1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

ôn 10 buổi 16, NLXH

14 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ôn 10 Buổi 16, NLXH
Trường học Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Giáo dục và Đào tạo
Thể loại Bài giảng
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 82,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống những vấn đề tư tưởng,đạo lí cơ bản thường gặp - Đề mang tư tưởng nhân văn: lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí nghị lực, tôn sư trọng đạo… Đề thi thường ra dưới dạng một

Trang 1

ÔN DẠNG BÀI

NGHỊ LUẬN

VỀ MỘT TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÍ

Trang 2

1 Khái niệm

Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí là bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống… của con người.

2 Hệ thống những vấn đề tư tưởng,đạo lí cơ bản thường gặp

- Đề mang tư tưởng nhân văn: lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí nghị lực, tôn sư trọng đạo… Đề thi thường ra dưới

dạng một ý kiến, một câu nói, một hay vài câu thơ hoặc tục ngữ, ngạn ngữ…

- Đề mang tư tưởng phản nhân văn: thói dối trá, lối sống ích kỷ, phản bội, ghen tị, vụ lợi cá nhân, bệnh vo cảm… Đề thi

thường ra dưới dạng một ý kiến, một câu nói, tục ngữ, ngạn ngữ…

Trang 3

3 Bố cục

a Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề tư tưởng, đạo lí đề yêu cầu( Trích câu danh ngôn, ca dao, tục ngữ hoặc tên câu chuyện…).

b Thân đoạn:

- Ý 1: cần giải thích rõ nội dung tư tưởng đạo lý; (giải thích các từ ngữ, thuật ngữ, khái niệm, nghĩa đen, nghĩa bóng (nếu có); rút ra ý nghĩa chung của tư tưởng, đạo

lý; quan điểm của tác giả qua câu nói (thường dành cho đề bài có tư tưởng, đạo lý được thể hiện gián tiếp qua câu danh ngôn, tục ngữ, ngạn ngữ…).

- Ý 2: phân tích và chứng minh các mặt đúng của tư tưởng, đạo lý (thường trả lời câu hỏi tại sao nói như thế? Dùng dẫn chứng cuộc sống xã hội để chứng minh Từ

đó chỉ ra tầm quan trọng, tác dụng của tư tưởng, đạo lý đối với đời sống xã hội).

-Ý 3, bình luận mở rộng vấn đề; (bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đến tư tưởng, đạo lý vì có những tư tưởng, đạo lý đúng trong thời đại này nhưng còn

hạn chế trong thời đại khác, đúng trong hoàn cảnh này nhưng chưa thích hợp trong hoàn cảnh khác; dẫn chứng minh họa.)

-Ý 4: Rút ra bài học nhận thức và hành động (Đây là vấn đề cơ bản của một bài nghị luận bởi mục đích của việc nghị luận là rút ra những kết luận đúng để thuyết

phục người đọc áp dụng vào thực tiễn đời sống.)

c Kết đoạn: nêu khái quát đánh giá ý nghĩa tư tưởng đạo lý đã nghị luận.

Trang 4

4 Cách làm đối với dạng đề mang tư tưởng nhân văn và phản nhân văn

I MỞ ĐOẠN : nêu vấn đề I MỞ ĐOẠN: nêu vấn đề

1 Giải thích : nếu là câu nói , ý kiến có hai vế thì giải thích hai vế rồi giải

2 Bàn luận

a) Biểu hiện ( thường trả lời câu hỏi tại sao? Thế nào?)

b) Ý nghĩa ?

2 Bàn luận

a) Biểu hiện ( thường trả lời câu hỏi tại sao? Thế nào?) b) Tác hại ?

3 Phê phán, bác bỏ tư tưởng trái ngược .

 

3 Biểu dương, ngợi ca tư tưởng nhân văn đối lập với phản nhân văn đã phân tích ở trên

4 Bài học nhận thức và hành động

– Về nhận thức ta có: đúng hay sai?

– Về hành động ta cần: cần làm gì?

4 Bài học nhận thức và hành động.

– Về nhận thức ta có: đúng hay sai?

– Về hành động ta cần: cần

III KẾT ĐOẠN : đánh giá chung về vấn đề III KẾT ĐOẠN: đánh giá chung về vấn đề.

Trang 5

ĐỀ: VIẾT MỘT ĐOẠN VĂN KHOẢNG 200 CHỮ VỀ QUAN NIỆM SỐNG CÓ ÍCH

a Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề

Ví dụ : Là một con người sống trong xã hội được thừa hưởng nhiều sự tốt đẹp mà cha ông

ta trước khi để lại, chúng ta cần có những đóng góp xứng đáng phát huy giá trị bản thân để trở thành người sống có ích.

Trang 6

b.Thân đoạn: Cần đảm bảo các ý sau:

- Giải thích thế nào là sống có ích?

- Bàn luận:

+ Biểu hiện của sống có ích?

+ Ý nghĩa của sống có ích?

- Phê phán, bác bỏ những người sống không có ích?

- Bài học nhận thức và hành động?

ĐỀ: VIẾT MỘT ĐOẠN VĂN KHOẢNG 200 CHỮ VỀ QUAN NIỆM SỐNG CÓ ÍCH

Trang 7

* Nhóm 1:

Sống có ích là lựa chọn lối sống đúng với chuẩn mực đạo đức mà xã hội đã đề ra Trở thành con người có ích có cống hiến cho xã hội

* Nhóm 2:

- Bàn luận:

+) Biểu hiện của sống có ích?

• Chăm chỉ học tập và làm việc, có ước mơ, lý tưởng và không ngại khó khăn gian khổ để thực hiện ước mơ của mình

• Ước mơ dù lớn hay nhỏ cũng góp phần giúp ích cho bản thân gia đình xã hội

• D/c: Người nông dân có ích là người nông dân trồng ra những mớ rau, trái cây sạch phục vụ cho xã hội nguồn thực phẩm tươi ngon không có hại cho sức khỏe, nhà khoa học nghiên cứu ra những phát minh thiết thực có thể ứng dụng trong đời sống thực tiễn Nhà lãnh đạo có ích là những nhà lãnh đạo hiểu thấu nỗi khổ của người dân, giúp dân giải quyết những vướng mắc, khó khăn Học sinh có ích là những người học sinh chăm ngoan học giỏi, vâng lời cha mẹ thầy cô, biết giúp đỡ bạn bè

+) Ý nghĩa của sống có ích?

Người sống có ích sẽ được mọi người yêu quí, kính trọng, góp phần tạo nên xã hội tốt đẹp, văn minh.

Trang 8

* Nhóm 3:

- Phê phán, bác bỏ những người sống không có ích?

- Phê phán một bộ phận thanh thiếu niên sống ích kỷ , trục lợi ,không có ích cho xã hội

* Nhóm 4:

- Bài học nhận thức và hành động?

+ Sống đẹp là chuẩn mực cao nhất của nhân cách con người, là tiêu chí đánh giá giá trị con người, gợi mở về lối sống đẹp, nhất là cho thế hệ trẻ ngày nay.

+ Bản thân cần kêu gọi mọi người xung quanh mình làm những công việc sống có ích cho xã hội.

Trang 9

c Kết đoạn: Khẳng định lại vấn đề

Tham khảo câu kết đoạn: Có thể nói, sống có ích là một trong những phẩm chất tốt đẹp

mà mỗi người chúng ta cần phải có.

Trang 10

- Nhóm 1: suy nghĩ của em về ý kiến: Chăm sóc, bảo vệ trẻ em là một trong những vấn đề cấp bách, có ý nghĩa

toàn cầu

- Nhóm 2: Suy nghĩ về câu danh ngôn : Lời nói là tấm gương phản ánh tâm hồn con người

- Nhóm 3: Trình bày suy nghĩ về câu nói: Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con

đường sống

( M.Go-rơ-ki).

- Nhóm 4: Suy nghĩ về tình bạn đẹp

Trang 11

Đề 1 : Trình bày suy nghĩ của em về ý kiến: “Bỏ phí thời gian thì có hại và về sau hối tiếc cũng

không kịp”.

Đề 2: Trình bày ý kiến của em về một hành động thiết thực có thể góp phần đấu tranh cho một thế giới hòa bình.

Đề 3: Trình bày suy nghĩ về cội nguồn sinh dưỡng của mỗi con người.

Trang 12

c Viết đoạn văn “Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đg sống”

I Mở đoạn

– Sách là một người bạn thân thiết của con người, giúp ta tiếp thu tri thức của nhân loại.

– Câu nói của M.Go-rơ-ki: “Hãy yêu sách, nỏ là nguồn kiến thức, chi cỏ kiến thức mới là con đường sống

II Thân đoạn

1. Giải thích: (Đặt câu hỏi: Là gì?)

– Sách là gì? => Sách là sản phẩm của quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và là kho tàng quý báu của nhân loại.

– Sách còn là di sản văn hóa của mỗi dân tộc trên đất nước được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Sách cũng là công cụ giao tiếp, trau dồi kiến thức, sự hiểu biết lên tầm cao hơn của các thế hệ sau này

2 Đưa ra các biểu hiện: (Đặt câu hỏi: Tại sao? Vì sao?)

a Tại sao sách là con đường sống?

– Vì sách là nguồn kiến thức vô tận của loài người.

– Tất cả mọi thứ từ xa xưa, con người đều ghi lại trên thẻ tre, hòn đá hay nền đất sét Thời nay, con người đã biết chế tạo ra giấy rồi ghi lại những thông tin mà người cổ xưa để lại và đúc kết thành một cuốn sách.

– Nhiều tác giả tài năng với những cuốn sách tuyệt vời phục vụ cho lợi ích của cộng đồng.

Trang 13

Viết đoạn văn trình bày suy nghĩ của em về ý kiến:Chăm sóc, bảo vệ trẻ em là một trong những vấn đề cấp bách, có ý nghĩa toàn cầu.

Chăm sóc bảo vệ trẻ em là một trong những vấn đề cấp bách Trẻ em là người sẽ quyết định tương lai, vị thế của mỗi dân tộc trên trường quốc tế Qua vấn đề bảo vệ, chăm sóc trẻ em, chúng ta có thể nhận ra được trình độ văn minh và phần nào bản chất của một xã hội.Vấn đề bảo vệ, chăm sóc trẻ em đang được cộng đồng quốc tế quan tâm thích đáng:Năm 1989, Công ước Liên hợp quốc về Quyền Trẻ em ra đời đã ghi nhận các quyền cơ bản của trẻ

em như các nhóm quyền sống còn, nhóm quyền bảo vệ, nhóm quyên phát triển và nhóm quyền tham gia Công ước này thể hiện sự tôn trọng và quan tâm của cộng đồng quốc tế đối với trẻ em, là điều kiện cần thiết để trẻ em được phát triển đầy đủ trong bầu không khí hạnh phúc, yêu thương và thông cảm Chăm sóc trẻ em được tiến hành trên cả 2 mặt: Vật chất và tinh thần Gia đình với khả năng cao nhất của mình cung cấp cho trẻ em những điều kiện tốt nhất để phát triển về thể chất Trong điều kiện hiện nay, kinh tế gia đình về cơ bản đã được nâng lên với mức ổn định, vì vậy các bậc cha mẹ cần dành cho trẻ không chỉ về điều kiện vật chất mà cần chú trọng chăm sóc

về mặt trí tuệ Trẻ em không phân biệt trai hay gái được tạo điều kiện học tập phát triển theo khả năng của mình. Để tạo môi trường chăm sóc thuận lợi, cha mẹ cần tạo một bầu không khí yêu thương, đoàn kết, gắn bó quan tâm giữa các thành viên gia đình, cho dù cuộc sống còn nhiều vất vả, nhưng khi có trẻ em trong gia đình thì các thành viên phải cố gắng bỏ qua những mâu thuẫn, xích mích để cho trẻ em luôn luôn có cảm tưởng rằng ngôi nhà của mình chính là tổ ấm Với những trẻ em có thiên hướng xuất hiện một số năng khiếu, cha mẹ phải biết phát hiện, khuyến khích tạo mọi điều kiện để ươm mầm tài năng Việc chăm sóc phát triển trí tuệ cho trẻ em có quan hệ chặt chẽ với việc giáo dục, xã hội hoá trẻ em Quan điểm giáo dục hiện nay coi gia đình là một trong ba môi trường giáo dục trẻ em quan trọng Gia đình là trường học đầu tiên và suốt đời  của mỗi con người Bởi gia đình có trách nhiệm thực hiện chức năng giáo dục thông qua 3 giai đoạn phát triển của trẻ em: từ 1-3 tuổi, từ 3-6 tuổi và từ 6-18 tuổi Cả ba giai đoạn trên, trẻ em được giáo dục, dạy dỗ của gia đình lớn lên chịu ảnh hưởng các chuẩn mực trong gia đình và dần dần tiếp cận các chuẩn mực ngoài xã hội Trên cơ sở đường lối, chiến lược phát triển đó, chính quyền địa phương các cấp đã vạch kế hoạch, hành động cụ thể nhằm đảm bảo các quyền lợi của trẻ em như các chính sách hỗ trợ kinh tế đối với trẻ em nghèo để các em có thể đến trường, quan tâm xây dựng cơ sở vật chất, trường học, thiết bị dạy học để nâng cao chất lượng giáo dục, kêu gọi các tổ chức xã hội và nhân dân đóng góp xây đựng trường lớp, giúp đỡ trẻ em khuyết tật, đóng góp quỹ vì người nghèo, vì trẻ em bị nhiễm chất độc màu da cam, khuyến khích mở các lớp học tình thương, các trung tâm bảo trợ trẻ em mồ côi, tàn tật, lang thang không nơi nương tựa Tương lai của mỗi dân tộc và của toàn nhân loại phụ thuộc vào sự chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ; phụ thuộc vào sức khoẻ, trí tuệ, năng lực của thế hệ trẻ nên  chúng ta phải bảo bệ trẻ em

 

Trang 14

b Vậy sách có tác dụng gì đối với chúng ta?

– Sách giúp con người hiểu sâu hơn về khoa học tự nhiên thông qua các loại sách khoa học; hiểu sâu hơn về tâm lí, tình cảm qua những cuốn truyện dài, ngắn hoặc tiểu thuyết; hiểu sâu hơn về cơ thể con người qua các loại sách y học;… sách âm nhạc giúp ta biết thêm về cuộc đời nghệ thuật của những người nghệ sĩ nổi tiếng trên toàn thế giới mà mình yêu thích.

– Sách còn cung cấp cho chúng ta nhiều điều mới lạ và thú vị hơn nữa qua nhiều loại sách khác nhau.

– Không những vậy, sách còn là một công cụ để gắn kết nhiều dân tộc trên thế giới, giúp dân tộc này hay công dân nước này hiểu thêm về dân tộc kia hay công dân nước kia về mặt xã hội, kinh tế, du lịch,…

c Bàn bạc, mở rộng vấn đề

– Bên cạnh đó, vẫn có những loại sách hay truyện đen, sách có nội dung không hay, thô tục như văn hoá phẩm đồi trụy, gây ảnh hưởng đến nhiều người nếu như quá tò mò về những nội dung ấy gây ra các hậu qua khó lường, tệ nạn xã hội ngày một tăng.

– Không những ham mê dọc sách mà ta còn phải khôn ngoan lựa chọn cho mình những loại sách phù hợp với lứa tuổi đê tránh sa vào các tệ nạn xã hội chỉ vì tính tò mò của bản thân.

III Kết đoạn

– Đọc sách vẫn là cách hiệu quả nhất để nâng cao kiến thức.

– Là món ăn tinh thần bổ dưỡng cho tâm hồn của chúng ta.

Ngày đăng: 09/05/2023, 06:21

w