng Điều quan trọng nhất là, đảm bảo đời sống ấm no, hạnh phúccho mọi tầng lớp nhân dân, thực hiện khẩu hiệu "tốt đời đẹp đạo" Chính vì lẽ
đó, các tôn giáo ở Việt Nam tồn tại và hoạt động bình thường Nhiều đồng bào
có đạo và các chức sắc tôn giáo đã tham gia tích cực vào công cuộc xây dựng vàbảo vệ đất nước Trong những năm đổi mới, việc thực hiện tốt khối đại đoàn kếttoàn dân, tôn trọng mọi sự khác nhau về tôn giáo, tín ngưỡng đã đưa đất nướcvượt qua khó khăn, đứng vững trước những thách thức mới Đặc biệt gần đây,sức mạnh đó đã đẩy lùi mọi âm mưu và hành động của các thế lực đen tối, địnhdùng tôn giáo cũng như vấn đề dân tộc vào mục đích chính trị xấu xa và tàn bạohòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân Thắng lợi này là bài học kinh nghiệm
bổ ích, quý báu đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong việc thực hiện đạiđoàn kết toàn dân
Trang 13Để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,chúng ta cần phải chú ý duy trì phát triển tình đoàn kết trong cộng đồng ngườiViệt Nam đang sống ở nước ngoài ; thực hiện đoàn kết với các nước anh em,bầu bạn trong khu vực và trên thế giới, nhất là với các nước láng giềng Đảng,Nhà nước ta đã hết sức coi trọng việc tuyên truyền để đồng bào Việt Nam đangđịnh cư ở nước ngoài hiểu được tình hình trong nước, hướng về quê hương, gópphần tích cực xây dựng đất nước Đảng, Nhà nước ta cũng luôn mong muốnđồng bào sống xa Tổ quốc phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, cống hiếntài năng, trí tuệ cho nơi mình đang cư trú và tuân thủ nghiêm chỉnh luật phápnước sở tại đã được các nước hoan nghênh, ủng hộ và được bà con sống xa Tổquốc hưởng ứng Gần đây, các hoạt động giao lưu văn hóa, hợp tác đầu tư, làm
ăn kinh tế, các hoạt động nhân đạo, từ thiện sôi nổi và có hiệu quả của nhiều
cá nhân, tổ chức của đồng bào ta đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài, làbằng chứng hùng hồn về việc thực hiện đại đoàn kết toàn dân, góp phần thựchiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
III/ Nội dung quan điểm của Đảng về đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ mới
1 Các quan điểm chủ yếu của Đảng về vấn đề dân tộc trong thời kỳ mới: Một là: Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài
đồng thời là vấn đề cấp bách hiện nay của Cách mạng Việt Nam
Hai là: Các dân tộc anh em trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết,
tương trợ, giúp đỡ nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi
sự nghiệp CNH –HĐH đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN
Ba là: Phát triển toàn diện về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, an ninh quốc
phòng trên đại bàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi, gắn liền tăng trưởng kinh
tế với việc giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội, thực hiện tốt vấn đề chính sáchdân tộc, chăm lo xây dựng bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng và đội ngũ cán
Trang 14bộ các dân tộc thiểu số, giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa các dân tộcthiểu số trong cộng đồng văn hóa các dân tộc Việt Nam
Bốn là: Chú trọng đầu tư phát triển kinh tế xã hội ở các khu vực dân tộc vùng
cao và miền núi, khai thác một cách có hiệu quả tiềm năng kinh tế và thế mạnhcủa từng vùng, đi đôi với việc bảo vệ môi trường sinh thái, phát huy tinh thần tựlập tự cường của đồng bào đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ từ Trungương và các địa phương khác
Năm là: Xác định công tác dân tộc và việc thực hiện các chính sách dân tộc là
sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, của các cấp các ngành, củatoàn bộ hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương
2 Các quan điểm của Đảng về công tác dân tộc trong các văn kiện đại hội Đảng:
-Văn kiên đại hội Đảng XI:
Một là: Mọi cán bộ Đảng viên, đồng bào dân tộc cần nhận thức sâu sắc về
nhiệm vụ chiến lược của công tác dân tộc nước ta hiện nay.
Không phải tất cả mọi cán bộ, đảng viên và từng người dân nước ta đều đã hiểusâu sắc vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng có tính chiến lược về công tác dân tộc ởnước ta Trong khi 54 dân tộc anh em với những điều kiện, trình độ, phong tục,tập quán khác nhau, hàng ngày, hàng giờ chung sống với nhau phấn đấu cho mộtmục đích chung dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, nếu không
có sự cảm thông, chia sẻ, đồng thuận, giúp đỡ nhau, bình đẳng, tôn trọng nhauthì khó có thể bền vững Cho nên nhận thức đúng sẽ chỉ đạo hành động đúng ởmỗi người dân, người cán bộ, đảng viên trực tiếp hoặc gián tiếp làm công tácdân tộc
Đảng và Nhà nước, các đoàn thể có biện pháp làm cho đồng bào dân tộc đa số
và thiểu số cùng hiểu biết, tôn trọng, bình đẳng, giúp đỡ nhau Đảng và Nhà