Xã hội hóa dịch vụ công nội dung quan trọng của quản lý công mới Trong bối cảnh toàn cầu hóa, nền hành chính công ở các quốc gia đều phải giải quyết nhiều hơn những vấn đề phức tạp của đời sống kinh t.
Trang 1Xã hội hóa dịch vụ công - nội dung quan trọng của quản lý công mới
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, nền hành chính công ở các quốc gia đều phảigiải quyết nhiều hơn những vấn đề phức tạp của đời sống kinh tế - xã hội, làthách thức đối với chính phủ ở nhiều nước Để vượt qua những thách thứcnày đòi hỏi hành chính công ở các nước phải thay đổi mạnh mẽ và tích cựchơn Theo đó, mô hình quản lý công mới gắn liền với xây dựng một chính phủgọn nhẹ, hoạt động hiệu quả, nhanh nhạy Đây là một xu hướng mới tronghoạt động của nhà nước - nền hành chính chuyển chức năng từ “cai trị” sangchức năng “phục vụ”, cung cấp dịch vụ công cho xã hội
Một trong những chức năng cơ bản của nhà nước giao cho nền hành chínhđảm trách là cung ứng dịch vụ công Nền hành chính ngày càng phát triển, vìvậy dịch vụ công được mở rộng trên nhiều lĩnh vực khác nhau với yêu cầungày càng cao về chất lượng, đồng thời cần phối hợp và điều hòa các nguyệnvọng cá nhân với lợi ích của cộng đồng, của đất nước, hướng tới các mục tiêucủa một xã hội dân chủ Nhiều hoạt động cung ứng dịch vụ công đượcchuyển giao dần cho các khu vực ngoài nhà nước thực hiện, nhà nước không
tự mình giải quyết tất cả các vấn đề xã hội mà đẩy mạnh dân chủ hóa gắn
với phân quyền, xã hội hóa nhằm tập trung chỉ thực hiện tốt vai trò “lái
thuyền” Theo cách tiếp cận này, hành chính công được coi là quản lý công
hay mô hình quản lý công mới (New Management) - đó là sự điều hành, giám
sát và quản lý các chủ thể khác nhau của xã hội nhằm phục vụ tốt hơn cácnhu cầu chính đáng của nhân dân
Thuật ngữ “Quản lý công mới” xuất hiện đầu tiên trong những năm cuối thậpniên 80 và đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, xuất phát từ các quốc gia nhưAnh, New Zealand và Australia khi khu vực công hoạt động không hiệu quả,chi phí cao nhưng chất lượng dịch vụ công lại thấp Do đó, với mong muốnđem lại những thay đổi tích cực hơn, các quốc gia này đã tìm giải pháp ở khuvực tư nhân Một mô hình hành chính công mới ra đời với tên gọi “Quản lýcông mới” có mục tiêu tạo ra một nền hành chính hoạt động hiệu quả và gầnvới thị trường hơn, đồng thời mô hình này cũng áp dụng các nguyên tắc, kỹthuật và thực tiễn quản lý theo cơ chế thị trường và cách thức hoạt động củakhu vực tư
Trong nền kinh tế thị trường, các lợi ích chung mà dịch vụ công đem lại thể
hiện dưới hình thức hàng hóa công cộng, là loại hàng hóa mà mọi người đều
có thể sử dụng, việc tiêu dùng của người này không giảm lượng tiêu dùngcủa người khác và nó vẫn tồn tại khi không tiêu dùng Dịch vụ công có nhiều
loại, từ y tế, giáo dục, kết cấu hạ tầng, xóa đói giảm nghèo cho đến an ninh,
bảo trợ xã hội Dịch vụ công có đặc điểm là tính chất xã hội cao, tính quầnchúng rộng rãi với mục tiêu là phục vụ lợi ích cộng đồng, không phân biệt
giai cấp, địa vị xã hội, công bằng Do đó, tính kinh tế, lợi nhuận trong cơ chế
thị trường không phải là điều kiện cần có của hoạt động dịch vụ công, việctrao đổi dịch vụ công không thông qua hoặc không bao hàm quan hệ thị
Trang 2trường đầy đủ Đối với một số dịch vụ công người sử dụng phải trả một phầnhay toàn bộ kinh phí, thì nhà nước vẫn có trách nhiệm cung cấp các dịch vụnày không nhằm mục tiêu lợi nhuận (như pháp luật, an ninh, quốc phòng,cấp các loại giấy tờ bảo đảm quyền sở hữu và các lợi ích khác của ngườidân).
Sự phát triển của dịch vụ công phụ thuộc vào nhiều khía cạnh từ sự pháttriển kinh tế, chính trị, văn hóa của mỗi quốc gia Ở Canada có tới 34 loạihoạt động được coi là dịch vụ công (quốc phòng, an ninh, pháp chế, tạo việclàm, quy hoạch, bảo vệ môi trường và các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa,bảo hiểm xã hội ) Tại Pháp, khái niệm dịch vụ công bao gồm các hoạtđộng công ích (điện, nước, giao thông công cộng, vệ sinh môi trường ); cáchoạt động sự nghiệp phục vụ nhu cầu tinh thần, sức khỏe của người dân(giáo dục, y tế, thể thao, thể dục ); các dịch vụ hành chính công (thuế vụ,
an ninh, quốc phòng, cấp phép hộ khẩu, hộ tịch ) Còn ở Ý, dịch vụ côngđược giới hạn ở hoạt động sự nghiệp, hoạt động kinh tế công ích (điện, nướcsạch, vệ sinh môi trường), các hoạt động cấp phép hộ khẩu, hộ tịch lại do cơquan hành chính thực hiện
Xã hội hóa dịch vụ công mang đến "lợi ích kép" cho cả khu vực nhà nước và khu vực tư nhân, nhà nước giảm được gánh nặng, tập trung hơn vào công tác quản lý vĩ mô, từ đó tạo điều kiện để khu vực tư nhân có cơ hội đầu tư và cạnh tranh phát triển Nhiều nhà cung ứng dịch vụ công sẽ tạo ra sự cạnh tranh nên dịch vụ cung cấp được rẻ hơn, tốt hơn; mặt khác, bộ máy nhà nước cũng trở nên gọn nhẹ và tiết kiệm hơn.
Tại Việt Nam, xã hội hóa được hiểu là chuyển giao việc cung ứng dịch vụ công cho các khu vực ngoài nhà nước; huy động đóng góp và động viên sự tham gia rộng rãi của công dân và các tổ chức xã hội, nghề nghiệp vào quá trình cung ứng dịch vụ công và Nhà nước là người chịu trách nhiệm trước xã hội về việc bảo đảm đáp ứng nhu cầu của nhân dân ở mức cao nhất với bất kỳ hình thức cung ứng nào.
Hiện nay có các hình thức xã hội hóa dịch vụ công như sau:
Nhà nước ủy quyền cho các tổ chức xã hội hay các công ty tư nhân cung ứng
một số dịch vụ mà nhà nước có trách nhiệm bảo đảm và thường có nguồnkinh phí từ ngân sách (vệ sinh môi trường, hệ thống cấp thoát nước, thu gom
và xử lý rác thải ) Các tổ chức và công ty được ủy quyền phải tuân thủnhững quy định của nhà nước và được nhà nước cấp kinh phí
Trang 3Chuyển giao trách nhiệm cung ứng dịch vụ công cho một số tổ chức ngoài nhà nước có điều kiện thực hiện có hiệu quả (đào tạo, khám chữa bệnh, tư
vấn, giám định) Các tổ chức ngoài nhà nước (như các hiệp hội nghề nghiệp,các tổ chức xã hội) này được khuyến khích hoạt động theo cơ chế không vìlợi nhuận, mà chỉ thu phí để tự trang trải
Tư nhân hóa một số dịch vụ công theo những tiêu chí về quyền lợi và trách
nhiệm, đồng thời nhà nước vẫn giám sát và bảo đảm lợi ích công cộng theo
pháp luật Ở trình độ phát triển cao về kinh tế và xã hội, nhà nước mua dịch
vụ công từ khu vực tư nhân, những dịch vụ mà tư nhân có thể làm tốt Nhờ
đó, số người làm dịch vụ trong cơ quan nhà nước sẽ được giảm bớt
Thực trạng xã hội hóa dịch vụ công ở Việt Nam
Đảng và Nhà nước ta có nhiều chủ trương, chính sách về đẩy mạnh xã hộihóa dịch vụ công, nhằm huy động nguồn lực từ trong nhân dân và sự thamgia của người dân vào việc giải quyết các vấn đề thuộc chính sách xã hội củaNhà nước, nhưng không làm giảm vai trò, trách nhiệm của Nhà nước trongviệc bảo đảm các dịch vụ công cơ bản cho người dân
Các trung tâm chăm sóc khách hàng - nơi tiếp nhận thông tin và hướng dẫn khách hàng sử dụng các dịch vụ trực tuyến của ngành điện_Ảnh: TTXVN
Thời gian qua, chúng ta đã đạt được một số thành quả từ việc xã hội hóa dịch
vụ công trên tất cả các lĩnh vực đời sống Bắt đầu từ thay đổi nhận thức vềvai trò của Nhà nước đối với các dịch vụ công liên quan đến thủ tục hànhchính - lĩnh vực mà trước đây chỉ có Nhà nước đảm trách - thì hiện nay đã đãchuyển giao một phần cho các tổ chức ngoài nhà nước Các chính sách, quyđịnh làm cơ sở cho việc thực hiện chủ trương đẩy mạnh xã hội hóa đã đượcChính phủ nghiên cứu, ban hành nhằm thu hút các nguồn lực tham gia vàohoạt động phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục, thể thao Kếtquả cho thấy, hệ thống các cơ sở cung ứng dịch vụ công ngoài công lập ngàycàng phát triển đáp ứng một phần đáng kể nhu cầu của xã hội trong các lĩnhvực giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục, thể thao…, tạo công ăn việc làm chohàng chục vạn người Mạng lưới các trường, cơ sở đào tạo, dạy nghề ngoàicông lập được mở rộng ở các cấp học Trình độ đào tạo; tỷ lệ học sinh, sinhviên ở các trường ngoài công lập ngày càng tăng Nhiều cơ sở y tế ngoàicông lập được thành lập ở các địa phương, thực hiện cấp cứu, khám, chữabệnh cho hàng triệu lượt người, góp phần giảm tải cho các cơ sở khám, chữabệnh công lập Các cơ sở cung ứng dịch vụ văn hóa và thể dục, thể thaongoài công lập tăng nhanh, thu hút được nhiều nguồn lực, nhiều thành phầnkinh tế trong xã hội tham gia
Chúng ta thực hiện có hiệu quả chủ trương đẩy mạnh xã hội hóa, huy độngđược nhiều nguồn lực xã hội để cùng với ngân sách nhà nước đầu tư cho cáclĩnh vực dịch vụ công, tạo điều kiện cho ngân sách nhà nước tập trung đầu tư
Trang 4phát triển các cơ sở công lập phục vụ những vùng nghèo, người nghèo vàbảo đảm những dịch vụ cơ bản như giáo dục phổ cập; các chương trình mụctiêu quốc gia; y tế dự phòng, y tế cơ sở, chăm sóc sức khoẻ cơ bản cho cácđối tượng chính sách, người nghèo Thúc đẩy việc hình thành cơ chế cạnhtranh giữa các loại hình tổ chức cung ứng dịch vụ công lập và ngoài công lậpnhằm mở rộng và nâng cao chất lượng phục vụ; nâng cao ý thức trách nhiệm
và mở rộng sự tham gia của toàn dân vào sự nghiệp phát triển giáo dục, y tế,văn hóa, thể dục, thể thao… của đất nước
Tuy nhiên, hiện nay, việc tăng nhanh số lượng các cơ sở cung ứng dịch vụngoài công lập đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước phải có những biệnpháp quản lý mới, nội dung và phương thức quản lý cần thay đổi do có nhiềuvấn đề nảy sinh trong việc kiểm soát chất lượng dịch vụ Không ít các doanhnghiệp trong khu vực tư nhân thường chú trọng đến lợi nhuận nhiều hơn nên
có xu hướng đẩy cao giá dịch vụ, các loại phí dịch vụ bị điều chỉnh tùy tiện,chất lượng dịch vụ không tương xứng, cơ chế tài chính thiếu minh bạch.Nhiều cơ sở tư nhân được thành lập tự phát khó kiểm soát được chất lượng,như hàng loạt trường mầm non tư thục thành lập nhưng không đáp ứng đủ
về không gian cho trẻ, thực phẩm và các điều kiện chăm sóc trẻ cũng khôngđược bảo đảm, thiếu giáo viên cơ hữu; các cơ sở khám, chữa bệnh không đápứng được yêu cầu, nâng tùy tiện giá thuốc; các hãng phim chạy theo xuhướng giải trí rẻ tiền, thiếu tính giáo dục, định hướng Tất cả đang đặt ravấn đề về kiểm soát chất lượng đối với các dịch vụ được khối tư nhân cungứng cho xã hội Tất nhiên, tình trạng kém chất lượng trong cung ứng dịch vụkhông bắt nguồn từ việc xã hội hóa, song mức độ xã hội hóa ồ ạt, thiếu kiểmsoát rõ ràng đã tác động tiêu cực đến quyền lợi của người thụ hưởng dịchvụ…
Nguyên nhân của những hạn chế trên là do:
Thứ nhất, quan niệm, nhận thức của xã hội về xã hội hóa chưa toàn diện và
đầy đủ, mới xem xã hội hóa là biện pháp huy động sự đóng góp tạm thờitrong điều kiện Nhà nước đang khó khăn về tài chính và ngân sách, chưathực sự quan tâm và quyết tâm đẩy mạnh xã hội hóa gắn với nâng cao chấtlượng các hoạt động dịch vụ công
Thứ hai, một bộ phận cán bộ, công chức và người dân có tư tưởng trông chờ,
ỷ lại vào sự cung cấp của Nhà nước, trong khi việc thông tin, tuyên truyền vềmục tiêu, sự cần thiết của xã hội hóa chưa được quan tâm đúng mức
Thứ ba, những chính sách, quy định, cơ chế để thu hút đầu tư của các nguồn
lực xã hội để phát triển các dịch vụ công ngoài công lập chưa đủ thu hút,chưa đủ mạnh; các chính sách đòn bẩy kinh tế như thuế, tín dụng, đất đai,chế độ tiền lương, bảo hiểm xã hội chưa được triển khai thực hiện đồng bộ vànhất quán để thúc đẩy sự phát triển của hệ thống các cơ sở dịch vụ ngoài
Trang 5công lập Công tác phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương chưa chặt chẽ,công tác chỉ đạo triển khai thực hiện của Nhà nước chưa quyết liệt.
Thứ tư, thói quen bao cấp, cửa quyền của cơ quan nhà nước chưa xóa bỏ hết,
đồng thời chưa hình thành được thói quen về yêu cầu xã hội hóa dịch vụcông trong xã hội, trong khi đó, tính tự phát của thị trường và người dân phátsinh khá phổ biến gây ra nhiều khó khăn cho những người muốn sống đúngpháp luật hay cạnh tranh lành mạnh Những tiêu cực, nạn hối lộ, tham nhữngvẫn diễn ra trong các hoạt động liên quan tới đầu tư công Mặt khác, nhiềulĩnh vực khu vực tư chưa đủ lớn mạnh để tiếp nhận việc cung ứng dịch vụmột cách tốt nhất, do đó Nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo cung ứng dịch vụ
Để nâng cao hiệu quả của xã hội hóa dịch vụ công tại Việt Nam thời gian tới
Trang 7Ngành y tế có mức độ xã hội hóa các dịch vụ công ở mức cao_Ảnh: TTXVN
Nâng cao hiệu quả của việc xã hội hóa dịch vụ công là yêu cầu tất yếu tronggiai đoạn phát triển mới của đất nước, nhất là khi hiện nay công tác xã hộihóa thực hiện chưa đủ mạnh Muốn thúc đẩy việc xã hội hóa dịch vụ công cốtlõi là cần nâng cao chất lượng phục vụ, đặt chức năng phục vụ lên hàng đầu,đồng thời thực hiện hiệu quả nhóm giaỉ pháp sau:
Một là, thống nhất nhận thức trong hệ thống chính trị và người dân về việc phát triển xã hội hóa dịch vụ công là một trong những giải pháp quan
trọng để huy động các nguồn lực và năng lực của xã hội, đáp ứng nhu cầu vàlợi ích của các tầng lớp nhân dân, phù hợp với sự phát triển đất nước Từ đó,tạo điều kiện cho mọi thực thể kinh tế tham gia vào dịch vụ công Các cấpchính quyền ban hành các cơ chế, chính sách và quy định những tiêu chuẩn,định mức, chất lượng, giá cả và dịch vụ… sao cho hợp lý; giao kế hoạch/đặthàng và thanh toán dịch vụ theo đơn đặt hàng với đơn vị, tổ chức cung ứngdịch vụ công; thực hiện trợ giúp người nghèo, đối tượng chính sách được thụhưởng dịch vụ sự nghiệp công; thanh tra, kiểm tra quá trình thực hiện dịch
vụ công; tạo môi trường cho các chủ thể kinh tế cạnh tranh, hợp tác vănminh, kinh doanh có văn hóa
Hai là, quyền sở hữu trong các loại hình xã hội hóa dịch vụ công cần được
làm rõ để người dân và xã hội hiểu đúng, hiểu đủ; đồng thời hình thành cácquan niệm đúng đắn, phù hợp liên quan đến các vấn đề về dịch vụ ngoàicông lập Hoàn thiện pháp luật một cách đồng bộ, trao thẩm quyền cụ thểcho từng loại cơ quan thực hiện quản lý và cung ứng dịch vụ công; đặt chếtài xử lý vi phạm cùng với cơ chế bảo đảm thực hiện các chế tài đó khi cóhành vi vi phạm Xây dựng, hoàn thiện hành lang pháp lý với những cơ chế,chính sách ưu đãi hiệu quả và khả khi nhằm khuyến khích việc chuyển đổi
mô hình hoạt động đối với các đơn vị sự nghiệp bán công và công lập sanghình thức tư thục, cũng như việc thành lập các cơ sở ngoài công lập, cổ phầnhóa Từng bước chuyển cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lậpsang cơ chế cung ứng dịch vụ Xây dựng các chế độ học phí, viện phí và phí,
lệ phí trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục, thể thao được tínhtoán đầy đủ, bao gồm các chi phí cơ bản, phù hợp với khả năng huy động cácnguồn lực trong xã hội và phù hợp với đặc điểm từng vùng, từng địa phương,từng loại đối tượng Cần có những quy định rõ về chức năng, nhiệm vụ, phạm
vi tự chịu trách nhiệm đối với những cơ sở công lập chuyển đổi sang hoạtđộng theo cơ chế sự nghiệp - tự chủ, tự hạch toán, tự chịu trách nhiệm Cơchế tài chính cần được làm rõ và mức độ vượt quá để Nhà nước có thể canthiệp kịp thời, tránh để tình trạng không kiểm soát được Quy định rõ Nhànước sẽ can thiệp khi có những thay đổi khách quan như thay đổi mức phí,khi giá dịch vụ cao hơn mặt bằng chung hoặc khi thực hiện chính sách xãhội…
Ba là, việc quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập cần được rà
soát, kiểm tra, đặc biệt chú ý đến quy hoạch phát triển các dịch vụ ngoài
Trang 8công lập nhằm đáp ứng quy mô định hướng phát triển, phù hợp với yêu cầucủa xã hội; điều chỉnh, bổ sung quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệpcông lập theo hướng mở rộng sự tham gia của các thành phần kinh tế, kể cảđầu tư của nước ngoài Các nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước đầu tư chophát triển các đơn vị dịch vụ công lập và dịch vụ ngoài công lập được tăngcường và đa dạng hóa.
Bốn là, Nhà nước cần ban hành những chính sách hỗ trợ đầu tư ban đầu và
khuyến khích các cơ sở ngoài công lập cùng với các chính sách đầu tư cóhiệu quả cho các loại hình dịch vụ công lập, đa dạng các hình thức như: tưnhân góp vốn, liên doanh, vốn đầu tư nước ngoài; BOT (đầu tư - khai thác -chuyển giao), BT, BTO; đầu tư xây dựng nhà cửa, kết cấu hạ tầng cho các cơ
sở ngoài công lập thuê dài hạn với giá ưu đãi, khuyến khích các cơ sở ngoàicông lập có điều kiện phát triển Các địa phương có quy hoạch về đất, dànhquỹ đất để xây dựng và phát triển các cơ sở ngoài công lập phù hợp với địnhhướng phát triển xã hội hóa Đẩy mạnh truyền thông, thông tin về chủtrương, chính sách của Đảng và Nhà nước, trong đó có các nội dung xã hộihóa dịch vụ công một cách thường xuyên, sinh động, đa dạng và hiệu quảtrên các phương tiện truyền thông
Năm là, thiết lập cơ chế kiểm tra, kiểm soát hợp lý, quan trọng là phải ban
hành được các chuẩn về chất lượng dịch vụ công Hiện nay, các dịch vụ côngmới chỉ cung ứng tới người dân và xã hội một cách thụ động, mức độ cungứng cơ bản, thiết yếu so với nhu cầu và chưa có một hệ thống chuẩn mực để
so sánh, đánh giá và hướng tới Phương thức cung ứng vẫn còn hạn chế, dậpkhuôn, kém năng động và chưa phù hợp với các vùng miền có đặc điểm kinh
tế, xã hội khác nhau Cần xây dựng và ban hành tiêu chuẩn hóa về cán bộ,điều kiện cơ sở vật chất và những yêu cầu khác đối với các cơ sở ngoài cônglập; quy định chế độ thông tin, báo cáo và trách nhiệm giải trình của các đơn
vị dịch vụ sự nghiệp công Hình thành các tổ chức kiểm định, đánh giá chấtlượng dịch vụ độc lập theo ngành, lĩnh vực; xây dựng cơ chế giám sát và đẩymạnh công tác kiểm tra, thanh tra để kịp thời xử lý những hiện tượng tiêucực, tuỳ tiện Phát huy vai trò của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chứcphi chính phủ trong quản lý và tổ chức cung ứng dịch vụ công Chế độ chịutrách nhiệm phải được thực hiện nghiêm túc và thường xuyên
Sáu là, tăng cường hợp tác quốc tế, tranh thủ các nguồn viện trợ nhằm đẩy
mạnh cho giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ; có chính sách động viên, thuhút đội ngũ trí thức Việt kiều về nước tham gia giảng dạy, nghiên cứu khoahọc, khám, chữa bệnh, hoạt động văn hóa, thi đấu thể thao…
Xã hội hóa dịch vụ công là một biện pháp hữu hiệu để giải quyết tốt mốiquan hệ giữa phát triển kinh tế và bình đẳng xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội
Vai trò của Nhà nước là sáng tạo và vận dụng phương tiện lập pháp để tạo
điều kiện cho tự do cạnh tranh một cách hoàn hảo trên lĩnh vực này Tuynhiên, việc đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ công cũng phải tuân thủ nghiêm
Trang 9ngặt những nguyên tắc căn bản của việc phát triển kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa, để tránh được tình trạng biến tướng từ “xã hội hóa”dịch vụ công thành “tư nhân hóa”, gây phản phát triển /.
Về dịch vụ công và quản lý cung ứng dịch vụ công
30/10/2019
(QLNN) – “Dịch vụ công” và “quản lý cung ứng dịch vụ công” là những thuật ngữ khá phố biến trong lĩnh vực quản lý công Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu, phân tích và đưa ra các khái niệm, làm rõ nội hàm của những thuật ngữ này, tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hoá thì khái niệm “dịch vụ công” và “quản lý cung ứng dịch vụ công” vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu từ giác độ khoa học quản lý công để xác định thêm những hàm nghĩa mới.
Ảnh minh hoạ: Internet
Dịch vụ công
Trang 10Dịch vụ công (DVC) được hiểu lànhững hoạt động phục vụ nhu cầu thiết yếu của
xã hội và người dan; vì lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội; do Nhà nước trực tiếp đảm nhận hay ủy quyền và tạo điều kiện cho khu vực tư nhân thực hiện.
Cung ứng dịch vụ (Sevice delivery) được hiểu “liên quan đến việc cung cấp hàng hóa công hữu hình và bản thân các dịch vụ vô hình”1 Như vậy, DVC không chỉ thuần tuý là dịch vụ do Nhà nước cung cấp, bản chất của nó là sự cung ứng hàng hóa, sản phẩm hữu hình hoặc vô hình cho lợi ích công cộng.
Theo đó, xuất hiện các mô hình cung ứng DVC: mô hình nhà nước cung cấp tài chính và tổ chức cung ứng dịch vụ; mô hình tư nhân cung ứng tài chính và tư nhân
tổ chức cung ứng dịch vụ; mô hình liên kết giữa nhà nước và tư nhân trong cung ứng dịch vụ; mô hình “lấp chỗ trống” (thay thế) Khi hoạt động cung ứng dịch vụ còn khoảng trống nào đó chưa được tính đến thì các cá nhân, tổ chức sẽ được quyền đề xuất bổ sung và thực hiện.
Việc cung ứng DVC được chia thành khu vực cung ứng DVC cốt lõi Theo đó, khu vực cốt lõi này sẽ cung cấp dịch vụ dựa trên cơ sở pháp lý và các nguyên tắc trong quản lý công Đối với khu vực cung ứng DVC mở rộng, chủ yếu dựa trên nhu cầu người thụ hưởng, do đó mang tính cạnh tranh cao Hoạt động cung ứng DVC được thực hiện trên nguyên tắc, cái gì xã hội làm được thì “Nhà nước sẽ chuyển giao” Nhà nước chỉ đảm nhận cung ứng các DVC cốt lõi mà không thể thay thế được Tính chất của DVC hiện nay đã có nhiều thay đổi Có thể đưa ra một số thay đổi cơ bản sau:
– Nhu cầu, thị hiếu của người thụ hưởng DVC thay đổi Toàn cầu hóa tạo nên một
“thế giới phẳng”, do đó, những nhu cầu gắn với thói quen, truyền thống văn hóa của cư dân bản địa dần được bổ sung, dịch chuyển theo khuynh hướng chung của cộng đồng quốc tế Cùng với đó là sự phát triển của công nghệ, cơ hội mở rộng, giao thoa về kinh tế, văn hóa – xã hội khiến mảng “cầu” trong dịch vụ trở nên đa dạng hơn.
– Sự thay đổi về “cầu” tác động trực tiếp đến nguồn cung và các biện pháp cung ứng dịch vụ: Phạm vi cung ứng dịch vụ mở rộng Để cạnh tranh, hoạt động cung ứng dịch vụ sẽ tiếp cận người tiêu dùng trực tiếp hơn, nắm bắt xu thế nhanh nhạy hơn, do đó, việc cạnh tranh cũng quyết liệt hơn do cơ hội lựa chọn của người tiêu dùng nhiều hơn.
– Sản phẩm hàng hóa DVC thay đổi: các sản phẩm hàng hóa DVC sẽ chứa đựng nhiều giá trị văn hóa tích hợp, không thuần nhất gắn với một vùng lãnh thổ hay một nền văn hóa nào do đối tượng thụ hưởng dịch vụ cũng không thuần nhất như trước đây.
Trang 11– Việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ thay đổi: Đó là khuynh hướng tiện ích, thiết thực, dễ thay đổi mang tính phổ biến Việc sử dụng sản phẩm dịch vụ dễ bị tác động theo xu thế, trào lưu Chính những thay đổi trong cung ứng DVC đặt ra yêu cầu thay đổi trong quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này.
Quản lý cung ứng dịch vụ công
Cung ứng DVC là do Nhà nước hoặc khu vực tư thực hiện, tuy nhiên, quản lý cung ứng DVC lại là chức năng quan trọng của Nhà nước.
Tuy nhiên, vấn đề đưa ra là, nhà nước sẽ quản lý như thế nào và quản lý bằng cách nào để một mặt, thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ của người dân, của cộng đồng xã hội, mặt khác vẫn bảo đảm sự bình ổn, phát triển lâu dài và theo sát các mục tiêu đã đề ra.
Quản lý (hoặc hành chính) – Administration là việc: “Thực thi hoạt động của những người được giao mục tiêu chung Một cách xem xét hệ thống hành chính là: (1) Một môi trường kích thích công tác hành chính cũng như tiếp cận những sản phẩm được tạo ra từ những hoạt động của nó (2) Các nguồn vào chuyển tải đi khả năng kích thích của môi trường đến công tác hành chính (3) Các nguồn chuyển tải
đi những kết quả của hành động hành chính đến môi trường (4) Quá trình chuyển hóa nguồn vào thành nguồn ra (5) Thông tin phản hồi đưa các nguồn ra của một giai đoạn trở lại quá trình chuyển hóa và trở thành nguồn của giai đoạn sau”2.
Liên quan đến thuật ngữ quản lý, còn có một cụm từ khác cũng cần được quan tâm,
đó là “Quy trình quản lý phù hợp” Trong tiếng Anh, “Quy trình quản lý phù hợp” (Administrtive due process) được luận giải là: “Một thuật ngữ bao quát một số điểm trong luật hành chính, đòi hỏi các thủ tục hành chính của các cơ quan chính phủ, các uỷ ban phải dựa trên các chỉ dẫn được ghi thành văn bản nhằm bảo vệ các quyền của cá nhân và bảo vệ họ trước việc sử dụng quyền lực hành chính một cách tùy tiện, không công bằng”3.
Nhà nước quản lý DVC thông qua bộ máy hành chính quan liêu Bộ máy hành chính quan liêu (Bureaucracy) là hệ thống hành chính có nhiệm vụ tổ chức thực hiện chính sách thông qua các thủ tục đã được tiêu chuẩn hóa và dựa trên khả năng chuyên môn hóa nhiệm vụ Theo nghĩa ban đầu, nó được mô tả như một phương pháp hành chính được chính thức hóa và hệ thống và hệ thống hóa (mà Max Weber gọi là các quy tắc có thể tính toán được, các tổ chức với những đặc điểm cấu trúc nhằm thúc đẩy hiệu lực và nhằm phấn đấu đạt được một số mục tiêu nhất định) Một số đặc điểm của bộ máy hành chính quan liêu đó là: một hệ thống phân bậc thẩm quyền và tập trung hóa dựa trên các đạo luật, với một phạm vi thẩm quyền
Trang 12nhà nước đã được xác định và được kiểm soát; một hệ thống hoạt động chuyên môn hóa; mức thẩm quyền được phân chia theo thứ bậc với những kênh thông tin liên lạc chính thức giữa các mức khác nhau; cắt giảm tất các các công việc cho phù hợp vói các quy tắc và thủ tục chính thức; thực thi nhiệm vụ mà không cần đếm xỉa đến cảm nghĩ hay cảm tình cá nhân, song nhấn mạnh đến chức năng và thẩm quyền4.
Quay trở lại với việc quản lý cung ứng DVC Rõ ràng, hoạt động quản lý của nhà nước với bộ máy và tất cả các quy trình, công cụ của nó sẽ tác động trực tiếp hoạt động cung ứng DVC, tức là môi trường của hoạt động hành chính Nhà nước quản
lý hoạt động cung ứng dịch vụ để bảo đảm sự công bằng, tính hiệu quả cũng như kiểm soát chất lượng dịch vụ.
Đặc biệt, đối với một số lĩnh vực dịch vụ thiết yếu, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tinh thần, sức khoẻ, năng lực và trình độ của người dân, hoạt động quản lý của nhà nước càng đòi hỏi sự chặt chẽ, giải quyết nhanh chóng và xử lý kịp thời Cùng với đó, nhà nước sẽ phải tạo ra một môi trường kết nối, hình thành chuỗi cung ứng dịch vụ để bảo đảm hiệu quả cao nhất Việc quản lý không chỉ thiết lập các trật tự trong cung ứng dịch vụ, cũng không chỉ đơn thuần điều tiết các hoạt động này.
Ở một khía cạnh khác, quản lý cung ứng dịch vụ còn phải quan tâm đến quản lý
“cầu” Nghĩa là, các nhà quản lý sẽ phải nắm bắt nhu cầu của người dân, của các cộng đồng và xã hội Việc nắm bắt đó giúp Nhà nước xây dựng được khung pháp
lý cũng như các quy trình, thủ tục trong quản lý phù hợp với thực tế, tránh được
“bệnh quan liêu” mang tính “bàn giấy” cứng nhắc…
Mặt khác, việc nắm bắt nhu cầu này sẽ giúp cơ quan quản lý nhà nước định hướng
được xu thế phát triển mang tính chiến lược, tức là tiếp cận “Thông tin phản hồi đưa các nguồn ra của một giai đoạn trở lại quá trình chuyển hóa và trở thành nguồn của giai đoạn sau” như trên đã nêu.
Trong một số trường hợp, nếu thấy “cầu” chững lại, ảnh hưởng đến dịch vụ
“cung”, tác động đến sự phát triển kinh tế – xã hội thì Nhà nước sẽ phải có chính sách “kích cầu” Bên cạnh đó, qua phân tích, nắm bắt và xử lý thông tin, nếu nhận thấy có những sản phẩm dịch vụ mang tính thiết yếu, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội và có lợi cho người dân, cho cộng đồng, Nhà nước phải thực hiện chức năng “định hướng cầu”.
Hiện nay, có khá nhiều những vấn đề đặt ra với việc quản lý cung ứng DVC, qua
đó cũng cho thấy sự lúng túng của nhiều cơ quan quản lý nhà nước khi giải quyết,
xử lý các “sự cố” xảy ra đối với hoạt động này.
Trang 13“Quản lý DVC” cần phải có cách hiểu chính xác, đầy đủ và linh hoạt Theo đó, quản lý cung ứng DVC là sự quản lý phải đáp ứng với nhu cầu được cung ứng DVC trong thực tiễn.
Kinh nghiệm cung ứng dịch vụ công của một số nước trên thế giới và
một số gợi mở đối với Việt Nam
TCCT ThS LÊ THỊ HƯƠNG (Học viện Hành chính Quốc gia)
• Vai trò của hợp tác công tư trong cung cấp dịch vụ công ở nước ta hiện nay
• Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty TNHH Một thành viên Dịch vụ công ích quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh
• Thống nhất tiêu chí xây dựng Cổng dịch vụ công và Hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp bộ, tỉnh
TÓM TẮT:
Mọi công dân đều có quyền tiếp nhận các dịch vụ công một cách bình đẳng Nhànước có trách nhiệm đảm bảo và giám sát tính hiệu quả trong cung ứng dịch vụcông và tính công bằng trong thụ hưởng dịch vụ công bằng những cách thứcnhất định Bài viết đề cập đến việc học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia pháttriển trên thế giới để áp dụng vào cải cách và cung ứng dịch vụ công, nhằm thựchiện tốt chức năng phục vụ xã hội của nhà nước là một yêu cầu bức thiết hiệnnay ở Việt Nam
Từ khóa: Cung ứng, dịch vụ công, kinh nghiệm
1 Mô hình cung ứng dịch vụ công của một số quốc gia trên thế giới
Quá trình cải cách khu vực công nói chung, cải cách quản lý dịch vụ công nóiriêng đã diễn ra ở nhiều nước phát triển như Anh, Mỹ, Canada, Autralia, NewZealand từ giữa thập niên 80 của thế kỷ XX đến nay Đối với các quốc gia này
đã triển khai những mô hình cung ứng dịch vụ công và đã mang lại những hiệuquả nhất định, cụ thể là: