1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực công chứng

46 12 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả nghiên cứu: Đề tài đã làm rõ các lý luận về xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực công chứng, đưa ra được thực tiễn xã hội hóa công chứng ở tỉnh Bình Dương, đồng thời phân tích

Trang 3

UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1 Thông tin chung:

-Tên đề tài: Xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực công chứng

- Sinh viên thực hiện:

năm đào tạo

- Người hướng dẫn: Thạc sĩ Nguyễn Thị Hồng Trang

2 Mục tiêu đề tài:

- Làm rõ các vấn đề lý luận về xã hội hóa, dịch vụ công, xã hội hóa dịch vụ công, dịch vụ công chứng, xã hội hóa công chứng

- Các quy phạm pháp luật về xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực công chứng

- Đánh giá thực tiễn xã hội hóa dịch vụ công chứng ở Bình Dương hiện nay

- Phân tích được các ưu và nhược điểm của việc áp dụng cơ sở lý luận vào thực

tế, từ đó kiến nghị phương pháp giải quyết các vấn đề cả về lý luận và thực tiễn

3 Tính mới và sáng tạo:

Đưa ra quan điểm mới về nhận thức xã hội hóa dịch vụ công mà đặc biệt là lĩnh vực công chứng, nhìn nhận khách quan về vấn đề thực tiễn, đưa ra những kiến nghị để giải quyết được các vấn

đề lý luận và thực tiễn hiện tại

4 Kết quả nghiên cứu:

Đề tài đã làm rõ các lý luận về xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực công chứng, đưa ra được thực tiễn xã hội hóa công chứng ở tỉnh Bình Dương, đồng thời phân tích nguyên nhân của những bất cập hiện có, từ đó đưa ra những kiến nghị để phát huy ưu điểm và giải pháp hoàn thiện hơn quá trình xã hội hóa dịch vụ công chứng

Trang 4

5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội,giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòngvà khả năng áp dụng của đề tài:

Đóng góp của đề tài: đề tài mang lại những giá trị nhận thức về xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực công chứng nhằm tạo điều kiện để phát triển kinh tế và xã hội,

6.Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài (ghi rõ họ tên tác giả, nhan đề

và các yếu tố về xuất bản nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ sở đã áp dụng các kết quả nghiên cứu (nếu có):

Ngày tháng năm

Sinh viên chịu trách nhiệm chính

thực hiện đề tài

(ký, họ và tên)

Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên thực hiện đề tài (phần

này do người hướng dẫn ghi):

Trang 5

UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN

CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:

Họ và tên: Đặng Thị Kim Chi

Sinh ngày: 24 tháng 07 năm 1996

Nơi sinh: Đăk Đoa – Gia Lai

Lớp: D14LU05 Khóa: D14

Khoa: Luật

Địa chỉ liên hệ: 110/5 đường 30 tháng 4, tổ 11 khu phố 2 phường Phú Hòa, thành phố Thủ Dầu Một,

Bình Dương

Điện thoại: 01663836559 Email: dangthikimchi1996@gmail.com

II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP (kê khai thành tích của sinh viên từ năm thứ 1 đến năm đang học):

Trang 6

Thông tin cá nhân của sinh viên chịu trách nhiệm :

Địa chỉ liên hệ: 110/5 đường 30 tháng 4, tổ 11 khu phố 2, phường Phú Hòa

Thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương.

Số điện thoại (cố định, di động): 01663836559

Địa chỉ email : dangthikimchi1996@gmail.com

Tôi (chúng tôi) làm đơn này kính đề nghị Ban tổ chức cho tôi (chúng tôi) được gửi đề tài nghiên cứu khoa học để tham gia xét Giải thưởng “Tài năng khoa học trẻ Đại học Thủ Dầu Một”năm

2016

Tên đề tài: Xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực công chứng

Tôi (chúng tôi) xin cam đoan đây là đề tài do tôi (chúng tôi) thực hiện dưới sự hướng dẫn

của Thạc sĩ Nguyễn Thị Hồng Trang; đề tài này chưa được trao bất kỳ một giải thưởng nào khác tại thời điểm nộp hồ sơ và không phải là luận văn, đồ án tốt nghiệp

Nếu sai, tôi (chúng tôi) xin chịu trách nhiệm trước khoa và Nhà trường

Xác nhận của lãnh đạo khoa Người làm đơn

(ký, họ và tên) (Sinh viên chịu trách nhiệmthực hiện đề tài

ký và ghi rõ họ tên)

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.1.KHÁI NIỆM XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG TRONG LĨNH VỰC CÔNG CHỨNG 5

1.1.1 Khái niệm dịch vụ công 5

1.1.2 Khái niệm công chứng 7

1.1.3 Khái niệm xã hội hóa 10

1.2 Đặc điểm của xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực công chứng 14

1.3 Nguyên tắc của xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực công chứng 15

CHƯƠNG 2 19

2.1.QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG TRONG LĨNH VỰC CÔNG CHỨNG 19

2.1.1.Cơ sở pháp lý xã hội hóa dịch vụ công chứng 19

2.1.2.Chủ thể thực hiện dịch vụ công chứng 21

2.1.3.Nguyên tắc xã hội hóa dịch vụ công chứng 22

2.2.Thực trạng xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực công chứng 26

2.2.1 Thực trạng xã hội hóa dịch vụ công chứng trước khi Luật công chứng 2006 ra đời 27

2.2.2 Thực trạng xã hội hóa dịch vụ công chứng từ khi Luật công chứng năm 2006 ra đời đến trước khi Luật công chứng năm 2014 có hiệu lực 27

2.2.3 Thực trạng xã hội hóa công chứng từ khi Luật công chứng năm 2014 có hiệu lực đến nay 29

2.3.Một số kiến nghị 31

KẾT LUẬN 35

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 37

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay vấn đề cải cách tổ chức và hoạt động nhà nước không chỉ là mối quan tâm của “những người lãnh đạo” mà là của toàn xã hội, toàn Đảng, toàn dân Làm thế nào để cải cách bộ máy hành chính phục vụ tốt cho nhân dân, vừa nhanh chóng lại hiệu quả? Làm thế nào để phát huy tính dân chủ và tăng cường tính pháp chế trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và nhu cầu hội nhập mới? Xã hội hiện đại năng động và sáng tạo nên cần phát huy tất cả các tiềm lực có trong chính xã hội mà nhà nước tồn tại, vì vậy chủ trương xã hội hóa là một trong những chủ trương trọng điểm của nhà nước ta hiện nay

Nằm trong chủ trương cải cách của nhà nước, xã hội hóa mà đặc biệt là xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực công chứng là một nhu cầu cũng như là giải pháp cho nhiều vấn đề hiện nay của đất nước ta Trên tinh thần Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, cùng với Luật công chứng

2006 và Luật công chứng mới được ban hành năm 2014 và các văn bản quy phạm pháp luật khác đã đưa nước ta đến với quá trình xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực công chứng, hoàn thiện hơn mô hình cung cấp dịch vụ công cũng như là dịch vụ công chứng

Tuy nhiên, hiện nay trên thực tế, việc nhận thức về vấn đề này cả về lý luận vẫn thực tiễn còn khá mập mờ, chưa rõ ràng, còn khá nhiều ý kiến quan điểm khác nhau Các nhà nghiên cứu luôn tìm ra những giải pháp để hướng vấn đề xã hội hóa dịch vụ công chứng đến gần hơn với mọi người, để không chỉ là các cán bộ, công chức, cơ quan tư pháp, cơ quan hành chính… mà người dân cũng hiểu sâu hơn về nhu cầu, lợi ích, phương pháp và ý nghĩa để cùng chung tay xây dựng một mô hình cung ứng dịch

vụ công mới

Vì vậy, trước những chủ trương, chính sách trên, chúng ta cần phải hiểu một cách khoa học, đúng và đủ về nội dung, phương pháp và tình hình thực tế và tiến hành nghiên cứu một cách nghiêm túc, toàn diện để làm cơ sở tin cậy cho quá trình xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực công chứng

Trang 10

Là thế hệ trẻ, khi được tiếp xúc với vấn đề, chúng tôi không khỏi băn khoăn về những hạn chế của vấn đề về lý luận và thực tiễn, đồng thời với sức trẻ của mình tác giả mong muốn được đưa ra những ý tưởng về giải pháp để đóng góp nhiều hơn cho quá trình xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực công chứng và xây dựng đất nước, đặc biệt là với mảnh đất Bình Dương, nơi chúng tôi có duyên được sinh sống và học

tập Đó là lý do tác giả chọn đề tài “Xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực công

chứng”

2 Tình hình nghiên cứu

Liên quan đến đề tài, theo tìm hiểu của tác giả đã có các công trình nghiên cứu như:

Về xã hội hóa dịch vụ công, có công trình nghiên cứu của Th.S Nguyễn Quang

Sáng “Vai trò của nhà nước trong điều kiện xã hội hóa dịch vụ công”, công trình “Một

số vấn đề đổi mới dịch vụ công ở Việt Nam” của tác giả Đặng Đức Đam, tác giả Chu

Văn Thành cũng đóng góp công trình “Dịch vụ công và xã hội hóa dịch vụ công – một

số vấn đề lý luận và thực tiễn” Và đặc biệt là giáo trình “Luật hành chính Việt Nam”

của PGS.TS Nguyễn Cửu Việt đã đề cập rất cụ thể, chi tiết về dịch vụ công và xã hội hóa dịch vụ công

Trong lĩnh vực công chứng, trước khi Luật công chứng năm 2014 có hiệu lực áp dụng, có các công trình nghiên cứu của các tác giả sau: Tác giả Lê Huỳnh Trang với

đề tài bảo vệ luận văn thạc sĩ luật học “Xã hội hóa công chứng dưới góc độ pháp luật

hành chính” năm 2009; tác giả Hà Chi với bài báo “Tình hình xã hội hóa công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2014”

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu nói trên đề cập rất chung về xã hội hóa dịch

vụ công chứng nói chung trên phạm vi cả nước hoặc chỉ phản ánh tình hình thực hiện

xã hội hóa công chứng ở Bình Dương Hiện nay, chưa có một công trình nghiên cứu một cách toàn diện cả về lý luận và thực tiễn về xã hội hóa công chứng ở Bình Dương đặc biệt là từ khi Luật công chứng năm 2014 ra đời

Vì vậy, trên cơ sở kế thừa các kiến thức từ các công trình nghiên cứu trước, “Xã

hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực công chứng” trên địa bàn tỉnh Bình Dương là một

Trang 11

đề tài nghiên mang tính hệ thống về lý luận và tình hình thực tiễn, góp phần làm cơ sở các vấn đề xã hội hóa dịch vụ công mà đặc biệt là dịch vụ công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương cũng như trong cả nước

3 Phạm vi nghiên cứu

“Xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực công chứng” là một đề tài khá rộng, vì

vậy trong phạm vi đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên, tác giả chỉ nghiên cứu trong phạm vi thực tiễn của tỉnh Bình Dương Dưới góc nhìn Pháp Luật, cũng như về điều kiện sinh sống và học tập tại Bình Dương hiện nay, tác giả đề tài chủ yếu làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực công chứng tại tỉnh Bình Dương, đánh giá thực tiễn công chứng cũng như xã hội hóa công chứng, đồng thời đưa ra giải pháp cho những vấn đề còn tồn tại

4 Mục đích – nhiệm vụ của đề tài

4.1 Mục đích của đề tài

Mục đích của đề tài là trên cơ sở những nghiên cứu, làm sáng tỏ các vấn đề về lý luận và thực tiễn của quá trình xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực công chứng, để

từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện quá trình cải cách tổ chức hoạt động công chứng

và tiến hành thành công xã hội hóa dịch vụ công chứng nói riêng và các dịch vụ công nói chung

4.2 Nhiệm vụ của đề tài

Để thực hiện tốt các mục đích trên, đề tài phải hoàn thành các nhiệm vụ sau:

- Làm rõ các vấn đề lý luận về xã hội hóa, dịch vụ công, xã hội hóa dịch vụ công, dịch vụ công chứng, xã hội hóa công chứng

- Các quy phạm pháp luật về xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực công chứng

- Đánh giá thực tiễn xã hội hóa dịch vụ công chứng ở Bình Dương hiện nay

- Phân tích được các ưu và nhược điểm của việc áp dụng cơ sở lý luận vào thực

tế, từ đó kiến nghị phương pháp giải quyết các vấn đề cả về lý luận và thực tiễn

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trên cơ sở những quan điểm của Đảng và nhà nước Xã hội chủ nghĩa Việt Nam về xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân; về chiến lược cải cách hành chính, cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay, các văn bản quy phạm pháp luật về dịch vụ công, xã hội hóa dịch

Trang 12

vụ công, xã hội hóa dịch vụ công chứng; Kế thừa những công trình đã nghiên cứu trước đây

Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp thống kê, phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn; phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tế

6 Đóng góp mới của đề tài

Với những mục đích và nhiệm vụ đã nêu trên, đề tài nghiên cứu khoa học sinh

viên “xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực công chứng” sẽ nghiên cứu có hệ thống

khái niệm, vai trò, ý nghĩa và nguyên tắc xã hội hóa dịch vụ công, đồng thời đánh giá được tình hình thực tiễn xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực công chứng ở tỉnh Bình Dương, trên cơ sở thực tiễn để đề ra hướng giải pháp

7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Về lý luận, đề tài sẽ góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề về lý luận về vấn đề xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực công chứng, góp phần xây dựng một hệ thống kiến thức đầy đủ về quá trình xã hội hóa dịch vụ công chứng

Các vấn đề được đề tài làm sáng tỏ sẽ góp phần hoàn thiện quá trình thực hiện Pháp luật cũng như chủ trương và chính sách của Đảng và nhà nước về xã hội hóa dịch

vụ công trong lĩnh vực công chứng

Về thực tiễn, đề tài phân tích các vấn đề còn hạn chế cũng như đưa ra những phương hướng giải quyết để hoàn thiện quá trình xã hội hóa dịch vụ công chứng trên địa bàn tỉnh Bình Dương nói riêng và trên cả nước nói chung

8 Kết cấu của đề tài

Đề tài nghiên cứu gồm phần mở đầu, 2 chương, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo

Chương I: Khái quát về xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực công chứng Chương II: Thực trạng xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực công chứng - một

số kiến nghị

Trang 13

1.1.1 Khái niệm dịch vụ công

Như chúng ta đã biết, Nhà nước là một lực lượng nảy sinh từ xã hội và tựa hồ như đứng trên xã hội Nhà nước được hình thành bởi nhu cầu trấn áp giai cấp và nhu cầu quản lý các công việc chung của xã hội Đáp ứng nhu cầu trấn áp giai cấp, nhà nước đã sử dụng quyền lực của mình thiết lập một trật tự theo ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị Tuy nhiên, nhà nước nảy sinh, tồn tại và phát triển ngay trong chính xã hội, vì thế Nhà nước phải luôn đáp ứng nhu cầu chung của xã hội Việc đáp ứng nhu cầu chung được thể hiện qua việc nhà nước cung ứng những dịch vụ cần thiết cho xã hội, đó chính là dịch vụ công

Dịch vụ công, nếu được dịch trong tiếng Anh có nghĩa là “Public service” nghĩa

là công vụ nhà nước, hoặc công sở Tuy nhiên cách hiểu này mới chỉ đưa ra khía cạnh công quyền và những dịch vụ gắn liền đến công quyền, mà chưa đề cập đến các khía cạnh công ích, công cộng

Từ điển Tiếng Việt định nghĩa “dịch vụlà việc phục vụ trực tiếp cho nhu cầu

nhất định của một số người nhất định, của một số người có tổ chức và được trả công”1

hay Từ điển ngôn ngữ tiếng Việt có định nghĩa “dịch vụ là những loại ngành nghề,

hàng hóa phi vật chất” 2 Khái niệm “công” lại được từ điển Tiếng Việt định nghĩa rất

đa dạng Thứ nhất, từ “công” được hiểu là “chung cho mọi i người, không có nghĩa riêng tư” Nếu hiểu theo nghĩa này, dịch vụ công chính là những loại dịch vụ được

cung ứng đáp ứng nhu cầu chung của tất cả mọi người, không riêng lẻ của bất cứ ai, nó

được phổ biến cho mọi tầng lớp người Thứ hai, “công”còn được hiểu là bằng, ngang

bằng Theo đó, dịch vụ công là dịch vụ mang đến sự công bằng, bình đẳng cho tất cả

1 Hoàng Chí Hùng, từ điển tiếng việt, nhà xuất bản Hồng Đức

2 Nhóm tác giả Đăng Khoa, Kỳ Duyên, Đình Chung, Từ điển ngôn ngữ tiếng Việt, Nhà xuất bản Bách Khoa

Trang 14

mọi người, không phân biệt người đó ở tầng lớp, địa vị, nghề nghiệp nào Tóm lại,

theo cách hiểu về từ ngữ như trên, “dịch vụ công” được hiểu là dịch vụ dành chung

cho tất cả mọi người và công có tính chất công bằng đối với mọi công dân

Khái niệm “dịch vụ công” đã xuất hiện ở nước ta từ thập niên 80 của thế kỉ XX Tuy vậy cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất cho khái niệm này, khi nghiên cứu về dịch vụ công cũng như các vấn đề liên quan, các nhà nghiên cứu thường có những quan điểm và nhìn nhận khác nhau

PGS.TS Lê Chi Mai (Học viện Hành chính Quốc gia) cho rằng: “Dịch vụ công là

những hoạt động phục vụ trực tiếp các lợi ích chung, thiết yếu, các quyền cơ bản của các các nhân, tổ chức do nhà nước đảm nhận hoặc ủy quyền cho các cơ sở ngoài nhà nước thực hiện, nhằm đảm bảo trật tự và công bằng xã hội” 3

Theo Th.S Nguyễn Quang Sáng “lý thuyết thuật ngữ dịch vụ công là những dịch vụ

có đặc tính không loại trừ và không cạnh tranh trong tiêu dùng Dịch vụ công là những hoạt động phục vụ các nhu cầu cơ bản, thiết yếu của người dân vì lợi ích cung của xã hội, do nhà nước chịu trách nhiệm trước xã hội (nhà nước đảm nhận hay ủy quyền và tạo điều kiện cho khu vực tư nhân thực hiện) nhằm đảm bảo ổn định và công bằng xã hội”.4

Cũng bàn về vấn đề này, trong tác phẩm “Dịch vụ công – xã hội hóa dịch vụ công,

một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, TS Chu Văn Thành – Viện trưởng Viện Khoa học

tổ chức Nhà nước, Bộ nội vụ đã đưa ra quan điểm: “Dịch vụ công là những hoạt động

của các tổ chức Nhà nước hoặc các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tư nhân được nhà nước ủy quyền để thực hiện nhiệm vụ do pháp luật quy định, phục vụ trực tiếp những nhu cầu thiết yếu chung của cộng đồng, công dân theo nguyên tắc không vụ lợi, đảm bảo sự công bằng và ổn định xã hội.” 5

Theo quan điểm của PGS.TS Nguyễn Cửu Việt đề cập tại giáo trình Luật Hành

chính Việt Nam, NXB chính trị Quốc gia: “Dịch vụ công là những hoạt động của các

cơ quan nhà nước có thẩm quyền hay hoạt động của các cá nhân, cơ quan, tổ chức do

cơ quan nhà nước có thẩm quyền ủy quyền nhằm phục vụ, đáp ứng những nhu cầu

3 PGS.TS Lê Chi Mai, cải cách dịch vụ công ở Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2003

4 Ths Nguyễn Quang Sáng – học viện tài chính, tổ chức nhà nước số 12/2014 Vai trò của nhà nước trong điều kiện xã hội hóa dịch vụ công, trang 11

5 Chu Văn Thành (2004) dịch vụ công và xã hội hóa dịch vụ công, một số vấn đề lý luận và thực tiễn NXB Chính trị Quốc gia, Trang 15

Trang 15

thiết yếu, đa dạng và những quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, cơ quan, tổ chức vì lợi ích công cộng, không vì mục tiêu lợi nhuận.”6

Và còn rất nhiều khái niệm do các tác giả khác định nghĩa, so sánh các khái niệm trên, với nhiều cách định nghĩa và diễn đạt khác nhau nhưng nhìn chung, khái niệm dịch vụ công được hình dung là những hoạt động phục vụ cho nhu cầu cơ bản và lợi ích chung nhất, thiết yêu của cộng đồng, xã hội không vì mục đích lợi nhuận Trách nhiệm đảm bảo các dịch vụ này là của nhà nước Nhà nước trực tiếp cung ứng hoặc ủy quyền cung ứng cho các cá nhân, tổ chức khác nhưng vẫn phải có vai trò điều tiết nhằm đảm bảo sự công bằng trong phân phối

Dựa vào những phân tích trên, theo quan điểm của tác giả, dịch vụ công là những tiện ích, sản phẩm, nhu cầu cần thiết chung của cộng đồng được nhà nước đảm bảo cung ứng, phổ biến đến tất cả mọi cá nhân, tổ chức trên cơ sở bình đẳng, không lợi nhuận và ổn định xã hội

Hiện nay ở nước ta, dịch vụ công là một trong những đề tài được nhiềunhà nghiên cứu lưu tâm, để thuận tiện cho việc nghiên cứu có rất nhiều nhà xã hội học đã đưa ra các quan điểm khác nhau về cách phân loại dịch vụ công Dịch vụ công có thể được chia thành dịch vụ công thiết yếu và dịch vụ công chưa thực sự thiết yếu, hoặc dịch vụ công theo ngành… tuy nhiên, trong bài nghiên cứu này, quan điểm của tác giả là nên chia dịch vụ công thành hai loại là dịch vụ hành chính công và dịch vụ công cộng Dịch vụ công cộng thì bao gồm dịch vụ công ích và dịch vụ xã hội nhằm đáp ứng các nhu cầu xã hội cần về y tế, giáo dục… Còn dịch vụ hành chính công sẽ bao gồm việc cấp giấy phép, thu thuế, ngân sách, giải quyết vi phạm hành chính, công chứng, chứng thực… Đó là những dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện để phục vụ quyền và nghĩa

vụ cơ bản của công dân, tổ chức

1.1.2 Khái niệm công chứng

Như đã trình bày trên, dịch vụ hành chính công là loại dịch vụ vừa thể hiện sự phục vụ của nhà nước vừa đảm bảo để nhà nước thực hiện chức năng quản lý xã hội Tiêu biểu của dịch vụ hành chính công chính là dịch vụ công chứng

Theo từ điển Tiếng Việt công chứng được hiểu theo hai nghĩa “công chứng là

bằng chứng rõ rệt mà ai cũng phải chấp nhận” và “vì lẽ phải chung, không thiên vị ai,

6 PGS.TS Nguyễn Cửu Việt, Giáo trình luật hành chính Việt Nam, nhà xuất bản chính trị quốc gia, năm 2013, trang 198

Trang 16

mà đứng ra làm chứng trong một việc gì”7

Với hai cách định nghĩa trên đưa ta đến hai hình dung khác nhau về công chứng, nhưng vô hình chung đều nhấn mạnh đến việc chứng nhận những vấn đề có thật Và công chứng tức là việc đứng ra làm chứng của một tổ chức, cá nhân Như vậy, có thể thấy, ngay từ khái niệm công chứng đã đề cao

sự bình đẳng của một dịch vụ công Khái niệm công chứng đối với hoạt động công chứng nói riêng và đối với dịch vụ hành chính nói chung là một khái niệm vô cùng quan trọng Khái niệm này được đề cập trong các văn bản pháp luật và thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử

Theo từ điển luật học của Mỹ, Công chứng (Natarial) là hoạt động của công chứng viên với vai trò ghi chép, soạn thảo văn bản và làm chứng Ở Cộng hòa Pháp, theo điều 1 pháp lệnh 452500 ngày 2/11/1945 về điều lệ công chứng quy định Công chứng

là việc “lập các hợp đồng và văn bản mà theo đó, các bên phải hoặc muốn đem lại

tính xác thực giống như các văn bản của các cơ quan công quyền và để đảm bảo ngày, tháng, năm chắc chắn, lưu giữ và cấp bản sao văn bản.”8 Còn ở Anh, công chứng

được quy định tại các quy chế công chứng năm 1801, 1833, 1834 như sau: “là việc

soạn thảo, chứng nhận hoặc xác lập chứng thư và các giấy tờ khác cơ liên quan đến việc chuyện nhượng chứng thư và các giấy tờ khác có liên quan đến việc chuyển nhượng hoặc xác lập giấy tờ khác có liên quan đến việc chuyển nhượng bất động sản

và tài sản cá nhân, các giấy tờ liên quan đến di chúc, lập khán nghị hàng hải về sự cố tàu và hàng hóa trên tàu trong thời gian trên biển.”9

Ở nước ta, cụm từ “công chứng được tìm thấy trong hệ thống pháp luật lần đầu tiên

vào năm 1987 tại thông tư 574/QLTPK: “Công chứng nhà nước là một hoạt động của

nhà nước nhằm giúp công dân, các cơ quan, tổ chức lập và xác nhận các văn bản, sự kiện có ý nghĩa pháp lý, hợp pháp hóa các văn bản, sự kiện đó làm cho các văn bản,

sự kiện đó có hiệu lực thực hiện Bằng hành động này, công chứng nhà nước tạo ra những đảm bảo pháp lí để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cá nhân, tổ chức, phù hợp với Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

7 Hoàng Chí Hùng, từ điển tiếng việt, nhà xuất bản Hồng Đức

8 Vụ hành chính tư pháp, Bộ tư pháp (2005), Các quy định về công chứng một số nước, Hà Nội trang 125

9 Viện nghiên cứu khoa học pháp lý – bộ tư pháp (1997), chuyên đề 10 năm xây dựng thể chế hành chính, thông tin khoa học pháp lý Hà Nội, trang 96

Trang 17

Nam, ngăn ngừa vi phạm pháp luật giúp việc giải quyết các tranh chấp được thuận lợi góp phần tăng cường pháp chế Xã hội chủ nghĩa”10

Sau đó, Hội đồng bộ trưởng (sau này là Chính phủ) nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp tục ban hành các nghị định quy định về khái niệm, phạm vi, cách thức tổ chức… hoạt động công chứng

Nghị định 45/HĐBT ngày 27/2/1991 quy định: “Công chứng nhà nước là việc

chứng nhận tính xác thực các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”.11

Nghị định 31/CP ngày 18/5/1996 nêu rõ: “Công chứng là việc chứng nhận tính xác

thực của các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế tổ chức xã hội, góp phần phòng ngùa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế Xã hội chủ nghĩa”.12

Nghị định 75/2000/NĐ-CP nêu rõ: “Công chứng là việc phòng công chứng chứng

nhận tính xác thực của hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác được thực hiện theo quy định của pháp luật”.13

Tuy nhiên, trước tình hình thực tế, đòi hỏi phải có một văn bản luật quy định cụ thể

về hoạt động công chứng Luật công chứng 2006 ra đời, lại một lần nữa quy định về

khái niệm công chứng ở nước ta: “Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận

tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng.”14

Đến năm 2014, khái niệm Công chứng mới được quy định đầy đủ và cụ thể tại

khoản1, Điều 2 Luật công chứng năm 2014: “Công chứng là việc công chứng viên của

một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch, tính chính xác hợp pháp không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ,

10 Thông tư 574/QLTPK ngày 10-10-1987 của Bộ tư pháp hướng dẫn công tác công chứng nhà nước

11 Nghị định 45/HĐBT ngày 27/2/1991 của Hội đồng bộ trưởng quy định về tổ chức hoạt động công chứng nhà nước

12 Nghị định 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính Phủ về tổ chức hoạt động công chứng nhà nước

13 Nghị định 75/2000/NĐ-CP của Chính phủ ngày 08 tháng 12 năm 2000 về công chứng, chứng thực

14 Luật công chứng năm 2006 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006

Trang 18

văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt

mà theo quy định của pháp luật phải công chứng.”15

Tóm lại,theo tác giảcông chứng là một hoạt động hành chính công do một công

chứng viên hoặc tổ chức hành nghề công chứng thực hiện, nhằm chứng nhậnmột sự việc nào đó để sự việc có ý nghĩa pháp lý Việc chứng nhận này phải được thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật

Từ khái niệm trên, có thể thấy, công chứng có vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống xã hội.Công chứng tạo ra những bằng chứng chính xác và có giá trị pháp lý

về hợp đồng và nghĩa vụ hợp đồng để “ràng buộc” cá nhân, tổ chức về trách nhiệm

dân sự Công chứng giúp người dân bảo vệ tốt hơn cũng như giúp họ cảnh giác và nghiêm túc thực hiện nghĩa vụ của mình Ngoài ra công chứng còn giúp nhà nước quản lý tốt hơn, phòng chống được các vi phạm pháp luật khi ký kết hợp đồng

1.1.3 Khái niệm xã hội hóa

Như chúng ta đã biết, hiện nay nước ta đang tiến hành cải cách hành chính, mà một trong những hoạt động trọng tâm đó là chủ trương phát triển dịch vụ công So sánh các văn kiện của Đảng và văn bản của Nhà nước trong những năm gần đây, rõ ràng biện pháp xã hội hóa dịch vụ công được đề cập xuyên suốt và là mục tiêu phấn đấu của toàn xã hội

Theo từ điển tiếng Việt, xã hội hóa là “đem những cái riêng của cá nhân làm

hóa thành cái chung của xã hội” 16 Việc định nghĩa này chỉ đưa người đọc đến với sự

so sánh trái nghĩa với khái niệm “cá nhân hóa” mà chưa đề cao đến quá trình chuyển

hóa, phổ biến đến mọi tầng lớp người trong xã hội

Trong bài phát biểu của mình T.S Nông Phú Bình đã từng nêu rõ “xã hội hóa là

quá trình chuyển hóa, tạo lập cơ chế hoạt động và tổ chức quản lý của một số lĩnh vực hoạt động kinh tế xã hội, phục vụ cho mục tiêu phát triển đất nước” 17

15 Luật công chứng năm 2014 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 20 tháng 06 năm 2014

16 Hoàng Chí Hùng, từ điển tiếng việt, nhà xuất bản Hồng Đức

17 Nông Phú Bình, Một số thuật ngữ hành chính, NXB thế giới năm 2000, trang

18 Võ Kim Sơn, Phân cấp quản lý những lí luận và thực tiễn NXB chính trị, tr 413

19 PGS.TS Nguyễn Cửu Việt, Giáo trình luật hành chính Việt Nam, NXB chính trị quốc gia, năm 2013, trang

230

Trang 19

Theo tác giả Võ Kim Sơn, trong tác phầm Phân cấp quản lý nhà nước – lý luận

và thực tiễn “xã hội hóa là mở rộng sự tham gia của nhân dân trong nhiều lĩnh vực

hoạt động của nhà nước, vốn trước đây tập trung trong tay nhà nước”.18

Theo PGS.TS Nguyễn Cửu Việt, “xã hội hóa là quá trình chuyển những công

việc mà nhà nước đảm nhận cho xã hội làm”19 Cụm từ “xã hội làm”, chỉ những cá nhân, tổ chức ngoài nhà nước, đơn vị tư nhân…

Có thể nhận thấy rằng dù có nhiều cách định nghĩa có khác nhau, nhưng nhìn chung khái niệm xã hội hóa được hiểu chung là xóa bỏ đi cơ chế tập trung mọi thứ vào trong tay nhà nước và chuyển giao sang cho cả xã hội cùng làm Xã hội hóa trước hết phải là một quá trình nhà nước chuyển giao hoặc vận động sự tham gia của các cá nhân, tổ chức tham gia vào việc thực hiện một hoạt động nào đó nhằm nâng cao chất lượng cho hoạt động hoặc phổ biến hoạt động đến với mọi tầng lớp nhân dân

Vậy xã hội hóa dịch vụ công là gì? Và xã hội hóa dịch vụ công chứng là

gì?Theo PGS.TS Nguyễn Cửu Việt: “Xã hội hóa dịch vụ công tức là chuyển giao

những loại dịch vụ công mà trước đây nhà nước vẫn làm, những loại dịch vụ công thích hợp thì chuyển giao ngày càng nhiều cho các tổ chức ngoài khu vực nhà nước,

kể cả tư nhân đảm nhận”20 Theo quan điểm này, xã hội hóa dịch vụ công là chuyển những dịch vụ công, được nhà nước bao cấp cung ứng sang cho các cơ sở tư nhân thực hiện Tuy vậy, những loại dịch vụ này phải được quy định rõ ràng trong các văn bản quy phạm pháp luật và được nhà nước quản lý cung ứng cho phù hợp, tránh tình trạng

“cha chung không ai khóc”, hoặc các cơ sở tư nhân, cá nhân thoái thác trách nhiệm

làm cho việc cung ứng dịch vụ đến người dân bị gián đoạn, không hiệu quả

Tuy nhiên,cần phải nhận thức rõ rằng, xã hội hóa dịch vụ công không phải là

nhà nước “chối bỏ” trách nhiệm, mà nhiệm vụ của nhà nước được thể hiện ở vai trò

lãnh đạo của mình Bởi lẽ, xuất phát từ nhu cầu thực tế, có những cơ quan nhà nước vừa thực hiện các công việc quản lý nhà nước, vừa phải đảm nhận việc cấp các loại giấy tờ phục vụ nhu cầu trực tiếp của các nhân, tổ chức Vì vậy, nhiều quan điểm cho rằng, cơ quan hành chính nhà nước chỉ nên làm chức năng quản lý nhà nước Khi đó,

để đảm bảo chất lượng dịch vụ công đồng thời nhà nước vẫn thực hiện tốt chức năng

20 Võ Kim Sơn, Phân cấp quản lý những lí luận và thực tiễn NXB chính trị, tr 413

Trang 20

xã hội của mình thì Nhà nước định hướng, hoạch định, đốc thúc, kiểm tra, giám sát… các hoạt động cung ứng dịch vụ công của tư nhân

Việc xã hội hóa dịch vụ côngở nước ta đã được cụ thể hóa thành các chính sách của Đảng và Nhà nước trong các kỳ họp, đại hội.Tại điểm 3.7 mục I, nghị quyết Trung

ương 7 khóa VIII nêu rõ: “thí điểm việc xã hội hóa một số lĩnh vực dịch vụ, y tế, giáo

dục, khoa học và hoạt động văn hóa, thể thao…” Hay cũng tại điểm 2, mục II của

nghị quyết này, Đảng đã khẳng định: “từng bước thực hiện xã hội hóa các hoạt động

sự nghiệp, khuyến kích phát triển các đơn vị dân lập và tư thục.”Văn kiện đại hội IX

cũng chỉ rõ cần “tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức thực hiện một số dịch vụ công,

khuyến khích và hỗ trợ các tổ chức không vì lợi nhuận mà vì nhu cầu và lợi ích của nhân dân”21 Thể chế hoá chủ trương của Đảng, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 90/NQ-CP ngày 21/8/1997 về phương hướng và chủ trương xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế và văn hoá22; Nghị định số 73/1999/NĐ-CP về chính sách khuyến khích

xã hội hóa đối với hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao23 Trong Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 của Chính phủ, vấn đề dịch vụ công được đề cập rất cụ thể: “Xây dựng quan niệm đúng đắn về dịch vụ công Nhà nước có trách nhiệm chăm lo đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân, nhưng không phải vì thế mà mọi công việc về dịch vụ công đều do cơ quan nhà nước trực tiếp đảm nhiệm Trong từng lĩnh vực cần định rõ những công việc mà Nhà nước phải đầu tư và trực tiếp thực hiện, những công việc cần chuyển giao cho các tổ chức xã hội đảm nhiệm”24.Nghị quyết 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ

về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục, thể thao khẳng định: xã hội hoá nhằm phát huy tiềm năng trí tuệ và vật chất trong nhân dân, huy động toàn xã hội chăm lo sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao.25

Trang 21

Như vậy, theo tinh thần các văn kiện của Đảng và Nhà nước, xã hội hoá chính

là huy động nguồn lực từ trong nhân dân và sự tham gia của người dân vào việc giải quyết các vấn đề thuộc chính sách xã hội của Nhà nước, nhưng không làm giảm vai trò, trách nhiệm của nhà nước trong việc đảm bảo các dịch vụ công cơ bản cho người dân

Có thể nhận thấy rằng, xã hội hóa dịch vụ công là nhu cầu của xã hội và là xu hướng tất yếu để phát triển nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Bởi lẽ, nó có nhiều

ý nghĩa to lớn Xã hội hóa dịch vụ công giúp tránh đi tình trạng độc quyền của nhà nước, tránh tham nhũng, sách nhiễu công dân của một số bộ phận cán bộ, công chức; Giúp cải cách bộ máy hành chính nhà nước – một trong những mục tiêu quan trọng của đất nước ta hiện nay

Theo thời gian, điều kiện kinh tế xã hội, hội nhập ngày một tăng cao, nhu cầu

sử dụng dịch vụ công của người dân cũng tăng lên, trong khi đó, nếu nhà nước “bao

cấp” toàn bộ dịch vụ công cùng với chức năng quản lý xã hội sẽ bị quá tải Như vậy,

về phía nhà nước, khi công việc nhiều quá khả năng cho phép, sẽ xảy ra hiện tượng

làm “cho qua”,“cho có” không đảm bảo chất lượng cung ứng dịch vụ công Về phía

người dân sẽ phải mất nhiều thời gian, công sức để chờ đợi được cung ứng dịch vụ, mà khi đó chất lượng dịch vụ cũng không được đảm bảo như mong muốn Như vậy, rất cần xã hội hóa dịch vụ công, để đảm bảo cho người sử dụng được lựa chọn và được cung ứng tốt nhất

Xã hội hóa dịch vụ công cũng chính là xu hướng hội nhập quốc tế Bởi lẽ, ở các nước phát triển trên thế giới, các loại dịch vụ công ngày một mở rộng cho khu vực kinh tế tư nhân, hoạt động nào mà tư nhân có thể làm và làm tốt hơn thì nhà nước chuyển giao thẳng, nhà nước bấy giờ chỉ đóng vai trò tổ chức, kiểm tra giám sát Hiện nay, dịch vụ phúc lợi xã hội công cộng, dưới sự hỗ trợ của nhà nước đã được các tổ chức xã hội, doanh nghiệp cung ứng một cách sôi nổi và hiệu quả, nhiều cơ sở có kết quả đạt được vượt ngoài chỉ tiêu phấn đấu

Tựu chung lại, xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực công chứng là quá trình

Nhà nước từng bước chuyển giao hoạt động công chứng cho các cá nhân, tổ chức ngoài nhà nước thực hiện theo một lộ trình luật định

Theo đó, công chứng được hiểu là hoạt động chứng nhận một sự kiện, sự việc nào đó để cho sự kiện đó có giá trị pháp lý Trước đây, hoạt động này được thực hiện

Trang 22

bởi cơ quan nhà nước thì chủ trương xã hội hóa dịch vụ công chứng đã chuyển dần việc công chứng cho các công chứng viên tại các văn phòng công chứng thực hiện

1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG TRONG LĨNH VỰC CÔNG CHỨNG

Như chúng ta đã biết, dịch vụ công là những hoạt động có tính chất xã hội, phục

vụ lợi ích chung và tối cần thiết của xã hội Trước đây, dịch vụ công thường được xem như dịch vụ được cung ứng bởi nhà nước, tuy nhiên, nhà nước chỉ đảm bảo cung ứng dịch vụ công bằng các hình thức tự cung ứng, điều tiết cung ứng Dịch vụ công là những dịch vụ hướng đến cộng đồng, mọi tầng lớp nhân dân đều có thể sử dụng nên mức phí của nó thường là miễn phí, hoặc giá rẻ đủ để người nghèo cũng có thể sử dụng Và quan trọng hơn, giá cả của dịch vụ công không bị đặt vào quy luật cạnh tranh của thị trường

Về đặc điểm của dịch vụ công chứng, như đã trình bày, công chứng là một trong những hoạt động bổ trợ tư pháp đắc lực cho cá nhân, tổ chức khi tham gia vào các giao dịch dân sự, thương mại Việc công chứng đem lại đảm bảo chính xác về thời gian, địa điểm và những chứng cứ quan trọng trong hợp đồng Do đó, chủ thể của hoạt động công chứng phải là những người có năng lực chuyên môn nhất định.Đồng thời, việc công chứng phải được đảm bảo theo trình tự và quy định của pháp luật

Trong khi đó, xã hội hóa là quá trình nhà nước huy động nguồn lực và triển khai các dịch vụ đến với mọi người Vì vậy, xã hội hóa trước tiên phải là một quá trình được định hướng, hoạch định rõ ràng theo quy định của pháp luật Khi tiến hành công tác xã hội hóa một dịch vụ nào đó, nhà nước phải tiến hành khảo sát tình hình thực tiễn

và thí điểm mô hình để tránh hệ lụy khi đưa ra xã hội một cách tràn lan Tuy nhiên, xã hội hóa không có nghĩa là nhà nước buông lỏng và bỏ đi trách nhiệm của mình, mà ở đây nhà nước đang dần chuyển việc cung ứng các dịch vụ cho tư nhân để khai thác nguồn lực trong xã hội, phục vụ nhân dân tốt hơn

Việc nghiên cứu những đặc điểm của xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực công chứng là một trong những đóng góp quan trọng giúp chúng ta đi sâu hơn và tìm hiểu cụ thể hơn về vấn đề này trên thực tiễn.Về cơ bản, xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực công chứng có những đặc điểm sau:

Thứ nhất: xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực công chứng là một quá trình

đưa dịch vụ công chứng đến gần hơn với nhân dân và được tiến hành bởi các công

Trang 23

chứng viên ngoài nhà nước, nên việc tiến hành xã hội hóa dịch vụ công chứng phải được tiến hành theo quy định của pháp luật và có lộ trình cụ thể

Thứ hai: xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực công chứng là việc nhà nước

chuyển đổi cho mô hình công chứng tư nhân nhưng không đồng nghĩa với việc nhà nước thoái thác trách nhiệm mà nhà nước đóng vai trò quản lý và đảm bảo việc thực hiện công chứng cho cả người dân và tổ chức hành nghề công chứng

Đặc điểm thứ hai này được thể hiện rõ nét trong các quy định của Luật công chứng qua các thời kỳ lịch sử mà đặc biệt là luật công chứng 2014 Luật công chứng quy định rõ về tiêu chuẩn hành nghề của công chứng viên nói riêng và tổ chức hành nghề công chứng nói chung Đồng thời quy định rõ về thủ tục, trách nhiệm và phương thức xử lý vi phạm

Thứ ba: xã hội hóa công chứng là mô hình dân chủ nhằm khai thác nguồn lực có

hiệu quả để đảm bảo phục vụ nhân dân tốt hơn

Quay lại trước đây, nếu chưa xã hội hóa dịch vụ công chứng, Nhà nước vừa phải làm dịch vụ công chứng vừa làm nhiều công việc quản lý khác thì chất lượng công chứng giảm sút rất nhiều Về phía công chứng viên nhà nước, khi công việc quá nhiều

sẽ dẫn đến tình trạng quá tải, làm không đạt yêu cầu, công chứng sai Về phía người dân vừa mất thời gian đợi đến lượt công chừng, vừa phải nhận lại lượng chất lượng công chứng không như mong muốn, chưa kể gặp phải nhiều công chứng viên hách dịch, cửa quyền

1.3 NGUYÊN TẮC CỦA XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG TRONG LĨNH VỰC CÔNG CHỨNG

Thực hiện xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực công chứng là một quá trình lâu dài và cần được định hướng cụ thể Theo tác giả, xã hội hóa dịch vụ công chứng cần phải được thực hiện theo các nguyên tắc sau:

Thứ nhất, xã hội hóa dịch vụ công chứng gắn liền với vai trò quản lý, giám sát

của nhà nước

Như chúng ta đã biết, trên thực tế, hoạt động công chứng gắn liền với chức năng quản lý xã hội và quản lý nhà nước qua việc phát sinh giá trị của các văn bản công chứng Vì vậy, hoạt động công chứng ảnh hưởng mạnh mẽ đến trật tự xã hội, an toàn pháp lý.Hơn hết, nhà nước ta là nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa, quản lý

xã hội bằng pháp luật Vì vậy, vai trò quản lý của nhà nước phải được thể hiện qua

Ngày đăng: 20/07/2021, 09:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w