1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỀ ÁN-Trần Thị Thu Hiền- 45K13.2

27 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 267,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề án luật kinh tế - Luật kinh doanh - Nhượng quyền thương mại

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

KHOA LUẬT -

ĐỀ ÁN MÔN HỌC

PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI

VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM

Giáo viên hướng dẫn : LÊ THỊ PHƯƠNG TRANG Sinh viên thực hiện : TRẦN THỊ THU HIỀN Lớp : 45K13.2

MSSV : 191120913211

Đà Nẵng – 2022

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề án này là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kếtquả nghiên cứu trong đề án là trung thực, có trích dẫn nguồn rõ ràng, không sao chép củangười khác Các kết luận nghiên cứu được đúc kết từ cơ sở lý luận đếnthực tiễn của vấn đề đề án cần giải quyết Tất cả những kết quả trong

đề tài là trung thực và hoàn toàn khách quan

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình./

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 4

MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Ý nghĩa và tầm quan trọng của đề tài 5

3 Phương pháp nghiên cứu 5

4 Kết cấu đề tài 6

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI VÀ MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 7

1.1 Tổng quan về nhượng quyền thương mại 7

1.1.1 Khái niệm nhượng quyền thương mại 7

1.1.2 Đặc điểm của nhượng quyền thương mại 7

1.2 Tổng quan pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại 8

1.2.1 Khái niệm hợp đồng nhượng quyền thương mại 8

1.2.2 Đặc điểm của hợp đồng nhượng quyền thương mại 8

Kết luận chương 1 9

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI 10

2.1 Chủ thể của hợp đồng nhượng quyền thương mại 10

2.2 Hình thức hợp đồng nhượng quyền thương mại 10

2.3 Nội dung của hợp đồng nhượng quyền thương mại 11

2.3.1 Đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại 11

2.3.2 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động kinh doanh nhượng quyền thương mại 12

2.3.2.1 Quyền của bên nhượng quyền 12

2.3.2.2 Nghĩa vụ của thương nhân nhượng quyền 12

2.3.2.3 Quyền của thương nhân nhận quyền 13

2.3.2.4 Nghĩa vụ thương nhân nhận quyền 13

2.3.3 Phí nhượng quyền 13

2.3.4 Thời hạn, gia hạn hợp đồng 14

2.3.5 Thay đổi hợp đồng 14

2.3.6 Tạm dừng hợp đồng 14

2.3.7 Chấm dứt hợp đồng 14

Kết luận chương 2 15

CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 16

Trang 4

3.1 Thực tiễn hoạt động nhượng quyền tại Việt Nam 16

3.1.1 Thành tựu hoạt động nhượng quyền thương mại Việt Nam 16

3.1.1.1 Mô hình chuỗi cà phê Trung Nguyên 16

3.1.1.2 Chuỗi nhà hàng phở 24 17

3.1.1.3 Các mô hình khác 17

3.1.2 Hạn chế nhượng quyền thương mại Việt Nam 17

3.2 Một số đánh giá và kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hợp đồng nhượng quyền thương mại 18

3.2.1 Về pháp luật về nhượng quyền thương mại 18

3.2.2 Về quyền và nghĩa vụ các bên chủ thể trong hợp đồng nhượng quyền thương mại 19

3.2.3 Một số vấn đề khác liên quan đến hợp đồng nhượng quyền thương mại .20 Kết luận chương 3 21

KẾT LUẬN 22

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 23

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

HĐNQTM: Hợp đồng nhượng quyền thương mại

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nhượng quyền thương mại (NQTM) là phương thức kinh doanhđang phổ biến và lan rộng khắp nơi trên thế giới, được sử dụng trong

60 lĩnh vực khác nhau, từ kinh doanh thực phẩm, nhà hàng, khách sạn,cho thuê xe, giải trí đến các dịch vụ giáo dục, y tế, hỗ trợ doanhnghiệp Bởi vậy quan hệ NQTM luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro cũng như cáctranh chấp giữa các chủ thể Việc hoàn thiện hành lang pháp lý chohoạt động này sẽ là một động lực to lớn tạo điều kiện cho NQTM đónggóp nhiều hơn vào sự phát triển kinh tế Việt Nam trong giai đoạn sắptới

Đề tài này làm sáng tỏ về mặt lý luận hoạt động NQTM nói chung

và pháp luật điều chỉnh hợp đồng nhượng quyền thương mại(HĐNQTM) tại Việt Nam nói riêng Phân tích thực trạng pháp luậtHĐNQTM ở Việt Nam hiện nay, đánh giá những ưu điểm cũng nhưnhững mặt còn hạn chế, tồn tại trong các quy định pháp luật hiện hành

về HĐNQTM Đưa ra một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện vànâng cao hiệu quả thực thi của pháp luật HĐNQTM ở Việt Nam hiệnnay

2 Ý nghĩa và tầm quan trọng của đề tài

a Ý nghĩa của đề tài

NQTM là một hoạt động thương mại có lịch sử lâu đời Những hìnhthức sơ khai của NQTM xuất hiện từ thế kỷ XVII – XVIII tại một số nướcchâu Âu và tới nay hoạt động này đã phát triển rộng khắp trên phạm vitoàn thế giới NQTM đã có mặt ở đa số các quốc gia và đây cũng làphương thức kinh doanh được các tập đoàn lớn trên thế giới, đặc biệttrong lĩnh vực phân phối, dịch vụ sử dụng

Tại Việt Nam hoạt động NQTM còn khá mới mẻ Tuy nhiên, NQTMđang tỏ ra thích nghi rất tốt với điều kiện kinh tế – xã hội tại Việt Nam.Bên cạnh những tín hiệu tích cực chúng ta không thể phủ nhận thực tế

là đa số người dân và thậm chí các thương nhân không có được nhữngkiến thức cơ bản về hoạt động này Đồng thời trên khía cạnh pháp lý,những quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động NQTM còn nhiều bấtcập, chưa theo kịp được đòi hỏi của thực tiễn kinh doanh

Đề tài nghiên cứu một số vấn đề lý luận về nhượng quyền thươngmại nói chung và hợp đồng nhượng quyền thương mại nói riêng, đồngthời nghiên cứu một số nét cơ bản về hệ thống pháp luật Việt Nam vềHĐNQTM, kết hợp với việc xem xét thực tiễn áp dụng pháp luật vềNQTM tại Việt Nam Trên cơ sở đó đưa ra một số đánh giá và kiến nghịnhằm hoàn thiện các quy phạm pháp luật điều chỉnh HĐNQTM ở ViệtNam

b Tầm quan trọng của đề tài

HĐNQTM là hình thức pháp lý thực hiện hoạt động nhượng quyềnthương mại, là căn cứ pháp luật quan trọng nhất và cũng là căn cứ hợptác kinh doanh của hai bên, đó là cơ sở làm phát sinh quyền và nghĩa

vụ các bên đồng thời là căn cứ giải quyết tranh chấp giữa các bên Mặt

Trang 7

khác đó cũng là cơ sở để nhà nước có thể quản lý hoạt động nhượngquyền trên lãnh thổ Việt Nam, có thể nói HĐNQTM đóng vai trò rấtquan trọng trong quan hệ nhượng quyên giữa các chủ thể Chính vì

vậy, việc nghiên cứu "Pháp luật về hợp đồng nhượng quyền

thương mại và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam" rất cần thiết và

quan trọng, có ý nghĩa sâu sắc về cả mặt lý luận và thực tiễn tronghoạt động thương mại tại Việt Nam

3 Phương pháp nghiên cứu

Đề án lấy phương pháp duy vật Mác-Lenin làm phương pháp chủđạo trong quá trình nghiên cứu đề tài Ngoài ra Đề án còn sử dụng mộtsố phương pháp khác không thể thiếu trong nghiên cứu khoa pháp lýnhư phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp đối chiếu so sánh,phương pháp liệt kê… Các phương pháp này được sử dụng đan xen lẫnnhau để có thể xem xét một cách toàn diện các vấn đề lý luận và thựctiễn trong HĐNQTM

Trang 8

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI VÀ MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM

1.1 Tổng quan về nhượng quyền thương mại

1.1.1 Khái niệm nhượng quyền thương mại

Mỗi quốc gia đưa ra khái niệm khác nhau phù hợp với điều kiệnkinh tế xã hội và quan điểm lập pháp của nước mình

Đối với Việt Nam khái niệm nhượng quyền thương mại lần đầutiên được đề cập đến trong pháp luật tại Điều 284 Luật thương mại

(LTM) 2005, theo quan điểm các nhà làm luật thì: “Nhượng quyền

thương mại là hoạt động thương mại theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau:

1 Việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền

2 Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh.”

Qua các định nghĩa trên ta có thể thấy mặc dù quan điểm của cácquốc gia về nhượng quyền thương mại là khác nhau nhưng tất cả cácđịnh nghĩa trên đều có đặc điểm chung là:

• Bên nhận quyền phân phối sản phẩm, cung ứng dịch vụ dưới nhãnhiệu hàng hoá, các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ và theo quy trình kỹthuật do bên nhượng quyền xây dựng và sở hữu

• Bên nhận quyền phải trả một khoản phí và chấp nhận các điều kiện

do bên nhượng quyền quy định (các quy định về tiêu chuẩn hàng hoá,giá sản phẩm, cách bài trí cửa hàng, cung cách phục vụ của nhân viên)

1.1.2 Đặc điểm của nhượng quyền thương mại

Thứ nhất, chủ thể tham gia hoạt động NQTM gồm bên nhượngquyền và bên nhận quyền là các pháp nhân độc lập và hoàn toànkhông phụ thuộc với nhau về mặt pháp lý cũng như tài chính Bên nhậnquyền mặc dù kinh doanh dưới thương hiệu của bên nhượng quyềnnhưng lại hoàn toàn chủ động trong việc kinh doanh của mình, việc cólãi hay chịu lỗ không liên quan trực tiếp đến bên nhượng quyền Mặtkhác các chủ thể hoạt động NQTM đều là những doanh nghiệp hoàntoàn độc lập về mặt trách nhiệm đối với khách hàng và đối với đối táckhác trong kinh doanh, vì vậy nó sẽ có địa vị pháp lý độc lập khi kinhdoanh NQTM

Thứ hai, đối tượng của hoạt động NQTM là vô hình - chính làquyền thương mại - đó là một thể thống nhất tạo bởi rất nhiều cácquyền tài sản khác nhau như quyền sử dụng các đối tượng của quyền

sở hữu công nghiệp, quyền kinh doanh theo hệ thống vận hành vớiphương thức quản lý, tiếp thị, đào tạo của bên nhượng quyền Trong

Trang 9

quan hệ NQTM, nội dung cốt lõi chính là việc bên nhượng quyền chophép bên nhận quyền sử dụng quyền thương mại của mình trong kinhdoanh.

Thứ ba, là mối quan hệ hỗ trợ mật thiết giữa bên nhượng quyền

và bên nhận quyền Các bên nhận quyền phải tuân thủ trung thành môhình NQTM, phải khai thác bí quyết một cách nhất quán trong mạnglưới NQTM Bên nhận quyền dùng nhãn hiệu hàng hoá, bí quyết kinhdoanh của bên nhượng quyền để sản xuất, phân phối hàng hoá vàcung ứng dịch vụ, đồng thời còn nhận được sự giúp đỡ về mặt kỹ thuật,đào tạo của bên nhượng quyền trong quá trình kinh doanh theoHĐNQTM Trong NQTM luôn tồn tại mối quan hệ hỗ trợ mật thiết giữabên nhượng quyền và bên nhận quyền, nếu không có điều đó, thì đãthiếu đi một điều kiện tiên quyết để xác định hoạt động đấy có phải làNQTM hay không

Thứ tư, NQTM là hoạt động kinh doanh theo mô hình mạng lướithống nhất Điều này thể hiện ở chỗ: thống nhất về hành động của bênnhượng quyền và các bên nhận quyền nhằm duy trì hình ảnh đặc trưng

và duy trì dịch vụ đặc trưng, thứ hai là thống nhất về lợi ích của bênnhượng quyền và của bên nhận quyền Các bên tham gia vào hệ thốngNQTM phải có cùng mục đích chung là bảo vệ hình ảnh, uy tín chothương hiệu nên cần tuân thủ mô hình kinh doanh một cách chặt chẽ,trung thành để tránh hậu quả đáng tiếc cho bên nhượng quyền cũngnhư bên nhận quyền khác

Thứ năm, hoạt động của hệ thống NQTM thường dẫn tới hệ quả

phân chia thị trường và có thể gây hạn chế cạnh tranh HĐNQTM có thểquy định vấn đề "phân chia thị trường", bao gồm phân chia lãnh thổ(phân chia khu vực kinh doanh) và phân chia khách hàng Điều này rấtcó thể bị điều chỉnh bằng Luật chống độc quyền Mỗi một bên nhậnquyền đều phải tuân thủ sự phân chia thị trường theo quyết định củabên nhượng quyền

1.2 Tổng quan pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại

1.2.1 Khái niệm hợp đồng nhượng quyền thương mại

Ở Việt Nam, pháp luật không đưa ra định nghĩa về HĐNQTM màchỉ quy định về hình thức của loại hợp đồng này tại Điều 285 LTM

2005 Như vậy, có thể hiểu, trên phương diện pháp luật, HĐNQTM làmột loại hợp đồng được các thương nhân ký kết trong quá trình thựchiện hoạt động thương mại, mà cụ thể ở đây chính là thực hiện hoạtđộng NQTM Vì vậy, hợp đồng này cũng phải có những đặc điểm chungcủa hợp đồng được quy định ở chương IV của Bộ luật Dân Sự và đápứng đầy đủ các điều kiện mà pháp luật dân sự đặt ra dưới góc độ củamột nhà giao dịch dân sự Theo đó, dựa vào định nghĩa về hoạt độngNQTM Điều 284 LTM 2005 và các quy định pháp luật có liên quan cóthể gián tiếp rút ra quan niệm về HĐNQTM theo pháp luật Việt Namnhư sau:

Trang 10

HĐNQTM mại là thoả thuận giữa bên nhượng quyền và bên nhậnquyền, trong đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhậnquyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ

1.2.2 Đặc điểm của hợp đồng nhượng quyền thương mại

Thứ nhất, đối tượng HĐNQTM là "quyền thương mại" - tập hợp tất

cả các quyền năng của chủ thương hiệu đối với các đối tượng sở hữucông nghiệp như nhãn hiệu hàng hoá, bí quyết kinh doanh, tên thươngmại Ngoài ra để giá trị quyền thương mại được nâng lên thì đối tượngNQTM còn có thể chứa đựng thêm một số quyền năng khác như quyềnđược cấp quyền thương mại chung, quyền phát triển hệ thống NQTM.Các quyền này bên chuyển nhượng không được bán hay chuyểnnhượng bên nhận chuyển nhượng mà chỉ trao quyền sử dụng các đốitượng trên mà thôi Vì vậy, khi hết thời hạn hợp đồng hay chấm dứthợp đồng bên nhận quyền không được phép tiếp tục sử dụng nhãn hiệuhàng hoá và các yếu tố thuộc quyền thương mại của bên nhượngquyền Vì đối tượng của HĐNQTM là quyền thương mại - là một loại tàisản vô hình, vì vậy rất khó để kiểm tra chất lượng cũng như giá trị củanó Cho nên trách nhiệm của bên nhượng quyền là phải cung cấp, côngbố thông tin về hệ thống nhượng quyền của mình cho bên nhận quyền

là một yêu cầu bắt buộc theo quy định của hầu hết pháp luật quốc giatrên thế giới

Thứ hai, về chủ thể của HĐNQTM Bên nhượng quyền và bênnhận quyền luôn tồn tại mối quan hệ hỗ trợ chặt chẽ, mật thiết vớinhau Đây là điểm khác nhau giữa NQTM so với hoạt động kinh doanhkhác

Thứ ba, nội dung của HĐNQTM HĐNQTM được xem là một hìnhthức của hợp đồng gia nhập, nên về cơ bản những nội dung của hợpđồng đều được bên nhượng quyền soạn sẵn, nếu có sự thoả thuận lạimột số điều khoản mới được bên nhận quyền đưa ra thì cũng khó đượcchấp nhận Do vậy, bên nhượng quyền luôn giành lợi thế trong việcđưa ra các điều khoản có lợi cho mình, nhằm hạn chế tối đa những rủi

ro do bên nhận quyền mang lại Việc bên nhận quyền chỉ có lựa chọnchấp nhận hoặc không chấp nhận, khó đưa ra điều khoản mới vì đâycũng là những điều khoản chung được áp dụng cho các bên nhậnquyền của toàn bộ hệ thống nhượng quyền, đảm bảo cho hệ thốnghoạt động thống nhất, chung một mục tiêu

Kết luận chương 1 Chương I đã đưa ra được cách nhìn tổng quát về các vấn đề lý luận chung của hợp đồng nhượng quyền thương mại và các vấn đề pháp lý liên quan Thông qua

đó, tác giả đã đưa ra một số đặc điểm, tính chất cũng như bản chất của hợp đồng nhượng quyền thương mại, lí giải vì sao hợp đồng nhượng quyền thương mại lại

1 Luật Thương mại 2005 số: 36/2005/QH11

Trang 11

trở thành một hình thức kinh doanh hấp dẫn các nhà đầu tư và có sự phát triển bùng nổ như vậy Đây chính là tiền đề để chúng ta có cái nhìn tổng quan về hợp đồng nhượng quyền thương mại ở Việt Nam cũng như hệ thống pháp luật điều chỉnh vấn đề này.

Trang 12

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN

THƯƠNG MẠI 2.1 Chủ thể của hợp đồng nhượng quyền thương mại

Chủ thể của hợp đồng là những người tham gia xác lập, thực hiệnhợp đồng, có chủ quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng và phảichịu trách nhiệm về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từhợp đồng đó

Theo quy định tại Luật thương mại 2005 và Nghị Định

35/2006/NĐ-CP chủ thể HĐNQTM gồm bên nhận quyền và bên nhượng quyền, tuynhiên theo Điều 290 LTM thì có thể còn xuất hiện thêm chủ thể thứ ba

"bên nhận quyền có quyền nhượng quyền lại cho bên thứ ba (gọi là

bên nhận quyền thứ cấp) nếu được sự đồng ý của bên nhượng quyền, khi đó bên nhận lại quyền sẽ có các quyền và nghĩa vụ như bên nhận quyền theo quy định pháp luật" Tuy nhiên quy định này không có

nghĩa là trong mọi trường hợp bên nhượng quyền sẽ hạn chế đượcquyền này của bên nhận quyền, mà chỉ khi xảy ra một trong cáctrường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 15 Nghị Định 352 thì bên nhượngquyền mới có quyền từ chối

Việc quy định các trường hợp bên nhượng quyền có quyền từ chốiviệc bên nhận quyền nhượng lại quyền cho bên thứ ba đã làm hạn chếquyền của bên nhận quyền và mở rộng quyền hạn của bên nhượngquyền Ngược lại quy định này cũng giúp bên nhượng quyền kiểm soátđược hoạt động kinh doanh của bên nhận quyền cũng như toàn bộ hệthống NQTM

2.2 Hình thức hợp đồng nhượng quyền thương mại

Theo quy định tại Điều 119 của BLDS 20153, hợp đồng có thể được

lập bằng một trong ba hình thức là "lời nói, văn bản hoặc bằng hành vi

cụ thể" trừ trường hợp pháp luật có quy định hình thức bắt buộc thì

phải tuân theo hình thức đó Hợp đồng không bị vô hiệu trong trườnghợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy địnhkhác

Tại Điều 285 LTM 2005 quy định " HĐNQTM phải được lập thành văn

bản hoặc các hình thức pháp lý có giá trị tương đương" Các hình thức

khác có giá trị pháp lý tương đương văn bản gồm có điện báo, telex,fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của phápluật Quy định này rất phù hợp với tình hình hoạt động NQTM Việt Namhiện nay vì đây là hoạt động khá mới đối với các doanh nghiệp ViệtNam, chỉ bằng hình thức văn bản mới có thể ghi nhận quyền và nghĩa

vụ các bên một cách rõ ràng, cụ thể Ngoài ra, quy định này cũng giúpnhà nước quản lý hoạt động NQTM tốt hơn, rõ ràng hơn

Về ngôn ngữ của HĐNQTM, Điều 12 Nghị định 35 quy định "Hợp

đồng nhượng quyền thương mại phải được lập bằng tiếng Việt Trường

2 Nghị định 35/2006/NĐ-CP quy định chi tiết luật thương mại về hoạt động nhượng quyền thương mại

3 Bộ luật dân sự 2015 số 91/2015/QH13 Quốc Hội ban hành

Trang 13

hợp nhượng quyền từ Việt Nam ra nước ngoài, ngôn ngữ của hợp đồng nhượng quyền thương mại do các bên thoả thuận" Như vậy, về nguyên

tắc mọi HĐNQTM trong đó bao hàm cả HĐNQTM có yếu tố nước ngoàiphải được lập bằng văn bản dưới ngôn ngữ là tiếng Việt Duy chỉ cótrường hợp đối với HĐNQTM có yếu tố nước ngoài mà bên nhượngquyền là thương nhân Việt Nam và bên nhận quyền là thương nhânnước ngoài thì ngôn ngữ có thể theo sự thoả thuận lựa chọn của cácbên

2.3 Nội dung của hợp đồng nhượng quyền thương mại

Nội dung của hợp đồng là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của cácbên chủ thể tham gia hợp đồng được thể hiện trong các điều khoảncủa hợp đồng

Về vấn đề này, điều 11 Nghị định 35 quy định “Trong trường hợp

các bên lựa chọn áp dụng luật Việt Nam, hợp đồng nhượng quyền thương mại có thể có các nội dung chủ yếu sau đây:

- Nội dung quyền thương mại

- Quyền và nghĩa vụ các bên nhượng quyền

- Giá cả, phí nhượng quyền định kỳ và phương thức thanh toán

- Thời hạn hiệu lực của hợp đồng

- Gia hạn, chấm dứt HĐNQTM”

Việc quy định nội dung của hợp đồng chỉ mang tính chất gợi mở,

không có tính bắt buộc đối với các bên tham gia hợp đồng, "các bên tự

do giao kết hợp đồng và thoả thuận nội dung của hợp đồng" Ngoài

những nội dung kể trên các bên chủ thể trong quan hệ NQTM có thểthống nhất và thoả thuận một số điều khoản khác mà các bên cho làquan trọng trong việc ràng buộc nghĩa vụ và đảm bảo quyền lợi củamỗi bên Các điều khoản này trong chừng mực nhất định nếu không viphạm điều cấm của pháp luật thì đều được coi là những điều khoảnchính thức của HĐNQTM

Nội dung của hợp đồng sẽ được xác định theo pháp luật của nước

mà các bên chủ thể thoả thuận áp dụng Nếu các bên chủ thể khôngthoả thuận pháp luật áp dụng thì nội dung hợp đồng sẽ được xác địnhtheo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng Căn cứ vào tinh thần

dung HĐNQTM sẽ được coi là hợp pháp nếu không vi phạm các điềucấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội Việt Nam

2.3.1 Đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại

Đối tượng của HĐNQTM chính là quyền thương mại, như vậy theo quan điểm củacác nhà làm luật Việt Nam thì đối tượng HĐNQTM được hiểu như sau (Khoản 6 Điều 3Nghị Định 35):

“Quyền thương mại bao gồm một, một số hoặc tất cả các quyền sau đây:

Quyền được bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành công việc kinh doanh cung cấp hàng hoá hoặc dịch vụ theo một hệ thống

Ngày đăng: 24/10/2022, 12:43

w