1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận cơ sở văn hóa việt nam nhóm 6 (1)

31 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm Hiểu Quan Họ Bắc Ninh
Tác giả Nhóm sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Xuân, Phạm Thị Yến Nhi, Phan Thị Linh Nhi, Nguyễn Thị Quỳnh, Nguyễn Phước Đức Hằng, Phạm Thị Bích Trâm
Người hướng dẫn TS.GVC Đỗ Thùy Trang
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam
Thể loại Tiểu luận kết thúc học phần
Năm xuất bản 2022
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 89,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 2. Lịch sử vấn đề (3)
  • 3. Phương pháp nghiên cứu (7)
  • 4. Đối tượng phạm vi nghiên cứu (0)
  • B. NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG (8)
    • 1.1. Bắc Ninh và vùng văn hóa Bắc Bộ (8)
    • 1.2. Các loại hình diễn xướng văn hóa dân gian vùng Bắc Bộ (15)
  • CHƯƠNG 2: TIỀM HIỂU QUAN HỌ BẮC NINH (0)
    • 2.1. Nguồn gốc dân ca Quan họ (21)
    • 2.2. Văn hóa quan họ (23)
    • 2.3. Quan họ truyền thống (23)
    • 2.4. Quan họ mới (23)
    • 2.5. Làn điệu (24)
    • 2.6. Cách hát (24)
    • 2.7. Trang phục (25)
  • CHƯƠNG 3: QUAN HỌ BẮC NINH NGÀY NAY (27)
    • C. KẾT LUẬN (28)

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HỒ CHÍ MINH TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM Mã học phần IVNC320905 22 1 05 TÊN ĐỀ TÀI TÌM HIỂU QUAN HỌ BẮC NINH Nhóm sinh v.

Lịch sử vấn đề

Các công trình nghiên cứu:

Trước năm 1945, nhiều tác giả như Chu Ngọc Chi (1928), Việt Sinh (1933) và Minh Trúc (1937) đã đề cập đến hát quan họ trên các báo như Thụy ký, Phong hóa và Trung Bắc tân văn Tuy nhiên, các bài viết này chủ yếu tập trung vào khía cạnh phong tục, lề lối sinh hoạt và văn chương liên quan đến hát quan họ.

Kể từ năm 1945, công tác sưu tầm và nghiên cứu quan họ đã có những bước tiến đáng kể Nhiều nhà nghiên cứu đã tổ chức các cuộc điền dã quy mô tại các trọng điểm hát quan họ ở Bắc Ninh để thu thập tài liệu Tài liệu sưu tầm chủ yếu tập trung vào bốn vấn đề chính: nguồn gốc, sinh hoạt, nghệ thuật và bảo tồn, phát triển của quan họ.

Vào tháng 6 năm 1956, một cuộc nghiên cứu quy mô lớn đã được khởi động, với sự tham gia của nhiều cán bộ từ Ban nghiên cứu nhạc vũ, Đoàn ca múa trung ương, đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam và trường âm nhạc Việt Nam Dưới sự dẫn dắt của hai nhạc sĩ Lưu Hữu Phước và Lê Yên, các thành viên như cụ Vũ Tuấn Đức, các anh Tân Huyền, Đặng Hòe, Văn Hà, Trần Hương, Thành Nội, Trần Kiết Tường và Nguyễn Văn Thuần đã tham gia tích cực vào nghiên cứu này.

18 làng Quan họ tỉnh Bắc Ninh, sưu tầm và thâu thập được 314 bài Lời ca do Lưu

Hữu Phước sắp xếp và Tú Ngọc thẩm tra các bài nhạc do anh em trong đoàn ghi âm Một số bài đã được ký âm theo phương Tây và được Nhà xuất bản Âm Nhạc in thành 3 tập, tổng cộng có 60 bài Ngoài ra, trong các tập Dân ca phổ biến cũng có một số bài Quan họ.

Sau khi hoàn tất bản thảo tổng kết nhận xét của đoàn nghiên cứu Quan họ, một cuộc Hội nghị đã được triệu tập vào ngày 08-03-1962 Mục đích của hội nghị là để 30 đại biểu nghệ nhân Quan họ lão thành nổi tiếng ở Bắc Ninh đóng góp ý kiến trước khi bản thảo được in thành sách.

Mùa hè năm 1962, quyển “Dân ca Quan họ Bắc Ninh”, một công trình tập thể của

4 anh Nguyễn Văn Phú, Lưu Hữu Phước, Tú Ngọc và Nguyễn Viêm ra đời, đánh dấu đợt sưu tầm nghiên cứu mùa hè năm 1956

Quyển sách dày 340 trang được chia thành hai phần: tiểu luận và giới thiệu các bài hát Anh Tô Vũ đã thực hiện phân tích và phê bình nội dung quyển sách trong bài tham luận đăng trong tập kỷ yếu “Một số vấn đề về dân ca Quan họ”.

Từ năm 1970, Ty văn hóa Hà Bắc đã thành lập một đoàn Quan họ với các diễn viên nam nữ trẻ tuổi, những người đã thành thạo lối hát Quan họ Mỗi diễn viên trong đoàn nắm vững trên dưới hai trăm bài hát và không chỉ cần tập hát đúng mà còn phải hát thật hay.

Đoàn diễn viên Quan họ tại Bắc Ninh gồm những người địa phương, sống và làm việc ngay tại quê hương của mình Các nghệ nhân lớn tuổi trong vùng coi các diễn viên như con em, tận tình dạy dỗ và truyền nghề Đoàn có hai chương trình chính: “Quan họ ngày Hội” và “Đón bạn ngày Xuân”, tái hiện những cảnh Hội xưa với trang phục, lời chào hỏi và cách cư xử đẹp đẽ như ngày trước.

Đoàn thực hiện công tác tuyên truyền giới thiệu Quan họ đến đồng bào ở các vùng lân cận, các tỉnh khác và thủ đô, đồng thời thí nghiệm việc đệm đàn cho các bài hát Quan họ và đưa Quan họ lên sân khấu.

Vào năm 1974, tổ nghiên cứu Quan họ cùng đoàn dân ca Quan họ đã đến Hà Nội để giới thiệu nghệ thuật Quan họ đến với người dân thủ đô Sự kiện thu hút hơn mười ngàn người tham dự, trong đó có Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Văn Tiến Dũng, Bộ trưởng Xuân Thủy và ông Hoàng Quốc Việt.

Thứ trưởng Hà Huy Giáp cùng ông Nguyễn Khánh Toàn và nhiều Bộ trưởng, Thứ trưởng từ các Bộ, cũng như các Viện trưởng và Viện phó của các Viện văn học, dân tộc học, sử học, ngôn ngữ, mỹ thuật và nghệ thuật đã tham gia sự kiện này.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu nghệ thuật hát quan họ Bắc Ninh dựa trên nền tảng của các khoa học liên ngành và chuyên ngành về văn hóa nghệ thuật, đồng thời kết hợp nhiều phương pháp khác nhau.

- Tóm tắt, trích lược, sưu tầm, phân tích, tổng hợp tư liệu.

4.Đối tượng và phạm vị ngiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu là: các yếu tố lịch sử văn hóa – xã hội và thực trạng của dân ca quan họ trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

- Phạm vị nghiên cứu là: nghiên cứu nghệ thuật hát quan họ tỉnh Bắc Ninh

- Bài viết: Một số vấn đề quan họ của tác giả Dương Văn Sáu, ban hành 2016

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 1.1 Bắc Ninh và vùng văn hóa Bắc Bộ a Vùng văn hóa Bắc bộ

*Giới thiệu về vùng văn hóa Bắc Bộ:

Đồng bằng Bắc Bộ là vùng đất giàu truyền thống văn hóa Việt Nam, được xem là cái nôi của văn hóa và lịch sử dân tộc.

Vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ bao gồm các tỉnh như Hà Tây, Nam Định, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, thành phố Hà Nội, Hải Phòng, và phần đồng bằng của các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, và Hà Tĩnh Đặc biệt, Nghệ An và Hà Tĩnh đã có sự gắn bó với Bắc Bộ từ thời kỳ văn minh Văn Lang – Âu Lạc và còn xa hơn nữa.

- Vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ nằm giữa lưu vực những dòng sông Hồng, sông Mã,

*Đặc điểm tự nhiên và xã hội của vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ :

Vùng châu thổ Bắc Bộ nằm ở vị trí địa lí chiến lược, là trung tâm giao lưu quốc tế với hai trục chính Tây – Đông và Bắc – Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho việc kết nối với các vùng khác trong nước và khu vực Đông Nam Á Vị trí này không chỉ là mục tiêu xâm lược của các thế lực muốn mở rộng ảnh hưởng vào Đông Nam Á, mà còn giúp cư dân nơi đây dễ dàng tiếp thu và giao lưu văn hóa với thế giới.

Châu thổ Bắc Bộ có địa hình núi xen kẽ đồng bằng và thung lũng, với độ cao giảm dần từ 10 – 15m xuống mặt biển Khu vực này có địa hình không đồng đều, nơi có địa hình cao như núi Thiên Thai vẫn tồn tại những vùng trũng như Hà Nam và Nam Định Đồng thời, những vùng thấp như Chương Sơn và núi Đọi cũng có sự hiện diện của núi.

Khí hậu vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ rất đặc trưng, là khu vực duy nhất ở Việt Nam trải qua một mùa đông thực sự với ba tháng có nhiệt độ trung bình dưới mức ấm áp.

Khu vực châu thổ Bắc Bộ có khí hậu bốn mùa rõ nét với nhiệt độ trung bình khoảng 18 độ C Tuy nhiên, khí hậu thất thường, với gió mùa Đông Bắc lạnh và ẩm, cùng gió mùa hè nóng ẩm, khiến cho việc cấy lúa ở đây ít hơn so với các vùng khác.

Vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ nổi bật với hệ thống sông ngòi dày đặc, bao gồm các dòng sông lớn như sông Hồng, sông Thái Bình và sông Mã, cùng với nhiều mương máng tưới tiêu Khí hậu gió mùa với hai mùa khô và mưa ảnh hưởng đến thủy chế của các dòng sông, đặc biệt là sông Hồng, tạo ra hai mùa rõ rệt: mùa cạn với dòng chảy nhỏ và nước trong, và mùa lũ với dòng chảy lớn và nước đục Ngoài khơi, thủy triều vịnh Bắc Bộ diễn ra theo chế độ nhật triều, với một lần nước lên và một lần nước xuống mỗi ngày.

- Dân cư ở vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ khá đông đúc, cư dân ở đồng bằng Bắc

Bộ là cư dân chủ yếu sống bằng nghề trồng lúa nước và nông nghiệp thuần túy, trong khi nghề khai thác hải sản ở vùng châu thổ Bắc Bộ chưa phát triển mạnh Các làng ven biển chủ yếu hoạt động trong nông nghiệp, đánh cá và làm muối Ngược lại, Bắc Bộ có nhiều sông ngòi, mương máng, tạo điều kiện cho người dân chài khai thác thủy sản từ ao, hồ, đầm Tuy nhiên, do đất đai hạn chế và dân số đông, bên cạnh nghề trồng lúa nước và nuôi trồng thủy sản, người nông dân còn tham gia vào các nghề thủ công Tại Bắc Bộ, đã có hàng trăm nghề thủ công, trong đó một số nghề như gốm, dệt, luyện kim và đúc đồng đã phát triển lâu đời.

Những người nông dân vùng châu thổ Bắc Bộ sống quần tụ thành làng, là đơn vị xã hội cơ sở của nông thôn Việt Nam Làng là kết quả của sự phát triển từ các công xã thị tộc nguyên thủy sang công xã nông thôn, và đã trở thành một tiểu xã hội trồng lúa nước Sự gắn bó giữa con người trong cộng đồng làng không chỉ dựa trên quan hệ sở hữu đất đai và di sản chung như đình làng, chùa làng, mà còn bao gồm các mối quan hệ tâm linh và chuẩn mực xã hội, đạo đức Các hương ước và khoán ước của làng xã đảm bảo cho sự bền vững của những quan hệ này.

*Đặc điểm vùng văn hóa Bắc Bộ:

Bắc Bộ là cái nôi của dân tộc Việt, nơi hình thành và phát triển các nền văn hóa lớn như Văn hóa Đông Sơn, văn hóa Đại Việt và văn hóa Việt Nam Sự lan truyền của văn hóa Việt từ Bắc Bộ vào Trung Bộ và Nam Bộ chứng tỏ sức sống mãnh liệt và sự sáng tạo của người dân Việt Văn hóa châu thổ Bắc Bộ không chỉ mang những đặc trưng của văn hóa Việt mà còn có những nét riêng biệt của vùng đất này.

Trong suốt hàng ngàn năm, người dân Việt Nam đã chinh phục thiên nhiên qua việc đào mương, đắp bờ và xây dựng đê, tạo nên diện mạo đặc trưng của đồng bằng Bắc Bộ ngày nay Nhà ở của người dân vùng này thường được thiết kế bến chác, vừa to đẹp vừa hòa hợp với cảnh quan xung quanh Ngoài ra, người dân Bắc Bộ còn trồng cây cối xung quanh nhà để tạo bóng mát, mang lại không gian sống thoải mái.

Bữa cơm gia đình của người dân vùng Bắc Bộ Việt Nam bao gồm các món cơm, rau, và cá, chủ yếu là cá nước ngọt Vào mùa đông, để thích ứng với khí hậu lạnh, bữa ăn sẽ có thêm thịt và mỡ nhằm giữ nhiệt cho cơ thể Khác với vùng Trung Bộ và Nam Bộ, các gia vị chua, cay ít xuất hiện trong bữa ăn của người dân Bắc Bộ.

Người dân Bắc Bộ chọn trang phục phù hợp với thiên nhiên, với màu nâu là chủ đạo trong trang phục đi làm Trong các lễ hội, phụ nữ thường mặc áo dài mớ ba, mớ bảy, trong khi nam giới chọn quần tráng, áo dài the và chít khăn đen Hiện nay, trang phục của người dân vùng châu thổ Bắc Bộ đã có nhiều sự thay đổi.

Vùng châu thổ Bắc Bộ nổi bật với nhiều di tích văn hóa quan trọng, không chỉ được biết đến trong nước mà còn nổi tiếng quốc tế Một số di tích tiêu biểu bao gồm Đền Hùng, khu vực Cổ Loa, Hoa Lư, Lam Sơn, Phố Hiến, Chùa Dâu, Chùa Hương, Chùa Tây Phương và Đình Tây Đằng.

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG

Bắc Ninh và vùng văn hóa Bắc Bộ

a Vùng văn hóa Bắc bộ

*Giới thiệu về vùng văn hóa Bắc Bộ:

Đồng bằng Bắc Bộ là vùng đất giàu bản sắc văn hóa truyền thống của Việt Nam, được xem là cái nôi của văn hóa và lịch sử dân tộc.

Vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ bao gồm các tỉnh như Hà Tây, Nam Định, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, thành phố Hà Nội, Hải Phòng, và phần đồng bằng của các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh Đặc biệt, Nghệ An và Hà Tĩnh đã có sự gắn bó với Bắc Bộ từ thời kỳ văn minh Văn Lang – Âu Lạc và còn xa hơn nữa.

- Vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ nằm giữa lưu vực những dòng sông Hồng, sông Mã,

*Đặc điểm tự nhiên và xã hội của vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ :

Vùng châu thổ Bắc Bộ nằm ở vị trí địa lí chiến lược, là trung tâm giao lưu quốc tế theo hai trục Tây – Đông và Bắc – Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho việc kết nối với các vùng khác trong nước và khu vực Đông Nam Á Vị trí này không chỉ thu hút sự chú ý của các thế lực xâm lược mà còn mang lại cơ hội cho cư dân địa phương trong việc giao lưu và tiếp thu các giá trị văn hóa nhân loại.

Châu thổ Bắc Bộ có địa hình núi xen kẽ đồng bằng và thung lũng, với độ cao thấp và bằng phẳng, dốc thoải từ Tây Bắc xuống Đông Nam Độ cao giảm dần từ 10 – 15m đến mực nước biển, tạo nên sự không đồng đều trong địa hình Trong khi một số khu vực có địa hình cao, như núi Thiên Thai, vẫn tồn tại những vùng trũng như Gia Lương (Bắc Ninh) hay Hà Nam, Nam Định Ngược lại, những vùng thấp như Chương Sơn và núi Đọi cũng có sự hiện diện của núi.

Khí hậu vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ rất đặc trưng, là khu vực duy nhất ở Việt Nam trải qua một mùa đông thực sự, với ba tháng có nhiệt độ trung bình dưới mức 20 độ C.

Khu vực châu thổ Bắc Bộ có khí hậu bốn mùa rõ rệt với nhiệt độ trung bình khoảng 18 độ C Tuy nhiên, khí hậu thất thường, với gió mùa Đông Bắc lạnh ẩm và gió mùa hè nóng ẩm, dẫn đến việc khu vực này cấy được vụ lúa ít hơn so với các vùng khác.

Vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ nổi bật với hệ thống sông ngòi dày đặc, bao gồm các dòng sông lớn như sông Hồng, sông Thái Bình và sông Mã, cùng với nhiều mương máng tưới tiêu Khí hậu gió mùa với hai mùa khô và mưa ảnh hưởng đến thủy chế của các dòng sông, đặc biệt là sông Hồng, tạo ra hai mùa rõ rệt: mùa cạn với dòng chảy nhỏ và nước trong, và mùa lũ với dòng chảy lớn và nước đục Ngoài khơi, thủy triều vịnh Bắc Bộ diễn ra theo chế độ nhật triều, với một lần nước lên và một lần nước xuống mỗi ngày.

- Dân cư ở vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ khá đông đúc, cư dân ở đồng bằng Bắc

Bộ là cư dân chủ yếu sống bằng nghề trồng lúa nước và làm nông nghiệp thuần túy, trong khi nghề khai thác hải sản ở vùng châu thổ Bắc Bộ không phát triển mạnh Các làng ven biển chủ yếu hoạt động trong nông nghiệp, với một phần nhỏ tham gia đánh cá và làm muối Ngược lại, Bắc Bộ có nhiều sông ngòi, mương máng, tạo điều kiện cho người dân chài khai thác thủy sản từ ao, hồ, đầm Tuy nhiên, do đất đai hạn chế và dân số đông, bên cạnh nghề trồng lúa nước và nuôi trồng thủy sản, người nông dân còn tham gia vào các nghề thủ công Tại Bắc Bộ, đã có hàng trăm nghề thủ công, trong đó một số nghề như gốm, dệt, luyện kim và đúc đồng đã phát triển lâu đời.

Những người nông dân vùng châu thổ Bắc Bộ sống quần tụ thành làng, là đơn vị xã hội cơ sở của nông thôn Việt Nam Làng là kết quả của sự phát triển từ các công xã thị tộc nguyên thủy sang công xã nông thôn, và đã trở thành một tiểu xã hội trồng lúa nước Sự gắn bó giữa con người trong cộng đồng làng không chỉ dựa trên quan hệ sở hữu đất đai và di sản chung như đình làng, chùa làng, mà còn bao gồm các mối quan hệ tâm linh và chuẩn mực xã hội, đạo đức Các hương ước và khoán ước của làng xã đảm bảo cho sự bền vững của những quan hệ này.

*Đặc điểm vùng văn hóa Bắc Bộ:

Bắc Bộ là cái nôi của dân tộc Việt, nơi hình thành và phát triển các nền văn hóa lớn như Văn hóa Đông Sơn, văn hóa Đại Việt và văn hóa Việt Nam Sự lan tỏa của văn hóa Việt từ Bắc Bộ vào Trung Bộ và Nam Bộ chứng tỏ sức sống mãnh liệt và sự sáng tạo của người dân Việt Văn hóa châu thổ Bắc Bộ không chỉ mang những đặc trưng của văn hóa Việt mà còn có những nét riêng biệt của vùng này.

Trong suốt hàng ngàn năm, người dân Việt Nam đã chinh phục thiên nhiên qua việc đào mương, đắp bờ và xây đê, tạo nên diện mạo đặc trưng của đồng bằng Bắc Bộ ngày nay Nhà ở của người dân Bắc Bộ thường được thiết kế theo kiểu bến chác, vừa to đẹp vừa hòa hợp với cảnh quan xung quanh Ngoài ra, họ cũng trồng cây cối xung quanh nhà để tạo bóng mát, mang lại không gian sống thoải mái.

Bữa cơm gia đình của người dân vùng Bắc Bộ Việt Nam bao gồm các món cơm, rau, và cá, chủ yếu là cá nước ngọt Vào mùa đông, để thích ứng với khí hậu lạnh, bữa ăn sẽ có thêm thịt và mỡ nhằm giữ nhiệt cho cơ thể Khác với vùng Trung Bộ và Nam Bộ, các gia vị chua, cay ít xuất hiện trong bữa ăn của người dân Bắc Bộ.

Người dân Bắc Bộ chọn trang phục phù hợp với thiên nhiên, với màu nâu là chủ đạo trong trang phục đi làm Trong các lễ hội, phụ nữ thường mặc áo dài mớ ba, mớ bảy, trong khi nam giới chọn quần tráng, áo dài the và chít khăn đen Hiện nay, trang phục của người dân vùng châu thổ Bắc Bộ đã có nhiều sự thay đổi.

Vùng châu thổ Bắc Bộ nổi bật với nhiều di tích văn hóa quan trọng, không chỉ được biết đến trong nước mà còn nổi tiếng quốc tế Một số di tích tiêu biểu bao gồm Đền Hùng, khu vực Cổ Loa, Hoa Lư, Lam Sơn, Phố Hiến, Chùa Dâu, Chùa Hương, Chùa Tây Phương và Đình Tây Đằng.

Vùng châu thổ Bắc Bộ sở hữu kho tàng văn học dân gian phong phú và đa dạng, bao gồm nhiều thể loại như thần thoại, truyền thuyết, ca dao, tục ngữ, truyện cười và truyện trạng, mỗi thể loại đều mang những nét đặc trưng riêng của vùng đất này.

Các loại hình diễn xướng văn hóa dân gian vùng Bắc Bộ

Chầu văn, hay còn gọi là hát văn hoặc hát hầu đồng, là một loại hình nghệ thuật ca hát truyền thống của Việt Nam, gắn liền với nghi thức hầu đồng trong tín ngưỡng Tứ phủ (Đạo Mẫu) và thờ Đức Thánh Trần Đây là một hình thức lễ nhạc mang tính tâm linh, sử dụng âm nhạc và lời văn trang trọng, thể hiện ý nghĩa chầu thánh Hát văn có nguồn gốc từ vùng đồng bằng Bắc Bộ và hát cung đình ở Huế.

Nghi lễ hát chầu văn lên đồng có thể chia thành bốn phần chính:

2.Kể sự tích và công đức

Bài hát thường chấm dứt với câu: “Xe loan thánh giá hồi cung!”

Cung văn ngồi bên mé, trong khi đệ tử thánh ngồi trước bàn thờ, cùng với nhạc công và ban phụ họa Người phụ việc chuẩn bị khăn áo và lễ vật dâng cúng cho thánh nhập Chèo, loại hình nghệ thuật sân khấu cổ truyền Việt Nam, phát triển mạnh ở miền Bắc, đặc biệt là vùng châu thổ sông Hồng Chèo mang tính quần chúng, giàu tính dân tộc, với ngôn ngữ đa thanh, đa nghĩa và cách nói ví von tự sự, trữ tình.

Nghệ thuật sân khấu chèo đã có một lịch sử lâu dài từ thế kỉ 10, phản ánh bản sắc dân tộc Việt Nam với những giá trị như lạc quan, nhân ái và kiên cường trong bảo vệ tổ quốc Chèo bao gồm nhiều thể loại văn học phong phú như trữ tình, lãng mạn và sử thi, nổi bật hơn so với các loại hình nghệ thuật khác Trong khi đó, Quan họ Bắc Ninh được coi là đỉnh cao của nghệ thuật diễn xướng dân ca Việt Nam, thể hiện giá trị văn hóa Bắc Bộ qua ba hình thức hát chính: hát canh, hát thi và hát hội Những hình thức này yêu cầu kỹ năng âm thanh đặc trưng như “vang, rền, nền, nảy” và “tròn vành, rõ chữ”, đòi hỏi người hát phải có kỹ thuật mở khẩu hình và điều chỉnh hơi thở để tạo ra âm thanh nảy hạt.

Mỹ khi thăm Việt Nam đã nhận xét rằng cách ngân của hát quan họ là một phương pháp độc đáo và quý báu, khác biệt so với kỹ thuật ca hát phương Tây Cách ngân rung với những hạt nhỏ, tròn, đều đã làm tăng thêm tính chất trữ tình và duyên dáng của giai điệu, thể hiện sâu sắc cảm xúc của người quan họ Bên cạnh đó, hát xẩm, một loại hình dân ca phổ biến ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ, không chỉ là nghệ thuật mà còn là phương tiện kiếm sống của những người hát rong Nghệ nhân Hà Thị Cầu, được coi là người hát xẩm cuối cùng của thế kỷ XX, đã góp phần quan trọng trong việc bảo tồn nghệ thuật này, trong khi tỉnh Ninh Bình đang nỗ lực đệ trình UNESCO công nhận hát xẩm là di sản văn hóa thế giới cần được bảo vệ khẩn cấp.

Hát Xẩm, một hình thức nghệ thuật truyền thống, từng là phương tiện mưu sinh của những người nghèo và người khiếm thị, hiện nay đã được sân khấu hóa để phục vụ du khách Thể loại này thường được biểu diễn tại các chợ, đường phố và những nơi đông người qua lại, với đặc điểm ngẫu hứng, cho phép người biểu diễn sáng tác câu hát ngay trong lúc trình diễn.

Bộ nhạc cụ đơn giản nhất để hát xẩm bao gồm đàn nhị và sênh tiền, trong khi nhóm hát xẩm đông người có thể sử dụng thêm đàn bầu, trống mảnh và phách bàn Ngoài ra, đàn đáy, trống cơm, sáo và thanh la cũng thường xuất hiện trong hát xẩm Ca trù, hay còn gọi là hát cô đầu/hát nhà trò, là một loại hình diễn xướng âm nhạc thính phòng phổ biến tại Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam từ thế kỷ 15, từng được ưa chuộng trong cung đình và bởi giới quý tộc, trí thức Ca trù thể hiện sự kết hợp tinh tế giữa thi ca và âm nhạc.

Một chầu hát cần có ba thành phần chính:

1.Một nữ ca sĩ (gọi là “đào” hay “ca nương”) sử dụng bộ phách gõ lấy nhịp,

Một nhạc công nam giới, được gọi là “kép”, chơi đàn đáy để phụ họa cho tiếng hát Nhạc công này không chỉ đàn mà còn thể hiện các thể loại hát như hát sử và hát giai, kết hợp giữa việc đàn và hát một cách hài hòa.

3.Người thưởng ngoạn (gọi là “quan viên”, thường là tác giả bài hát) đánh trống chầu chấm câu và biểu lộ chỗ đắc ý bằng tiếng trống.

Ca trù là một loại hình nghệ thuật âm nhạc thính phòng với không gian trình diễn nhỏ, nơi đào hát ngồi ở giữa và kép cùng quan viên ngồi hai bên Khi bài hát được sáng tác và trình diễn ngay tại chỗ, nó được gọi là “tức tịch.” Ca trù kết hợp giữa thanh nhạc và khí nhạc, tạo nên một ngôn ngữ âm nhạc tinh tế Múa rối nước, một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian truyền thống, ra đời từ nền văn hóa lúa nước, đã phát triển từ yếu tố dân gian thành một nghệ thuật truyền thống đặc sắc của người Việt.

Nghệ thuật trò rối nước nổi bật với việc sử dụng mặt nước làm sân khấu, gọi là nhà rối hay thủy đình Phía sau sân khấu có phông che, hay còn gọi là tấm y môn, tạo không gian biểu diễn giống như ban thờ lớn ở Đình, Chùa của người Việt Xung quanh sân khấu được trang trí bằng cờ, quạt, voi, lọng và cổng hàng mã, tạo nên một không khí đặc sắc cho nghệ thuật này.

"Sân khấu" là những con rối gỗ được điều khiển bởi người phía sau phông qua hệ thống sào và dây Biểu diễn rối nước không thể thiếu âm thanh từ trống và pháo phụ trợ.

Trò rối nước là nghệ thuật kết hợp giữa động tác và âm nhạc, với nhạc rối nước thường sử dụng các làn điệu chèo hoặc dân ca đồng bằng Bắc Bộ, tạo nên không khí và nhịp điệu đặc trưng Hát xoan, một loại hình dân ca lễ nghi phong tục, được biểu diễn vào dịp đầu xuân tại vùng đất tổ Hùng Vương – Phú Thọ, đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp vào ngày 24/11/2011 Vào ngày 3/2/2018, tỉnh Phú Thọ đã tổ chức lễ đón bằng ghi danh hát Xoan là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại Trong mùa xuân, các phường xoan khai xuân tại đình, miếu làng, đặc biệt vào ngày mùng 5 âm lịch tại hội đền Hùng, nơi mỗi phường chọn vị trí cửa đình để biểu diễn, nhằm kết nghĩa giữa các làng.

TIỀM HIỂU QUAN HỌ BẮC NINH

QUAN HỌ BẮC NINH NGÀY NAY

Ngày đăng: 06/05/2023, 20:14

w