Nhằm giúp các bạn có thêm tài liệu phục vụ nhu cầu học tập và ôn thi môn Triết học, mời các bạn cùng tham khảo nội dung tài liệu Ôn tập Triết học dưới đây. Tài liệu cung cấp cho các bạn 10 câu hỏi bài tập có hướng dẫn lời giải, giúp các bạn củng cố lại kiến thức đã học và làm quen với dạng câu hỏi.
Trang 1ÔN TẬP TRIẾT HỌC - THẦY VŨ TÌNH
1 Những hình thức lịch sử của phép biện chứng Nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật và những yêu cầu
có tính nguyên tắc mà phép biện chứng duy vật đòi hỏi
Phép biện chứng là học thuyết về các mối lien hệ về vận động và phát triển
Căn cứ vào sự vận động và phát triển chia phép biện chứng thành 3 hình thức lịch sử:
- Phép biệc chứng chất phát: thể hiện rõ nét ở thời cổ đại, đặc trưng nhất là tính chất ngây thơ, chưa trả lời được các câu hỏi: bản chất của mối lien hệ như thế nào?; nặng ở sự quan sát trực tiếp
- Phép biện chứng duy tâm: học thuyết về các mối lien hệ về sự vận động và phát triển của các nhà Triết học duy tâm, đạt đến đỉnh cao vào TK XIX, đặc biệt là Heghen Đặc trưng là chur nghĩa duy tâm: các nhà Triết học quan niệm sự vận động và phát triển thể hiên trong Thế giới tinh thần trước, sau đó mới thể hiện
ra bên ngoài
Heghen: “các mối lien hệ sự vận động và phát triển thể hiện trong Thế giới tinh thần trước, sau đó tha hóa
ra bên ngoài” lân đầu tiên trong lịch sử ông đã thể hiện những nội dung cơ bản nhất biện chứng dưới dạng học thuyết rất chặc chẽ thong qua nguyên lý, phạm trù phép biện chứng của Heghen đã trở thành
1 trong những tiền đề lý luận để ra đời hình thức thứ 3: phép biện chứng duy vật
- Phép biện chứng duy vật: trên cơ sở kế thừa những nội dung hợp lý phép biện chứng của Heghen Đặc trưng lớn nhất là tính chất duy vật trong học thuyết, nghĩa là: các mối lien hệ sự vận động và phát triển tự tồn tại trong thế giới vật chất, khi con người nhận thức thì con người xây dựng học thuyết Nếu không có con người, hoặc không xây dựng học thuyết thì nó vẫn tồn tại
Nội dung của phép biện chứng duy vật: có nhiều nhưng khái quát thành 2 nguyên lý, nguyên lý mối quan hệ phổ biến được cụ thể hóa qua các quy luật không cơ bản/ các cặp phạm trù cơ bản (riêng – chung, nguyên nhân – kết quả, tất nhiên – ngẫu nhiên, nội dung – hình thức, bản chất – hiện tượng, khả năng – hiện thực) cho chúng ta hiểu tính đa dạng của các mối lien hệ, nguyên lý sự vận động và phát triển được cụ thể hóa qua các quy luật cơ bản (quy luật 1: từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất, quy luật 2: quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, quy luật 3: quy luật phủ định của phủ định)
Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật :
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến: PBCDV khẳng định rằng trong tự nhiên, xã hội và tư duy, không có sự
vật, hiện tượng nào tồn tại một cách riêng lẻ, cô lập tuyệt đối, mà trái lại chúng tồn tại trong sự liên hệ, ràng buộc, phụ thuộc, tác động, chuyển hóa lẫn nhau
Nguyên lý về phát triển: PBCDV khẳng định rằng mọi lĩnh vực trong thế giới (vô cơ và hữu cơ; tự nhiên,
xã hội và tư duy) đều nằm trong quá trình phát triển không ngừng từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp,
từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện
- Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật:
+ Quy luật chuyển hoá từ những biến đổi về lượng dẫn tới những biến đổi về chất và ngược lại: gọi là
quy luật lượng - chất Quy luật này phản ánh cách thức, cơ chế của quá trình phát triển, là cơ sở phương pháp luận chung để nhận thức và thúc đẩy quá trình phát triển của sự vật với 3 yêu cầu cơ bản là:
> Thường xuyên và tăng cường tích luỹ về lượng để tạo điều kiện cho sự thay đổi về chất Chống chủ nghĩa duy ý chí muốn đốt cháy giai đoạn
> Khi lượng được tích luỹ đến giới hạn độ, phải mạnh dạn thực hiện bước nhảy vọt cách mạng, chống thái độ bảo thủ, trì trệ
> Vận dụng linh hoạt các hình thức nhảy vọt để đẩy nhanh quá trình phát triển
+ Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập: còn được gọi là quy luật mâu thuẫn Quy luật
này là hạt nhân của phép biện chứng, Nó vạch ra nguồn gốc, động lực của sự phát triển, phản ánh quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫn bên trong sự vật Từ đó, phải vận dụng nguyên tắc mâu thuẫn mà yêu cầu cơ bản của nó là phải nhận thức đúng đắn mâu thuẫn của sự vật, trước hết là mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn chủ yếu, phải phân tích mâu thuẫn và quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫn Đấu tranh là phương thức giải quyết mâu thuẫn Tuy nhiên, hình thức đấu tranh rất đa dạng linh hoạt, tuỳ thuộc mâu thuẫn cụ thể và hoàn cảnh lịch sử cụ thể
+ Quy luật phủ định của phủ định: Quy luật này khái quát khuynh hướng phát triển tiến lên theo hình
thức xoáy ốc thể hiện tính chất chu kỳ trong quá trình phát triển
Trang 2Đó là cơ sở phương pháp luận của nguyên tắc phủ định biện chứng, chỉ đạo mọi phương pháp suy nghĩ và hành động của con người Phủ định biện chứng đòi hỏi phải tôn trọng tính kế thừa, nhưng kế thừa phải có chọn lọc, cải tạo, phê phán, chống kế thừa nguyên xi, máy móc và phủ định sạch trơn, chủ nghĩa hư vô với quá khứ Nguyên tắc phủ định biện chứng trang bị phương pháp khoa học để tiếp cận lịch sử và tiên đoán, dự kiến những hình thái cơ bản của tương lai
Tóm lại, mỗi nguyên lý, phạm trù, quy luật của phép biện chứng duy vật có ý nghĩa phương pháp luận
quan trọng Vì vậy, chúng phải được vận dụng tổng hợp trong nhận thức khoa học thực tiễn cách mạng Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển của PBCDV là cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện, nguyên tắc lịch sử-cụ thể và nguyên tắc phát triển
a) Nguyên tắc toàn diện trong nhận thức và thực tiễn
Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi chúng ta phải xem xét sự vật, hiện tượng với tất cả các mặt, các mối liên hệ; đồng thời phải đánh giá đúng vai trò, vị trí của từng mặt, từng mối liên hệ; nắm được mối liên hệ chủ yếu có vai trò quyết định Đồng thời chống lại quan điểm phiến diện, một chiều (con gnuowif không bao giờ hiểu về các mối lirn hệ, nhưng con người càng hiểu biết về các mối liên hệ thì càng ít sai lầm)
Sự vận dụng quan điểm toàn diện trong sự nghiệp cách mạng:
- Trong Cách mạng dân tộc dân chủ: Đảng ta vận dụng quan điểm toàn diện trong phân tích mâu thuẫn xã hội, đánh giá so sánh lực lượng giữa ta với địch, tạo ra và sử dụng sức mạnh tổng hợp
- Trong công cuộc đổi mới, Đảng ta tiến hành đổi mới toàn diện, triệt để; đồng thời phải xác định khâu then chốt Nắm vững mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế, đổi mới chính trị và đổi mới tư duy
b) Nguyên tắc lịch sử-cụ thể trong nhận thức và thực tiễn
Nguyên tắc lịch sử-cụ thể đòi hỏi phải xem xét sự vật hiện tượng trong quá trình vận động phát triển: nó ra đời trong điều kiện như thế nào? trải qua những giai đoạn phát triển như thế nào? mỗi giai đoạn có tính tất yếu và đặc điểm như thế nào? Đồng thời phải chống lại tư tưởng chung chung đại khái
c) Nguyên tắc phát triển trong nhận thức và thực tiễn
Nguyên tắc phát triển đòi hỏi khi xem xét sự vật, hiện tượng phải nhìn thấy khuynh hướng biến đổi trong tương lai của chúng: cái cũ, cái lạc hậu sẽ mất đi; cái mới, cái tiến bộ sẻ ra đời thay thế cái cũ, cái lạc hậu đồng thời chống lại tư tưởng bảo thủ, trì trệ
2 Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn
Hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn là hai dạng hoạt động của con người Lý luận được hình thành không phải ở bên ngoài thực tiễn mà trong mối liên hệ chặt chẽ với thực tiễn Hai hoạt động này thống nhất không tách rời nhau, gắn bó xâm nhập, làm cơ sở, tiền đề cho nhau phát triển Giữa thực tiễn và lý luận có mối liên hệ biện chứng với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, và trong đó thực tiễn giữ vai trò quyết định
Thực tiễn được định nghĩa là những hoạt động vật chất có mục đích, có tính lịch sử - XH của con người nhằm biến đổi giới tự nhiên và xã hội Do vậy, thực tiễn không phải là toàn bộ hoạt động của con người mà chỉ là những hoạt động vật chất chứ không phải là hoạt động tinh thần hay còn gọi là hoạt động lý luận
Hoạt động thực tiễn là quá trình tương tác giữa chủ thể (tức là con người) và khách thể (tức là giới tự nhiên), là dạng hoạt động vật chất trong đó chủ thể chủ động làm biến đổi khách thể Trong hoạt động thực tiễn, con người phải sử dụng các phương tiện, công cụ vật chất cũng như sức mạnh vật chất của mình để tác động vào
tự nhiên, XH nhằm cải tạo, làm biến đổi chúng cho phù hợp với mục đích sử dụng của mình Vì vậy, có thể nói thực tiễn là phương thức tồn tại cơ bản nhất của con người và XH, là phương thức đầu tiên và chủ yếu của mối quan hệ giữa con người và thế giới
Hoạt động thực tiễn mang tính lịch sử - xã hội vì nội dung, phương pháp, phương tiện cũng như phạm vi ảnh hưởng của nó phụ thuộc vào những điều kiện lịch sử nhất định Tuy trình độ và các hình thức của hoạt động thực tiễn có thay đổi qua các thời kỳ lịch sử khác nhau của XH, nhưng thực tiễn luôn luôn là dạng hoạt động cơ bản và phổ biến của XH loài người Thực tiễn cũng có quá trình vận động và phát triển của nó, trình độ phát triển của thực tiễn nói lên trình độ chinh phục giới tự nhiên, trình độ làm chủ XH của con người
Ø Hình thức cơ bản đầu tiên của thực tiễn là hoạt động sản xuất vật chất Đây là hình thức nguyên thuỷ
nhất và cơ bản nhất vì nó quyết định sự tồn tại và phát triển của XH loài người, quyết định các dạng khác của hoạt động thực tiễn
Trang 3Ø Hình thức cơ bản thứ hai của thực tiễn là hoạt động CT - XH nhằm cải tạo, biến đổi XH, phát triển các
quan hệ XH, chế độ XH Đây là hình thức hoạt động thực tiễn cao nhất
Ø Với sự ra đời và phát triển của khoa học làm xuất hiện hình thức cơ bản thứ ba của thực tiễn - hoạt
động thực nghiệm khoa học Đây là hình thức hoạt động thực tiễn đặc biệt nhằm mục đích phục vụ nghiên cứu khoa học và kiểm tra lý thuyết khoa học Hình thức hoạt động này ngày càng trở nên quan trọng do sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật hiện đại
Ø Thực tiễn là cơ sở, nguồn gốc, động lực của lý luận Bởi vì nó là nền tảng, là điểm xuất phát, là nơi diễn ra
hoạt động lý luận Mặt khác hoạt động thực tiễn thúc đẩy cho hoạt động lý luận con người và thông qua nó con người phát triển bản chất, năng lực trí tuệ của mình Thực tiễn còn là mục đích của nhận thức, của lý luận bởi vì hoạt động lý luận không phải chỉ để lý luận mà là cải tạo tự nhiên, xã hội nhằm phục vụ cho nhu cầu con người Thực tiễn phải được chỉ đạo, hướng dẫn bởi lý luận, khoa học, cách mạng Nếu thực tiễn không có lý luận dẫn đường thì thực tiễn sẽ trở nên mù quáng Còn nếu thực tiễn được chỉ đạo bởi lý luận sai lầm và phản cách mạng thì hậu quả sẽ khó lường
Lý luận được hiểu là hệ thống những tri thức phản ánh những mối liên hệ bản chất, những tính quy luật của thế giới khách quan Lý luận được hiểu theo một cách khác là hệ thống hoá các khái niệm, phạm trù, nguyên
lý, quy luật; trong đó quy luật là cái cốt lõi, là sản phẩm của hoạt động nhận thức của con người
Khác với các quan điểm duy tâm, tôn giáo Triết học Mác-Lênin khẳng định lý luận là kết quả của quá trình nhận thức Quá trình nhận thức đi từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lý tính, từ trực quan sinh động đến
tư duy trừu tượng Nhận thức cảm tính (trực quan sinh động ) là giai đoạn đầu, trình độ thấp của quá trình nhận thức, bao gồm 3 hình thức cơ bản: cảm giác, tri giác và biểu tượng Nhận thức lý tính (tư duy trừu tượng) là giai đoạn cao, trình độ cao của quá trình nhận thức, bao gồm 3 hình thức cơ bản là khái niệm, phán đoán và suy luận Như vậy lý luận là kết quả của quá trình phát triển cao của nhận thức, là trình độ cao của nhận thức
Ø Lý luận là kim chỉ nam cho hành động, soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn Lý luận xuất phát từ thực
tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu đi sát thực tiễn, coi trọng việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận phải liên
hệ với thực tiễn bởi vì chỉ có thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý để kiểm nghiệm lại lý luận đúng hay sai Nếu lý luận xa rời thực tiễn sẽ dẫn tới các sai lầm của bệnh chủ quan, giáo điều, máy móc, bệnh quan liêu Tuy nhiên tự bản thân lý luận luôn luôn phải đổi mới để theo kịp sự phát triển của thực tiễn để khỏi phải lạc hậu, lỗi thời và phải làm vai trò hướng dẫn chỉ đạo và thúc đẩy hoạt động thực tiễn bởi vì chỉ có một lý luận khoa học, cách mạng thì hoạt động thực tiễn mới đạt hiệu quả cao được Lý luận có vai trò rất lớn đối với thực tiễn, tác động trở lại thực tiễn, góp phần làm biến đổi thực tiễn thông qua hoạt động của con người
Ý nghĩa của phương pháp luận trong thực tiễn nước ta:
a) Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như các tri thức khoa học mà nhân loại
đã đạt được vào điều kiện cụ thể của nước ta
- Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động Bởi vì, chủ nghĩa Mác-Lênin là lý luận cách mạng và khoa học, vạch ra quy luật và xu thế phát triển tất yếu khách quan của xã hội loài người và con đường đấu tranh để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta; là hệ thống quan điểm cơ bản của đường lối cách mạng Việt Nam; là sự kế thừa và phát huy những tinh hoa tư tưởng của dân tộc và nhân loại; là đạo đức cách mạng của mọi người
- Nắm vững bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với điều kiện nước ta hiện nay
- Vận dụng sáng tạo các tri thức khoa học của nhân loại trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta
b) Nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của Việt Nam và quốc tế để tiếp tục hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
- Tổng kết kinh nghiệm thực tiễn để hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội
- Tổng kết kinh nghiệm thực tiễn để hoàn thiện con đường đi lên CNXH
c) Trong giáo dục, đào tạo phải kết hợp lý luận với thực tiễn, học với hành
- Giáo dục – đào tạo phải đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội
- Kết hợp lý luận với thực tiễn, học với hành
d) Khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều
Trang 4- Bệnh giáo điều: Bệnh giáo điều là khuynh hướng cường điệu lý luận, coi thường thực tiễn, tách rời lý luận khỏi thực tiễn
- Chỉ căn cứ trên câu chữ trong sách vở, không nắm bắt được bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin
- Áp dụng lý luận một cách cứng nhắc không tính đến điều kiện cụ thể
- Áp dụng kinh nghiệm người khác một cách rập khuôn máy móc
Tác hại của bệnh giáo điều là biến chủ nghĩa xã hội khoa học thành những công thức xơ cứng, phiến diện, cản trở quá trình đổi mới thường xuyên CNXH hiện thực
Bệnh kinh nghiệm:Là khuynh hướng tư tưởng tuyệt đối hóa kinh nghiệm, coi thường lý luận Người mắc bệnh kinh nghiệm thường thỏa mãn với kinh nghiệm sẵn có của bản thân, không chịu khó học tập lý luận, không tiếp thu và áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong công tác, xem thường gới trí thức, thiếu nhìn xa trông rộng, dễ bảo thủ trì trệ
Nguyên nhân của bệnh kinh nghiệm và giáo điều là sự yếu kém về lý luận và thiếu hiểu biết thực tiễn, chủ nghĩa cá nhân Để khắc phục bênh giáo điều và bệnh kinh nghiệm, cần phải tăng cường nghiên cứu, đổi mới công tác lý luận, tổng kết thực tiễn, từ bỏ lối nghiên cứu kinh viện, gắn lý luận với thực tiễn, tăng cường giáo dục nâng cao trình độ lý luận cho cán bộ, đảng viên
3 Nội dung cơ bản của lý luận Hình thái kinh tế - xã hội và ý nghĩa của lý luận này đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam giai đoạn hiện nay
Hình thái kinh tế - xã hội là phạm trù để chỉ 1 xã hội trọn vẹn trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, có những quan
hệ sản xuất bị trình độ của lực lượng sản xuất quy định Những quan hệ sản xuất tạo nên kết cấu kinh tế (cơ sở hạ tầng) của xã hội và trên nó là kiến trúc thượng tầng
Muốn tìm hiểu về hình thái kinh tế - xã hội (xã hội) thì phải hiểu về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất cấu thành phương thức sản xuất
Phương thức sản xuất: là cách thức sản xuất ra của cải vật chất trong 1 giai đoạn lịch sử cụ thể Không chỉ dừng lại ở việc sản xuất ra cái gì (kết quả) mà cái gì tạo ra cái đó (cách thức)
Bất kỳ 1 phương thức sản xuất nào cũng gồm lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
Lực lượng sản xuất là tất cả các yếu tố tham gia vào sản xuất
- Người lao động: người tham gia vào sản xuất thuộc 1 độ tuổi nhất định
- Tư liệu lao động: những phần thuộc tự nhiên tham gia vào quá trình sản xuất bao gồm tư liệu lao động (tư công cụ lao động và phương tiện lao động) và đối tượng lao động
o Công cụ lao động: vật đóng vai trò trung gian để truyền tải sức người lao động vào vật khác trong quá trình sản xuất
o Đối tượng lao động: là những vật nhận sự tác động của công cụ lao động
o Phương tiện lao động: những vật hỗ trợ con người trong quá trình sản xuất về mặt chuyên chở, bảo quản
Người lao động đóng vai trò quyết định
Công cụ lao động là yếu tố quan trọng vì quy địng năng suất lao động và biểu hiện khả năng chinh phục giới tự nhiên của con người
Lực lượng sản xuất là yếu tố động: thường xuyên thay đổi, mang tính cách mạng (mỗi khi công cụ lao động cải biến, cái con người bỏ ra ít đi, thu về nhiều hơn)
Quan hệ sản xuất: là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất, có 3 biểu hiện cơ bản:
- Quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất: trả lời cho câu hỏi “ai là người sở hữu?”
- Quan hệ quản lý va phân phối sản phẩm: “trong quá trình sản xuất ai được quản lý, ai được phân công
- Quan hệ phương pháp sản phẩm: “ ai là người quy định ai hưởng cái gì? Bao nhiêu?”
Quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất: quyết định trong quan hệ sản xuất: có quyền quản lý, phân công lao động; quyền phân phối sản phẩm có quyền lực, quyền lợi
- Nhìn chung tất cả quan hệ sản xuất ít thay dổi, người nắm tư liệu sản xuất không muốn thay đổi (yếu tố tĩnh, bão thủ)
Mối quan hệ giữu lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thể hiện qua quy luật “quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất Trình độ của lực lượng sản xuất được xét ở:
- Sức khỏe và trí tuệ của người lao động
Trang 5- Hàm lượng kh trong công cụ lao động và phương tiện lao động
- Tính chất hợp lý trong khai thác đối tượng lao động
Trình độ của lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất
- Trình độ của lực lượng sản xuất như thế nào thì quan hệ sản xuất phải như thế vậy, tức là nó phải tương ứng với trình độ của lực lượng sản xuất
- Trình độ của lực lượng sản xuất thường xuyên phát triển, khi nó phát triển đến 1 mức độ nhất định thì quan hệ sản xuất phải thay đổi theo cho phù hợp với trình độ mới của lực lượng sản xuất
Quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất:
- Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất nó sẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, sản xuất phát triển
- Nếu quan hệ sản xuất không phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất, nó sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, kìm hãm phát triển
Quan hệ sản xuất được hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất tạo thành quan hệ vật chất của
xã hội Trên cơ sở quan hệ sản xuất hình thành nên các quan hệ về chính trị và tinh thần của xã hội Hai mặt đó của đời sống xã hội được khái quát thành cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội
- Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất tạo nên kết cấu kinh tế của xã hội:
o Quan hệ sản xuất thống trị là quan hệ sản xuất của phương thức đương thời của xã hội đương thời, giữ vai trò thống trị (quan hệ sản xuất thống trị nào thì chế độ xã hội đó) chi phối những quan hệ sản xuất còn lại
o Quan hệ sản xuất tàn dư: phương thức sản xuất cũ của xã hội cũ còn lại
o Quan hệ sản xuất mầm mống: quan hệ sản xuất của xã hội tương lai
- Kiến trúc thượng tầng là hệ tư tưởng (các học thuyết) của xã hội và những thiết chế tương ứng với hệ tư tưởng ấy
o Thiết chế tương ứng với hệ tư tưởng: tổ chức người và các phương tiện vật chất mà các tổ chức sử dụng để thực hiện hệ tư tưởng
Yếu tố giữ vai trò trong kiến trúc thượng tầng phụ thuộc từng vùng, từng nhà nước, từng giai đoạn
Mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là mối quan hệ giữa kinh tế với đời sống tinh thần và cơ cấu tổ chức trong xã hội đó
- Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng:
o Mỗi cơ sở hạ tầng sinh ra 1 kiến trúc thượng tầng tương ứng và quyết định tính chất của kiến trúc thượng tầng
o Khi cơ sở hạ tầng thay đổi, kiến trúc thượng tầng cũng thay đổi
- Kiến trúc thượng tầng cũng tác động trở lại cơ sở hạ tầng:
o Kiến trúc thượng tầng luôn cũng cố bảo vệ cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó
o Kiến trúc thượng tầng thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển kinh tế thông qua đường lối, chủ trương của nhà nước tác động của nó các quan hệ sản xuất cấu thành cơ sở hạ tầng
Mối quan hệ giữa kiến trúc thượng tầng và lực lượng sản xuất là gián tiếp thông qua quan hệ sản xuất
Nguyên nhân động lực xã hội phát triển là lực lượng sản xuất phát triển, trong lực lượng sản xuất người lao động, công cụ lao động là chủ thể
Từ tất cả các nội dung trên ta thấy: hinh thái kinh tế - xã hội là 1 xã hội trọn vẹn, có cấu trúc phức tạp song có 3 yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng
Lực lượng sản xuất là yếu tố thường xuyên phát triển, khi nó phát triển đến 1 mức độ nhất định thì quan hệ sản xuất phải thay đổi quan hệ sản xuất thay đổi làm cơ sở hạ tầng thay đổi, cơ sở hạ tầng thay đổi dẫn đến sự thay
Trang 6đổi của kiến trúc thượng tầng đến đây tất cả các yếu tố tạo nên hình thái kinh tế - xã hội khác cao hơn, xã hội này chuyển sang xã hội khác phát triển hơn
- Xã hội này là 1 chỉnh thể có cấu trúc phức tạp, các lĩnh vực của xã hội hoạt động sản xuất tạo ra của cải vật chất là hoạt động quyết định
- Sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội (sự phát triển của xã hội loài người) là 1 quá trình lịch sử
-tự nhiên, tức là sự phát triển này không phụ thuộc ý muốn chủ quan của con người mà tuân theo những quy luật khách quan, trong đó quan trọng nhất là quy luật: lực lượng sản xuất – quan hệ sản xuất, quy luật
về cơ sở hạ tầng – kiến trúc thượng tầng
- Muốn cho xã hội phát triển, trước hết phải đầu tư vào người lao động và công cụ lao động) đồng thời hoàn thiện quan hệ sản xuất va kiến trúc thượng tầng để tác động tích cực đến lực lượng sản xuất
Vận dụng vào bối cảnh Việt Nam: nước ta thực hiện cách mạng trên 3 lĩnh vực (cụ thể: cách mạng về lực lượng sản xuất thể hiện qua sự nghiệp CNH, HĐH; hoàn thiện quan hệ sản xuất thể hiện đanh từng bước phát huy vai trò của nền kinh tế nhiều thành phần; kiến trúc thượng tầng hoàn thiện chính sách người lao động, chính sách cán bộ; kiến trúc thượng tầng từng bước hoàn thiện xây dựng hệ tư tưởng cách mạng nhân văn, về phương diện thiết chế tương ứng, từng bước xây dựng đảng, nhà nước các tổ chức khác trong sạch, vững mạnh
Câu 3 Phân tích nội dung cơ bản của cặp phạm trù “Cái chung và Cái riêng”? Ý nghĩa của cặp phạm trù
đó với hoạt động thực tiễn của đồng chí?
Khái niệm: - Cái riêng: Là một phạm trù triết học dùng để chỉ định sự vật, một hiện tượng, một quá trình riêng lẻ nhất định
- Cái chung: Là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ giống nhau được lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ
- Cái đơn nhất là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những mối quan hệ giống nhau được lập lại trong nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ
- Cái đơn nhất là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính vốn có chỉ ở mọi sự vật hiện tượng, không lặp lại ở các sự vật hiện tượng khác Nhờ cái đơn nhất mà con người có thể phân biệt được cái riêng này với cái riêng khác
- Theo quan điểm của CNDVBC mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung thể hiện như sau:
Thứ nhất: Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng thông qua cái riêng Điều đó có nghĩa là cái chung thực sự tồn tại, nhưng nó chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng chứ không tồn tại biệt lập, bên ngoài cái riêng
Thứ hai: Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ dẫn tới cái chung Điều đó có ý nghĩa là cái riêng tồn tại độc lập nhưng sự tồn tại độc lập đó không có nghĩa cái riêng hoàn toàn cô lập với cái khác Ngược lại, bất kỳ cái riêng nào cũng nằm trong mối liên hệ dẫn tới cái chung Cái riêng không những chỉ tồn tại cái riêng hoàn toàn cô lập với cái khác Ngược lại, bất kỳ cái riêng nào cũng nằm trong mối liên hệ dẫn tới cái chung Cái riêng không những chỉ tồn tại trong mối liên hệ dẫn tới cái chung, mà thông qua hàng nghìn sự chuyển hóa, nó còn liên hệ với cái riêng thuộc loại khác
Thứ ba: Cái chung là bộ phận của cái riêng còn cái riêng không ra nhập hết vào cái chung vì bên cạnh các thuộc tính được lặp lại các sự vật khác, tức là bên cạnh cái chung bất cứ cái riêng nào cũng còn chứa đựng những cái đơn nhất tức là những nét, những mặt, những thuộc tính chỉ vốn có ở nó và không tồn tại ở bất kỳ sự vật nào khác Cái riêng phong phú hơn cái chung, còn cái chung sâu sắc hơn cái riêng
Thứ tư: Trong quá trình phát triển khách quan, trong những điều kiện nhất định cái đơn nhất có thể chuyển hóa thành cái chung và ngược lại Sự chuyển hóa từ cái đơn nhất thành cái chung đó là sự ra đời của cái mới Sự chuyển hóa từ cái chung thành cái đơn nhất đó là sự mất dần đi cái cũ
• Ý nghĩa của việc nghiên cứu cặp phạm trù này
Cái chung và cái riêng gắn bó chặt chẽ không thể tách rời nên:
- Không được tách cái chung ra khỏi cái riêng Không được tuyệt đối hóa cái chung Nếu tuyệt đối hóa cái chung
sẽ mắc phải quan điểm sai lầm tả khuynh giáo điều Muốn tìm ra cái chung phải nghiên cứu từng cái riêng, thông qua cái riêng Phê phán quan điểm sai lầm của phái duy thực: cho rằng chỉ tồn tại cái chung không phụ thuộc vào
Trang 7cái riêng và sinh ra cái riêng Cái riêng thì hoặc là không tồn tại, hoặc nếu có tồn tại thì cũng là do cái chung sinh
ra va chỉ tạm thời Cái riêng sinh ra và chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định rồi mất đi, cái chung mới là cái tồn tại vĩnh viễn
- Không được tách rời cái riêng ra khỏi cái chung, không được tuyệt đối hóa cái riêng Nếu tuyệt đối hóa cái riêng sẽ mắc phải quan điểm sai lầm hữu khuynh xét lại, phê phán quan điểm sai lầm của phái duy danh cho rằng chỉ có cái riêng là tồn tại thực sự còn cái chung chẳng qua chỉ là những tên gọi do lý trí đặt ra trong nhận thức và hoạt động thực tiễn chúng ta phải biết phát hiện ra cái chung gắn liền với bản chất, quy luật vận động phát triển của sự vật
- Phải phát triển ra cái mới tiêu biểu cho sự phát triển và tạo điều kiện cho nó phát triển trở thành cái chung Ngược lại, hạn chế và đi đến xóa bỏ dần những cái cũ đã lỗi thời, lạc hậu
Câu 4 Trình bày nội dung quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập ? Ý nghĩa của quy luật đối với việc giải quyết những mâu thuẫn đang đặt ở địa phương, đơn vị đồng chí ?
Quy luật là những mối liên hệ mang tính bản chất, mối liên hệ tất nhiên lặp lại giữa các nhân tố, các thuộc tính trong những sự vật hay là giữa các sự vật – hiện tượng với nhau Quy luật gắn liền với nhận thức triết học và là một trong những khai niệm trung tâm của tư duy khoa học, là đối tượng khám phá của mọi nhận thức khoa học Qui luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là một trong ba qui luật cơ bản của phép biện chứng duy vật,
nó vạch ra nguồn gốc sự phát triển của các sự vật, hiện tượng được coi là hạt nhân của phép biện chứng duy vật Mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình đều là sự thống nhất của các mặt đối lập Để hiểu rõ hơn qui luật này, ta cần phải nắm được một số khái niệm cơ bản sau: Mặt đối lập là phạm trù dùng để chỉ những mặt tồn tại trong sự vật
có mang những đặc điểm, tính chất biến đổi theo khuynh hướng trái ngược nhau Sự tồn tại của các mặt đối lập trong sự vật là khách quan và phổ biến Bất kỳ sự vật nào cũng có hai hoặc nhiều mặt đối lập; và cứ hai mặt đối lập có liên hệ, tác động lẫn nhau thì tạo thành một mâu thuẫn biện chứng Mâu thuẫn biện chứng là khái niệm triết học dùng để chỉ sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau, bài trừ, phủ định lẫn nhau của các mặt đối lập biện chứng mâu thuẫn biện chứng trong tư duy là sự phản ánh mâu thuẫn biện chứng trong hiện thực khách quan và
là nguồn gốc phát triển của nhận thức hai mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn biện chứng tồn tại trong sự thống nhất của các mặt đối lập Heghen viết: “Mâu thuẫn, thực tế là cái thúc đẩy thế giới, là cội nguồn của tất cả vận động
và sự sống” C.Mác đã luận chứng và viết: “Cái cấu thành bản chất của sự vận động biện chứng chính là sự cùng nhau tồn tại của hai mặt mâu thuẫn, sự đấu tranh giữa hai mặt ấy và sự dung hợp của hai mặt ấy thành một phạm trù mới” hơn nữa, mâu thuẫn biện chứng chính là nguồn gốc của sự vận động và phát triển Nhấn mạnh điều này, V.I.Lênin đã viết: “Sự phát triển là một cuộc “đấu tranh” giữa các mặt đối lập” Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa lẫn nhau, tồn tại không tách rời nhau giữa các mặt đối lập, sự tồn tại của mặt này phải lấy sự tồn tại của mặt kia làm tiền đề Như vậy, cũng có thể xem sự thống nhất của hai mặt đối lập là tính không thể tách rời của hai mặt đó Giữa các mặt đối lập bao giờ cũng có những nhân tố giống nhau, đồng nhất với nhau Với ý nghĩa đó, “sự thống nhất của các mặt đối lập” còn bao hàm sự “đồng nhất” của các mặt đó Sự thống nhất của các mặt đối lập trong một sự vật còn biểu hiện là sự thẩm thấu vào nhau, tạo điều kiện, tiền đề cho nhau phát
triển Trong tác phẩm Gia đình thần thánh, C.Mác và Ph.Ăngghen viết rằng, giai cấp vô sản và sự giàu có là hai
mặt đối lập Hai cái như vậy hợp thành một khối thống nhất Cả hai đều là hình thức tồn tại của quyền tư hữu Sự thống nhất của các mặt đối lập còn biểu hiện ở sự tác động ngang nhau của chúng Song, đó chỉ là trạng thái vận động của mâu thuẫn ở một giai đoạn phát triển, khi diễn ra sự cân bằng của các mặt đối lập Khi nghiên cứu sự thống nhất của các mặt đối lập trong xã hội tư bản, C.Mác và Ph Ăngghen nói: Người tư hữu là mặt bảo thủ, người vô hữu là mặt phá hoại người thứ nhất có hành động nhằm duy trì mâu thuẫn, người thứ hai có hành động nhằm tiêu diệt mâu thuẫn sau khi vạch rõ bản chất của mỗi mặt đối lập của xã hội tu bản, C.Mác và Ph Ăngghen đã không những chỉ rõ trạng thái của xã hội ấy là thống nhất, mà còn chỉ rõ trạng thái ấy là đấu tranh giữa các măt đối lập Đấu tranh giữa các mặt đối lập là sự tác động qua lại, theo xu hướng bài trừ và phủ định lẫn nhau giữa các mặt đó Không thể hiểu đấu tranh của các mặt đối lập chỉ là sự thủ tiêu lẫn nhau của các mặt đối lập đó Sự thủ tiêu lẫn nhau của các mặt đối lập chỉ là một trong những hình thức đấu tranh của các mặt đối lập tính đa dạng của hình thức đấu tranh của các mặt đối lập tuỳ thuộc vào tính chất, mối quan hệ, lĩmh vực tồn tại của các mặt đối lập, cũng như điều kiện trong đó diễn ra cuộc đấu tranh giữa chúng V.I.Lênin viết: “Sự thống nhất (…) của các mặt đối lập có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, tương đối Sự đấu tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng như sự phát triển, sự vận động là tuyệt đối”
Ý nghĩa phương pháp luận:
Trang 8Phân tích mâu thuẫn phải xem xét mâu thuẫn một cách toàn diện và cụ thể Bởi vì, khi sự vật khác nhau thì mâu thuẫn của chúng cũng khác nhau; phải tìm cho ra mâu thuẫn cụ thể của từng sự vật để có biện pháp giải quyết phù hợp Trong cùng một sự vật có nhiều mâu thuẫn, mỗi mâu thuẫn có đặc điểm riêng; cho nên phải phân loại các mâu thuẫn của sự vật để có biện pháp giải quyết phù hợp với từng loại mâu thuẫn Quá trình phát triển mâu thuẫn có nhiều giai đoạn; mỗi giai đoạn, bản thân mâu thuẫn và từng mặt của nó có đặc điểm riêng và cách giải quyết cũng khác nhau…Thực hiện tốt yêu cầu này sẽ giúp chúng ta hiểu đúng mâu thuẫn của sự vật, hiểu đúng
xu hướng vận động, phát triển và điều kiện để giải quyết mâu thuẫn
Giải quyết mâu thuẫn phải giải quyết đúng lúc, đúng chỗ và đủ điều kiện Bởi vì, mâu thuẫn thường trải qua 3 giai đoạn: trong giai đoạn đầu chỉ mới xuất hiện sự khác nhau, hai mặt đối lập bắt đầu hình thành, đấu tranh thấp; trong giai đoạn hai, xuất hiện mâu thuẫn và thể hiện rõ sự đối lập, đấu tranh giữa hai mặt dối lập trở nên gay gắt; giai đoạn 3 là giai đoạn chuyển hoá, sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời Mỗi thời lịch sử đều có mâu thuẫn cơ bản – mâu thuẫn giữa hai giai cấp cơ bản trong xã hội Sự đấu tranh giữa các giai cấp ấy quyết định chiều hướng của sự phát triển Tuy nhiên, bên cạnh mâu thuẫn của những giai cấp cơ bản còn có nhiều mâu thuẫn của các tầng lớp khác, thậm chí ngay cả trong giai cấp vô sản cũng có sự khác nhau…Tất cả những cái đó cần phải được tính đến khi lựa chọn phương pháp và hình thức đấu tranh giai cấp, khi định ra chính sách Trong cuộc đấu tranh thực
tế, nếu không nhìn thấy tất cả cái lưới mâu thuẫn phức tạp ấy, tức là giản đơn hoá bức tranh đúng đắn về đấu trnah của các mặt đối lập Việc hiểu đúng tính chất phức tạp và nhiều vẻ đó của các mâu thuẫn xã hội, có ý nghĩa
to lớn đối với sự hoạt động thực tiễn của Đảng giai cấp vô sản
Câu 5 Trình bày nội dung quy luật: từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất ? Ý nghĩa của quy luật đó đối với việc xây dựng đội ngũ cán bộ ở địa phương, đơn vị đồng chí ?
Quy luật Lượng Chất là một trong ba quy luật cơ bản cơ bản của phép biện chứng duy vật, quy luật này chỉ ra cách thức vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng
Một số khái niệm:
o Chất của sự vật là tổng hợp những thuộc tính khách quan vốn có của nó, nói lên nó là cái gì, để
phân biệt nó với các khác
o Lượng của sự vật, không nói lên sự vật đó gì mà chỉ nói lên con số của những thuộc tính cấu thành
nó, như về : độ lớn (to – nhỏ), quy mô (lớn – bé), trình độ (cao – thấp), tốc độ (nhanh – chậm), màu sắc (đậm – nhạt)…
o “Độ” là giới hạn mà ở đó đã có sự biến đổi về Lượng nhưng chưa có sự thay đổi về Chất.
o Điểm nút là điểm giới hạn mà khi Lượng đạt tới sẽ làm thay đổi Chất của sự vật.
o Bước nhảy là sự thay đổi về Chất qua điểm nút.
- Sự phân biệt giữa Chất và Lượng chỉ là tương đối, cùng một sự vật, trong mối quan hệ này nó là Lượng, trong mối quan hệ khác nó là Chất Tính tương đối về sự phân biệt giữa Lượng và Chất, đòi hỏi tư duy con người phải mềm dẻo khi nhận thức chúng, tùy theo mối quan hệ cụ thể, để xác định nó là Chất hay Lượng
Nội dung cơ bản của quy luật:
- Sự vật, hiện tượng bao giờ cũng là thể thống nhất của hai mặt đối lập Lượng và Chất Lượng nào Chất ấy, Chất nào Lượng ấy Không có Chất Lượng tách rời nhau
- Sự thống nhất giữa Chất và Lượng thể hiện trong một giới hạn nhất định gọi là “Độ” Vậy, “Độ” là giới hạn trong đó có sự thống nhất giữa Lượng và Chất.hay, “Độ” là giới hạn mà ở đó đã có sự biến đổi về Lượng
nhưng chưa có sự thay đổi về Chất Sự vật, nó còn là nó, nó chưa là cái khác
- Sự vật biến đổi khi chất lượng biến đổi Nhưng chất là mặt tương đối ổn định, lượng là mặt biến động hơn Lượng biến đổi trong giới hạn “độ” thì sự vật chưa biến đổi Nhưng, lượng biến đổi “vượt độ” thì nhất định gây nên sự biến đổi về chất Chất biến đổi thì sự vật biến đổi Chất biến đổi gọi là “nhảy vọt” Nhảy vọt là bước ngoặc của sự biến đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất Sự vật củ mất đi, sự vật mới ra đời Nhảy vọt xảy ra tại “điểm nút” Điểm nút là tột định của giới hạn, tại đó diễn ra sự nhảy vọt
- Lượng biến đổi dẫn đến chất biến đổi phải có điều kiện Không phải cứ tăng, giảm đơn thuần về lượng trong bất kỳ điều kiện nào cũng đưa đến sự thay đổi về chất Như nước sôi 1000C bốc thành hơi, chỉ xảy ra trong điều kiện áp suất bình thường
- Chất mới ra đời đòi hỏi lượng mới, tương ứng với nó, đây chính là chiều ngược lại của quy luật Thật vậy, khi chất mới ra đời, chất mới lại quy định sự biến đổi về lượng Sự quy định này thể hiện ở chổ: làm cho quy mô, tốc độ, nhịp điệu, giới hạn vận động phát triển của lượng thay đổi
Trang 9- Quy luật này có tính phổ biến Được thể hiện trong mọi lĩnh vực của thế giới : cả tự nhiên, xã hội và tư duy
- Tóm lại, quy luật “từ những thay đổi dần dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại” là thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa hai mặt lượng chất trong sự vật Chất là mặt tương đối ổn định, lượng là mặt thường xuyên biến đổi Lượng biến đổi mâu thuẩn với khuôn khổ của chất củ, phá vỡ chất củ, chất mới ra đời với lượng mới Nhưng lượng mới lại tiếp tục biến đổi đến một giới hạn nào đó, lại phá vỡ chất đến nay đã củ đi, hiện đang kìm hãm… Cứ thế quá trình tác động biện chứng giữa hai mặt lượng chất, tạo nên cách thức vận động và phát triển của sự vật Thể hiện sự thống nhất giữa tính liên tục và tính đứt đoạn của sự vận động, phát triển của sự vật
- Thế giới sự vật, hiện tượng là đa dạng, phong phú, các bước nhảy cũng vậy Có bước nhảy đột biến hoặc dần dần, toàn cục hay cục bộ, tức là diễn ra với khoảng thời gian khác nhau, quy mô khác nhau nhưng dù với hình thức nào mỗi bước nhảy cũng là một sự thay đổi về chất
Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật lượng chất.
- Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, muốn thay đổi chất thì phải không ngừng tích lũy về lượng Cần tránh tư tưởng nôn nóng, vội vàng, thường không chú ý tích lũy về lượng
- Khi tích lũy đủ lượng phải chuyển sang thay đổi chất, từ tiến hóa sang cách mạng Cần tránh những tư tưởng ngại khó, ngại khổ, sợ sệt, không dám thực hiện những bước nhảy, kể cả khi có đầy đủ điều kiện
- Để sự biến đổi lượng đưa đến sự thay đổi chất phải biết sử dụng linh hoạt các bước nhảy Trong đời sống
xã hội phải chú ý cả điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, xác định rõ quy mô, nhịp điệu của bước nhảy một cách khoa học, chống máy móc, giáo điều
Câu 6 Thực tiễn là gì ? Trình bày vai trò của thực tiễn đối với nhận thức ? Liên hệ với công việc mà đồng chí đang đảm nhận ?
- Khái niệm thực tiễn
Thực tiến la toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử- xã hội của con người nhằm cải biến thế giới khách quan.
- Thực tiễn là hoạt động vật chất Tất cả những hoạt động bên ngoài hoạt động tinh thần của con người đều là hoạt động thực tiễn
- Là hoạt động có mục đích Khác hoạt đông bản năng của động vật
- Có tính lịch sử - xã hội: Là hoạt động của con người trong xã hội và trong những giai đoạn lịch sử nhất định
- hoạt động thực tiễn rất đa dạng, cơ bản có 3 hình thức:
+ Hoạt động sản xuất vật chất
+ Hoạt động chính trị - xã hội
+ Hoạt động thực nghiệm khoa học (Nhằm tạo ra môi trường giống hoặc gần giống môi trường sống bên ngoài: hoạt động này ngày càng đóng vai trò quan trọng)
- Trong 3 hoạt động trên, hoạt động sản xuất vật chất có vai trò quan trọng nhất, là cơ sở cho các hoạt động khác của con người và cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người
- Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
Thực tiễn và nhận thức không ngừng phát triển trong sự tác động lẫn nhau, trong đó thực tiễn đóng vai trò là cơ
sở, nguồn gốc, động lực, mục đích của nhận thức và là cơ sở của chân lý
a) Thực tiễn là cơ sở, nguồn gốc, động lực của nhận thức
- Con người muốn tồn tại thì phải lao động sx để tạo ra những sản phẩm phục vụ cho con người, muốn lao động
sx con người phải tìm hiểu thế giới xung quanh Vậy, hoạt động thực tiễn tạo ra động lực đầu tiên để con người nhận thức thế giới
- Trong hoạt động thực tiễn , con người dung cac song cụ, các phương tiện để tác động vào thế giới, làm thế giới bộc lộ những đặc điểm, thuộc tính, kết cấu, quy luật vận động; con người nắm bắt lấy các đặc điểm thuộc tính đó, dần dần hình thành tri thức về thế giới
- Trong hoạt động thực tiễn, con ngườidần tự hoàn thiện bản than mình, các giác quan của con người ngày càng phát triển do đó, làm tăng khả năng nhận thức của con người về thế giới
Trang 10- Trong bản thân nhận thức có động lực trí tuệ Nhưng suy cho cùng thì đông lực cơ bản của nhận thức là thực tiễn Trong hoạt động thực tiễn con người đã vấp phải nhiều trở ngại, khó khăn và thất bại Điều đó buộc con người phải giải đáp những câu hỏi do thực tiễn đặt ra Ănghen nói: Chính thực tiễn đã “đặt hàng” cho cac nhà khoa học phải giải đáp những bế tắc của thực tiễn (ngày càng nhiều ngành khoa học mới ra đời để đấp ứng yêu cầu của thực tiễn như KH vật liệu mới, KH đại dương, KH vũ trụ…)
- Trong hoạt động thực tiễn, con người chế tạo ra các công cụ, phương tiện có tác dụng nối dài các giác quan, nhờ vậy làm tăng khả năng nhận thức của con người về thế giới
b) Thực tiễn là mục đích của nhận thức: Mục đích của mọi nhận thức không phải vì bản thân nhận thức, mà vì thực tiễn nhằm cải biến giới tự nhiên, biến đổi xã hội vì nhu cầu của con người Mọi lý luận khoa học chỉ có ý nghĩa khi nó được ứng dụng vào thực tiễn
c) Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý: Làm sao để nhận biết được nhận thức của con người đúng hay sai? Tiêu chuẩn để đánh giá cuối cùng không nằm trong lý luận, trong nhận thức mà ở thực tiễn Khi nhận thức được xác nhận là đúng, nhận thức đó sẽ trở thành chân lý
Tuy nhiên cũng có trường hợp không nhất thiết phải qua thực tiễn khiêpr nghiệm mới biết nhận thức đó là đúng hay sai, mà có thể thông qua quy tắc logic vẫn có thể biết được nhận thức đó là thế nào Nhưng xét đến cùng thì những nguyên tắc đó cũng đã được chứng minh từ trong thực tiễn
Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý vừa có tính tuyệt đối lại vừa có tính tương đối:
Tuyệt đối là ở chỗ: Thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan để kiểm nghiệm chân lý, thực tiễn có khả năngg xác định
cái đúng, bác bỏ cái sai
Là tương đối ở chỗ: Thực tiễn ngay một lúc không thể khẳng định được cái đúng, bác bỏ cái sai một cách tức thì.
Hơn nữa, bản thân thực tiễn không đứng yên một chỗ mà biến đổi và phát triển liên tục, nên nó không cho phép người ta hiểu biết bất kỳ một cái gì hóa thành chân lý vĩnh viễn
Câu 7 Trình bày nguyên tắc về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, từ đó rút ra quan điểm thực tiễn ? Với cương vị công tác của mình đồng chí đã làm gì để đảm bảo nguyên tắc đó đối với công việc của bản thân ?
Đất nước Việt Nam bước vào thế kỷ XXI với những thành tựu to lớn đạt được trong 20 năm đổi mới Có được những kết qủa đó là do Đảng cộng sản Việt Nam đã vận dụng đúng đắn, sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mac-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng nước ta Một trong những nguyên tắc lý luận cơ bản mà Đảng ta đã vận dụng là nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của triết học Mac-Lênin.
Phạm trù Thực tiễn là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản của lý luận nhận thức Macxít nói riêng, chủ
nghĩa Mac-Lênin nói chung Trong lịch sử Triết học, các nhà triết học duy vật trước Mác không thấy được vai trò của hoạt động thực tiễn đối với nhận thức, lý luận nên quan điểm của họ mang tính chất trực quan Các nhà triết học duy tâm lại tuyệt đối hóa yếu tố tinh thần, tư tưởng của thực tiễn, họ hiểu họat động thực tiễn như là hoạt động tinh thần, hoạt động của “ý niệm”, tư tưởng, tồn tại đâu đó ngoài con người, nói cách khác, họ gạt bỏ vai trò thực tiễn trong đời sống xã hội Mac-Ăngghen, những nhà sáng lập chủ nghĩa Mac đã khắc phục những hạn chế trong quan điểm về thực tiễn của các nhà triết học trước và đưa ra quan điểm đúng đắn, khoa học về thực tiễn
và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức cũng như đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Với việc đưa phạm trù thực tiễn vào lý luận, Mac- Ăngghen đã thực hiện bước chuyển biến cách mạng trong lý luận nói
chung và trong lý luận nhận thức nói riêng Thực tiễn là hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử- xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội Hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của con người.
Nếu con vật chỉ hoạt động theo bản năng nhằm thích nghi một cách thụ động với thế giới bên ngoài, thì con người nhờ hoạt động thực tiễn là hoạt động có mục đích, có tính xã hội của mình mà cải tạo thế giới để thỏa mãn nhu cầu của mình, và để làm chủ thế giới Trong qúa trình hoạt động thực tiễn con người đã tạo ra được một
“thiên nhiên thứ hai” của mình, một thế giới của văn hóa tinh thần và vật chất, những điều kiện mới cho sự tồn tại và phát triển của con người vốn không có sẵn trong tự nhiên Vì vậy, không có hoạt động thực tiễn, con người
và xã hội loài người không thể tồn tại và phát triển được Thực tiễn là phương thức tồn tại cơ bản của con người
và xã hội, là phương thức đầu tiên, chủ yếu của mối quan hệ giữa con người và thế giới Thực tiễn có mối quan
hệ biện chứng với hoạt động nhận thức Trong mối quan hệ với nhận thức, vai trò của thực tiễn được biểu hiện