HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG CÁC TRANH CHẤP VỀ HỢP ĐỒNG KINH DOANH THƯƠNG MẠI: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG. HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG CÁC TRANH CHẤP VỀ HỢP ĐỒNG KINH DOANH THƯƠNG MẠI: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG.
Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu phục hồi sau đại dịch Covid-19, Việt Nam cũng đang trải qua quá trình đổi mới và phát triển mạnh mẽ, đặc biệt sau khi gia nhập Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Sự phát triển này đã dẫn đến sự đa dạng hóa trong các quan hệ kinh doanh và thương mại, đồng thời cũng làm gia tăng các tranh chấp liên quan đến hợp đồng kinh doanh, thương mại.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, các bên phải thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng đã ký Tuy nhiên, thực tế cho thấy không phải lúc nào các chủ thể cũng tuân thủ điều này.
Do đó, việc xảy ra tranh chấp về HĐKDTM là việc khó có thể tránh khỏi
Tại Việt Nam, nhiều đương sự chọn Tòa án để giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại sau khi thương lượng không thành, do sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) VKS thực hiện quyền công tố, bảo vệ hiến pháp, pháp luật, quyền con người và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần đảm bảo pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh VKS có nhiệm vụ yêu cầu khởi tố, hủy bỏ quyết định khởi tố trái pháp luật, và kháng nghị bản án khi phát hiện oan, sai Do đó, tôi chọn nghiên cứu đề tài “Hoạt động của VKS trong các vụ án HĐKDTM: quy định pháp luật và thực tiễn tại VKS nhân dân thành phố Đà Nẵng” với hy vọng giúp mọi người hiểu rõ hơn về vấn đề này.
Tình hình nghiên cứu đề tài
Hoạt động kiểm sát của Viện Kiểm sát Nhân dân (VKS) không chỉ mang tính pháp lý mà còn thể hiện vai trò quan trọng của VKS Nhiều nghiên cứu khoa học đã được thực hiện liên quan đến hoạt động của VKS tại các địa bàn cụ thể, dẫn đến những kết luận chính xác và kiến nghị hữu ích nhằm nâng cao hiệu quả kiểm sát trên nhiều phương diện khác nhau.
Nghiên cứu về hoạt động của Viện Kiểm sát (VKS) trong tố tụng hình sự đã được thể hiện qua nhiều công trình quan trọng, như đề tài khoa học cấp bộ của Viện khoa học VKS nhân dân tối cao năm 1999, tập trung vào các vấn đề cơ bản về hoạt động của VKS Ngoài ra, tác phẩm “Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra” của Lê Hữu Thể và các tác giả năm 2008 cũng đóng góp đáng kể Luận văn thạc sỹ của Vũ Thị Nhiên năm 2017 về “Kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự theo luật tố tụng hình sự Việt Nam” và nghiên cứu “Chức năng của VKS trong tố tụng hình sự” của Võ Phước cũng là những tài liệu quan trọng trong lĩnh vực này.
Vào năm 2007, một số bài viết tiêu biểu đã được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành, bao gồm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc khởi tố vụ án hình sự và việc kiểm sát việc khởi tố vụ án” của tác giả Phạm Mạnh Hùng, đăng trên Tạp chí Kiểm sát, số 02/2007, và “Đề xuất đổi mới VKS ở Việt Nam từ kinh nghiệm một số nước trên thế giới” của tác giả Đào Trí Úc, đăng trên Tạp chí Kiểm sát, số 12/2013.
Nghiên cứu cho thấy, tại Việt Nam và đặc biệt là Đà Nẵng, hầu hết các công trình nghiên cứu tập trung vào lĩnh vực tố tụng hình sự Chưa có nghiên cứu nào đi sâu vào hoạt động của Viện Kiểm sát Nhân dân (VKSND) trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại (HĐKDTM), từ lý luận đến thực trạng và thực tiễn hoạt động kiểm sát trong các vụ án HĐKDTM tại Đà Nẵng.
Vì vậy, chuyên đề báo cáo tốt nghiệp này có tính độc đáo riêng của mình.
Các phương pháp tiến hành nghiên cứu
Phương pháp luận trong việc áp dụng lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lenin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật đóng vai trò quan trọng trong công tác kiểm sát các vụ án về hành vi kinh doanh trái phép Đảng và Nhà nước ta luôn chỉ đạo thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc này nhằm bảo đảm tính công bằng và minh bạch trong quá trình xử lý các vụ án, góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân và duy trì trật tự xã hội.
- Các phương pháp nghiên cứu khác: Phương pháp thống kê, liệt kê, phân tích và tổng hợp, so sánh, tổng kết thực tiễn.
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Đề tài sẽ tổng quan về lý luận của hoạt động kiểm sát trong các vụ án HĐKDTM theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Chương 2 sẽ phân tích và đánh giá những khó khăn, vướng mắc, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó dựa trên cơ sở pháp lý.
Mục tiêu chính là nâng cao nhận thức về chức năng và quyền hạn của Viện Kiểm sát Nhân dân (VKSND) trong việc kiểm sát giải quyết các vụ án Hợp đồng Kinh doanh Thương mại (HĐKDTM) Qua đó, làm rõ trách nhiệm của VKSND trong công tác này.
Trong thực tiễn công tác kiểm sát giải quyết tranh chấp về hợp đồng kinh doanh thương mại (HĐKDTM), cần phát hiện những bất cập của hệ thống pháp luật Từ đó, đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng dân sự liên quan đến công tác kiểm sát giải quyết các vụ án HĐKDTM của Viện Kiểm sát Nhân dân (VKSND).
5.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu này sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ sở đào tạo, nghiên cứu và pháp luật trong quá trình học tập, nghiên cứu và giảng dạy Đề tài cũng có thể được Viện Kiểm sát Nhân dân áp dụng trong công tác kiểm sát các vụ án Hợp đồng Dân sự theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.
Cấu trúc chuyên đề tốt nghiệp
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục viết tắt và danh mục tài liệu tham khảo, Chuyên đề gồm 3 Chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về hoạt động kiểm sát trong việc giải quyết tranh chấp Hợp đồng kinh doanh, thương mại.
- Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn hoạt động của VKSND trong các vụ án HĐKDTM tại VKSND Thành phố Đà Nẵng.
- Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động kiểm sát trong các vụ án HĐKDTM tại VKSND Thành phố Đà Nẵng.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG
Khái niệm tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại
Hiện nay, Việt Nam chưa có định nghĩa thống nhất về tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại (HĐKDTM), chỉ có khái niệm tranh chấp thương mại được quy định lần đầu trong Luật Thương mại năm 1997 Việc xác định phạm vi tranh chấp này chủ yếu dựa vào các quy định pháp luật hiện hành Để hiểu rõ hơn về "tranh chấp HĐKDTM", cần tìm hiểu hai khái niệm liên quan.
Tranh chấp là hành động đấu tranh giằng co giữa hai bên khi có ý kiến bất đồng, thường liên quan đến quyền lợi hợp pháp trong các quan hệ xã hội như dân sự và lao động Khái niệm này diễn ra phổ biến trong nền kinh tế thị trường, bao gồm cả tranh chấp trong kinh doanh Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên quy định quyền lợi và nghĩa vụ, thường được lập thành văn bản Kinh doanh là tổ chức sản xuất, buôn bán và cung cấp dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi, thực hiện liên tục các công đoạn từ sản xuất đến tiêu thụ Theo Luật Thương mại 2005, hoạt động thương mại bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và các hoạt động sinh lợi khác.
1 Điều 238, Luật thương mại số 58/L-CTN năm 1997
2 Trang 1024, Tập thể của phòng Từ điển của Viện ngôn ngữ học (2003) Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng
3 Trang 466, Tập thể của phòng Từ điển của Viện ngôn ngữ học (2003) Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng
4 Trang 529, Tập thể của phòng Từ điển của Viện ngôn ngữ học (2003) Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng
Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại số 36/2005/QH11 quy định về thỏa thuận và giao ước giữa các bên thương nhân, cũng như giữa thương nhân và các bên liên quan Luật này xác định rõ quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia, nhằm thiết lập, điều chỉnh hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại và xúc tiến thương mại Các thỏa thuận này thường được lập thành văn bản.
Tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại (HĐKDTM) là những bất đồng và xung đột về lợi ích kinh tế, quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể liên quan trong lĩnh vực HĐKDTM Đặc trưng của loại tranh chấp này gắn liền với hợp đồng kinh tế, chủ yếu giữa các thương nhân, phản ánh sự xung đột về lợi ích giữa các bên Tranh chấp HĐKDTM là hệ quả tất yếu trong hoạt động kinh doanh, do đó, việc giải quyết chúng trong điều kiện kinh tế thị trường cần phải đáp ứng các yêu cầu cụ thể.
Một là, nhanh chóng, thuận lợi, không làm hạn chế, cản trở các hoạt động kinh doanh
Hai là, khôi phục và duy trì các quan hệ hợp tác, tín nhiệm giữa các bên trong kinh doanh
Ba là, giữ bí mật kinh doanh, uy tín của các bên trên thương trường
Bốn là, kinh tế nhất (ít tốn kém nhất).
Sự khác biệt về phong tục, tập quán, truyền thống và trình độ phát triển kinh tế - xã hội đã dẫn đến sự đa dạng trong các cơ chế giải quyết tranh chấp trong các vụ án kinh doanh thương mại (KDTM) trên toàn thế giới Mặc dù vậy, các hình thức giải quyết tranh chấp phổ biến hiện nay bao gồm thương lượng, hòa giải, trọng tài và giải quyết thông qua Tòa án Trong đó, giải quyết tranh chấp tại Tòa án là hình thức dựa vào quyền lực Nhà nước để đưa ra phán quyết buộc các bên phải thi hành, thậm chí bằng biện pháp cưỡng chế Các tranh chấp KDTM được xử lý theo trình tự tố tụng dân sự tại Tòa án.
Đặc điểm pháp lý và các yêu cầu của quá trình giải quyết
quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại
Giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại (HĐKDTM) theo Tố tụng dân sự là hoạt động đặc thù được quy định bởi pháp luật, với thẩm quyền thực hiện chỉ thuộc về Tòa án Đặc điểm nổi bật của quá trình này là các vấn đề tranh chấp được các bên tự định đoạt.
Tiếp theo, các bên tranh chấp HĐKDTM thường là chủ thể kinh doanh có tư cách thương nhân.
Tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại thường liên quan đến yếu tố vật chất và có giá trị lớn Phương thức giải quyết tranh chấp tại Tòa án được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS 2015) có những đặc điểm riêng biệt.
Thứ nhất, phán quyết của Toà án được bảo đảm thi hành bằnh sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước
Thứ hai, việc giải quyết tranh chấp của Toà án phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định mang tính hình thức của pháp luật tố tụng
Thứ ba, Toà án xét xử theo nguyên tắc công khai
Việc giải quyết tranh chấp thông qua quyết định của Toà án diễn ra qua nhiều cấp độ xét xử, đảm bảo tính chính xác, công khai, khách quan và tuân thủ pháp luật.
Thứ năm, Toà án giải quyết các tranh chấp theo nguyên tắc xét xử tập thể và theo nguyên tắc đa số
Các yêu cầu trong giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại bao gồm việc khắc phục và loại trừ các tranh chấp nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của thương nhân và duy trì trật tự xã hội Đầu tiên, quá trình giải quyết cần diễn ra nhanh chóng, thuận lợi, không gây cản trở cho hoạt động kinh doanh Thứ hai, cần khôi phục và duy trì mối quan hệ hợp tác, tín nhiệm giữa các bên trong kinh doanh.
6 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 số 92/2015/QH13
7 Chương II Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 số 92/2015/QH13
Ba là, giữ bí mật kinh doanh và uy tín của các bên trên thương trường;
Bốn là, chi phí ít tốn kém nhất;
Năm là, phán quyết phải chính xác và có khả năng thi hành cao.
Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại
Các nguyên tắc cơ bản trong giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại là những tư tưởng chỉ đạo quan trọng, hướng dẫn quy trình giải quyết các vụ án này Những nguyên tắc này được ghi nhận trong các quy phạm pháp luật liên quan đến thủ tục giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại Hãy cùng tìm hiểu chi tiết về các nguyên tắc này.
1.3.1 Nguyên tắc tôn trọng quyền định đoạt của các đương sự
Tôn trọng quyền tự do định đoạt của các đương sự xuất phát từ nguyên tắc bảo đảm quyền tự do kinh doanh, được quy định tại Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Đương sự có quyền khởi kiện và yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự Tòa án chỉ tiếp nhận và giải quyết vụ việc khi nhận được đơn khởi kiện hoặc đơn yêu cầu từ đương sự, và chỉ trong phạm vi nội dung của các đơn này.
2 Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội”
Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự là một yếu tố cốt lõi trong tố tụng vụ án kinh doanh, thương mại Nhà nước đảm bảo quyền tự do kinh doanh và không can thiệp vào hoạt động của các nhà kinh doanh, miễn là họ hoạt động trong khuôn khổ pháp luật Khi xảy ra tranh chấp, Tòa án chỉ can thiệp khi có yêu cầu từ các đương sự, và Nhà nước không tự động đưa các tranh chấp ra Tòa án để giải quyết.
Cá nhân, thương nhân và pháp nhân có quyền khởi kiện vụ án kinh doanh, thương mại theo quy định của pháp luật, nhằm yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
Theo Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, các đương sự có quyền quyết định và tự định đoạt trong suốt quá trình tố tụng Họ có thể lựa chọn khởi kiện hoặc không, và trong quá trình giải quyết vụ việc, có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, miễn là không vi phạm pháp luật và đạo đức xã hội Quyền này không chỉ áp dụng trong các thủ tục giải quyết tranh chấp sơ thẩm và phúc thẩm, mà còn trong quá trình thi hành bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Hòa giải thương mại, theo định nghĩa tại Khoản 3 Điều 1 Luật mẫu của UNCITRAL, là quá trình mà các bên yêu cầu sự tham gia của một hay nhiều hòa giải viên để hỗ trợ giải quyết tranh chấp phát sinh từ mối quan hệ hợp đồng hoặc pháp luật khác Hòa giải viên không có quyền áp đặt giải pháp cho các bên.
Hòa giải, theo Giáo trình Luật Thương mại 10, được định nghĩa là phương thức giải quyết tranh chấp thông qua sự tham gia của bên thứ ba, người đóng vai trò trung gian hòa giải Mục tiêu của hòa giải là hỗ trợ và thuyết phục các bên tranh chấp tìm kiếm giải pháp nhằm loại trừ các tranh chấp đã phát sinh.
Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp, trong đó các bên tham gia có sự hỗ trợ của bên thứ ba độc lập, được hai bên thỏa thuận hoặc chỉ định Đây là giải pháp tự nguyện, phụ thuộc vào sự lựa chọn của các bên Bên thứ ba đóng vai trò trung gian hòa giải phải có vị trí độc lập, không có xung đột lợi ích với các bên Điều này đảm bảo rằng bên trung gian không đại diện cho bất kỳ bên nào và không có lợi ích gắn liền với một trong các bên trong vụ tranh chấp.
Điều 1.3, Phần 1, Phụ lục II của Luật Mẫu UNCITRAL về Hòa giải Thương mại Quốc tế và Thỏa thuận Hòa giải Quốc tế năm 2018 đã sửa đổi Luật mẫu UNCITRAL về Hòa giải Thương mại Quốc tế năm 2002.
Trường Đại học Luật Hà Nội (2007) trong "Giáo trình Luật Thương mại tập 2" nhấn mạnh rằng quyền quyết định và phán xét trong tranh chấp thường được thực hiện bởi trọng tài Để đảm bảo quá trình hòa giải hiệu quả, bên thứ ba làm trung gian cần có trình độ chuyên môn cao và kinh nghiệm trong các vụ việc liên quan đến tranh chấp.
Hiện nay ở Việt Nam tồn tại hai hình thức hòa giải chủ yếu là: Hoà giải ngoài tố tụng và hoà giải trong tố tụng
Hòa giải ngoài tố tụng là hình thức hòa giải qua trung gian, diễn ra trước khi các bên đưa vụ tranh chấp ra cơ quan tài phán Khi đạt được thỏa thuận, các bên phải tự nguyện thực hiện phương án đã thống nhất Pháp luật nhiều quốc gia coi hòa giải ngoài tố tụng là công việc riêng tư, không điều chỉnh chi tiết, nhưng vẫn có những vấn đề pháp lý liên quan như lựa chọn trung gian hòa giải, quy trình tiến hành và giá trị pháp lý của khuyến nghị từ trung gian Hòa giải ngoài tố tụng bao gồm hai phương thức cơ bản: hòa giải vụ việc, nơi các bên tự tổ chức và giám sát mà không có sự trợ giúp bên ngoài, và hòa giải quy chế, do tổ chức hoặc trung tâm hòa giải chuyên nghiệp giám sát theo quy tắc riêng của họ.
Quy tắc hòa giải của Trung tâm Hệ thống Trọng tài Châu Âu - Ả Rập, có hiệu lực từ ngày 17/12/1997, được áp dụng để giải quyết tranh chấp theo yêu cầu của các bên Quy trình hòa giải được quy định chi tiết từ Điều 11 đến Điều 18.
Hoà giải trong tố tụng là quá trình do Tòa án hoặc Trọng tài thực hiện khi có yêu cầu giải quyết tranh chấp từ các bên Đây được xem là một giai đoạn trong việc giải quyết tranh chấp qua Tòa án hoặc Trọng tài, và chỉ diễn ra khi một bên đã nộp đơn khởi kiện hoặc yêu cầu giải quyết Trong quá trình hoà giải, Thẩm phán hoặc Trọng tài viên không được ép buộc các bên, mà phải tôn trọng tính tự nguyện và tự do ý chí của họ Khi các bên đạt được thỏa thuận, tranh chấp sẽ được giải quyết một cách hiệu quả.
Khái niệm về công tác kiểm sát việc giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại
Theo Khoản 1 Điều 107 Hiến pháp 2013, Viện Kiểm sát Nhân dân (VKSND) là cơ quan nhà nước có nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp được quy định tại Điều 4, trong khi nhiệm vụ và quyền hạn của VKSND trong việc kiểm sát giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại được nêu rõ tại Điều 27 của Luật Tổ chức Viện Kiểm sát Nhân dân 2014.
“1 Kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu.
2 Kiểm sát việc thụ lý, giải quyết vụ án, vụ việc.
3 Thu thập tài liệu, chứng cứ trong trường hợp pháp luật quy định.
4 Tham gia phiên tòa, phiên họp, phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân về việc giải quyết vụ án, vụ việc theo quy định của pháp luật.
5 Kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án.
6 Kiểm sát hoạt động tố tụng của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật.
7 Kháng nghị, kiến nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật; kiến nghị, yêu cầu Tòa án, cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động tố tụng.
20 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 số 92/2015/QH13
21 Khoản 1 Điều 107, Quốc Hội (2013), Hiến pháp năm 2013, Hà Nội
22 Điều 4, Điều 27, Luật Tổ chức viện kiểm sát nhân dân 2014
8 Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật.” Điều 21 BLTTDS 2015 23 quy định về vị trí, vai trò của VKSND trong việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự như sau:
VKS có trách nhiệm kiểm sát việc tuân thủ pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị và kháng nghị theo quy định, nhằm đảm bảo việc giải quyết các vụ việc dân sự được kịp thời và đúng pháp luật.
2 VKS tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 4 của Bộ luật này.
3 VKS tham gia phiên tòa, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm…”
Hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết
1.5.1 Kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện vụ án kinh doanh thương mại
Theo Khoản 2 Điều 192 BLTTDS 2015, khi trả lại đơn khởi kiện và tài liệu kèm theo, Thẩm phán phải lập văn bản nêu rõ lý do và gửi cho VKS cùng cấp Việc này sẽ được thực hiện theo từng vụ, việc, theo quy định tại Điều 12 Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC.
Theo Điều 194 BLTTDS 2015, trong vòng 10 ngày kể từ khi nhận văn bản trả lại đơn khởi kiện hoặc đơn yêu cầu, Viện Kiểm sát có quyền kiến nghị với Tòa án đã trả lại đơn Sau khi nhận quyết định phân công Thẩm phán, Thẩm phán có thời hạn 05 ngày để thực hiện nhiệm vụ được giao.
23 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 số 92/2015/QH13
24 Khoản 2 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 số 92/2015/QH13
25 Điều 12 Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC của VKSNDTC và TANDTC
Theo Điều 194 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 số 92/2015/QH13, phiên họp xem xét và giải quyết khiếu nại, kiến nghị phải được mở bởi thẩm phán được phân công Phiên họp này sẽ có sự tham gia của đại diện Viện Kiểm sát (VKS) và Kiểm sát viên (KSV), người này có trách nhiệm gửi bài phát biểu ý kiến về việc trả lại đơn khởi kiện và đơn yêu cầu cho Tòa án cùng cấp.
Trong vòng 10 ngày kể từ khi nhận được quyết định trả lời khiếu nại, VKS có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án cấp trên để xem xét và giải quyết việc trả lại đơn khởi kiện của Thẩm phán.
Trong vòng 10 ngày kể từ khi nhận được khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án cấp trên phải đưa ra một trong hai quyết định: giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện hoặc yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm nhận lại đơn khởi kiện cùng tài liệu, chứng cứ để tiến hành thụ lý vụ án.
Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị của Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp có hiệu lực thi hành theo Khoản 6 Điều 194 BLTTDS năm 2015 Nếu có căn cứ cho rằng quyết định này vi phạm pháp luật, VKS có quyền kiến nghị trong vòng 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định Cụ thể, nếu quyết định bị khiếu nại là của Chánh án TAND cấp tỉnh, VKS kiến nghị với Chánh án TAND cấp cao; nếu quyết định là của Chánh án TAND cấp cao, VKS kiến nghị với Chánh án TAND tối cao.
1.5.2 Kiểm sát việc thụ lý vụ án hợp đồng kinh doanh, thương mại
Trong vòng 03 ngày làm việc kể từ khi thụ lý vụ án, Tòa án phải gửi thông báo cho Viện Kiểm sát cùng cấp về việc thụ lý vụ án và thụ lý đơn yêu cầu Đối với các vụ án kinh doanh thương mại, nếu Tòa án thu thập chứng cứ hoặc có đối tượng tranh chấp liên quan đến tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở, hoặc có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, hoặc người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi, thì cần tuân thủ các quy định tại Khoản 2 Điều 4 của Bộ luật này.
27 Khoản 6 Điều 194 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 số 92/2015/QH13
28 Điều 196 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 số 92/2015/QH13
Theo Điều 365 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 số 92/2015/QH13, Tòa án sẽ gửi thông báo bằng văn bản cho Viện Kiểm sát (VKS) để VKS tham gia phiên tòa sơ thẩm, theo quy định tại Khoản 2 Điều 21 BLTTDS năm 2015.
1.5.3 Kiểm sát việc giải quyết vụ án hợp đồng kinh doanh, thương mại
1.5.3.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong quá trình kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án hợp đồng kinh doanh, thương mại
Hoạt động lập hồ sơ vụ án KDTM được tiến hành theo quy định tại Điều
204 BLTTDS 2015 31 Căn cứ vào Khoản 2 Điều 48 BLTTDS 32 cho thấy Tòa án có thẩm quyền lập hồ sơ vụ án KDTM theo quy định cụ thể tại Điều 198, Điều
KSV tham gia phiên tòa trực tiếp cần nghiên cứu hồ sơ vụ án để hiểu rõ nội dung và các quy định pháp luật liên quan, nhằm đảm bảo việc tuân thủ pháp luật tố tụng của thẩm phán và các bên tham gia Họ phải ghi chép đầy đủ các thông tin từ hồ sơ, bao gồm yêu cầu của nguyên đơn, ý kiến của bị đơn và các tình tiết khách quan Sau khi hoàn tất nghiên cứu, KSV lập Hồ sơ kiểm sát thể hiện chính xác thông tin và hoạt động của Tòa án cũng như VKS trong vụ án kinh doanh, thương mại, theo quy định tại Quyết định số 264/QĐ-VKSTC ngày 05/10/2022, thay thế Hướng dẫn số 27/HD-VKSTC-V5 ngày 22/5/2014.
30 Khoản 2 Điều 4 và Khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 số 92/2015/ QH13
31 Điều 204 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 số 92/2015/QH13
32 Khoản 2 Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 số 92/2015/QH13
33 Điều 198, Điều 203, Điều 204 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 số 92/2015/QH13
34 Mục 1 Chương II của Quyết định số 264/QĐ-VKSTC ngày 05/10/2022 của
1.5.3.2 Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa Để chuẩn bị cho việc tham gia phiên tòa, KSV phải kịp thời nghiên cứu nội dung hồ sơ vụ án Tại phiên tòa sơ thẩm, theo Điều 262 BLTTDS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung nội dung quy định về phát biểu của KSV tại phiên tòa sơ thẩm như sau: “Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, KSV phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án” 35 KSV có nhiệm vụ và quyền hạn sau:
Kiểm sát thủ tục bắt đầu phiên tòa thủ tục hỏi tại phiên tòa;
Kiểm sát tư cách pháp lý của những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng;
Kiểm sát việc chấp hành thủ tục tố tụng tại phiên tòa;
Theo dõi và ghi chép đầy đủ diễn biến phiên tòa;
KSV kiểm sát và tham gia hoạt động tranh tụng;
Kiểm sát việc tạm ngừng phiên tòa 36 (Điều 259 BLTTDS 2015);
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên (KSV) có vai trò quan trọng trong việc phát biểu theo quy định tại Điều 28, 30, 31 của Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT Thông tư này hướng dẫn cụ thể nội dung phát biểu của KSV trong các phiên họp sơ thẩm, phúc thẩm, cũng như trong các phiên tòa giám đốc thẩm và tái thẩm.
Phát biểu của Kiểm sát viên (KSV) tại phiên tòa thể hiện quan điểm của Viện Kiểm sát (VKS) trong việc giải quyết vụ án Để nâng cao chất lượng văn bản phát biểu, KSV cần nắm vững nội dung vụ án nhằm đưa ra báo cáo chính xác và đúng quy định pháp luật Lập luận phải chặt chẽ và thống nhất Sau phiên tòa, KSV cần gửi văn bản phát biểu cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ án, kiểm tra biên bản và giám sát bản án quyết định của Tòa án Những công tác này tạo ra hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác kiểm sát, giúp VKS thực hiện đúng chức năng, giải quyết kịp thời các vụ án dân sự và vụ án kinh doanh thương mại theo quy định pháp luật.
35 Điều 262 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 số 92/2015/QH13
36 Điều 259 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 số 92/2015/QH13
37 Điều 28, 30, 31 Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC của VKSNDTC và TANDTC
1.5.4 Kháng nghị, bản án, quyết định chưa hiệu lực pháp luật và tham gia tố tụng ở cấp phúc thẩm
1.5.4.1 Kháng nghị, bản án, quyết định chưa hiệu lực pháp luật
Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm của VKS là văn bản pháp lý khởi xướng một quy trình mới yêu cầu Tòa án xem xét lại toàn bộ hoặc một phần bản án, quyết định bị kháng nghị Mục đích của kháng nghị là đảm bảo việc xét xử diễn ra chính xác, công minh và đúng pháp luật, đồng thời sửa chữa những sai sót trong bản án hoặc quyết định của Tòa án, cũng như kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của các bản án hoặc quyết định này.
1.5.4.2 Kiểm sát việc thụ lý, giải quyết và tham gia phiên tòa phúc thẩm
Trước khi mở phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên (KSV) cần nghiên cứu hồ sơ vụ án, bao gồm nội dung kháng cáo, kháng nghị và các yêu cầu khởi kiện, phản tố của các đương sự, đảm bảo thời hạn nghiên cứu theo quy định tại Khoản 2 Điều 292 và Khoản 2 Điều 323 Bộ luật Tố tụng dân sự Sau khi tiếp nhận hồ sơ, KSV thực hiện các nhiệm vụ như kiểm sát quyết định đưa vụ án ra xét xử, yêu cầu tòa án xác minh và thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ, cũng như xây dựng hồ sơ kiểm sát theo Điều 5 Quyết định số 363/QĐ-VKSTC ngày 12/10/2020.
Tại phiên tòa phúc thẩm, KSV theo dõi và ghi chép diễn biến theo Điều 25 Quy định số 458/2019 KSV trình bày nội dung kháng nghị và căn cứ của nó, đồng thời chỉnh sửa dự thảo bài phát biểu cho phù hợp với diễn biến phiên tòa Bài phát biểu của KSV cần phân biệt ba trường hợp: chỉ có kháng nghị của Viện trưởng VKS, chỉ có kháng cáo của đương sự, và trường hợp vừa có kháng cáo của đương sự vừa có kháng nghị của Viện trưởng VKS.
38 Khoản 2 Điều 292, Khoản 2 Điều 323 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 số
39 Khoản 2 Điều 7 Quyết định số 363/QĐ-VKSTC ngày 12/10/2020
40 Điều 5 Quyết định số 363/QĐ-VKSTC ngày 12/10/2020
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG CÁC VỤ ÁN
Giới thiệu về Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đà Nẵng 23 2.2 Thực trạng pháp luật về công tác kiểm sát trong các vụ án hợp đồng kinh doanh, thương mại tại Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đà Nẵng
Lịch sử hình thành và phát triển:
Sau chiến thắng mùa xuân năm 1975, theo chủ trương của Trung ương và Khu ủy Khu V, UBND cách mạng Khu Trung Trung bộ đã ban hành Quyết định số 133/QĐ vào ngày 10/10/1975, quyết định sáp nhập các VKSND tỉnh Quảng Nam và tỉnh Quảng Đà thành VKS tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng.
Theo Điều 10, 17 và 20 của Sắc lệnh số 01 - SL/76 ngày 15/3/1976 của Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời, quy định về tổ chức TAND và VKSND các cấp, vào ngày 23/4/1976, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Nghị định số 09 - BTP/NĐ để thành lập các VKSND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trong đó có VKSND tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, sau này được chia tách thành tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng.
Ngày 28 tháng 12 năm 1996, Viện trưởng VKSND tối cao đã ban hành Quyết định số 15/QĐ-TC, thành lập VKSND Thành phố Đà Nẵng, thực hiện Nghị quyết của Quốc hội khoá IX ngày 06 tháng 11 năm 1996 về việc chia tách tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng thành hai tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng.
VKSND Thành phố Đà Nẵng bắt đầu hoạt động từ ngày 01 tháng 01 năm 1997.
Về cơ cấu tổ chức của VKSND TP Đà Nẵng: có 11 phòng chuyên môn và 07 VKSND cấp quận, huyện.
Về chức năng và nhiệm vụ hoạt động:
1 Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của các cơ quan điều tra thuộc Công an tỉnh và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra như: Bộ độiBiên phòng, Hải quan, Kiểm lâm trên địa bàn TP.
2 Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự của Toà án nhân dân TP ;
3 Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật của Toà án nhân dân TP;
4 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định của Toà án nhân dân TP;
5 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù của Trại tạm giam Công an TP.
6 VKSND TP có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết kịp thời các khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền; kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về các hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp theo quy định của pháp luật.
VKSND TP có nhiệm vụ tiếp nhận thông tin và tố giác về tội phạm từ các cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân và cá nhân.
7 VKSND TP chịu trách nhiệm thực hiện việc thống kê tội phạm trong toàn tỉnh Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, các cơ quan tiến hành tố tụng khác của tỉnh có trách nhiệm phối hợp với VKSND TP trong việc thực hiện nhiệm vụ này.
2.2 Thực trạng pháp luật về công tác kiểm sát trong các vụ án hợp đồng kinh doanh, thương mại tại Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đà Nẵng
Luật Thương mại 2005 (số 50) vẫn chưa làm rõ các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi cụ thể, cũng như chưa giải thích rõ ràng về khái niệm thói quen trong hoạt động thương mại.
Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (LTCVKSND) 2014 vẫn duy trì chức năng của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) trong việc thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) 2015 đã mở rộng thẩm quyền của VKS, cho phép tham gia vào các phiên tòa dân sự, đặc biệt là trong việc giải quyết các vụ án hợp đồng kinh doanh thương mại Ngoài ra, VKS còn có quyền tham gia phiên tòa khi Tòa án không thể từ chối vụ việc dân sự do chưa có điều luật áp dụng.
50 Luật Thương mại số 36/2005/QH11
51 Luật Tổ chức viện kiểm sát nhân dân 2014
52 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 số 92/2015/QH13
Theo Điều 266 BLTTDS 2011 53 trước đây thì khi KSV tham gia phiên tòa vắng mặt, Hội đồng xét xử hoãn sẽ hoãn phiên tòa Nhưng ở điều 232 BLTTDS
2015 quy định mới rằng nếu KSV vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, không hoãn phiên tòa.
Hiện tại, chưa có quy định pháp luật nào hướng dẫn về thủ tục rút đơn khởi kiện trong các vụ án áp dụng thủ tục rút gọn.
2.3 Thực tiễn về hoạt động kiểm sát các vụ án về tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại tại Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đà Nẵng
2.3.1 Kết quả đạt được trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2022
Trong 04 năm, từ ngày 01/12/2018 đến ngày 30/10/2022, VKSND Thành phố Đà Nẵng đạt được những kết quả sau:
Thứ nhất, về kiểm sát giải quyết sơ thẩm các vụ án HĐKDTM:
Kiểm sát việc thông báo thụ lý của Tòa án: Tổng 765 vụ Trong đó, số vụ VKS có yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ là 5.
Kiểm sát việc giải quyết của Tòa án: Tổng số vụ Tòa án đã giải quyết là
Trong tổng số 593 vụ, Tòa án đã chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong 130 vụ, đình chỉ 206 vụ, và xét xử 257 vụ Ngoài ra, có 200 vụ có sự tham gia của Kiểm sát viên trong phiên tòa.
Trong năm qua, Viện Kiểm sát đã kiểm sát tổng cộng 593 Bản án và Quyết định của Tòa án Trong số đó, có 13 Bản án và Quyết định bị phát hiện vi phạm Viện Kiểm sát đã thực hiện 12 kháng nghị phúc thẩm và 1 báo cáo kháng nghị, giám đốc thẩm, tái thẩm Tổng cộng, có 12 vụ kháng nghị đối với các bản án.
Thứ hai, về kiểm sát giải quyết phúc thẩm các vụ án HĐKDTM:
Trong việc kiểm sát thông báo thụ lý của Tòa án, tổng số vụ được ghi nhận là 73 Trong số đó, Viện Kiểm sát (VKS) cùng cấp đã kháng nghị 2 vụ, VKS cấp trên trực tiếp kháng nghị 10 vụ, và VKS đã yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ cho 1 vụ.
Kiểm sát việc giải quyết của Tòa án: Tổng số vụ án Tòa án đã giải quyết là