ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN Câu 1 Vấn đề cơ bản của triết học Theo Ăngghen, “vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, dặc biệt là triết học hiện đại là vấn đề quan hệ giữa tư duy và nhận thức. ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN Câu 1 Vấn đề cơ bản của triết học Theo Ăngghen, “vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, dặc biệt là triết học hiện đại là vấn đề quan hệ giữa tư duy và nhận thức.
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP
MÔN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
HÀ NỘI
Trang 2Câu 1: Vấn đề cơ bản của triết học
Theo Ăngghen, “vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, dặc biệt là triết học
hiện đại là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại” 1.
Sở dĩ vấn đề này được gọi là vấn đề cơ bản của triết học bởi lẽ:
- Thứ nhất, nó này sinh cùng với sự ra đời của triết học và tồn tại trong tất cả
các trường phái cho tới tận ngày nay
- Thứ hai, giải quyết vấn đề này là cơ sở để giải quyết tất cả các vấn đề triết
học khác còn lại và là tiêu chuẩn để xác định lập trường, thế giới quan của các nhàtriết học cũng như các học thuyết của họ
Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt:
Mặt thứ nhất: trả lời câu hỏi giữa vật chất và ý thức(tồn tại và tư duy), cái nào
có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?
Mặt thứ hai: trả lời cho câu hỏi: con người có khả năng nhận thức được thế
giới không?(ý thức có thể phản ánh được vật chất hay không?)
Vấn đề cơ bản của triết học MQH
Trang 3Sơ đồ: Vấn đề cơ bản của triết học
* Chủ nghĩa duy vật: cho rằng vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định
ý thức Các nhà duy vật thừa nhận khả năng nhận thức thế giới của con người
Sơ đồ: Chủ nghĩa duy vật
* Chủ nghĩa duy tâm: cho rằng ý thức có trước, vật chất có sau, ý thức quyết
định vật chất Đa số các nhà triết học duy tâm thừa nhận khả năng nhận thức thế giới của con người Một số nhà triết học duy tâm cho rằng con người không có khảnăng nhận thức được thế giới
CNDV
VC → YT
Các hình thức phát triển
Tư tưởng tiến bộ
Các phong trào CM
Các phong trào TB
(TK17-18)
DVBC (triết học Mác)
Trang 4Sơ đồ : Chủ nghĩa duy tâm
Các nhà triết học nào cho rằng, chỉ có vật chất là nguồn gốc duy nhất của thế
giới được gọi là nhất nguyên duy vật Những nhà triết học cho rằng chỉ có ý thức là nguồn gốc duy nhất của thế giới được gọi là nhất nguyên duy tâm Những nhà triết
học nào cho vật chất và ý thức đều là hai nguồn gốc song song tồn tại, không cáinào có trước cái nào, đồng thời là nguồn gốc tạo nên thế giới được gọi là những
nhà nhị nguyên.
-Sự đối lập giữa 2 phương pháp: biện chứng và siêu hình
Phương pháp siêu hình Phương pháp biện chứng
Vai trò của lao động trí óc Giai cấp thống trị
Trang 5* Nghiên cứu thế giới trong sự tách rời, cô lập * Nghiên cứu trong MLH tác động qua lại
* Nghiên cứu thế giới trong sự tĩnh lại bất biến * Nghiên cứu thế giới trong sự vận động,
biến đổi không ngừng
* Không thừa nhận xu hướng phát triển * Thừa nhận xu hướng phát triển
* Tìm nguyên nhân của mọi biến đổi (nếu có) từ bên
ngoài sự vật, hiện tượng
* Tìm nguyên nhân của mọi biến đổi từ chính trọng sự vật hiện tượng
* Được sử dụng khi nghiên cứu trong một phạm
vi hẹp (chất điểm) và thời gian ngắn (thời điểm)
* Trong phạm vi rộng -> Thấy mối liên hệ Thời gian dài -> Thấy sự vận động
Câu 2: Định nghĩa vật chất của Lênin?
- Thời kỳ cổ đại (một dạng, nhiều dạng, vô định(apeiron), nguyên tử).
- Thế kỷ XVII, khoa học tự nhiên phát triển dãn dến đồng nhất vật chất với
những thuộc tính cụ thể của nó (Đồng nhất vật chất với khối lượng Cơ học Niutơncoi khối lượng của vật thể là đặc trưng cơ bản và bất biến của vật chất.) Cơ họcNiutơn chi phối Triết học bị ảnh hưởng bởi phương pháp siêu hình
- Chủ nghĩa DVBC: C.Mác và Ph.Ăngghen đã kế thừa những giá trị tích cực,
đồng thời vạch ra những hạn chế trong quan niệm về vật chất của các nhà duy vậttrước đó, đồng thời các ông đã tổng kết những thành tựu của khoa học hiện đại,khái quát thành một quan niệm khoa học về vật chất Các ông nêu lên quan niệm
về sự đối lập giữa vật chất và ý thức, về tính thống nhất vật chất thế giới, về những
dạng tồn tại cụ thể của nó Ph.Ăngghen nhấn mạnh rằng cần phân biệt tồn tại
khách quan của vật chất và khái niệm về vật chất Vật chất với tư cách là một phạm trù triết học không tồn tại cảm tính Khác với các đối tượng vật chất cụ thể, những từ như "vật chất" và "vận động" chỉ là những sự tóm tắt, trong đó chúng ta tập hợp theo những thuộc tính chung của chúng rất nhiều sự vật khác nhau có thể cảm biết được bằng các giác quan" ( 1)
(1) C.Mác - Ph.Ăngghen: TT, Nxb CTQG, H, 1994, t 20, tr 727
Trang 6Ph.Ăngghen phê phán quan điểm đem quy vật chất về nguyên tử, về nhữnghạt nhỏ đồng nhất, hoàn toàn giống nhau về chất, chỉ khác nhau về số lượng Ôngcoi quan niệm đó là siêu hình, mang tính cơ giới Qua đó, ông đã nêu lên tính vôhạn và vô tận, tính không thể sáng tạo và không thể tiêu diệt được của vật chất vàcác hình thức tồn tại của nó là vận động, không gian và thời gian Tuy C.Mác vàPh.Ăngghen chưa đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về vật chất, nhưng những tưtưởng về vật chất của các ông đã có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển củakhoa học thời bấy giờ Nó là cơ sở trực tiếp để Lênin phát triển học thuyết duy vậtbiện chứng về vật chất sau này
+ V.I.Lênin đã rất chú ý phạm trù "vật chất" và học thuyết về vật chất nóichung Vì đó là điều cần thiết để phát triển triết học duy vật và giải quyết nhữngvấn đề thực tiễn của cuộc đấu tranh cách mạng
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, trên thế giới đã diễn ra cuộc cách mạngtrong khoa học tự nhiên, nó được đánh dấu bằng một loạt phát minh quan trọng:Năm 1895, Rơnghen phát hiện ra tia X
Năm 1896, Béccơren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ của một số nguyên tốhoá học
Năm 1897, Tômsơn tìm ra điện tử (electron)
Năm 1901, Kaufman xác định sự phụ thuộc của khối lượng các hạt vào tốc độvận động của chúng …
Những phát hiện đó của vật lý học đã chứng minh rằng nguyên tử có cấu trúcphức tạp, có thể phân chia được, có thể phá huỷ và chuyển hoá
Những phát hiện khoa học đó là bước tiến của loài người trong việc nhận thứcgiới tự nhiên, đồng thời cũng đối lập với những quan niệm máy móc, siêu hìnhđang thống trị trong khoa học thời bấy giờ Trước những phát hiện mới đó của vật
lý học, các nhà triết học duy tâm và cả một số nhà khoa học, đặc biệt trong lĩnhvực vật lý học, những người chỉ “giỏi về khoa học, nhưng kém cỏi về triết học” đãgiải thích sai lầm hoặc xuyên tạc những phát minh ấy Họ cho rằng, “vật chất đã
Trang 7tiêu tan” Theo họ vật chất đã biến mất hoặc vật chất thực sự không tồn tại xơn (1857-1936), nhà toán học, nhà sinh vật học và nhà triết học duy tâm ngườiAnh đã công kích khái niệm vật chất và tuyên bố vật chất là hư vô Trước đấy,E.Makhơ, nhà triết học, nhà vật lý học người áo đã từng khẳng định “Cảm giáckhông phải là “những tượng trưng của vật” Ngược lại, “vật” là một tượng trưng tưtưởng của một phức hợp cảm giác có một tính ổn định tương đối Đầu thế kỷ XXphái Makhơ lại mưu toan lợi dụng những phát minh mới nhất của khoa học tựnhiên để củng cố triết học duy tâm, bác bỏ hoàn toàn chủ nghĩa duy vật.
C.Piếc-Trước tình hình đó, V.I.Lênin đã tiến hành phê phán một cách toàn diện chủnghĩa duy tâm, đặc biệt là chủ nghĩa duy tâm chủ quan đang thịnh hành đầu thế kỷXX; vạch ra nguyên nhân của cuộc “khủng hoảng vật lý”, và vạch ra lối thoat chocuộc khủng hoảng đó; qua đó Lênin làm giàu thêm lý luận nhận thức mácxít
V.I.Lê-nin đã khẳng định, chính những phát minh mới của khoa học tự nhiênkhông bác bỏ mà còn xác minh tính đúng đắn của chủ nghĩa duy vật biện chứng,chứng minh sự tồn tại khách quan và vô tận của thế giới vật chất(1)
Lênin nhận xét: “ Thực chất của cuộc khủng hoảng vật lý học hiện đại là ở sựđảo lộn của những quy luật cũ và những nguyên lý cơ bản, ở sự gạt bỏ thực tạikhách quan ở bên ngoài ý thức, tức là sự thay thế chủ nghĩa duy vật bằng chủ nghĩaduy tâm và chủ nghĩa bất khả tri “Vật chất tiêu tan”, - người ta có thể dùng câu nói
đó để diễn đạt cấi khó khăn cơ bản và điển hình đối với nhiều vấn đề riêng biệt,khó khăn đã gây ra cuộc khủng hoảng ấy”(tập 18, tr.318)
Lênin đã chỉ ra con đường để các nhà khoa học thoát khỏi cuộc khủng hoảngvật lý là phải thay chủ nghĩa duy vật siêu hình bằng chủ nghĩa duy vật biện chứng.Lênin nhấn mạnh, sự phân nhỏ của nguyên tử, sự biến đổi của mọi hình thức vậtchất và sự vận động của nó là điều khẳng định tính đúng đắn của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng Mọi giới hạn trong tự nhiên đều chỉ là tương đối, có điều kiện, đều vậnđộng; cũng giống như thế giới khách quan, tri thức của chúng ta về nó luôn biến(1) V.I.Lê-nin: TT, Nxb TB, M, 1980, t.18, tr 36-37,
Trang 8đổi, phát triển Vật chất không biến mất và không bao giờ biến mất Lênin nhấnmạnh rằng, những phát hiện của con người về những bí mật của giới tự nhiên đãlàm tăng thêm sự hiểu biết của con người về giới tự nhiên, nhưng điều đó không cónghĩa là giới tự nhiên là sản phẩm của trí ruệ con người như những nhà triết họcduy tâm và những người theo chủ nghĩa Makhơ thường khẳng định Sự phát triểncủa khoa học tự nhiên không chứng tỏ vật chất biến mất, mà chỉ chứng tỏ cái giớihạn nhận thức của con người về vật chất mà thôi, vì nhận thức của chúng ta luônluôn phát triển sâu sắc thêm, nhận thức của chúng ta về những thuộc tính của vậtchất là tương đối và biến đổi.
Trên cơ sở đó, V.I.Lê-nin đã đưa ra định nghĩa khái quát về vật chất:
“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” (2)
* Trước hết, cần phân biệt vật chất với tư cách là phạm trù triết học với các
quan niệm của khoa học tự nhiên về cấu tạo và những thuộc tính cụ thể của các đốitượng, các dạng vật chất khác nhau Các đối tượng vật chất cụ thể đều có giới hạn,
có sinh ra và mất đi, chuyển hoá thành cái khác, còn vật chất nói chung thì vô hạn
và vô tận, không sinh ra và mất đi Vì vậy, không thể qui vật chất về một dạng cụthể duy nhất nào đó của vật chất
* Phương pháp định nghĩa: không dùng phương pháp thông thường là đem khái niệm cần định nghĩa vào khái niệm rộng hơn mà phải dùng phương pháp đặc biệt là đem đối lập phạm trù vật chất với phạm trù vật chất – phạm trù rộng tương đương, từ đó chỉ ra những đặc tính của phạm trù vật chất.
* Thuộc tính chung của vật chất là “thực tại khách quan” ở ngoài và độc lập với ý thức con người.
Thế giới vật chất tồn tại dưới dạng các sự vật cụ thể, hiện tượng cụ thể rất
phong phú, vô cùng, vô tận, và chúng có vô vàn các thuộc tính, nhưng “thực tại
(2) V.I.Lê-nin: TT, Nxb TB, M, 1977.t.18, tr 151
Trang 9khách quan” tức sự tồn tại ở ngoài và độc lập với ý thức của con người được
V.I.Lênin coi là “thuộc tính duy nhất” để phân biệt cái là vật chất và cái không
phải vật chất
Ngày nay, khoa học ngày càng đi sâu khám phá những bí mật của thế giới vậtchất, càng phát hiện thêm những dạng hạt, phản hạt, các loại trường với những kếtcấu và thuộc tính mới lạ đối với con người Điều đó thể hiện sự tồn tại khách quancủa thế giới vật chất với tính đa dạng của nó Khoa học ngày càng phát triển, càngkhẳng định quan niệm duy vật biện chứng về vật chất là đúng đắn, và do đó, chủnghĩa duy vật biện chứng trở thành thế giới quan và phương pháp luận của cáckhoa học hiện đại, kể cả trong điều kiện đổi mới tư duy hiện nay
Định nghĩa của Lênin về vật chất đã bao quát toàn bộ hiện thực - cả tự nhiên
và cả trong xã hội Điều đó hết sức quan trọng để hiểu đúng vật chất xã hội là dạng
vật chất không tồn tại dưới dạng vật thể Chẳng hạn, các quan hệ sản xuất là cótính vật chất, mặc dù ở đây không hề có một nguyên tử vật chất nào
* Ngoài dấu hiệu tồn tại khách quan, vật chất còn có một dấu hiệu quan trọng
khác là tính có thể nhận thức được Vật chất không phải tồn tại một cách thần bí,
vô hình mà tồn tại một cách hiện thực Tồn tại vật chất là tồn tại dưới dạng các sựvật, hiện tượng cảm tính, tức dưới dạng cụ thể mà giác quan con người có thể nhận
thức một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Vì vậy, vật chất mang tính khách thể và về
nguyên tắc, mọi dạng vật chất đều có thể nhận thức.
Vật chất “được đem lại cho con người trong cảm giác”, nó là nguồn gốc,nguyên nhân của cảm giác, của ý thức, nó có trước ý thức và tạo nên nội dung của
ý thức Còn cảm giác hay ý thức chỉ là sự “chép lại, chụp lại, phản ánh”, nó có sau
so với vật chất Rõ ràng vật chất là tính thư nhất, ý thức là tính thứ hai, vật chấtquyết định ý thức
* Ý nghĩa của định nghĩa vật chất.
Trang 10Như vậy, quan niệm duy vật biện chứng về vật chất đã được thể hiện tậptrung ở định nghĩa vật chất của V.I.Lênin Điều đó có ý nghĩa thế giới quan vàphương pháp luận quan trọng để:
+ Khắc phục những cuộc khủng hoảng trong khoa học, khắc phục tính trựcquan, siêu hình, máy móc trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật cũ,phát triển chủ nghĩa duy vật lên một trình độ mới thành chủ nghĩa duy vật biệnchứng, tạo cơ sở khoa học cho quan niệm duy vật trong lĩnh vực xã hội đó là chủnghĩa duy vật lịch sử; đồng thời tạo cơ sở cho sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vậtbiện chứng với chủ nghĩa duy vật lịch sử
+ Đấu tranh có kết quả chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa duy tâm, thuyếtkhông thể biết
+ Cổ vũ các nhà khoa học đi sâu nghiên cứu thế giới vật chất, tìm ra ngàycàng nhiều những thuộc tính mới, kết cấu mới của vật chất, không ngừng làmphong phú tri thức của con người về thế giới
Câu 3: Phân tích nguồn gốc, bản chất của ý thức ? Phân biệt hoạt động
có ý thức của con người với hoạt động của “người máy” và hoạt động bản năng của động vật?
1 Nguồn gốc của ý thức
1.1 Nguồn gốc của tự nhiên
Nguồn gốc, bản chất và vai trò của ý thức là một trong những vấn đề phức tạpcủa triết học, là một trong những nội dung của cuộc đấu tranh gay gắt giữa chủnghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Nhờ những thành tựu của khoa học trong cácthời kỳ lịch sử và của hoạt động thực tiễn xã hội mà vấn đề này ngày càng đượclàm sáng tỏ
Chủ nghĩa duy tâm quan niệm ý thức là một thực thể độc lập, siêu tự nhiên,không phụ thuộc vào vật chất, có trước vật chất và sáng tạo ra thế giới vật chất ởcác học thuyết triết học duy tâm khác nhau, quan niệm về ý thức cũng không hoàn
Trang 11toàn giống nhau Nhưng sự giống nhau của các học thuyết này là ở chỗ đều coi ýthức là điểm xuất phát, sinh ra giới tự nhiên.
Chủ nghĩa duy vật trước Mác đã chỉ ra mối liên hệ khăng khít giữa ý thức vớivật chất, không thừa nhận tính siêu tự nhiên của ý thức và khẳng định ý thức cónguồn gốc từ vật chất Nhiều nhà khoa học trước Mác đã có đóng góp đáng kể
trong việc chứng minh sự phụ thuộc của ý thức vào vật chất
Một số nhà duy vật khác lại cho ý thức là thuộc tính phổ biến của mọi đốitượng vật chất Theo họ, mọi đối tượng vật chất sống đều có ý thức
Dựa trên những thành tựu khoa học, nhất là sinh lý học thần kinh, chủ nghĩaduy vật biện chứng cho rằng ý thức là một thuộc tính của vật chất, nhưng không
phải của mọi dạng vật chất, mà chỉ là thuộc tính của dạng vật chất sống có tổ chức
cao là bộ óc người Bộ óc người là cơ quan vật chất của ý thức ý thức là chức
năng của bộ óc người Hoạt động ý thức chỉ diễn ra trên cơ sở của hoạt động sinh
lý thần kinh trong bộ óc người Không có quá trình này thì không thể có ý thức, vànói chung không có bất kỳ một hoạt động tâm lý, ý thức, tư tưởng nào.Mặc dù vậy,không thể quy hoạt động ý thức về các quá trình sinh lý thần kinh của bộ óc ngườimột cách đơn giản
Bộ óc người hiện đại là sản phẩm của quá trình tiến hoá lâu dài về mặt sinhvật - xã hội, sau quá trình vượn chuyển thành người, óc vượn chuyển thành ócngười Bộ óc người là một thực thể vật chất đặc biệt, có cấu trúc tinh vi, phức tạp,bao gồm hàng tỷ tế bào thần kinh Bộ óc và đặc biệt là vỏ đại não được phân chiathành các vùng điều khiển toàn bộ hoạt động của con người và là nơi diễn ra cácquá trình sinh lý thần kinh làm cơ sở cho sự hình thành ý thức
Quá trình sản sinh ra ý thức trong bộ óc người không đồng nhất, nhưng cũngkhông tách rời, độc lập hoặc song song với quá trình sinh lý thần kinh Đây là haimặt của một quá trình, quá trình sinh lý thần kinh diễn ra trong óc người mang nộidung ý thức, tương tự như tín hiệu vật chất mang nội dung thông tin
Trang 12Ngày nay, những thành tựu của cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đãtạo ra những máy móc có thể thay thế một phần lao động trí óc của con người,thậm chí có những phần việc làm nhanh và chính xác hơn con người Song như thếkhông có nghĩa máy móc có ý thức như con người Máy móc không thể thay thếhoạt động trí tuệ con người, vì máy móc cũng do con người tạo ra Máy móc khôngthể sáng tạo lại hiện thực dưới dạng tinh thần trong bản thân nó như con người,máy móc chỉ hoạt động theo những qui trình mà con người sắp đặt Chỉ có conngười với bộ óc của mình mới sản sinh ra ý thức.
Tuy nhiên, ý thức không chỉ có nguồn gốc từ bộ óc người mà ý thức còn cónguồn gốc từ thuộc tính phản ánh của vật chất
Phản ánh là thuộc tính chung, phổ biến của mọi đối tượng vật chất Thuộc
tính này được biểu hiện ra trong sự tác động qua lại giữa các đối tượng vật chất với
nhau Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của một hệ thống vật chất này ở hệ
thống vật chất khác trong qúa trình tương tác của chúng Kết quả của sự phản ánh
phụ thuộc vào vật tác động và vật nhận tác động, đồng thời bao hàm quá trình
thông tin, nghĩa là vật bị tác động bao giờ cũng mang thông tin của vật tác động.
Thuộc tính phản ánh của vật chất có quá trình phát triển lâu dài từ thấp đếncao, từ đơn giản đến phức tạp Mỗi quá trình phát triển của vật chất có một hình
thức phản ánh tương ứng Trong giới tự nhiên vô sinh có hình thức phản ánh vật
lý, hoá học Những hình thức phản ánh này còn mang tính thụ động, chưa có sự
định hướng, lựa chọn Tương ứng với giới tự nhiên hữu sinh là hình thức phản ánh
sinh học Phản ánh sinh học đã có sự lựa chọn định hướng, nhờ đó mà các sinh vật
thích nghi với môi trường, duy trì sự tồn tại của mình Phản ánh sinh học được thểhiện ở sự thích ứng diễn ra giữa cơ thể với môi trường bên ngoài của các loài thực
vật, ở hình thức; phản xạ của các loài động vật có hệ thần kinh và tâm lý ở động vật có hệ thần kinh trung ương (não bộ và tuỷ sống) Tâm lý động vật là trình độ
phản ánh cao nhất ở động vật Song, tâm lý động vật chưa phải là ý thức, vì nó còn
bị các qui luật sinh học chi phối ý thức chỉ ra đời ở giai đoạn phát triển cao của vật
Trang 13chất Bộ óc người là dạng vật chất phát triển cao, là cơ quan phản ánh Chỉ có sựphản ánh của bộ óc người về thế giới khách quan mới là cơ sở để hình thành ýthức Ý thức bắt nguồn từ thuộc tính phản ánh của vật chất, là kết qủa phát triển lâudài của thuộc tính phản ánh của vật chất, nó mang nội dung thông tin về thế giới
khách quan về các đối tượng khách quan, về vật được phản ánh Ý thức là sự phản
ánh thế giới khách quan vào đầu óc con người Bộ óc người là cơ quan phản ánh,
song chỉ có bộ óc thôi thì chưa thể có ý thức Không có sự tác động của thế giớibên ngoài lên các giác quan và qua đó đến bộ óc thì hoạt động ý thức không thểxảy ra
1.2 Nguồn gốc xã hội của ý thức.
- Sự ra đời của bộ não người cũng như sự hình thành con người và xã hội loàingười nhờ hoạt động lao động và giao tiếp xã hội bằng ngôn ngữ
+ Lao động là hoạt động đặc thù của con người, làm cho con người và xã hộiloài người khác hoàn toàn với các động vật khác
+ Trong quá trình lao động, con người biết chế tạo ra các công cụ lao độngqua đó tác động vào giới tự nhiên làm giới tự nhiên bộc lộ ra những thuộc tính của
nó Thông qua quá trình này con người ngày càng nắm bắt sâu sắc hơn nhữngthuộc tính về giới tự nhiên, nhờ đó con người ngày càng hoàn thiện khả năng tưduy, làm cho bộ não ngày càng phát triển
+ Trong quá trình hoạt động của con người, ngay từ đầu đã có sự liên kếtnhững thành viên xã hội bởi những mục đích chung và từ đó xuất hiện nhu cầugiao tiếp - trao đổi kinh nghiệm với nhau Chính những nhu cầu khách quan nàylàm xuất hiện ngôn ngữ Ngôn ngữ bắt nguồn từ lao động và cùng phát triển vớilao động Đó là cách giải thích duy nhất đúng về nguồn gốc của ngôn ngữ(1)
Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức, là "vỏ vật chất"
của tư duy, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng Không có ngôn ngữ thì ý thứckhông thể tồn tại và phát triển được Ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp, vừa là(1) C.Mác - Ph.Ăngghen TT, Nxb CTQG, H, 1994, t 20, tr.645
Trang 14công cụ của tư duy Nhờ ngôn ngữ mà con người có khả năng trừu tượng hoá vàkhái quát hoá, có thể truyền những kinh nghiệm của người này cho người khác, thế
hệ này cho thế hệ khác và do đó mà ý thức phát triển Ph.Ăngghen coi lao động và
đồng thời với lao động là ngôn ngữ là "hai sức kích thích chủ yếu" làm chuyển biến bộ óc vượn thành óc người, tâm lý động vật thành ý thức con người (1)
- Như vậy, nguồn gốc trực tiếp và có ý nghĩa quyết định sự ra đời của ý thức
là nguồn gốc xã hội và ý thức là một hiện tượng xã hội, đó không phải hiện tượng
tự nhiên
2 Bản chất của ý thức
Do chịu ảnh hưởng của quan điểm siêu hình, nhiều nhà duy vật trước Mác đãcoi ý thức là sự phản ánh thụ động, giản đơn máy móc Họ không thấy được tínhnăng động, sáng tạo, tính biện chứng của quá trình phản ánh Còn chủ nghĩa duytâm thì cường điệu tính năng động của ý thức, tuyệt đối hóa vai trò của ý thức đếnmức coi ý thức sinh ra vật chất Cả hai quan điểm trên đây đều sai lầm
Chủ nghĩa duy vật mácxít cho rằng:
- Ý thức là sự phản ánh sáng tạo hiện thực khách quan của bộ óc con người, thông qua hoạt động thực tiễn.
Để hiểu đúng đắn bản chất của ý thức, trước hết phải thừa nhận ý thức là cáiphản ánh, còn vật chất là cái được phản ánh Cái được phản ánh tồn tại khách quan
ở bên ngoài và độc lập với cái phản ánh Vì vậy, không được đồng nhất hoặc táchrời giữa vật chất và ý thức ý thức là cái phản ánh thế giới khách quan, là hình ảnhphi cảm tính của các đối tượng vật chất tồn tại cảm tính Ý thức lấy hiện thựckhách quan làm tiền đề nhưng như mọi sự phản ánh, bị chi phối cả cái phản ánh lẫncái bị phản ánh
+ Ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan của bộ óc con người nhưng bộ óccon người là một thực thể vật chất có tổ chức cao nhất, vì vậy sự phản ánh nàykhông phải là sự phản ánh thụ động, giản đơn Là sản phẩm của quá trình phát triển((1) C.Mác - Ph.Ăngghen TT, Nxb CTQG, H, 1994, t 29, tr.647
Trang 15vật chất lâu dài, đồng thời cũng là sản phẩm của lịch sử xã hội loài người, bộ óc cókhả năng phản ánh ngày càng linh loạt, sáng tạo.
+ Tính sáng tạo của ý thức là sự sáng tạo của sự phản ánh Điều đó thể hiệntrước hết ở khả năng phản ánh có chọn lọc của con người Xuất phát từ nhu cầucủa thực tiễn, của đời sống xã hội nói chung, sự phản ánh của ý thức bao giờ cũngtập trung vào những cái cơ bản chính yếu tuỳ theo nhu cầu của chủ thể phản ánh
Sự sáng tạo của ý thức không đối lập, không loại trừ, tách rời sự phản ánh, mà luônthống nhất với phản ánh, trên cơ sở của phản ánh Phản ánh và sáng tạo là hai mặtthuộc bản chất của ý thức Chính thực tiễn xã hội tạo nên sự năng động, sáng tạonày
+ Tính sáng tạo của ý thức còn thể hiện ở khả năng dự báo về tương lai, ở sựtái tạo những hình ảnh của thế giới hiện thực trên cơ sở những quy luật vốn có của
nó hoặc những tiền đề về vật chất đã có Sự phản ánh của ý thức là sự phản ánh đặcbiệt, phản ánh trong quá trình con người nhận thức và cải tạo thế giới Quá trình ýthức là quá trình trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh, mang tínhhai chiều, định hướng và chọn lọc các thông tin; là qúa trình mô hình hoá đốitượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần, là quá trình sáng tạo lại hiện thựctrong tư duy, mã hoá các đối tượng vật chất thành các ý tưởng tinh thần
- Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan
+ Là hình ảnh của thế giới khách quan nhưng ý thức không phải là hình ảnhvật lý hay hình ảnh tâm lý động vật về sự vật, mà là hình ảnh tinh thần của conngười trong quá trình “chép lại, chụp lai, phản ánh” thế giới khách quan TheoMác, ý thức “chẳng qua chỉ là vật chất được di chuyển vào trong đầu óc con người
và được cải biến đi ở trong đó”
+ Ý thức là hình ảnh chủ quan vì ý thức bao giờ cũng là ý thức của con người.Mỗi con người đều tồn tại trong một xã hội nhất định Ý thức phát triển tuỳ thuộcvào sự phát triển của xã hội, vì vậy, ý thức bao giờ cũng có bản chất xã hội
Trang 16Câu 4: Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức Ý nghĩa?
a) Vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức.
- Vật chất có trước, ý thức có sau Vật chất tồn tại khách quan độc lập với ýthức, sinh ra ý thức
- Ý thức là sự phản ánh thê sgiới vật chất vào bộ não con người, là hình ảnhchủ quan của thế giới khách quan
b) Ý thức có tính độc lập tương đối, tác động trờ lại vật chất.
- ý thức có tính độc lập tương đối so với vật chất, có tính ănng động, sáng tạonên có thể tác động trờ lại vật chất, góp phần cải biến thế giới vật chất
- ý thức tác động theo cả hướng tích cực và tiêu cực í thức phản ánh đúnghiện thực khách quan thì có tác dụng thúc đẩy và ngược lại
- Sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động của conngười
- Tuy nhiên, xét đến cùng, ý thức vẫn phải phụ thuộc vào thế giới vật chất vàcác điều kiện khách quan
c) ý nghĩa phương pháp luận
- Quán triệt nguyên tắc khách quan trọng nhận thức và hành động Nguyên tắcnày đòi hỏi phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng, hành động theo quyluật khách quan Không lấy ý m,uốn chủ quan để xây dựng, hoạch định chính sáchphát triển kinh tế - xã hội… Cần tránh thái độ chủ quan, duy ý chí, nóng vội, địnhkiến, không trung thực
- Phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tốcon người Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần phải nâng cao trình độ trithức, bồi dưỡng, rèn luyện tư duy trí tuệ, trình độ lý luận… Chống thái độ ỷ lại,bảo thủ trì trệ…
- Khắc phục, ngăn ngừa bệnh chủ quan duy ý chí Đó là lối suy nghĩ và hànhđộng gảin đơn, nóng vội theo nguyện vọng chủ quan Để khắc phục phải nâng caotrình độ tư duy lý luận cho con người
Trang 17Câu 5: Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển.
I NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN
1 Khái niệm mối liên hệ
Liên hệ là phạm trù triết học chỉ sự quy định, sự tác động qua lại lẫn nhau,
sự phụ thuộc lẫn nhau, sự ảnh hưởng, sự tương tás và chuyển hoá lẫn nhau giữacác sự vật, hiện tượng trong thế giới hay giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tínhcủa một sự vật, hiện tượng, một quá trình
Liên hệ phổ biến là khái niệm nói lên rằng mọi sự vật, hiện tượng trong thế
giới (cả tự nhiên, xã hội và tư duy) dù đa dạng phong phú, nhưng đều nằm trongmối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác; đều chịu sự chi phối, tác động ảnhhưởng của các sự vật, hiện tượng khác
Cơ sở của mối liên hệ phổ biến là tính thống nhất vật chất của thế giới.
Chúng ta đều rõ, dù các sự vật trong thế giới đa dạng đến đâu chăng nữa thì cũngchỉ là những hình thức tồn tại cụ thể của vật chất Cho nên, chung đều chịu sự chiphối của quy luật vật chất Ngay cả ý thức, tinh thần cũng chỉ là thuộc tính củamột dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người Do vậy, ý thức tinh thần cũng bịchi phối bởi quy luật vật chất
2 Các tính chất của mối liên hệ
Theo triết học duy vật biện chứng, mối liên hệ có các tính chất sau:
Tính khách quan- nghĩa là mối liên hệ không phụ thuộc vào ý muốn chủ
quan của con người, chỉ phụ thuộc vào bản thân sự vật, hiện tượng Mối liên hệ làmối liên hệ vốn có của bản thân sự vật, hiện tượng
Tính phổ biến- nghĩa là mối liên hệ tồn tại cả trong tự nhiên, xã hội và tư
duy; có ở mọi lúc, mọi nơi Ngay trong cùng một sự vật, trong bất kỳ thời gian nào,không gian nào luôn có mối liên hệ giữa các yếu tố cấu thành sự vật
Trang 18Tính đa dạng, phong phú – rất nhiều mối liên hệ khác nhau phụ thuộc vào
góc độ xem xét: chẳng hạn, mối liên hệ bên trong – bên ngoài mối liên hệ tất yếu –ngẫu nhiên; mối liên hệ trực tiếp – gián tiếp; mối liên hệ chủ yếu – thứ yếu, mốiliên hệ xa – gần Mỗi cặp mối liên hệ này có vai trò khác nhau trong quá trình vậnđộng, phát triển của sự vật, hiện tượng Sự phân chia các cặp mối liên hệ này cũngchỉ là tương đối Ví dụ, mối liên hệ này trong quan hệ này được coi là mối liên hệbên trong nhưng trong quan hệ khác lại được coi là mối liên hệ bên ngoài
3 Ý nghĩa phương pháp luận
Nghiên cứu mối liên hệ phổ biến cho ta ý nghĩa phương pháp luận sau:
- Nguyên lý về mối liên hệ là cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện trong nhận thức và hoạt động thực tiễn Quan điểm toàn diện đòi hỏi:
+ Khi nhận thức sự vật phải nhận thức trong mmm với các sự vật, hiệntượng khác; trong mối liên hệ giữa các mặt, các yếu tố của bản thân sự vật đó
+ Để cải tạo sự vật trên thực tế phải sử dụng đồng bộ nhiều giải pháp
+ Phải biết phân loại đúng các mối liên hệ, trên cơ sở đó nhận thức đúng vàgiải quyết để thúc đẩy sự vật tiến lên
+ Chống lại quan điểm chiết trung – lắp ghép một cách máy móc vô nguyêntắc những cái trái ngược nhau vào làm một; chống lại nguỵ biện – một kiểu đánhtráo các mối liên hệ một cách có ý thức, có chủ định
- Vì các mối liên hệ có tính đa dạng, phong phú cho nên trong hoạt độngnhận thức và thực tiễn phải tôn trọng quan điểm lịch sử – cụ thể Khi nhận thức sựvật thì phải xem xét sự vật luôn trong điều kiện, hoàn cảnh, không gian, thời gian
cụ thể Phải xem xét sự vật ra đời trong hoàn cảnh nào? Nó tồn tại, vận động, pháttriển trong những điều kiện nào? Trong hoạt động thực tiễn khả năng giải quyếtvấn đề thực tiễn nào phải có những biện pháp rất cụ thể, không được chung chung.Khi vận dụng những nguyên lý, lý luận chung vào thực tiễn phải xuất phát từ
Trang 19những điều kiện thực tiễn lịch sử – cụ thể Quan điểm lịch sử – cụ thể chống lại
quan điểm giáo điều Như vậy, chính quan điểm triết học Mác-Lênin về mối liên hệ
phổ biến là cơ sở lý luận của quan điểm lịch sử – cụ th.
- Chống lại quan điểm phiến diện, một chiều trong nhận thức cũng như tronghành động
- Quan điểm toàn diện đòi hỏi không được bình quân, dàn đều khi xem xét
sự vật mà phải có trọng tâm, trọng điểm
II NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN
1 Khái niệm phát triển
Theo triết học duy vật biện chứng, phát triển là một phạm trù triết học chỉkhái quát quá trình vận động tiến lên từ thấp lên cao, từ kém hoàn thiện đến hoànthiện hơn của sự vật Nguồn gốc của s phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật
Đó là mâu thuẫn trong bản thân sự vật Quá trình giải quyết liên tục những mâuthuẫn đó quy định sự vận động, phát triển của sự vật
2 Tính chất của sự phát triển
Phát triển mang tính khách quan, nghĩa là phát triển của sự vật là tự thân,
nguồn gốc của phát triển nằm ngay trong sự vật, không phụ thuộc vào ý muốn chủquan của con người, chỉ phụ thuộc vào mâu thuẫn bên trong sự vật
Phát triển mang tính phổ biến Phát triển diễn ra cả trong tự nhiên, xã hội và
tư duy, diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi
Phát triển mang tính đa dạng, phong phú, tức là tuỳ thuộc vào hình thức tồn
tại cụ thể của các dạng vật chất mà phát triển diễn ra cụ thể khác nhau Chẳng hạn,
ở thế giới hữu cơ, phát triển thể hiện ở sự tăng cường khả năng thích nghi của cơthể trước môi trường; ở khả năng tự sản sinh ra chính mình với trình độ ngày cànghoàn thiện hơn
Trang 20Trong xã hội, phát triển thể hiện ở khả năng chinh phục tự nhiên, cải tạo xã
hội phục vụ con người
Trong tư duy, phát triển thể hiện ở việc nhận thức vấn đề gì đó ngày càng
đầy đủ, đúng đắn hơn
3 Ý nghĩa phương pháp luận
Từ nguyên lý về sự phát triển rút ra những ý nghĩa phương pháp luận sau:
- Khi nhận thức sự vật phải nhận thức nó trong sự vận động, phát triển,không nhìn nhận sự vật đứng im, chết cứng, không vận động, không phát triển
- Quan điểm phát triển đòi hỏi phải chống lại quan điểm bảo thủ, trì trệ, ngạikhó, ngại đổi mới, dễ bằng lòng với thực tại
- Nhận thức sự vật phải thấy được khuynh hưóng phát triển của nó, để cónhững phương án dự phòng Có như vậy con người mới chủ động trong hoạt độngtránh bớt được vấp váp, rủi ro; nghĩa là, con người sẽ chủ động, tự giác hơn tronghoạt động thực tiễn
- Phát triển là khó khăn, phức tạp Vì vậy, trong nhận thức cũng như hoạtđộng thực tiễn khi gặp khó khăn, thất bại tạm thời phải bình tĩnh, tin tưởng vàotương lai Như vậy, quan điểm triết học Mác-Lênin về phát triển là cơ sở lý luậncủa quan điểm phát triển
Câu 6: Qui luật chuyển hoá từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại?
1 Về phạm trù chất và lượng.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng:
Chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính qui định khách quan vốn có
của sự vật, là sự thống nhất hữu cơ của các thuộc tính để phân biệt sự vật này với
sự vật khác
Trang 21Cần thấy rõ thuộc tính là cái để nhận biết chất, xác định chất, còn chất lạiđược tạo thành từ kết cấu của sự vật Trước hết, chất được tạo bởi các nhân tố tạothành vật Vật được tạo thành bởi các nhân tố khác nhau thì chúng có chất khácnhau Chẳng hạn sự kết hợp giữa hyđrô và ôxy (H2O) tạo thành chất nước, nhưng
sự kết hợp giữa canxi và ôxy (CaO) lại tạo thành vôi sống
Khi nói đến chất của sự vật còn phải nhận thấy mỗi vật không phải chỉ có mộtchất mà nó có thể có nhiều chất Bởi vì, mỗi sự vật đều có nhiều thuộc tính và mỗithuộc tính lại có thể đặc trưng cho một chất Chẳng hạn NaCl có thể gọi là chấtmuối, nhưng nó lại có các thuộc tính như mặn, kết tinh, tính chất hoà tan Vì vậy
nó có thể được gọi là chất mặn, chất kết tinh hay chất hoà tan v.v… Đồng có thuộctính là dẫn điện, dẫn nhiệt… Vì vậy có thể gọi nó là chất dẫn điện, chất dẫn nhiệt…Mỗi sự vật không phải chỉ có chất mà còn có lượng Chất của sự vật khôngbao giờ tồn tại tách rời với mặt lượng của nó Lượng và chất là hai mặt của tính quiđịnh luôn cùng tồn tại trong một sự vật Chất nào cũng phải có một lượng nhấtđịnh và lượng nào cũng là lượng của một chất nhất định Tuy nhiên giữa chất vàlượng cũng có những sự khác nhau nhất định Lượng cũng là tính qui định vốn cócủa vật nhưng lại biểu thị độ lớn nhỏ, trình độ phát triển cao, thấp hay tốc độ vậnđộng nhanh, chậm của chất
Chính vì vậy, lượng được hiểu là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính qui
định vốn có của sự vật, thể hiện số lượng, qui mô, trình độ phát triển hay tốc độ vận động của một chất.
Trong thực tế, lượng có thể biểu hiện bằng nhiều cách khác nhau nhưng cáchthức phổ biến là bằng các con số, các đại lượng hay các tập hợp… Giữa các con số
và các đại lượng, các tập hợp… có những mối quan hệ riêng vì vậy người ta có thểtách chúng khỏi những sự vật cụ thể để tính toán Đó là khả năng trừu tượng hoácao của tư duy con người và là cơ sở để nảy sinh môn toán học
Một điều cũng cần nhấn mạnh là khi nói lượng là lượng của chất Vì vậy, mộtvật có nhiều chất thì vật cũng có nhiều lượng Chẳng hạn, mỗi con người đều có
Trang 22những thuộc tính sinh học và thuộc tính xã hội Nếu xem con người là một “chấtsinh học” thì lượng ở đây là chiều cao, cân nặng… Nhưng con người lại cũng cóthể xem là có “chất thanh niên”, “chất trung niên”, thậm chí là “chất chính trị”,
“chất quản lý” Mỗi loại đó có một loại lượng khác nhau Chẳng hạn “chất chínhtrị” có lượng của nó là quá trình tham gia các hoạt động chính trị, những điểm nổibật trong quá trình này Nhưng nếu nói đến “chất quản lý” lại phải kể đến quá trìnhtham gia quản lý, những chức vụ trong quản lý, những thành tích trong quản lý màmột người cụ thể đã từng đảm nhận và hoàn thành nhiệm vụ của mình.v.v
Như vậy, chất và lượng có sự khác nhau nhất định Tuy nhiên sự khác biệt nàychỉ là tương đối và nhiều khi các số đo về lượng lại phản ánh “chất” là thế nào.Chẳng hạn để xác định thể trạng của một con người, không thể không căn cứ vàochiều cao, cân nặng, áp huyết Mặt khác ngay bản thân các con số cũng khôngphải chỉ biểu thị lượng của sự vật Trong hệ thống các con số, chúng ta có số chẵn
và số lẻ, những số hữu tỉ và những số vô tỷ chúng có những thuộc tính khácnhau, vì vậy cũng có thể xem giữa chúng có sự khác biệt về chất
2 Quan hệ biện chứng sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất.
Lượng và chất không chỉ gắn bó với nhau như ở phần trên đã đề cập, màchúng còn gắn bó với nhau trong toàn bộ quá trình vận động và biến đổi của sựvật Do thuộc tính vận động của vật chất nên trong thế giới khách quan không cócái gì là bất động, chúng luôn luôn biến hoá dưới hình thức này hay hình thứckhác, mặc dù sự biến hoá này có thể nhanh chậm khác nhau với vô vàn các hìnhthức khác nhau Tuy vậy, sự biến đổi của bất kỳ sự vật nào dù lớn hay nhỏ, dù vô
cơ hay hữu cơ cũng đều bắt đầu từ sự biến đổi về lượng Chẳng hạn, nước lỏngmuốn chuyển thành thể hơi, nhiệt độ của nó phải tăng từ thấp đến cao Một conngười muốn phát triển phải có sự tăng trưởng về thể lực, về trí tuệ và khi đạt đếnmột trình độ phát triển nào đó mới chuyển từ thơ ấu sang nhi đồng, từ nhi đồngsang thiếu niên Mọi sự “bùng nổ”, “bất ngờ” đều là kết quả của những sự tích tụnhững nguồn năng lượng hay những yếu tố nào đó đến mức phải phá vỡ chất cũ,
Trang 23tạo ra chất mới Mọi sự tích tụ về lượng có thể diễn ra nhanh chóng hoặc lâu dàinhưng ở một phạm vi nào đó nó chưa thể tạo ra sự biến đổi về chất hay nói đúnghơn, nó chưa tạo ra sự biến đổi căn bản về chất Trong trường hợp đó, sự vật “vẫn
là nó”, nó chưa chuyển thành cái khác Lượng và chất ở thời điểm này được xem làthống nhất với nhau Chẳng hạn, nước lỏng trong khoảng từ 0oC đến 100oC dưới ápsuất 1atm, dù nhiệt độ có tăng hay giảm vẫn không làm cho nước lỏng biến thànhhơi Khoảng giới hạn từ 0oC đến 100oC được gọi là độ của nước lỏng
Vậy, độ là khoảng giới hạn mà trong đó những sự biến đổi về lượng không
làm cho chất biến đổi căn bản.
Trong thế giới, không có cái gì tồn tại vĩnh viễn, không có cái gì không cógiới hạn Vì vậy, mọi cái đều có độ của nó Trong con người từ sức mạnh cơ
bắp đến thần kinh đều có độ Vượt khỏi giới hạn đó con người không đủ sức chịuđựng Thậm chí, như V.I.Lênin nhận định, ưu điểm mà vượt quá giới hạn của nócũng trở thành khuyết điểm Điểm giới hạn của sự biến đổi về lượng trong mộtchất xác định được gọi là điểm nút
Điểm nút là điểm mà ở đó bất kỳ một sự biến đổi nào về lượng cũng tạo ra sự biến đổi về chất Điểm nút là điểm ở hai đầu của độ Chẳng hạn, điểm nút của nước
lỏng là 0oC và 100oC Khi nước ở 100oC nếu ta thêm bất kỳ một lượng nhiệt nào nócũng làm cho nước bốc hơi Hoặc ngược lại, nếu nước đã ở 0oC thì ta giảm bất cứlượng nhiệt nào nước cũng chuyển thành thể rắn ở những điểm nút đó “một giọtnước” có thể làm tràn cốc nước hay “con ruồi đỗ nặng đòn cân” Nhận thức đượcđiểm nút là nhận thức được sự chín muồi, là biết được thời cơ, vận hội hoặc cũng
có thể dự báo được những nguy cơ, những tai họa có thể ập đến Một nhà quản lýnhận thức được điểm nút có thể có những quyết định hoạt động đúng đắn dứt khoát
để chuyển hóa hay để bảo tồn sự vật Không nhận thức được điều đó, con người sẽhành động mù quáng, có thể gặp hậu họa hoặc bỏ lỡ thời cơ
Trang 24Sự chuyển biến từ chất cũ sang chất mới được gọi là “bước nhảy” hay “nhảyvọt” Bước nhảy là phạm trù dùng để chỉ quá trình chuyển hoá từ chất cũ sang chấtmới do kết quả của sự biến đổi về lượng tạo ra.
Việc nhận thức được “bước nhảy” trong quá trình phát triển là một bước tiếntrong sự nhận thức thế giới Đó cũng là tiêu chí quan trọng để phân biệt quan điểmbiện chứng và quan điểm siêu hình Theo quan điểm siêu hình, sự phát triển củatừng sự vật, hiện tượng cũng như của thế giới nói chung chỉ là sự tăng giảm thuầntúy về lượng Đó là sự phát triển liên tục trong thời gian đi theo sự tiệm tiến dầndần Họ phủ nhận “bước nhảy” và cũng có nghĩa là phủ nhận vai trò của các cuộccách mạng trong sự phát triển xã hội Phủ nhận “bước nhảy” về thực chất cũng làphủ nhận sự biến đổi về chất Bởi vì, khi chất cũ mất đi, chất mới ra đời thì nhấtđịnh các nhân tố của nó phải đổi mới, các kết cấu vật chất cũng phải thay đổi vàđiều đó tất yếu phải tạo ra sự gián đoạn Học thuyết tế bào đã cho ta thấy “bướcnhảy” từ chất vô cơ sang chất hữu cơ Học thuyết tiến hoá của Đácuyn đã cho thấy
“bước nhảy” từ loài sinh vật này lên loài sinh vật khác Các cuộc cách mạng tronglịch sử đã cho thấy “bước nhảy” từ hình thái kinh tế - xã hội thấp lên hình thái kinh
tế - xã hội cao Vì vậy, V.I.Lênin đã khẳng định “tính tiệm tiến mà không có bướcnhảy vọt thì không giải thích được gì cả”(1)
Tuy nhiên, bước nhảy có nhiều loại, nếu xét về thời gian có thể phân thành
bước nhảy đột biến và bước nhảy dần dần Bước nhảy đột biến là bước nhảy diễn
ra một cách nhanh chóng Bước nhảy đột biến có thể diễn ra trong khoảnh khắc
như các vụ nổ hạt nhân Nhưng trong xã hội, những cuộc cách mạng chính trị diễn
ra nhanh chóng cũng có thể được xem là bước nhảy đột biến trong xã hội Trong xãhội, những sự đột phá tạo nên những chuyển biến căn bản trong lĩnh vực khoa họccông nghệ, cũng có thể xem là những sự đột biến
Bước nhảy dần dần là bước nhảy diễn ra trong thời gian dài Bước nhảy dần
dần không đồng nhất với sự biến đổi về lượng Vì sự biến đổi về lượng chỉ diễn ra(1) V.I.Lênin: TT, Nxb TB, M, 1978, t 29, tr.133
Trang 25trong khuôn khổ của chất cũ, còn bước nhảy dần dần lại là quá trình chất cũ mất đi
“dần dần” và chất mới “ dần dần” nảy sinh Đó là quá trình thay đổi về chất
Xét về qui mô có thể phân bước nhảy thành bước nhảy toàn bộ và bước nhảycục bộ
Bước nhảy toàn bộ là biến đổi toàn diện về chất của sự vật còn bước nhảy cục bộ là sự biến đổi về chất của từng bộ phận, từng mặt của sự vật đó.
Trong một cuộc cách mạng xã hội, việc chuyển từ một hình thái kinh tế - xãhội này sang một hình thái kinh tế - xã hội khác là bước nhảy toàn bộ Nhưng sựbiến đổi từng bộ phận như: cách mạng chính trị, cách mạng khoa học kỹ thuật,cách mạng văn hoá tư tưởng là những bước nhảy bộ phận Bước nhảy bộ phận cóthể diễn ra đồng thời cũng có thể diễn ra trước sau ở những thời điểm khác nhau.Bước nhảy toàn bộ và bước nhảy cục bộ đều có thể diễn ra nhanh chóng (đột biến)hoặc diễn ra dần dần
Quá trình lượng đổi dẫn đến chất đổi thực chất là quá trình tích tụ về lượng đểđến một thời điểm nào đó sẽ làm cho chất chuyển hoá Đặc điểm của quá trình này
là không gây ra những chấn động mạnh, thậm chí còn “êm ái” “dễ chịu” nhưng kếtquả thì nhiều khi to lớn, bất ngờ Hêghen đã từng nhận xét “Lượng, khi được coinhư một giới hạn bàng quan thì đó là mặt mà từ phía ấy vật đang tồn tại nào đó bịtấn công một cách bất ngờ và sự tiêu diệt”(1)
Tuy nhiên, trong sự biến đổi của thế giới không phải chỉ có lượng đổi dẫn đếnchất đổi vì còn có quá trình ngược lại Thực chất của quá trình ngược lại này là khichất đổi sẽ làm cho lượng biến đổi với tốc độ nhanh hơn và với qui mô lớn hơn.Trong thế giới khách quan, ứng với một chất xác định chỉ có một lượng xác định.Trong khuôn khổ của chất ấy, lượng có giới hạn tối đa và tối thiểu nhưng lượngkhông thể vượt được giới hạn đó Chẳng hạn, nước nguyên chất dưới áp lực 1 atm,thể tích của nó có thể tăng dần lên khi nhiệt độ tăng từ 0oC đến 100oC, nhưnglượng nước trong một nồi súp-de không thể vượt quá một giới hạn nào đó Muốn(1) V.I.Lênin: TT, Nxb TB, M, 1978, t 29,tr.133
Trang 26có một thể tích lớn hơn nó phải chuyển thành hơi Chính ở trạng thái hơi, nước cómột kết cấu mới và do đó thể tích của nó tăng lên một cách đột ngột gây áp lực lớntác động vào pittông tạo ra sự vận hành của máy.
Trong lịch sử xã hội loài người, do sự thay đổi về chất, chế độ chiếm hữu nô
lệ đã tạo ra sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất so với giai đoạn cộng sản nguyênthuỷ Tuy nhiên, cách thức tổ chức của xã hội ấy làm cho sản xuất chỉ có thể pháttriển ở một giới hạn nào đó Khi đã đến giới hạn này, muốn sản xuất phát triểnđược xã hội lại phải chuyển sang hình thái mới Sở dĩ phải có sự thay đổi về chấtmới tạo ra bước phát triển mới về lượng vì như trên đã đề cập, mỗi chất đều đượctạo từ một kết cấu xác định của một sự vật hiện tượng hay một hệ thống sự vật hiệntượng Các nhân tố và phương thức kết hợp các nhân tố của sự vật quyết định sựbiến đổi của lượng Nhưng bản thân các nhân tố và cả phương thức kết hợp giữachúng là cái có giới hạn, vì vậy nếu không thay đổi các nhân tố và cách sắp xếpgiữa chúng không thể tạo ra sự tăng “đột biến” về lượng Đó chính là ý nghĩa tolớn của những sự thay đổi mang tính cách mạng
Vì vậy, phương thức biến đổi phát triển của mọi sự vật trong thế giới kháchquan phải là từ sự biến đổi về lượng đi tới sự biến đổi về chất Trong chất mớilượng lại tăng dần từ thấp đến cao, nhưng đến một giới hạn nào đó nó bị dừng lại.Muốn lượng tiếp tục biến đổi chất mới phải ra đời thay thế chất cũ Đó là qui luậtvận động và phát triển của thế giới khách quan Điều này làm cho sự biến đổi vàphát triển vừa liên tục vừa gián đoạn, vừa tiệm tiến vừa nhảy vọt, chúng tạo nhữngchu kỳ của sự phát triển không ngừng trongthế giới khách quan
3 Một số kết luận và ý nghĩa phương pháp luận.
Qui luật lượng đổi dẫn đến chất đổi chỉ rõ phương thức vận động biến đổi củathế giới khách quan nên nó cũng có ý nghĩa đối với việc hình thành phương thứchoạt động của con người
Trước hết, trong đời sống cũng như trong công tác, muốn tạo ra một sự biếnđổi về chất nào đó phải có sự tích lũy về lượng Tuỳ thuộc vào những hoàn cảnh cụ
Trang 27thể mà sự tích luỹ này có thể nhanh chóng nhưng có những trường hợp phải lâudài Mọi tư tưởng nôn nóng, vội vàng, đốt cháy giai đoạn
đều chỉ có thể đưa tới thất bại Trên thế giới, nhiều cuộc cách mạng do “đẻ non”
mà không thành công Thời kỳ bao cấp trước đây, tư tưởng tiến thẳng lên chủ nghĩa
xã hội không cần những khâu trung gian cần thiết đã làm cho nhiều mục tiêu đề rakhông thể thực hiện được Ngày nay, tư tưởng nôn nóng trong lĩnh vực này haylĩnh vực khác vẫn còn không ít Vì vậy thái độ bình tĩnh, phấn đấu bền bỉ kiên trì,biết tìm ra những khâu trung gian cần thiết, những bước đi phù hợp là yêu cầuquan trọng đối với con người nói chung và đối với cán bộ quản lý nói riêng Vănkiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX chỉ rõ: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏqua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực là sựnghiệp rất khó khăn, phức tạp, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài vớinhiều chặng đượng, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ” (1).Tuy nhiên, điều đó hoàn toàn khác với tư tưởng bảo thủ, trì trệ Sự phát triển làphải đi đến sự biến đổi về chất, vì vậy phải tạo mọi điều kiện để thực hiện mục tiêu
đó, sao cho khi lượng đã biến đổi đến điểm giới hạn thì có thể thực hiện được sựbiến đổi về chất một cách kịp thời Chỉ lo biến đổi về lượng mà không chú ý đếnnhững điều kiện cho sự biến đổi về chất là sai lầm và khi lượng đã đến điểm giớihạn mà vẫn không thực hiện được sự biến đổi về chất thì tất yếu sẽ đưa tới khủnghoảng thậm chí có thể làm cho những mầm mống, những tiền đề đã hình thành bịthui chột và sự “đứt đoạn” càng lớn, ảnh hưởng tới tiến trình biến đổi của sự vật.Trong thời đại ngày nay, bọn đế quốc đứng đầu là đế quốc Mỹ đang thực hiện
âm mưu “diễn biến hoà bình” Thực chất của âm mưu này là dùng các tác độngkiên trì, lâu dài, liên tục dần dần từng bước nhằm làm giảm lòng tin đối với chủnghĩa Mác - Lê nin, đối với lý luận cách mạng, đối với Đảng cộng sản đi tới xoá bỏĐảng cộng sản, xoá bỏ chủ nghĩa xã hội giành ưu thế tuyệt đối cho chủ nghĩa tưbản Âm mưu này được thực hiện bằng các chiến thuật “rỉ máu” “mưa lâu thấm(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX NXb CTQG, Hà Nội,
2001, trang 22
Trang 28dần” trước đây, hay là các chiến thuật “thả bóng”, “chim nhồi rơm”, “đô la hoá”cán bộ hiện nay Đó là âm mưu hết sức thâm độc mà nếu thiếu cảnh giác có thể vấpphải những sai lầm nghiêm trọng Chiến thắng âm mưu này phải có sự nhìn nhậnthực sự tỉnh táo, sáng suốt, nhận rõ thực chất của các thủ đoạn tuyên truyền của kẻđịch Đây cũng là một trong những cuộc đấu tranh tư tưởng hết sức phức tạp hiệnnay.
Câu 7: Qui luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập?
Qui luật mâu thuẫn là qui luật cơ bản nhất của phép biện chứng duy vật Nó
đã được con người nhận thức ngày càng sâu sắc và đầy đủ hơn Chính điều đó làmột tiền đề lý luận hết sức quan trọng để hình thành lý luận mác xít về mâu thuẫn.C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã kế thừa tư tưởng biện chứng về mâu thuẫn,tổng kết những thực tế của lịch sử loài người, khái quát những thành tựu mới củakhoa học từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX để luận giải mâu thuẫn một cáchkhoa học và vận dụng lý luận này để phân tích xã hội, tìm ra phương thức cải tạonó
Trên cơ sở xác định rõ qui luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập làhạt nhân của phép biện chứng, chủ nghĩa Mác đã làm rõ thực chất của mâu thuẫnbiện chứng thông qua việc phân tích bản chất của các mặt đối lập và mối quan hệgiữa chúng
1 Quan hệ của các mặt đối lập.
Trong cuộc sống thông thường, cho đến nay vẫn còn có không ít người đồngnhất các mặt đối lập với các lực lượng thù địch Dĩ nhiên thù địch cũng là mặt đốilập, nhưng cái đối lập lại không chỉ là những cái thù địch Trong các tác phẩm kinhđiển, Ph.Ăng ghen đã lấy nhiều ví dụ cụ thể để chỉ các mặt đối lập như cộng và trừ,nhân và chia, vi phân và tích phân trong toán học, điện âm và điện dương trong vật
lý, hoá hợp và phân giải trong hoá học, đồng hoá và dị hoá trong một cơ thể sinh
Trang 29vật, các giai cấp đấu tranh với nhau trong xã hội Các mặt đối lập phải bao hàm
nhiều nội dung khác nhau Các mặt đối lập phải là những bộ phận, những nhân tố
có thuộc tính hoặc có khuynh hướng vận động trái ngược nhau Chúng phải cùng
tồn tại trong một sự vật, và chúng phải tác động qua lại với nhau để tạo nên sự vậnđộng và biến đổi của sự vật đó Vì cùng tồn tại trong một sự vật nên ngoài nhữngthuộc tính khuynh hướng vận động trái ngược nhau chúng lại phải có cái đó đồngnhất Chính V.I.Lênin đã khẳng định: “phép biện chứng là học thuyết vạch ra rằngnhững mặt đối lập làm thế nào mà có thể và thường là (trở thành) đồng nhất, -trong những điều kiện nào chúng là đồng nhất, bằng cách chuyển hoá lẫn nhau”.Nếu không có sự “đồng nhất” không thể có sự chuyển hoá nào
Do những đặc điểm trên mà các mặt đối lập có sự thống nhất với nhau.Nghiên cứu “Bút ký triết học” của V.I.Lênin, ta thấy ông đề cập đến sự thống nhấttheo hai nghĩa Nghĩa thứ nhất đó là sự cùng tồn tại, sự liên kết nương tựa, bổ sungcho nhau của các mặt đối lập trong cùng sự vật Nếu không có sự thống nhất giữachúng sẽ không có bất cứ sự “tự vận động” nào và không có bất cứ sự phát triểnnào Chính sự thống nhất của phép cộng và phép trừ, phép nhân và phép chia, viphân và tích phân mới làm cho toán học đủ sức giải quyết những vấn đề phức tạpcủa cuộc sống Chính sự thống nhất của đồng hoá và dị hoá mới làm cho cơ thểsống có thể tồn tại và phát triển sự thống nhất ở đây là do bản chất của chúng quiđịnh
Nhưng sự thống nhất còn có nghĩa hẹp hơn Đó là sự “phù hợp”, “đồng nhất”,
“tác động ngang nhau” Sự thống nhất này chỉ xảy ra trong từng giai đoạn pháttriển cụ thể của sự vật Phải nói rằng trong cuộc sống thường sự thống nhất của cácmặt đối lập thường được hiểu theo nghĩa này Nếu giữa các mặt đối lập không có
sự “đồng nhất”, “phù hợp”, chúng được xem như là không thống nhất mặc dùchúng vẫn cùng tồn tại trong một sự vật
Trang 30Ngoài sự thống nhất, các mặt đối lập do bản chất của chúng là trái ngượcnhau nên tất yếu chúng phải đấu tranh với nhau Sự đấu tranh của các mặt đối lậpđược hiểu là sự bài trừ, phủ định lẫn nhau.
Khi nói sự đấu tranh của các mặt đối lập, ta thấy V.I.Lênin đưa từ đấu tranhvào trong ngoặc kép (“đấu tranh”) Vì vậy, đấu tranh không thể theo một nghĩa hạnhẹp nào đó mà phải hiểu nó thực sự linh hoạt, tuỳ thuộc vào các sự vật cụ thể vàcác hoàn cảnh cụ thể
Khi nói về “đấu tranh” giữa các mặt đối lập, chủ nghĩa Mác có hai luận điểmquan trọng Luận điểm thứ nhất khẳng định thống nhất là tương đối còn đấu tranh
là tuyệt đối Trong “Bút ký triết học”, V.I.Lênin viết: “Sự thống nhất (phù hợp,đồng nhất, tác động ngang nhau) của các mặt đối lập là có điều kiện, tạm thờithoáng qua, tương đối Sự đấu tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệtđối cũng như sự phát triển, sự vận động là tuyệt đối”(1) Nếu dựa vào luận điểm nàythì có thể hiểu thống nhất là tương đối chỉ có nghĩa là sự “phù hợp”, “đồng nhất”,
“tác động ngang nhau” của các mặt đối lập là tương đối Điều này có thể thấy rõ ởmọi sự vật, hiện tượng Tuy nhiên, nếu so sánh đấu tranh với vận động và thốngnhất với đứng im cũng có thể hiểu thống nhất là tương đối Vì mọi sự thống nhấtcủa các mặt đối lập chỉ có thể xét về một mặt nào đó, một phương diện nào đó.Nếu “thống nhất tuyệt đối” chúng không còn là các mặt đối lập nữa
Luận điểm thứ hai, đấu tranh là động lực của sự phát triển Trong thực tế dođồng nhất đấu tranh với mọi sự va chạm, đụng độ, với những sự rối loạn, mất ổnđịnh nên con người thường ác cảm với đấu tranh Tuy nhiên, trong thực tế, nếukhông có đấu tranh sẽ không thể đưa đến sự phát triển Chính thông qua đấu tranh
mà các mặt đối lập phải điều chỉnh lại cho phù hợp với sự vận động biến đổi củachúng cũng như phù hợp với những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử mới Chính đấutranh mới làm cho những cái cũ, cái lỗi thời có thể mất đi và cái mới, cái tiến bộ cóthể ra đời Trong các xã hội có giai cấp đối kháng, ở mỗi thời đại, nhờ có những(1) V.I.Lênin : TT, Nxb TB, M, 1978, t 29, tr.379-380
Trang 31cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân mà giai cấp thống trị phải điều chỉnh lạicác mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội và điều đó đã làm cho các hình thái kinh
tế - xã hội vận động từ thấp đến cao Trong một tổ chức xã hội, trong mỗi conngười nếu không có sự đấu tranh giữa cái đúng và cái sai, cái thiện và cái ác, cáiphải và cái trái sẽ không có bất kỳ sự phát triển nào Ngay chủ nghĩa tư bản nếukhông có phong trào đấu tranh mạnh mẽ của giai cấp công nhân thì làm sao có sựthay đổi phương thức bóc lột, có sự chú ý đến việc thay thế các máy móc thiết bị
đã cũ, thay đổi điều kiện làm việc của công nhân Nhiều triều đại phong kiến,nhiều chế độ xã hội đã thối nát, mục ruỗng đến cực độ nhưng để xoá bỏ nó vẫn tốnbiết bao xương máu, vẫn cần biết bao sự hy sinh của những các lực lượng xã hộitiến bộ Cho nên đấu tranh có một ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của sự vật
Có điều không thể đồng nhất sự đấu tranh với các hiện tượng bè phái mất đoàn kết,
vì các hiện tượng này không tạo ra sự phát triển Vì thế V.I.Lênin khẳng định: “Sựphát triển là cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập”(1)
Sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho các mặt đối lậpchuyển hoá Sự chuyển hoá của các mặt đối lập diễn ra dưới nhiều hình thức Hìnhthức thứ nhất là chuyển hoá từng mặt, từng khía cạnh của mặt đối lập này sang mặtđối lập khác Chẳng hạn trong xã hội có giai cấp đối kháng, lối sống của giai cấpnày có thể ảnh hưởng đến tư tưởng, lối sống của một bộ phận trong giai cấp khác.Trong các thời kỳ cách mạng, những cá nhân tiến bộ thuộc các giai cấp thống trị cóthể chuyển sang hàng ngũ giai cấp cách mạng Hình thức thứ hai là có thể mặt đốilập này chuyển thành mặt đối lập khác, Thí dụ: thẳng trở thành cong và ngược lại.Trong một số trường hợp cụ thể, thiện có thể trở thành ác và ngược lại Hình thứcthứ ba là có thể cả hai mặt đối lập đều bị triệt tiêu và chuyển thành những mặt đốilập mới Chẳng hạn, khi chế độ chiếm hữu nô lệ tan rã, cả hai giai cấp chủ nô và nô
lệ căn bản bị triệt tiêu, hai giai cấp mới là địa chủ phong kiến và nông dân hình thành
(1) V.I.Lênin: TT, Nxb TB, M, 1978, t 29, tr.379
Trang 32Như vậy, thông qua sự tác động qua lại của các mặt đối lập mà mọi sự vậtluôn luôn vận động, biến đổi, phát triển.
2 Mâu thuẫn của sự vật.
Trong thực tế, mâu thuẫn có hai cách hiểu khác nhau Một cách tổng quát cóthể thấy khi sự vật được tạo thành bởi các mặt đối lập thì ở trong nó đã luôn chứađựng mâu thuẫn và mâu thuẫn này vẫn tồn tại chừng nào sự vật chưa bị phá vỡ Vì
vậy, theo nghĩa chung nhất mâu thuẫn là sự tác động qua lại của các mặt đối lập.
Với cách nhìn đó, chủ nghĩa Mác cho rằng bất kỳ sự vật nào cũng chứa mâu thuẫn.Không ở đâu không có mâu thuẫn và không bao giờ không có mâu thuẫn Nhìn sựvật mà chỉ thấy sự đồng nhất, “đồng nhất tuyệt đối” là lối nhìn hời hợt, nông cạn,
bề ngoài Tuy nhiên, mâu thuẫn còn có nghĩa thứ hai Đó là sự bất đồng, sự không
phù hợp, sự mất cân bằng giữa các mặt đối lập Trong cuộc sống thường nói đến
mâu thuẫn theo nghĩa này Chính khi Mác phân tích những mâu thuẫn giữa lựclượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa tư sản và vô sản trong xã hội tư bản chủnghĩa cũng như phân tích mâu thuẫn giữa các giai cấp trong xã hội ông đều dùngmâu thuẫn theo nghĩa thứ hai này Khi Đảng ta phân tích những mâu thuẫn giữanhân dân ta và bọn đế quốc phong kiến, mâu thuẫn giữa phe phái trong hàng ngũcủa địch cũng đều nói đến những sự bất đồng, những xung đột giữa các lựclượng xã hội Mâu thuẫn trong trường hợp này được hiểu là điểm đỉnh của sự khácbiệt giữa các mặt đối lập, là sự phát triển của các yếu tố không phù hợp, những sựtrái ngược giữa chúng Tất nhiên, dù hiểu mâu thuẫn theo bất kỳ nghĩa nào thì nó
vẫn là nguồn gốc của sự phát triển Nói mâu thuẫn là nguồn gốc của sự phát triển
không có nghĩa là tuyệt đối hoá vai trò của mâu thuẫn, là đề cao mâu thuẫn Vấn đềchính ở đây là muốn khẳng định rằng, có mâu thuẫn mới có đấu tranh và chỉ có đấutranh mới tạo ra sự phát triển như phần trên đã đề cập Tuy nhiên, mỗi sự vậtkhông phải chỉ có một mâu thuẫn mà có thể có rất nhiều mâu thuẫn và vai trò củacác mâu thuẫn này đối với sự phát triển của sự vật không giống nhau Vì vậy, triếthọc mác-xít đã chia mâu thuẫn thành các loại khác nhau
Trang 333 Phân loại mâu thuẫn
3.1 Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài.
Mâu thuẫn bên trong là sự tác động qua lại của các mặt đối lập tạo thành sựvật Mâu thuẫn bên ngoài là mâu thuẫn giữa sự vật này và sự vật khác Chẳng hạn,mâu thuẫn giữa các giai cấp trong một dân tộc là mâu thuẫn bên trong; mâu thuẫngiữa dân tộc này và dân tộc khác là mâu thuẫn bên ngoài Sự phân biệt mâu thuẫnbên trong và bên ngoài chỉ có tính chất tương đối vì nó tuỳ thuộc vào sự vật đượcxác định là như thế nào Trong ví dụ trên, nếu xem mỗi giai cấp là một sự vật thìnhững mâu thuẫn diễn ra trong nội bộ giai cấp ấy là bên trong còn mâu thuẫn giữacác giai cấp trong một dân tộc lại trở thành mâu thuẫn bên ngoài Trong hai mâuthuẫn này, mâu thuẫn bên trong bao giờ cũng giữ vai trò quyết định đối với sự vậnđộng và biến đổi của sự vật Mâu thuẫn bên ngoài có thể tác động vào mâu thuẫnbên trong theo những hướng khác nhau Mâu thuẫn bên ngoài có thể thúc đẩy mâuthuẫn bên trong, ngược lại mâu thuẫn bên ngoài cũng có thể kìm hãm mâu thuẫn bêntrong
3.2 Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu Mâu thuẫn chủ yếu là mâu
thuẫn nổi lên trong từng giai đoạn và việc giải quyết nó sẽ tạo cơ sở để giải quyếtcác mâu thuẫn khác Những mâu thuẫn cùng tồn tại trong giai đoạn này nhưng nókhông mang tính cấp bách hoặc không ảnh hưởng lớn đến sự biến đổi của sự vật ởgiai đoạn đó là mâu thuẫn thứ yếu Trong quá trình vận động của sự vật, có mâuthuẫn là chủ yếu trong giai đoạn này nhưng lại là thứ yếu trong giai đoạn khác vàngược lại Thí dụ, trong cuộc đấu tranh giành chính quyền, mâu thuẫn chủ yếu làmâu thuẫn giữa các lực lượng chính trị đối lập nhau, nhưng khi chính quyền đã vềtay giai cấp cách mạng thì những mâu thuẫn trong sự phát triển kinh tế, ổn định đờisống xã hội lại có thể trở thành mâu thuẫn chủ yếu
3.3 Mâu thuẫn cơ bản và không cơ bản Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn nảy
sinh từ bản chất của sự vật, tồn tại cùng với sự vật, qui định sự tồn tại và biến đổicủa sự vật, đồng thời là cơ sở nảy sinh các mâu thuẫn khác Thí dụ, mâu thuẫn cơ
Trang 34bản của chủ nghĩa tư bản là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá ngày càng cao củalực lượng sản xuất và chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa Mâu thuẫn cơ bảnnhất của thời đại ngày nay là mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn giữa các mặt, các bộ phận nằm ngoàibản chất Trong xã hội tư bản, hàng loạt các mâu thuẫn gia đình, xã hội, nhữngmâu thuẫn cá nhân trong cuộc sống hàng ngày là những mâu thuẫn không cơ bảncủa xã hội này.
Chủ nghĩa Mác còn phân biệt mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đốikháng Đây là những mâu thuẫn đặc thù của xã hội Mâu thuẫn đối kháng là mâuthuẫn giữa các giai cấp có lợi ích cơ bản đối lập nhau Đó là các mâu thuẫn giữachủ nô và nô lệ, giữa chúa đất và nông nô, giữa tư sản và vô sản Trong tuyên ngôncủa Đảng cộng sản, C.Mác và Ph.Ăng ghen cho rằng những mâu thuẫn đối khángchỉ tồn tại trong xã hội có giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột Khi xã hội khôngcòn giai cấp thì mâu thuẫn vẫn tồn tại nhưng đối kháng mất đi
Ngược lại với mâu thuẫn đối kháng, mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫngiữa những giai cấp, những lực lượng xã hội có lợi ích cơ bản thống nhất nhưng lợiích không cơ bản, cục bộ tạm thời lại đối lập nhau Đó là mâu thuẫn giữa các tầnglớp dân cư trong cùng một giai cấp hay mâu thuẫn giữa các giai cấp như công nhân
và nông dân, công nhân và trí thức v.v… Như vậy, mâu thuẫn không chỉ khác nhau
về bản chất mà còn khác nhau về trình độ phát triển và về vai trò của nó đối với sựphát triển của sự vật trong suốt quá trình tồn tại của nó hay trong từng giai đoạn cụ thểkhác nhau
3 Một số kết luận về ý nghĩa phương pháp luận
Qui luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là qui luật có ý nghĩa hếtsức quan trọng đối với hoạt động của con người Do mâu thuẫn là nguồn gốc của
sự vận động và phát triển nên muốn hiểu rõ sự vật hay cải tạo nó phải nhận thứcđược mâu thuẫn Trong xã hội xác định được mâu thuẫn cơ bản và không cơ bản sẽ
Trang 35có cơ sở để đề ra đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn; xác định rõ mâu thuẫnchủ yếu sẽ có các giải pháp tập trung để giải quyết
những vấn đề trọng yếu nhất tạo ra khả năng phát triển của xã hội trong từng giaiđoạn phát triển của nó Đặc biệt khi có những vấn đề bức xúc nảy sinh thì việcphân biệt rõ mâu thuẫn đối kháng và không đối kháng có ý nghĩa cực kỳ quantrọng Điều đó sẽ giúp cho một tổ chức cách mạng hay các cá nhân phân biệt rõbạn và thù và đề ra được phương thức giải quyết mâu thuẫn thích hợp, tuỳ vào tìnhhình cụ thể
Nhận thức mâu thuẫn không phải chỉ là nhận thức loại hình mâu thuẫn mà cònphải xác định được trình độ phát triển của nó Đó là những mâu thuẫn vừa nảy sinh haymâu thuẫn đã đến độ chín muồi Cùng một mâu thuẫn nhưng trình độ phát triển khácnhau thì phương thức giải quyết cũng khác nhau
Tuy nhiên, muốn nhận thức mâu thuẫn phải căn cứ vào các mặt đối lập, khôngdựa trên các mặt đối lập và những mối quan hệ cơ bản của chúng không thể xácđịnh rõ loại hình mâu thuẫn cũng như trình độ phát triển của mâu thuẫn
Việc phân tích và giải quyết mâu thuẫn không phải chỉ đòi hỏi sự nhiệt tình,hăng hái mà phải có sự hiểu biết, có tri thức khoa học, có vốn sống nhất định.Thiếu tri thức và vốn sống cần thiết sẽ không nhận thức đúng được bản chất củamâu thuẫn và do đó cũng không thực sự hiểu biết được thế giới khách quan, không
đề ra được những phươngthức giải quyết các vấn đề đặt ra một cách có hiệu quả.Lịch sử phát triển của xã hội loài người thực chất là lịch sử phát hiện và giải quyếtcác mâu thuẫn Năng lực của một cán bộ lãnh đạo quản lý trước hết phải là nănglực phát hiện ra các mâu thuẫn và tổ chức chỉ đạo quần chúng nhân dân giải quyếtcác mâu thuẫn đó Chính vì vậy, đường lối cách mạng Việt Nam từ khi Đảng cộngsản Việt Nam ra đời đến nay bao giờ cũng dựa trên cơ sở của việc phân tích nhữngmâu thuẫn ở Việt Nam và trên thế giới Không căn cứ vào các mâu thuẫn cần phảigiải quyết, một đất nước, một dân tộc, một Đảng không thể tìm ra những giải pháp
Trang 36tích cực nhất để vượt qua những thách thức, tiếp tục phát triển trong quá trình thựchiện những nhiệm vụ mà lịch sử đặt ra.
Câu 8: Quy luật phủ định của phủ định?
Quy luật phủ định của phủ định, lần đầu tiên được đề cập tới một cách sâusắc trong triết học của Hêghen Hêghen đã xem đó là quy luật cơ bản làm cơ sởcho cả hệ thống triết học của ông Ông nhận thấy "cái hữu hạn", thông qua sự phủđịnh cái phủ định của nó mà trở thành vô hạn Hêghen cũng là người đã nhận thấy
"sự duy trì cái khẳng định trong cái phủ định" và cho rằng "cái khẳng định" và "cáiphủ định" thống nhất với nhau Dĩ nhiên Hêghen đã mô tả quy luật phủ định củaphủ định như là một quy luật vận động của các ý niệm, quy luật của tư duy
Kế thừa những hạt nhân hợp lý trong triết học Hêghen, chủ nghĩa Mác đãxây dựng quan điểm khoa học về quy luật phủ định của phủ định với tư cách làmột quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
1 Phủ định biện chứng và những đặc điểm của nó.
Để hiểu đúng đắn quy luật phủ định của phủ định trước hết phải hiểu rõ thếnào là phủ định Về phạm trù này có hai cách hiểu khác nhau: hiểu theo quan điểmbiện chứng và hiểu theo quan điểm siêu hình Quan điểm siêu hình cho phủ địnhchỉ là sự không thừa nhận một sự vật hay một thuộc tính nào đó của sự vật Đó là
sự tác động từ bên ngoài nhằm phá hủy, thủ tiêu, loại bỏ sự vật, là sự "phủ địnhsạch trơn" không giữ lại bất cứ đặc trưng nào của sự vật
Ngược lại, quan điểm biện chứng cho phủ định là một kết quả tất yếu trongquá trình vận động biến đổi của bản thân sự vật Nguyên nhân của sự phủ định là
do sự tác động của các nhân tố tạo thành sự vật đặc biệt là sự tác động qua lại củacác mặt đối lập ở bên trong sự vật tạo ra Sự tác động qua lại này làm cho lượngbiến đổi và khi lượng biến đổi đến điểm giới hạn thì chất cũ mất đi và chất mới rađời Sự mất đi của cái cũ và sự ra đời của cái mới thay thế nó trong quá trình này làphủ định biện chứng
Trang 37Do đó phủ định biện chứng là sự thay thế cái cũ bằng cái mới phù hợp hơn
do những biến đổi bên trong của sự vật cũ tạo ra
Phủ định biện chứng bao giờ cũng có hai đặc điểm cơ bản
Đặc điểm thứ nhất: phủ định biện chứng là sự tự thân phủ định Nó không
phải là sự áp đặt từ bên ngoài mà do sự biến đổi bên trong, do sự thống nhất và đấutranh của các mặt đối lập tạo ra
Đặc điểm thứ hai của phủ định biện chứng là nó mang tính kế thừa Do phủ
định biện chứng là sự tự phủ định, là sự ra đời của cái mới từ trong lòng cái cũ nênnhững tiền đề của nó phải được tạo ra từ trong cái cũ, đồng thời nó phải giữ lạinhững nhân tố hợp lý của cái cũ và phát triển bổ sung thêm để tạo ra cái mới
Chính sự kế thừa làm cho cái cũ và cái mới, quá khứ, hiện tại gắn kết vớinhau trong dòng chảy vô tận của sự vận động và phát triển Quan điểm biện chứngxem kế thừa là yếu tố căn bản nhất của phủ định biện chứng, là đặc trưng của phủđịnh biện chứng V.I.Lênin đã nhấn mạnh: "Không phải sư phủ định sạch trơn,không phải sự phủ định không suy nghĩ, không phải sự phủ định hoài nghi, khôngphải sự do dự, cũng không phải sự nghi ngờ là cái đặc trưng và cái bản chất trongphép biện chứng mà là sự phủ định coi như là vòng khâu của sự phát triển với sựduy trì cái khẳng định"(1)
Nhận định này đã làm rõ sự đối lập hoàn toàn của quan điểm biện chứng vàquan điểm siêu hình về sự phủ định Tất nhiên quan điểm biện chứng không phủnhận việc tất yếu phải loại bỏ những gì là tiêu cực, là lỗi thời, những cái đã trởthành lực cản của sự phát triển Chẳng hạn, trong lịch sử loài người, nếu không thủtiêu chế độ chiếm hữu nô lệ, xóa bỏ đặc quyền đặc lợi của giai cấp địa chủ phongkiến, không lên án kịch liệt tình trạng áp bức bóc lột trong xã hội tư bản, tư tưởng
bá quyền của bọn đế quốc hiếu chiến và không lật đổ ách thống trị của nó thì sẽkhông bao giờ có bước tiến lên của lịch sử, sẽ không có sự thay thế hình thái kinh
tế - xã hội cũ bằng hình thái kinh tế xã hội mới tiến bộ hơn Những sự phủ định(1) V.I.Lênin: TT, Nxb TB, M, 1981, t.29, tr.245.
Trang 38theo nghĩa "loại bỏ" nói trên là nhân tố hết sức quan trọng thậm chí là quan trọngnhất của mọi cuộc cách mạng chính trị Tuy nhiên, nếu chỉ thấy cách mạng là sự
"loại bỏ", "sự đập tan, sự "phá hủy hoàn toàn" cái cũ và phải xây dựng xã hội mới
từ những viên gạch đầu tiên thì lại rơi vào tư tưởng tả khuynh, là chỉ làm được mộthành động có tính chất tiêu cực thuần túy Một cuộc cách mạng chỉ có tính chất pháhủy về thực chất chỉ có thể đưa xã hội trở lại tình trạng nguyên thủy ban đầu Vìthế phủ định biện chứng chỉ loại bỏ những cái gì đã thực sự trở nên lỗi thời, còn cái
gì là hợp lý nó lại phải khẳng định, duy trì, phát triển, bổ sung trong quá trình hìnhthành cái mới Việc hình thành cái mới tiến bộ hơn là cái đích của phủ định biệnchứng
2 Phủ định của phủ định - vòng khâu của sự phát triển.
Với cách hiểu phủ định như trên, ta có thể nói phát triển thực chất là quátrình phủ định liên tiếp từ thấp đến cao Tuy nhiên các lần phủ định không nối tiếpnhau theo một đường thẳng mà chúng làm thành những chu kỳ Những chu kỳ này
có thể gọi là những vòng khâu của sự phát triển Ở cuối mỗi vòng khâu, sự vật
"hình như là quay trở lại" với điểm xuất phát, với cái bị phủ định đầu tiên Điều đó
đã tạo ra cảm giác về sự vận động vòng tròn như từ hạt thóc nảy sinh cây lúa vàcây lúa lại sinh ra hạt thóc; quả trứng nở thành con gà và con gà lại sinh ra quảtrứng Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của sự vật, mỗi "vòng tròn" ấy là một
"vòng khâu của sự phát triển Cái vòng khâu này thường gồm hai lần phủ định liêntiếp nên được gọi là "phủ định của phủ định" Do phủ định có nguồn gốc từ sựthống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập nên lần phủ định thứ nhất bao giờ cũngtạo ra sự vật có nhiều đặc điểm đối lập với sự vật ban đầu Nhiệm vụ của lần phủđịnh này là công phá cái đã được khẳng định để mở ra sự phát triển mới Nhưng sựtồn tại của cái phủ định cũng có giới hạn của nó và đến một lúc nào đó nó lại tỏ rakhông đầy đủ và tất yếu phải bị thay thế Đó là nguyên nhân dẫn đến lần phủ địnhthứ hai Lần phủ định thứ hai lại tạo ra sự vật mới đối lập với "cái phủ định" của sựvật ban đầu và do đó nó có vẻ "trở về" với cái khẳng định ban đầu Lần phủ định
Trang 39thứ hai vừa khẳng định những cái gì là hợp lý của cái bị phủ định đầu tiên vừa pháttriển bổ sung nó, hoàn thiện thêm nó Chính những sự vận động như vậy đã hìnhthành một quy luật cơ bản đó là quy luật phủ định của phủ định Đương nhiên quyluật phủ định của phủ định là quy luật cơ bản của phép biện chứng nên nó khôngdiễn ra một cách giản đơn theo kiểu cơ giới Với tư cách là phủ định biện chứng nóphải có tính kế thừa Nhưng sự kế thừa của lần phủ định thứ hai giữ vai trò trọngyếu hơn trong lần phủ định thứ nhất vì lần phủ định này là kết quả tổng hợp của cảvòng khâu phủ định Lần phủ định thứ hai tạo ra sự vật mới ở trình độ cao hơn sovới cái bị phủ định đầu tiên trong vòng khâu này Mặt khác, mỗi vòng khâu phủđịnh không phải bao giờ cũng chỉ đơn giản có hai lần phủ định mà có thể có nhiềulần phủ định liên tiếp khác nhau Quá trình từ cái trứng tằm nở ra con tằm và đểhình thành những trứng tằm mới phải thực hiện tới 4 lần phủ định kế tiếp nhau.Trong xã hội loài người, để đi từ cộng sản nguyên thủy đến cộng sản văn minh saunày, mọi dân tộc đều phải qua nhiều lần phủ định Ngoài những trường hợp đã nêu,quy luật phủ định của phủ định còn có vô vàn các hình thức khác nhau mà chúng tachỉ có thể phân biệt chúng trong những trường hợp thật cụ thể Bất cứ sự nhận thứcmáy móc, siêu hình nào về quy luật này cũng đều dẫn tới sai lầm.
Thông qua các vòng khâu phủ định, sự phát triển bao giờ cũng đi theo conđường "xoắn ốc" "Đường xoắn ốc" không phải là con đường đi lên cụ thể của các
sự vật mà thực chất là quá trình vận động vừa "lặp lại", vừa nâng cao trong quátrình vận động của các sự vật hiện tượng Chính quan niệm này đã khắc phục đượcnhững tư tưởng siêu hình về sự phát triển - sự phát triển theo vòng tròn hay sự vậnđộng theo đường thẳng đơn thuần và vì vậy nó có ý nghĩa phương pháp luận quantrọng đối với những hoạt động của con người Như vậy, quy luật phủ định của phủđịnh không chỉ nói rõ xu thế của sự vận động và phát triển mà còn nói rõ cách thứcvận động phát triển trong thế giới khách quan Đó là quy luật phổ biến của tựnhiên, xã hội và tư duy, là kết quả tất yếu do sự thống nhất và đấu tranh cuả các
Trang 40mặt đối lập, là kết quả của quá trình chuyển hoá về lượng đưa đến sự biến đổi vềchất Chính vì vậy quy luật này có ý nghĩa phương pháp luận hết sức quan trọng.
3 Một số kết luận có ý nghĩa phương pháp luận.
Quy luật phủ định của phủ định là quy luật của sự phát triển nên muốn pháttriển được phải biết phủ định Điều đó đòi hỏi trước hết phải tìm ra những cái đãlỗi thời, những cái còn hạn chế, những thiếu sót, những khuyết tật để phê phán,loại bỏ Mặt khác trong quá trình phủ định lại phải luôn chú ý đến sự kế thừa đặcbiệt là kế thừa những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và những tinh hoa của nhânloại Ở Việt Nam có nhiều giá trị truyền thống quý báu như chủ nghĩa yêu nước,tinh thần độc lập tự cường, ý thức cộng đồng Những giá trị tinh thần này cầnđược phát huy trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước Trong văn kiện Đạihội Đảng toàn quốc lần thứ IX, khi đề cập tới yêu cầu phát triển văn hoá , mở rộngquan hệ đối ngoại, Đảng ta luôn nhấn mạnh tới việc “kế thừa truyền thống cáchmạng của dân tộc, phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc” (1) đồng thời “tiếp thu tinh hoa và góp phần làm phong phú thêmnền văn hoá nhân loại” (2) và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong quá trình hộinhập quốc tế Đó chính là quan điểm kế thừa hết sức đúng đắn của Đảng ta Chính
vì vậy, trong công tác tư tưởng phải đấu tranh mạnh mẽ với những tư tưởng bảothủ trì trệ nhưng đồng thời cũng phải kiên quyết phê phán tư tưởng phủ định sạchtrơn Những tư tưởng phủ định sạch trơn hay "hư vô chủ nghĩa" là những tư tưởngphản khoa học Nó chỉ có thể mang lại những mất mát, những tổn thất thậm chí tổnthất rất nặng nề Chẳng hạn đối với chủ nghĩa tư bản, phải đấu tranh chống lại tưtưởng đế quốc chủ nghĩa, tư tưởng bá chủ toàn cầu, phê phán những mặt trái củachủ nghĩa tư bản nhưng đồng thời lại phải biết chắt lọc, tiếp thu những thành tựu
mà loài người đã đạt được trong giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản đặc biệt
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX NXb CTQG, H,
2001, trang 114
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX NXb CTQG, H,
2001, trang 115