1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nhà về giáo dục đại học trong điều kiện xã hội hóa dịch vụ công.

258 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản lý nhà về giáo dục đại học trong điều kiện xã hội hóa dịch vụ công
Tác giả Nguyễn Quang Sáng
Người hướng dẫn GS.TS. Nguyễn Hữu Khiển, PGS.TS. Trương Quốc Chính
Trường học Học viện Hành chính Quốc gia
Chuyên ngành Quản lý Công
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 258
Dung lượng 2,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý nhà về giáo dục đại học trong điều kiện xã hội hóa dịch vụ công.Quản lý nhà về giáo dục đại học trong điều kiện xã hội hóa dịch vụ công.Quản lý nhà về giáo dục đại học trong điều kiện xã hội hóa dịch vụ công.Quản lý nhà về giáo dục đại học trong điều kiện xã hội hóa dịch vụ công.Quản lý nhà về giáo dục đại học trong điều kiện xã hội hóa dịch vụ công.Quản lý nhà về giáo dục đại học trong điều kiện xã hội hóa dịch vụ công.Quản lý nhà về giáo dục đại học trong điều kiện xã hội hóa dịch vụ công.Quản lý nhà về giáo dục đại học trong điều kiện xã hội hóa dịch vụ công.Quản lý nhà về giáo dục đại học trong điều kiện xã hội hóa dịch vụ công.Quản lý nhà về giáo dục đại học trong điều kiện xã hội hóa dịch vụ công.Quản lý nhà về giáo dục đại học trong điều kiện xã hội hóa dịch vụ công.Quản lý nhà về giáo dục đại học trong điều kiện xã hội hóa dịch vụ công.Quản lý nhà về giáo dục đại học trong điều kiện xã hội hóa dịch vụ công.Quản lý nhà về giáo dục đại học trong điều kiện xã hội hóa dịch vụ công.Quản lý nhà về giáo dục đại học trong điều kiện xã hội hóa dịch vụ công.Quản lý nhà về giáo dục đại học trong điều kiện xã hội hóa dịch vụ công.Quản lý nhà về giáo dục đại học trong điều kiện xã hội hóa dịch vụ công.Quản lý nhà về giáo dục đại học trong điều kiện xã hội hóa dịch vụ công.Quản lý nhà về giáo dục đại học trong điều kiện xã hội hóa dịch vụ công.Quản lý nhà về giáo dục đại học trong điều kiện xã hội hóa dịch vụ công.Quản lý nhà về giáo dục đại học trong điều kiện xã hội hóa dịch vụ công.Quản lý nhà về giáo dục đại học trong điều kiện xã hội hóa dịch vụ công.

Trang 1

BỘ NỘI VỤ HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

Trang 2

BỘ NỘI VỤ HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu, số liệu trích dẫn trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào

Tác giả luận án

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ CÁI VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ vi

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 9

1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG 9

1.1.1 Các công trình ngoài nước 9

1.1.2 Các công trình trong nước 11

1.2 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG ĐIỀU KIỆN XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG 20

1.2.1 Các công trình ngoài nước 20

1.2.2 Các công trình trong nước 25

1.3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 29

Chương II: CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG ĐIỀU KIỆN XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG 32

2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DỊCH VỤ CÔNG VÀ XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG 32

2.1.1 Khái niệm dịch vụ công 32

2.1.2 Xã hội hóa dịch vụ công 34

2.2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG ĐIỀU KIỆN XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG 44

2.2.1 Khái quát quản lý nhà nước về giáo dục đại học 44

2.2.2 Sự cần thiết của quản lý nhà nước về giáo dục đại học trong điều kiện xã hội hóa dịch vụ công 52

2.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục đại học trong điều kiện xã hội hóa dịch vụ công 57

2.3 NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG ĐIỀU KIỆN XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG 67

2.3.1 Yếu tố chính trị 67

Trang 5

2.3.2 Hệ thống pháp luật 69

2.3.3 Năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức 711

2.3.4 Nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất 71

2.3.5 Truyền thông và công nghệ thông tin 733

2.3.6 Hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa 744

2.4 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG ĐIỀU KIỆN XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM 75

2.4.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về giáo dục đại học trong điều kiện xã hội hóa dịch vụ công ở một số quốc gia 75

2.4.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 85

Kết luận chương 88

CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌCTRONG ĐIỀU KIỆN XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG Ở VIỆT NAM 89 3.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM 89

3.1.1 Về mạng lưới 90

3.1.2 Về quy mô 92

3.1.3 Về giảng viên 93

3.2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG ĐIỀU KIỆN XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG 95

3.2.1 Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, chính sách về giáo dục đại học 95

3.2.2.Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về giáo dục đại học 102

3.2.3 Huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực để phát triển giáo dục đại học 105

3.2.4 Kiểm định chất lượng giáo dục đại học 1188

3.2.5 Thanh tra, kiểm tra đối với giáo dục đại học 1222

3.2.6 Quản lý hoạt động hợp tác quốc tế về giáo dục đại học 1266

3.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG ĐIỀU KIỆN XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG 13030

3.3.1 Kết quả đạt được 13030

Trang 6

3.3.2 Những hạn chế 13434

3.3.3 Nguyên nhân hạn chế 1399

Kết luận chương 14141

CHƯƠNG IV: ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG ĐIỀU KIỆN XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG 1422

4.1 QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG CỦA ĐẢNG VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG ĐIỀU KIỆN XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG 1422

4.1.1 Quan điểm, định hướng phát triển về giáo dục 1422

4.1.2 Định hướng quản lý giáo dục đại học trong điều kiện xã hội hóa dịch vụ công…… 1444

4.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG ĐIỀU KIỆN XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG 1499

4.2.1 Đổi mới vai trò quản lý của nhà nước kết hợp với mở rộng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục đại học 1499

4.2.2 Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về giáo dục đại học 1577 4.2.3 Hoàn thiện chính sách phát triển giáo dục đại học 16060

4.2.4 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra giám sát hoạt động của giáo dục đại học 1655

4.2.5 Tăng cường phân cấp quản lý, nâng cao năng lực của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong quản lý nhà nước về giáo dục đại học 1677

4.2.6 Thành lập các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục đại học độc lập 1733 4.2.7 Tăng cường xã hội hóa giáo dục đại học 1766

Kết luận chương 1877

DANH MỤC TẠI LIỆU THAM KHẢO 19292

PHỤ LỤC 2055

Trang 7

DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 3.1 Tỷ lệ chi NSNN cho giáo dục đại học công lập trên GDP tổng chi

NSNN và tổng chi NSNN cho giáo dục 110

Bảng 3.2 Số lượng các cơ sở GDĐH được thẩm định và công nhận kết quả: chất lượng Chương trình đào tạo và chất lượng Cơ sở giáo dục (giai đoạn 2016-2021)(Danh sách cụ thể xem Phụ lục 5) 119

Biểu đồ 3.1 Số lượng cơ sở GDĐH từ năm 2015 - 2020 91

Biểu đồ 3.2 Số lượng sinh viên giai đoạn 2015 - 2020 92

Biểu đồ 3.3 Số lượng giảng viên đại học giai đoạn 2015 - 2020 93

Biểu đồ 3.4 Cơ cấu đội ngũ giảng viên tính đến 31/12/2020 94

Biểu đồ 3.5 Thực trạng ban hành và thực hiện hệ thống VBPL QL về GDĐH 96 Biểu đồ 3.6 Thực trạng chính sách phát triển giáo dục đại học 99

Biểu đồ 3.7 Thực trạng tổ chức bộ máy quản lý GDĐH 103

Biểu đồ 3.8 Thực trạng chính sách huy động nguồn lực cho GDĐH 107

Biểu đồ 3.9 Cơ cấu chi trung bình NSNN trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở các địa phương giai đoạn 2015-2020 111

Biểu đồ 3.10 Nguồn NSNN và nguồn XHH chi cho giáo GD&ĐT giai đoạn 2015-2020 112

Biểu đồ 3.11 Thực trạng công tác kiểm định GDĐH 119

Biểu đồ 3.12 Thực trạng thanh tra, kiểm tra đối với GDĐH 123

Biểu đồ 3.13 Thực trạng hoạt động hợp tác quốc tế về GDĐH 126

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đề tài được chọn nghiên cứu xuất phát từ những lý do sau đây:

Thứ nhất: Vai trò của giáo dục đại học đối với sự phát triển trong bối cảnh hiện nay

Thế giới đang bước vào một xã hội mà vai trò của tri thức quan trọng hơn bao giờ hết Nên vai trò của GDĐH lại càng được quan tâm hơn bất kỳ một hệ thống nào trong xã hội Giáo dục đại học luôn đóng vai trò quan trọng đối với đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, có phẩm chất đạo đức tốt, giỏi về chuyên môn, nhạy bén, giàu óc sáng tạo có đủ năng lực bắt kịp với tốc độ hội nhập và phát triển của thế giới, từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế quốc gia Vai trò của giáo dục đại học càng trở nên vô cùng quan trọng trong thời đại cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ Tư đang có những tác động to lớn đối với tất cả các quốc gia, dân tộc Đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, giáo dục đại học đang giữ vai trò chủ chốt, kéo cả đoàn tàu giáo dục, kinh tế và văn hóa đất nước đi vào hội nhập kinh tế quốc tế một cách chủ động Mặt khác, chỉ có giáo dục đại học mới góp phần thực sự, nhanh chóng rút ngắn khoảng cách tụt hậu giữa Việt Nam và các nước phát triển Chính vì vậy Nhà nước luôn xác định: đầu tư cho giáo dục cần được quan tâm và ưu tiên hàng đầu giáo dục và đào tạo được coi là nhân tố quyết định sự thành bại của quốc gia Điều này cũng được thể hiện rõ trong Luật Giáo dục 2019 “Giáo dục và đào tạo

là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân”

Thứ hai: Xuất phát từ yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học

Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, đã từng được khẳng định trong các văn kiện của Đảng, đặc biệt là trong Nghị quyết

số 29 của Hội nghị Trung ương 8, khóa XI, khẳng định đây không chỉ là quốc sách hàng đầu, là “chìa khóa” mở ra con đường đưa đất nước tiến lên phía trước,

mà còn là “mệnh lệnh” của cuộc sống Trong Văn kiện đại hội Đảng luôn kế thừa quan điểm chỉ đạo của nhiệm kỳ trước, Đảng ta đưa ra đường lối đổi mới căn bản,

Trang 10

toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, xác định đây là một kế sách, quốc sách hàng đầu, tiêu điểm của sự phát triển, mang tính đột phá, khai mở con đường phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong thế kỷ XXI, khẳng định triết

lý nhân sinh mới của nền giáo dục nước nhà “dạy người, dạy chữ, dạy nghề”

Vì sao phải đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực? Các văn kiện của Đảng đã chỉ rõ chất lượng, hiệu quả GD&ĐT còn thấp

so với yêu cầu, nhất là GDĐH, giáo dục nghề nghiệp Hệ thống GD và đào tạo thiếu liên thông giữa các trình độ và các phương thức giáo dục đào tạo; còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành Đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất kinh doanh

và nhu cầu của thị trường lao động; chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc Chất lượng GDĐH chưa tiếp cận được với trình độ tiên tiến trong khu vực và trên thế giới, mặt khác chưa đáp ứng với các ngành nghề trong

xã hội; Hiệu quả hoạt động giáo dục chưa cao Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo còn thấp: còn nhiều học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp chưa có việc làm; Cơ cấu trình

độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền đã được khắc phục một bước song vẫn còn mất cân đối; Đội ngũ nhà giáo thiếu về số lượng và nhìn chung thấp về chất lượng;

Cơ sở vật chất của nhà trường còn thiếu thốn; Chương trình, giáo trình, phương pháp giáo dục chậm đổi mới, chậm hiện đại hóa; Công tác quản lý giáo dục còn kém hiệu quả Đặc biệt trong xu thế xã hội hóa và hội nhập quốc tế chúng ta vẫn chưa tạo điều kiện và tận dụng được mọi nguồn lực ngoài nhà nước

Vì vậy, đổi mới giáo dục đại học trong điều kiện mới là yêu cầu tất yếu để xây dựng một nền giáo dục đại học hiệu quả, đưa giáo dục Việt Nam tiệm cận với nền giáo dục trong khu vực và thế giới

Thứ ba: xã hội hóa dịch vụ công đặt ra nhiều vấn đề mới cho quản lý nhà nước về giáo dục đại học cần phải giải quyết

Xã hội hóa là quá trình huy động, tổ chức tham gia rộng rãi, chủ động của nhân dân và các tổ chức vào hoạt động cung ứng DVC trên cơ sở phát huy tính sáng tạo

và khả năng đóng góp của mỗi người trên cơ sở tăng cường vai trò của NN Xã hội hóa là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta nhằm cải thiện hiệu quả

Trang 11

cung ứng DVC vì từ thực tế có rất nhiều tổ chức công hoạt động kém hiệu quả, gây tổn thất cho xã hội và lãng phí nguồn lực ngân sách do nhân dân đóng góp Sự tham gia của nhiều chủ thể trong cung cấp DVC trong đó có GDĐH đã đặt ra nhiều vấn đề

mà nhà nước cần giải quyết: làm thế nào để nâng cao chất lượng DVC mà không làm giảm đi vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước; Nhà nước cần làm gì để tạo ra môi trường công bằng, bình đẳng cho các chủ thể tham gia cung cấp DVC (trong đó có GDĐH) một cách tốt nhất; Nhà nước cần phải tạo động lực, mở rộng khả năng tham gia rộng rãi của các tầng lớp xã hội trong cung ứng DVC Đồng thời, Nhà nước cần

có những biện pháp, chính sách và hệ thống công cụ hữu hiệu để đảm bảo chất lượng DVC cũng như quá trình xã hội hóa đạt được mục tiêu và kết quả mong muốn

Thực tiễn quản lý nhà nước về giáo dục đại học trong điều kiện xã hội hóa dịch vụ công còn nhiều bất cập

Trong thời gian vừa qua, hoạt động quản lý đối với GDĐH đã từng bước được hoàn thiện Tư duy quản lý đối với GDĐH đã được đổi mới theo hướng quản lý chất lượng với những bước đi cụ thể và phù hợp với yêu cầu thực tiễn Môi trường cho hệ thống cơ sở GDĐH CL và NCL hoạt động đã được hình thành và dần phát huy hiệu quả; Quyền tự chủ của các trường được mở rộng và đảm bảo; Thể chế quản lý về tài chính và cơ sở vật chất của các cơ sở GDĐH cũng được xây dựng hoàn thiện nhằm bảo đảm những điều kiện cần thiết cho chất lượng GDĐH Đa kênh hóa hệ thống cung cấp và phân hóa mức tài trợ nguồn lực cho giáo dục đại học; khuyến khích đầu

tư nước ngoài vào GDĐH; coi trọng và thu hút các nguồn lực đầu tư từ bên ngoài Mặc dù vậy, hoạt động quản lý đối với GDĐH trong điều kiện XHH vẫn bộc

lộ nhiều hạn chế, bất cập như: Chưa hoàn thiện được khung pháp lý về phân cấp quản lý đối với cơ sở GDĐH; Thể chế quản lý GDĐH chậm được đổi mới và còn tập trung nhiều vào vấn đề quản lý hành chính các cơ sở GDĐH; Hệ thống thể chế quản lý GDĐH còn thiếu đồng bộ, hệ thống; Chính sách phát triển GDĐH đã hướng tới mục tiêu nhưng chưa thể hiện được hiệu quả và tính hiện thực Chưa phát huy được các công cụ của chính sách tài chính và chính sách đầu tư đối với GDĐH; Chưa huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực xã hội vào việc phát triển

Trang 12

giáo dục đại học; Việc đảm bảo công bằng giữa các cơ sở ĐH công lập và NCL vẫn còn là dấu hỏi lớn trong công tác quản lý nhà nước; Thể chế, chính sách về học phí, lệ phí và học bổng chưa thực sự đảm bảo sự công bằng trong GDĐH về quyền

và nghĩa vụ của sinh viên; Cơ chế kiểm tra giám sát và xử lý vi phạm pháp luật về hoạt động GDĐH chưa được thực hiện hiệu quả

Do vậy, nghiên cứu sinh chọn “Quản lý nhà về giáo dục đại học trong điều

kiện xã hội hóa dịch vụ công” làm đề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm hệ thống hóa lý luận về xã hội hóa dịch vụ công và quản

lý nhà nước về giáo dục đại học trong điều kiện XHHDVC, trên cơ sở đó phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về GDĐH trong điều kiện XHH DVC ở Việt Nam hiện nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích trên, luận án đặt ra những nhiệm vụ sau:

- Tổng hợp và phân tích tài liệu để xây dựng tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án để chứng minh tính mới, tính không trùng lắp của luận án

- Luận giải và hệ thống hóa những nội dung lý luận cơ bản liên quan đến dịch

vụ công, XHH DVC và quản lý nhà nước về GDĐH trong điều kiện XHH DVC

- Điều tra, khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng QLNN về GDĐH khi XHH dịch vụ công Xác định những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng QLNN về GDĐH trong điều kiện XHH dịch vụ công

- Tổng hợp kết quả nghiên cứu từ khảo sát thực trạng, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện QLNN về GDĐH trong điều kiện XHH dịch vụ công ở Việt Nam

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các nội dung quản lý nhà nước về giáo dục đại học trong điều kiện XHHDVC

Trang 13

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: nghiên cứu các nội dung quản lý nhà nước về GDĐH khi thực

hiện XHH GDĐH: thể chế, bộ máy quản lý, nguồn lực cho GDĐH và kiểm tra giám sát hoạt động GDĐH, kiểm định CLGDĐH

Về không gian: Luận án nghiên cứu quản lý giáo dục đại học trong điều kiện

XHH DVC ở Việt Nam (không bao gồm các trường trong lực lượng vũ trang)

Về thời gian, từ năm 2012 đến 2021, từ khi Luật Giáo dục đại học được ban

hành Mốc đề xuất giải pháp là từ nay đến năm 2025

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp luận

Để luận giải lý luận quản lý nhà nước về GDĐH trong mối tương quan với điều kiện XHH DVC luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin; đồng thời dựa trên cơ sở lý luận tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về giáo dục

để nhìn nhận đánh giá khách quan và định hướng về những nội dung nghiên cứu 4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu tác giả đã sử dụng các phương pháp cụ thể sau:

- Phương pháp khảo cứu lý thuyết: được sử dụng nhằm thu thập thông tin thứ cấp phục vụ nghiên cứu lý luận thông qua các tài liệu về quản lý đối với giáo dục đại học về XHH DVC Trên cơ sở tài liệu thu thập được, luận án đưa ra khái niệm quản lý giáo dục đại học trong điều kiện XHH DVC, những nội dung cơ bản

về quản lý giáo dục đại học từ trong điều kiện XHH DVC, các nhân tố ảnh hưởng

và các công cụ được sử dụng trong quản lý GDĐH

- Phương pháp thống kê mô tả: được sử dụng nhằm nghiên cứu tài liệu, tìm hiểu các công trình nghiên cứu trước đó của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan, tìm ra khoảng trống nghiên cứu định hướng cho đề tài nghiên cứu đồng thời phân tích thực trạng, nguyên nhân và yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục đại học trong điều kiện XHH DVC ở Việt Nam trong thời gian vừa qua làm căn

cứ đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý đối với GDĐH ở nước ta

Trang 14

- Phương pháp phân tích và tổng hợp đánh giá: Được sử dụng để nghiên cứu các tài liệu liên quan đến luận án thông qua việc phân chia những nội dung thành từng bộ phận, khía cạnh, yếu tố cấu thành để phát hiện ra xu hướng, luận điểm trong nghiên cứu đồng thời sắp xếp hệ thống các nội dung nghiên cứu để chắt lọc dữ liệu

và rút ra suy luận logic bám sát đối tượng và mục tiêu nghiên cứu của luận án

- Phương pháp điều tra xã hội học: NCS xây dựng bảng hỏi với số phiếu 240

phiếu tập trung vào các nội dung quản lý nhà nước về GDĐH, chủ trương XHH giáo dục Đối tượng điều tra trả lời bảng hỏi là cán bộ quản lý về giáo dục tại Bộ Giáo dục, các cơ quan quản lý về GDĐH, giảng viên các trường ĐH CL và NCL Thực hiện điều tra NCS sử dụng phần mềm google forms để gửi và thu kết quả điều tra,

Kết quả điều tra 208/240 phiếu, cụ thể với từng đối tượng: Cán bộ quản lý nhà nước về giáo dục: 35 phiếu; các Cơ quan quản lý NN về GDĐH: 73 phiếu; Giảng viên các trường ĐH CL và NCL: 100 phiếu

Sau khi thu thập số liệu NCS sử dụng phần mềm SPSS để xử lý số liệu cụ thể theo từng đối tượng Kết quả cụ thể được NCS trình bày tại Chương III của luận án

Bên cạnh đó luận án sử dụng một số phương pháp khác: phương pháp

thống kê toán học và sử dụng phần mềm tin học để xử lý các kết quả nghiên cứu;

mô hình hóa, sơ đồ hóa, đồ thị hóa các kết quả nghiên cứu

5 Giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu

5.1 Câu hỏi nghiên cứu

Quản lý nhà nước về giáo dục đại học trong điều kiện XHH DVC gồm những nội dung gì?

Để huy động nguồn lực cho phát triển giáo dục đại học nhà nước cần ban hành những chính sách nào?

Quản lý nhà nước về giáo dục đại học trong điều kiện XHH DVC ở Việt Nam hiện nay ra sao?

Quản lý nhà nước về giáo dục đại học trong điều kiện XHH DVC cần được hoàn thiện thế nào để phù hợp điều kiện Việt Nam?

Trang 15

5.2 Giả thuyết nghiên cứu

Luận án nghiên cứu dựa trên giả thuyết XHH DVC làm thay đổi bối cảnh, vai trò quản lý nhà nước về GDĐH từ sự tồn tại độc quyền của hệ thống GDĐH CL sang sự ra đời và phát triển của hệ thống GDĐH NCL và sự tham gia của các thành phần xã hội vào hoạt động GD Quản lý nhà nước về GDĐH sẽ thay đổi theo hướng

từ việc Nhà nước độc quyền quản lý GDĐH, quản lý theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, can thiệp sâu vào nội bộ các trường sang việc ban hành thể chế tạo môi trường bình đẳng cho GDĐH giữa công lập và NCL, phát huy quyền tự chủ của các

cơ sở GDĐH; huy động nguồn lực cho GDĐH và kiểm soát chặt chẽ chất lượng GDĐH nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển GDĐH trong điều kiện XHH DVC

6 Những đóng góp mới của luận án

6.1 Về lý luận

- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực tiễn và tiếp cận một cách hệ thống, có cơ

sở khoa học, luận án đã góp phần làm rõ, bổ sung thêm vào hệ thống cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về GDĐH trong điều kiện XHH DVC, cụ thể như sau: luận án đã

đề xuất được khái niệm QLNN đối với GDĐH trong điều kiện XHH DVC, đã chỉ ra được những nội dung cơ bản của QLNN về GDĐH trong điều kiện XHH DVC Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý Nhà nước về GDĐH trong điều kiện XHH DVC

- Dựa trên kết quả nghiên cứu thực tiễn và những quan điểm, tư tưởng, chính sách về phát triển GDĐH của Đảng và NN, luận án đã đề xuất những giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về GDĐH trong điều kiện XHH DVC nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách phát triển GDĐH phù hợp với chủ trương

về đổi mới cơ bản và toàn diện GDĐH và xu thế phát triển GDĐH trên thế giới

6.2 Về thực tiễn

- Luận án đã tổng hợp, so sánh, đánh giá thực tiễn hoạt động QLNN về GDDH trước và sau khi XHH DVC để làm rõ những ưu điểm, hạn chế, bất cập và xác định các nguyên nhân cơ bản của thực trạng quản lý GDĐH, đồng thời trên cơ

sở chọn lọc kinh nghiệm ở một số nước, tác giả đã đề xuất các nhóm giải pháp về

Trang 16

hoàn thiện quản lý nhà nước về GDĐH trong điều kiện XHH DVC: thể chế, xây dựng bộ máy, về XHH giáo dục, và các chính sách khác nhằm phát triển GDĐH

trong giai đoạn hiện nay

7 Ý nghĩa của Luận án

- Luận án đã làm rõ và sâu sắc hơn lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về GDĐH trong điều kiện XHH DVC ở Việt Nam; trên cơ sở tổng hợp, hệ thống hóa các văn bản pháp luật về XHH, về quản lý nhà nước về GDĐH và các số liệu nghiên cứu thực tiễn luận án cho thấy được bức tranh về thực trạng những ưu điểm và hạn chế, bất cập của hoạt động quản lý về GDĐH hiện nay, chỉ ra các nguyên nhân để đề xuất các giải pháp; sẽ có ý nghĩa quan trọng trong quá trình xây dựng và thực hiện chính sách giai đoạn tới hợp lý hơn nhằm thúc đẩy phát triển GDĐH trong điều kiện XHH DVC, nâng cao chất lượng đào tạo góp phần phát triển đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách để xây dựng và thực hiện chính sách xã hội hoá giáo dục nói chung và GDĐH nói riêng của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Hơn nữa hệ thống lý luận và thực tiễn của luận án cũng có ý nghĩa thiết thực

trong nghiên cứu là giảng dạy chuyên đề QLNN về giáo dục hiện nay

8 Kết cấu của Luận án

Ngoài Phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục Luận

án được kết cấu thành 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về giáo dục đại học trong điều kiện xã hội hóa dịch vụ công

Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước về giáo dục đại học trong điều kiện xã hội hóa dịch vụ công ở Việt Nam

Chương 4: Định hướng, giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về giáo dục đại học trong điều kiện xã hội hóa dịch vụ công

Trang 17

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG 1.1.1 Các công trình ngoài nước

Richard A Loverd (1997), trong “Leadership for the public service, Power and policy in action” [137] (Lãnh đạo đối với dịch vụ công cộng, Quyền lực và

chính sách hành động), đưa ra lý luận chung về quyền lực và phương hướng lãnh đạo Đưa ra các ví dụ và phân tích lãnh đạo của một số tổng thống như J.Kenedy,

G Ford, B Clinton, và sự lãnh đạo của những người làm luật pháp của bộ máy hành chính và các thống đốc bang Trong nghiên cứu chỉ ra rõ vai trò của cung ứng dịch vụ công cho xã hội đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của người lãnh đạo (Leader) với quá trình cung ứng dịch vụ công

Ahmad Sarji Bin Abdul Hamid (1992)“The public of Malaysia, some reflections on qualitu productivity and discipline” [122], tập hợp các bài phát biểu

của bộ trưởng Chính phủ Malaysia về quản lý dịch vụ công cộng, hoạt động văn hóa, thông tin, chất lượng sản phẩm, năng suất lao động kế hoạch đến năm 2020 về phát triển dịch vụ công cho đất nước

R.RI Smith, Patrick Weller (1978) [138], Public service inquiruies in Australia

(Dịch vụ công công ở Autralia) nghiên cứu về sự hình thành nhu cầu dịch vụ công cộng và trách nhiệm của Nhà nước đáp ứng các nhu cầu đó Nghiên cứu thực tế tại

ba bang của Australia: Victoria, Nam Australia và New South Wales Trong đó có nói đến kinh nghiệm một số nước và ứng dụng tại Australia Công trình này khá thực

tế và cũng đi sâu vào dịch vụ công cơ bản, đưa ra các giải pháp khá cụ thể và thiết thực để nâng cao chất lượng dịch vụ công

Công trình nghiên cứu của Haroon Chowdry (2006), “Funding Higher Education: Issues and Implications (Tài chính cho giáo dục đại học - Vấn đề và thực hiện” Tác giả công trình đã chỉ ra rằng ở Vương quốc Anh, chi phí mà cá nhân đóng

góp chung cho hệ thống giáo dục đại học trước khi có cải cách chỉ chiếm khoảng 8%

Trang 18

chi phí dạy học và sau cải cách phấn đấu tỷ lệ đạt 23% Điều này cũng có nghĩa là áp lực rất lớn đối với ngân sách nhà nước dành cho GDĐH và vấn đề QLNN các khoản ngân sách này luôn là thách thức Đầu tư bao nhiêu từ NSNN cho GDĐH đang trở thành vấn đề bàn cãi khi quyết định đầu tư của nhà nước cho các chương trình, dự án[131] Nghiên cứu chỉ ra rằng những ai học đại học có cơ hội kiếm tiền, việc làm

dễ hơn những người khác Vì vậy, khi nghiên cứu quan niệm về đầu tư cho GDĐH

sẽ không mang tính công Do đó, đòi hỏi tăng đóng góp tư cho GDĐH như là một thỏa đáng Nhưng mặt khác, GDĐH có thể tạo ra những yếu tố tích cực, nghĩa là tác động ảnh hưởng đem lại không chỉ cho chính người đi học mà còn cho cả nền kinh

tế Đầu tư của nhà nước cho GDĐH là tất yếu Bài viết cũng chỉ ra thách thức của dự

án đầu tư cho GDĐH thông qua chương trình cho vay đối với sinh viên Các ngân hàng đều do nhà nước chỉ định và làm thế nào để kiểm soát được thu hồi nợ cũng là thách thức của dự án đầu tư ngân sách cho GDĐH theo “chương trình, dự án cho vay” Nhóm tác giả đã khẳng định mô hình chia sẻ chi phí GDĐH là tất yếu

Công trình nghiên cứu của các tác giả thuộc WB với sản phẩm là quyển sách có

tựa đề: “Đưa giáo dục đại học vào công việc, kỹ năng và nghiên cứu để phát triển ở Đông nam Á - Putting Higher Education to Work, Skills and Research for Growth in East Asia”(2012)[146] cũng phân tích một số nội dung về chi ngân sách nhà nước

đối với dịch vụ công ở Anh và một số nước khác như Australia, New Zealand, chính sách chọn lựa được thể hiện dưới các hình thức như: Dành một số dịch vụ công miễn phí hoặc trợ giúp cho những người nghèo nhất, dễ bị tổn thương nhất (trợ cấp gia đình, nhà ở cho các đối tượng chính sách) nhưng những đối tượng thụ hưởng ngày phải trải qua “thẩm tra tài chính” của chính phủ trước khi được hưởng dịch vụ Chính phủ Singapore cũng thực hiện hỗ trợ bằng tiền cho những gia đình và khó khăn Những hình thức thể hiện khác của chính sách này là cân đối hoặc thay đổi chi phí dịch vụ bằng cách tăng chi phí đối với những tầng lớp thu nhập cao nhất hoặc đối một số hình thức tiêu thụ; áp dụng cơ chế trả tiền đối với dịch vụ công trên cơ sở bù trừ đối với người thu nhập thấp dưới hình thức dịch vụ tối thiểu (y tế) hay học bổng chính sách chọn lựa dựa trên tình trạng tài chính của đối tượng thụ hưởng dịch vụ

Trang 19

công đã được một số quốc gia xem xét áp dụng, tuy nhiên quá trình triển khai chính sách này gặp nhiều khó khăn Xu hướng chung của các nước Pháp và Đức là đặc biệt quan tâm đến các giải pháp kiểm soát đầu ra, tính toán chi phí quản lý đối với từng loại, từng lĩnh vực hoạt động Từ việc xác định chi phí quản lý các chính phủ có căn

cứ để xác định nguồn vốn đầu tư từ NSNN cho công ứng dịch vụ công từ đó xác định, phân cấp nguồn người hưởng dịch vụ phải chi phí, nguồn mà NSNN sẽ tài trợ Ngoài ra, các nước cũng hướng tới đa dạng hóa nguồn thu của mình bằng nhiều hình thức khác nhau, từ đó đổi mới cung cách đầu tư từ ngân sách nhà nước trong cung ứng dịch vụ sự nghiệp công Trong chương trình cải cách hành chính của hai nước này, vấn đề xây dựng và phát triển nền mạng lưới điện tử được xác định là trọng tâm

ưu tiên Học hỏi những bài học, kinh nghiệm của các nước khác là một cách để chúng ta tìm ra những biện pháp và hướng đi phù hợp cho công cuộc cải cách đầu tư

từ ngân sách nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập trong tình hình hiện nay

1.1.2 Các công trình trong nước

Nguyễn Ngọc Hiến (Chủ biên, 2002), Vai trò của nhà nước trong cung ứng DVC - nhận thức, thực trạng & giải pháp Trong công trình các tác giả đã nghiên

cứu làm rõ vai trò của nhà nước trong cung ứng DVC đồng thời cũng xây dựng các

mô hình cung ứng hiệu quả nhất Công trình cũng cho rằng trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường nhà nước tiến hành nhiều giải pháp cải cách hành chính nhằm xây dựng bộ máy hiệu lực và hiệu quả để cung ứng tốt nhất DVC cho nhân

dân thì cần “xã hội hóa dịch vụ công” và cho thấy hai xu hướng đáng quan tâm: Xu hướng thứ nhất: xã hội hóa DVC trong các lĩnh vực phục vụ nhu cầu chung của

cộng đồng: giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, giao thông công cộng, như vậy, đối với loại hình dịch vụ này có thể thực hiện theo nguyên tắc: cái gì thành phần kinh tế khác làm được, thì nhà nước không nhất thiết phải tham gia (Chính phủ chỉ đóng vai trò kiểm soát, điều tiết và bảo hộ) hoặc việc gì mà thành phần kinh tế khác không tham gia hoặc chưa tham gia, thì nhà nước là người chịu trách nhiệm cung cấp nó

cho xã hội Xu hướng thứ hai: việc hình thành các trung tâm hỗ trợ hành chính trong

thời gian qua đã nhận được không ít sự đồng tình của người dân Các trung tâm này

Trang 20

đã góp phần khắc phục dần ách tắc, trì trệ trong hoạt động của các cơ quan hành chính, đáp ứng yêu cầu bức thiết của người dân về các DV hành chính,[44,tr16-48] Theo tác giả thì cần tư duy lại vai trò của nhà nước trong điều kiện hiện nay từ

đó khảng định được điều mới mẻ và đúng đắn trong tiến trình cải cách hành chính ở nước ta là rất cần thiết nhằm tạo cơ sở cho việc đổi mới hoạt động của bộ máy nhà nước Tuy công trình đã có những phân tích đánh giá, và đưa ra những giải pháp thực tế để nâng cao vai trò của nhà nước trong cung ứng dịch vụ công, nhưng đấy là những giải pháp tổng hợp chưa đi sâu vào một lĩnh vực cụ thể nào

Trong cuốn “Xã hội hóa công tác giáo dục nhận thức và hành động” (1999)

của Viện Khoa học Giáo dục Trong công trình này, các tác giả cũng đã khái quát được khái niệm về XHH công tác giáo dục, các đặc điểm của công tác XHH giáo dục, cũng như giải thích được vì sao phải thực hiện XHH công tác giáo dục ở Việt Nam Bên cạnh đó trong công trình cũng đã đưa ra các nội dung của công tác XHH giáo dục như: Huy động xã hội tham gia xây dựng môi trường thuận lợi cho giáo dục; Huy động xã hội tham gia vào quá trình giáo dục; Đa dạng hóa các loại hình học tập, loại hình nhà trường và huy động xã hội đầu tư các nguồn lực cho giáo dục Các tác giả cũng đã khái quát được vai trò của công tác XHH giáo dục đối với việc phát triển giáo dục nước nhà để thực hiện tốt công tác XHH giáo dục theo các tác giả cần phải có sự vào cuộc của cơ quan của Đảng, Nhà nước, bên cạnh đó cũng lôi cuốn các tổ chức chính trị, Chính trị xã hội, cá nhân và các doanh nghiệp cùng tham gia vào công tác xã hội hóa giáo dục.[89]

Tạ Thị Bích Ngọc , Xã hội hóa dịch vụ công cộng ở Việt Nam hiện nay (2012)

Đã nghiên cứu và phân loại dịch vụ công ở đây chủ yếu là dịch vụ công cộng phục

vụ lợi ích chung tối cần thiết cho cả cộng đồng, do nhà nước đảm nhận hay ủy nhiệm cho các cơ sở ngoài nhà nước thực hiện nhằm đảm bảo trật tự và công bằng xã hội Tác giả đưa ra những lợi ích của việc XHH DVC, có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình cải cách hành chính và phát triển đất nước, những cơ sở lý luận và thực tiễn của tác giả đưa ra đã nói lên sự cần thiết của XHH[67] Có thể nói, công trình đã đi sâu nghiên cứu khá công phu về hoạt động này, có thể làm tài liệu nghiên

Trang 21

cứu cũng như hoạch đinh chính sách khá hiệu quả Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của tác giả mới chỉ nói chung chung về “Dịch vụ công” mà lại chưa nói cụ thể

và đi sâu vào một dịch vụ nào, trong khi đó có rất nhiều dịch vụ cần nghiên cứ sâu: giáo dục, y tế, văn hóa,

Chu Văn Thành (Chủ biên,2004), Dịch vụ công và xã hội hóa dịch vụ công – một số vấn đề lý luận và thực tiễn Nghiên cứu chỉ ra rằng “ở nước ta, quan điểm của

Chính phủ chỉ rõ phải XHH, từng bước “làm thí điểm với sự chỉ đạo chặt chẽ, rút kinh nghiệm trước khi mở rộng” Vậy, vấn đề quan trọng là những loại DVC nào không XHH và những DVC nào có thể XHH trước mắt hoặc lâu dài? Có rất nhiều ý kiến khác nhau, nhưng đều có chung tiêu chí là: không thể XHH mọi mặt hoạt động phục vụ dời sống của người dân, song cũng không phải tất cả đều do nhà nước trực tiếp thực hiện mà cần xác định cụ thể, rõ ràng bằng pháp luật để thấy rõ trách nhiệm của nhà nước đối với dân và nghĩa vụ của nhân dân với nhà nước Thực hiện được điều này sẽ phát huy cao độ quyền làm chủ của nhân dân, Nhà nước sẽ gần dân và thực sự là của dân”[78] Như vậy theo ý tác giả thì không phải tất cả dịch vụ của nhà nước đều XHH, những hoạt động không được XHH như: hoạt động gắn với quyền lực của nhà nước, buộc phải có tư cách (thay mặt) quyền lực công, hay những việc đáp ứng quyền lợi chung, cơ bản của cộng đồng, bảo đảm nền tảng xã hội chủ nghĩa, duy trì trật tự công cộng hoặc những việc không có cá nhân tổ chức nào đủ quyền lực

để thực hiện do vốn quá cao, khả năng thu hồi vốn chậm, ngoài những lĩnh vực đó nhà nước có thể san sẻ công việc cho xã hội: văn hóa, giáo dục, y tế,

Đỗ Thị Hải Hà (Chủ biên,2007), Quản lý nhà nước đối với cung ứng dịch vụ công Đã nghiên cứu và đưa ra lý luận về cách hiểu về DVC và phân loại DVC,

theo tác giả DVC bao gồm các loại dịch vụ sau: Dịch vụ công đặc thù – đây là hoạt động cung cấp dịch vụ truyền thống, hay chính là chức năng quản lý của nhà nước; Dịch vụ Hành chính công – là hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước cung ứng trực tiếp cho các tổ chức và công dân các hàng hóa công cộng: cấp Giấy xác nhận (Giấy khai sinh, khai tử, giấy chứng nhận quyền sở hữu, ), Công chứng giấy tờ,, ; Dịch vụ sự nghiệp công – cung cấp chủ yếu các hàng hóa công cộng

Trang 22

(phúc lợi công) cho người dân: giáo dục, y tế, văn hóa, khoa học, nhà nước có thể tiến hành thu phí nhưng có thể từng bước xã hội hóa các lĩnh vực này bằng cách

ủy quyền cho các cơ sở ngoài nhà nước thực hiện trong khuôn khổ pháp luật; Dịch vụ công cộng – là dịch vụ có thu phí nhằm đáp ứng các nhu cầu bức thiết của công dân mang tính phi lợi nhuận do các cơ sở thực hiện theo yêu cầu của cơ quan hành pháp nhà nước: nước sinh hoạt, vệ sinh môi trường, cây xanh, chiếu sáng [39,tr27-33] Theo tác giả thì giáo dục là 1 loại dịch vụ công mà trong quá trình xã hội hóa nhà nước đã chia sẻ nhiệm vụ cung cấp dịch vụ này cho các đơn

vị, tổ chức ngoài nhà nước cung cấp cho xã hội

Chu Văn Thành (Chủ biên,2007), Dịch vụ công - đổi mới quản lý và tổ chức cung ứng ở VN hiện nay Tác giả đã nghiên cứu và đưa ra cách hiểu về dịch vụ

công: dịch vụ công là những dịch vụ đáp ứng các nhu cầu cơ bản, thiết yếu chung của người dân và cộng đồng, bảo đảm ổn định và công bằng xã hội do nhà nước chịu trách nhiệm, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận Bên cạnh đó, tác giả cũng đã phân loại dịch vụ công như sau: Dịch vụ hành chính công- đây là dịch vụ phục vụ chung cho mọi người dân nhà nước phục vụ các quyền của người dân: giấy tờ hành chính, tư pháp Dịch vụ sự nghiệp công – cung cấp các hàng hóa dịch vụ về giáo dục-đào tạo, chăm sóc sức khỏe, văn hóa tinh thần do các tổ chức

sự nghiệp cung ứng Không thu tiền hoặc có thu tiền một phần nhưng không vì mục tiêu lợi nhuận; Dịch vụ công ích- là hoạt động cung cấp các hàng hóa dịch vụ tính chất kinh tế đáp ứng nhu cầu vật chất thiết yếu cho sinh hoạt của người dân,

nó gắn liền với việc cung ứng của các cơ sở hạ tầng kỹ thuật cơ bản [79, tr52-61]

Về XHH DVC, tác giả đã cho rằng: XHH DVC là một cách để không chỉ giải quyết sự thiếu hụt tài chính của DVC, mà còn là để giảm bớt sự can thiệp của nhà nước nhưng lại nâng cao chất lượng, hiệu quả của DVC Như thế XHH DVC là việc tư nhân, các hội, tổ chức phi chính phủ tham gia cùng nhà nước thực hiện DVC ở khâu nào đó, lĩnh vực nào đó mà không làm biến đổi tính chất DVC mà nhà nước phải cung cấp cho xã hội, không làm mất đi vai trò của nhà nước trong việc cung cấp hàng hóa công cho xã hội Điều cần nhấn mạnh là, XHH DVC chỉ

Trang 23

có nghĩa là làm thay đổi thành phần chủ thể cung cấp hàng hóa công Không làm mất đi hay giảm tính công của hàng hóa [79, tr81-82]

Lê Chi Mai (Chủ biên,2003), Cải cách dịch vụ công ở Việt Nam Tác giả cho

rằng: Dịch vụ công là những giao dịch trực tiếp giữa Nhà nước và các công dân với tư cách là khách hàng của nhà nước Đương nhiên, những giao dịch cụ thể này có thể được thực hiện một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các phương tiện giao tiếp như qua mạng, qua telephone, qua thư từ công trình của tác giả

cũng phân loại DVC thành 2 loại sau: Một là, loại dịch vụ có tính chất công cộng

phục vụ nhu cầu chung, tối cần thiết của cả cộng đồng và mỗi công dân Trên thực tế, có những loại dịch vụ rất quan trọng phục vụ nhu cầu của cả cộng đồng nhưng tư nhân không thể cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ không đảm bảo lợi ích cho xã hội, lúc đó, nhà nước với tư cách là một tổ chức công quyền có trách nhiệm cung ứng hoặc điều tiết, kiểm soát việc cung ứng các dịch vụ này

nhằm đảm bảo sự ổn định, công bằng và hiệu quả của nền kinh tế Hai là, các

hoạt động gắn với thẩm quyền của Nhà nước để đáp ứng các quyền và nghĩa vụ hợp pháp của các tổ chức và công dân Loại dịch vụ này gắn với thẩm quyền của nhà nước, vì vậy về nguyên tắc nhà nước không thể chuyển giao việc cung ứng các dịch vụ này cho tư nhân[60, tr19-22] Do đó, các dịch vụ này ít nhiều mang tính bắt buộc, yêu cầu các công dân và tổ chức phải tuân thủ

Như vậy, tác giả đã đưa ra những lý luận cơ bản nhất về DVC và XHH DVC trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam Trong đó có dịch vụ giáo dục, tác giả dã nêu

ra sự tồn tại và phát triển của 3 cơ sở giáo dục sau: Cơ sở giáo dục bán công: do nhà nước thành lập trên cơ sở huy động các tổ chức cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế cùng đầu tư xây dựng cơ sở vật chất; Cơ sở giáo dục dân lập: do các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế xin phép thành lập và tự đầu tư bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước; Cơ sở giáo dục tư thục: do cá nhân hay một nhóm cá nhân xin phép thành lập và đầu tư Đây là cơ sở tư theo đúng nghĩa thông thường của từ này, do các cá nhân sở hữu và quản lý[60,tr138 -139]

Trang 24

Trong cuốn “Phát triển giáo dục trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế”(2010) do Trần Quốc Toản chủ biên cũng bàn về XHH GD như sau:

Xã hội hóa giáo dục – đào tạo không chỉ là huy động sự tham gia đầu tư, đóng góp trí tuệ, nhân lực, vật lực, của mọi chủ thể, các thành phần kinh tế và của toàn xã hội cho phát triển giáo dục đào tạo Xã hội hóa giáo dục – đào tạo được nhận thức

và thực hiện một cách đúng đắn và hiệu quả sẽ kết hợp được sức mạnh của Nhà nước với sức mạnh của toàn xã hội và của mỗi người, tạo được động lực mạnh mẽ cho phát triển giáo dục – đào tạo trong giai đoạn mới [85,tr 465] Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra một số phương hướng nhằm hoàn thiện và phát triển hệ thống giáo dục quốc gia trong điều kiện XHH: kết hợp có hiệu quả hợp tác “công - tư” trong phát triển hệ thống giáo dục quốc dân: Khẳng định vai trò chủ đạo của hệ thống cơ

sở giáo dục – đào tạo công lập, song phải đẩy mạnh đổi mới để nâng cao chất lượng gắn với thực hiện có hiệu quả cơ chế tự chủ Khuyến khích phát triển hệ thống trường ngoài công lập theo nhu cầu của xã hội, nhu cầu của thị trường, nhất

là ở những nơi có điều kiện kinh tê – xã hội phát triển cao hơn (cả cơ chế không vì lợi nhuận và vì lợi nhuận) Nhà nước có chính sách ưu đãi, hỗ trợ phù hợp để phát triển các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cao đẳng, đại học với cơ chế tự chủ cao trên

cơ sở kết hợp nguồn lực của nhà nước của xã hội và của người học [85,tr495]

Lê Quốc Hùng (Chủ biên,2004) trong “Xã hội hóa giáo dục nhìn từ góc độ pháp luật” Có đưa ra ba mô hình tổ chức hệ thống giáo dục khi XHH GD, trong đó

đề cao và quan tâm đến phát triển hệ thống trường GD tư thục Thứ nhất, giáo dục tư

thục đại trà, hạn chế công lập, được thực hiện ở Nhật Bản, Philipin, Hàn Quốc, Inđônêxia nhằm mục tiêu thỏa mãn phần lớn nhu cầu học tập của công chúng Nhờ

mô hình học tập này mà Nhật Bản và Hàn Quốc có nhiều thành công trong đào tạo nguồn nhân lực Nhật Bản đã có nhiều thế hệ những người lao động thông minh và sáng tạo, những nhà doanh nghiệp nổi tiếng, đội ngũ trí thức có trình độ cao, đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề đông đảo Nhật Bản đã thành công trong việc vận động

xã hội đầu tư cho GD, mở rộng cơ hội học tập cho mọi người, xây dựng một nền GD rộng lớn và đa dạng trên cơ sở hệ thống trường tư Kinh nghiệm của Hàn Quốc cũng

Trang 25

cho thấy, có được sự tăng trưởng nhanh về kinh tế trước hết là nhờ biết đầu tư hiệu quả cho GD Người ta so sánh, vào những năm 60 của thế kỷ trước, Hàn Quốc và Pakistan có trình độ phát triển như nhau, nhưng trong khi Pakistan chỉ có 30% số trẻ

em được vào trường tiểu học thì Hàn Quốc tỷ lệ đó là 94% Kết quả là vào giữa những năm 80, GDP tính theo đầu người của Hàn Quốc tăng gấp 3 lần Pakistan và đến năm 2001 là 21 lần Chính sách đầu tư cho GD ở Hàn Quốc được xác định rất rõ: đào tạo nguồn nhân lực là nhiệm vụ chung của toàn xã hội, thực hiện phương châm đào tạo “Con người trọn vẹn” – con người có năng lực tự học, tự sáng tạo và

có khả năng sống độc lập Thứ hai, giáo dục công lập và GD tư thục song song phát

triển được thực hiện ở các nước phát triển ở châu Âu, Bắc Mỹ Sự khác biệt cơ bản giữa trường công và trường tư thể hiện ở chỗ, hệ thống trường tư được phát triển nhằm tăng khả năng lựa chọn cho người học và tăng cường tính đổi mới thích ứng

với môi trường Thứ ba, giáo dục công lập rộng lớn (chủ yếu) và GD tư thục ngoại vi

(hỗ trợ), nghĩa là GD công lâp hầu như thỏa mãn tất cả các chức năng xã hội còn giáo dục tư thục chỉ thực hiện những nhiệm vụ mà GD công lập bỏ qua Mô hình này được áo dụng chủ yếu ở Mỹ La tinh Theo tác giả, trong cả 3 mô hình giáo dục trên, thì trong các mô hình của các quốc gia trường tư thục đều giữ vai trò quan trọng trong nền giáo dục quốc dân (đặc biệt là mô hình thứ nhất và thứ hai).(47,tr28-29) Trong bài trao đổi của tác giả Giản Tư Trung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu

Phát triển Giáo dục (IRED) với nội dung “Định nghĩa lại vai trò của nhà nước trong giáo dục”(2013), cho rằng vai trò của nhà nước với GD cần được xem xét lại Để có

cải cách hay đổi mới thật sự về GD thì phải xác lập lại triết lý GD và định nghĩa lại vai trò của 5 chủ thể then chốt trong GD, đó là: nhà nước, nhà trường, nhà giáo, người học và gia đình.Về mặt quản lý GD, một trong những nguyên nhân chính làm cho chất lượng GD không cao đó là nhà trường, nhà giáo và người học thiếu những quyền cơ bản trong giáo dục Cũng theo tác giả, mô hình giáo dục trên thế giới đang rất thịnh hành và hiệu quả, đó là mô hình “Charter school” người ta thấy rằng nhà nước vẫn làm đúng vai trò và sứ mệnh của mình trong GD và tin rằng với mô hình này thì chất lượng GD sẽ được cải thiện hơn, nếu nhà nước kiểm soát tốt Đồng thời,

Trang 26

chúng ta cũng biết rằng, cơ chế quản lý GD, có cơ chế giám sát của nhà nước và người dân ở các các nền giáo dục của các quốc gia phát triển là rất cao và hiệu quả Tác giả cho rằng khái niệm “xã hội hóa giáo dục” thì nên hiểu là nhà nước chỉ nên làm cái gì mà người dân không làm được hay làm những gì rất cần những người dân lại không muốn làm, còn những cái khác thì để dân làm Và “xã hội hoá giáo dục” không chỉ đơn giản là kêu gọi người dân đóng góp tiền bạc cho GD (mà thực sự thì ít nước trên thế giới mà người dân phải bỏ tiền túi ra cho giáo dục trẻ em như ở nước ta), mà nên hiểu là tạo ra một xã hội học tập, đa dạng hoá các loại hình đào tạo, tạo môi trường cho các chủ thể, nhất là khu vực tư tham gia vào GD Khi đó nhà nước

sẽ đóng vai trò quản lý, giám sát[117] Như vậy, XHH GD là rất quan trọng và ở đó vai trò của nhà nước đóng vai trò then chốt Tuy vậy, Ông cũng chưa đưa ra được những giải pháp cụ thể để nâng cao vai trò của nhà nước trong XHH GD nói chung

Trong bài “Xã hội hóa GD và vai trò của Nhà nước” (2014) của Nguyễn Vân

Nam, đã khái quát về xã hội hóa giáo dục như sau: “Xã hội hóa giáo dục là gì? Nói một cách nôm na, đó cũng chỉ là một trong những phương cách để nhà nước thực hiện nhiệm vụ hiến định là tạo điều kiện cho con em của mọi tầng lớp trong xã hội đều được đến trường và mọi cái gì cản trở nó đều không phải XHH GD Nói cách khác, XHH GD (hay không xã hội hóa) dù kiểu nào đi chăng nữa đều phải nhằm đạt được những mục tiêu thiết yếu của GD và nhà nước, trong mọi trường hợp, luôn luôn phải chịu trách nhiệm chính, không thể chuyển giao trách nhiệm của mình cho ai khác Càng không thể lợi dụng XHH để biến GD, nhiệm vụ chính danh của nhà nước, thành một ngành kinh doanh lấy lợi nhuận làm mục tiêu thay thế”

Và ông cũng đưa ra một số kinh nghiệm của nước Đức “Điển hình cho quan niệm như trên về phát triển GD là CHLB Đức Học sinh, sinh viên ở đây từ cấp phổ thông đến đại học đều được hưởng chế độ miễn học phí Ngoài ra, riêng những học sinh, sinh viên nghèo (không đủ điều kiện vật chất sống tối thiểu) còn được nhà nước trợ cấp, “bù” thêm tài chính để họ có thể an tâm sống và học tập Ngoài hệ thống trường công lập, tại Đức có tới 2.500 trường tư Trong số ấy, theo quy định của pháp luật, bất kỳ trường tư nào được nhà nước công nhận văn bằng có giá trị

Trang 27

tương đương trường công thì nhà nước có nghĩa vụ cung cấp toàn bộ tài chính cho hoạt động của trường đó[63] Điều này cho thấy GD trong mọi trường hợp là nhiệm vụ không thể tách rời của nhà nước, kể cả khi GD được XHH và cho tư nhân tham gia” Tuy nhiên, bài viết cũng chỉ đưa ra những quan niệm chung, đồng thời cũng chưa chỉ rõ cụ thể vai trò của nhà nước ở đây là những vai trò gì Tuy nhiên, những kinh nghiệm ông đưa ra cũng rất cần thiết cho việc nghiên cứu của luận án

Trong bài viết của Nguyễn Hoa Mai, “Xã hội hóa giáo dục đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập”(2017) cũng đưa ra những đặc trưng và vai trò của XHH

GD, tác giả cũng đã khá quát được một số kết quả cũng như hạn chế của XHH

GD trong những năm gần đây, như: nhà nước đã xây dựng được hành lang pháp

lý cho phát triển GD, thu hút nước ngoài trong GD được chú trọng, hệ thống GD được đa dạng hóa cũng như thu hút được nhiều doanh nghiệp tham gia và hoạt động giáo dục[106] Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế: XHH chưa gắn với công bằng trong GD; chất lượng của một số trường ngoài công lập chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu của phát triển kinh tế, chưa thu hút được người học; cơ sở vật chất của các trường, vùng miền chưa đồng bộ, từ đó tác giả cũng đề xuất một số giải pháp: Hoàn thiện hệ thống GD quốc dân theo hướng mở và xây dựng xã hội học tập; tăng cường công tác tuyên truyền, vận động quần chúng tham gia XHH giáo dục - đào tạo; chủ động mở rộng hợp tác quốc tế trong giáo dục - đào tạo,

Bài viết “Xã hội hóa giáo dục những lợi ích và rào cản”(2014) của Nguyễn

Hữu Khiển, theo tác giả những lợi ích mà XHH GD mang lại là: Về mặt tổ chức, thể chế, XHH GD là sự kiểm chứng việc phân định chức năng của nhà nước, của công quyền với chức năng của các thể chế tư nhân, với đoàn thể, các tổ chức phi công quyền (như các hiệp hội); về chiến lược cải cách hành chính, XHH GD là động thái tốt nhất cho chính sách giảm biên chế khu vực công - một gánh nặng ngân sách; XHH GD là sự tăng các trường NCL, giảm các trường công, tăng khu vực tư, giảm khu vực công trong dịch vụ dân sự; thu hút nguồn lực xã hội, giảm gánh nặng ngân sách nhà nước; XHH GD góp phần làm trong sạch bộ máy[56] Theo tác giả XHH GD cũng gặp những rào cản như: Nhiều người khởi xướng đổi

Trang 28

mới GD cũng chưa thoát ra được sức ỳ của cách làm, cách nghĩ cũ; mặt trái của nền kinh tế thị trường tác động mạnh đến cả lĩnh vực GD; có sự cạnh tranh không công bằng giữa khu vực đào tạo CL và khu vực đào tạo NCL Những vấn đề tác giả đã đưa ra có ý nghĩa quan trọng cho việc nghiên cứu của luận án

Phạm Văn Trường (2020) Chính sách tài chính thúc đẩy XHH DV sự nghiệp công ở Việt Nam Tác giả đã đi sâu phân tích thực trạng chính sách của nhà nước với

XHH dịch vụ: giáo dục, y tế và KHCN Công trình đã nghiên cứu các chính sách của Nhà nước cho XHH DV sự nghiệp công ở Việt Nam với ba chính sách cơ bản: chính sách thuế, chính sách chi NSNN và chính sách tín dụng Nhà nước[87]

1.2 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG ĐIỀU KIỆN XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG

1.2.1 Các công trình ngoài nước

Đã có nhiều công trình nước ngoài nghiên cứu liên quan đến GDĐH, một

số nghiên cứu tiểu biểu như sau:

Vught (1993), trong ”Patterns of govermance in HE: Concepts & Trends” (Các mô hình quản trị trong GDĐG: Khái niệm và xu hướng), Neave & Vught

(1994), trong “Goverment and HE across three continents: The winds of change”

(Chính phủ và giáo dục đại học trên ba châu lục: những sự đổi mới), các tác giả

đã đúc kết hai mô hình hệ thống GDĐH, là mô hình kiểm soát và giám sát; nhấn mạnh sự hội tụ và ưu thế của phương thức giám sát, nguyên lý tự quản và quản trị tốt.[141]-[142] Tuy nhiên, mô hình GDĐH đó áp dụng tại các nước phát triển nên chưa phù hợp với điều kiện ở Việt Nam, nhưng những mô hình mà tác giả đưa ra

có vai trò quan trọng để nghiên cứu vào xây dựng mô hình GD ở Việt Nam

World Bank (1994), trong “HE: The lessons of experience” (Giáo dục đại

học: Bài học kinh nghiệm), đã đúc kết kinh nghiệm qua nghiên cứu GDĐH ở các nước đang phát triển mà trong đó có Việt Nam về quản trị ĐH ở cả cấp hệ thống

và cấp trường; chỉ ra chìa khóa thành công cho các chương trình cải cách GDĐH

là xác định lại vai trò của chính phủ đồng thời tăng cường quyền tự chủ và trách nhiệm của các trường ĐH công[144] Nhưng đồng thời, cũng khuyến khích quá

Trang 29

trình tư nhân hóa, sự mở cửa thị trường GDĐH và các cách tiếp cận quản lý ít có

sự chi phối của nhà nước Nghiên cứu này muốn chỉ ra những quan điểm nhằm hạn chế vai trò quản lý về giáo dục của nhà nước và muốn tạo điều kiện cho sự phát triển của các trường ngoài công lập

Sanyal (2003), trong “University management in higher education” (Quản

lý trường đại học trong GDĐH) đã cung cấp bức tranh chung về quản lý các

trường đại học trong bốn hệ thống: Tự chủ và tự chịu trách nhiệm, Quá độ sang

tự chủ, Tự chủ gặp khó khăn, Kế hoạch và kiểm soát tập trung[139] Tuy nhiên, các nội dung được đề cập chỉ tập trung so sánh cách thức điều khiển có tính khái quát của nhà nước và giải quyết vấn đề quản lý bên trong của trường đại học mà chưa đề cập đến hoạt động quản lý của Nhà nước đối với GDĐH

Michael K McLendon (2003), “State Governance Reform of Higher Education:

Patterns, Trends, and Theories of the Public Policy Process” (Cải cách quản trị nhà

nước về GDĐH: Mô hình, xu hướng và lý thuyết thực thi chính sách công), tác giả

đã đánh giá mối quan hệ giữa nhà nước và trường học ở Mỹ thường được đưa ra

theo khía cạnh cơ bản, thậm chí nghịch lý, căng thẳng giữa các yêu cầu về tự chủ thể chế và trách nhiệm công cộng, hoặc giữa quyền của trường ĐH điều chỉnh các

vấn đề của mình từ bên trong và nhà nước điều chỉnh các vấn đề của trường ĐH từ bên ngoài (Bailey, 1975; Berdahl, 1971; Carnegie Foundation,1982; Glenny và Schmidtlein,1983; Graham,1989; Hines,1988; Millet,1982; Mortimer và McConnell, 1982; Newman, 1987; Volkwein, 1987)[135] Bởi vì không có quyền tự chủ tuyệt đối của nhà trường cũng như không chịu trách nhiệm hoàn toàn của trường đối với nhà nước, nên câu hỏi gây khó khăn với các nhà hoạch định chính sách chính xác đâu là ranh giới giữa trường và nhà nước Mô hình thống trị của thế kỷ XX là một trong những sự tham gia và can thiệp ngày càng tăng của các chính phủ tiểu bang

Trang 30

Việt Nam là một “mảnh đất màu mỡ” và cảnh báo sự xuất hiện của các trường ĐH không được kiểm định của Mỹ vào Việt Nam cũng như khuyến cáo nhà nước cần quản lý chương trình để đảm bảo lợi ích cho người học Nhưng không thảo luận biện pháp giúp trách nhiệm xã hội của các nhà cung cấp GDĐH ngoại nhập được thực thi, đồng thời tác giả mới chỉ tập trung vào việc làm thế nào Nhà nước quản lý các cơ sở giáo dục chứ chưa nghiên cứu về mô hình tự chủ của các trường và nhà nước sẽ quản lý như thế nào khi các trường tự chủ

Hayden M and Thiep L.Q (2006), “A vision 2020 for Vietnam”(Tầm nhìn

2020 cho Việt Nam)[132] Đã đề xuất sự đổi mới GDĐH Việt Nam phải gắn với đổi mới công tác quản lý và đảm bảo quyền tự chủ cho trường ĐHCL; tự chủ đại học, chịu những thách thức và căng thẳng không chỉ do sự miễn cưỡng đối với việc từ bỏ sự kiểm soát trực tiếp của một bộ phận quản lý GDĐH mà còn do sự nhận thức chưa đầy đủ hàm ý thực sự của tự chủ, cả những đòi hỏi liên quan đến trách nhiệm xã hội cũng như cách thức quản lý hiệu quả trong hoàn cảnh mà nguồn vật lực và nhân lực tương xứng cho việc tự quản lý còn hạn chế

K Moti Gokulsing, Foreword, John Field (2007), The new shape of unversity

education in England: Interdiscipnary essays, (Hình dạng mới của GDĐH ở Anh: Các bài tiểu luận liên ngành), tập hợp những bài nghiên cứu về giáo dục đại học

Anh Các tác giả đã đi sâu nghiên cứu, trình bày những vấn đề liên quan đến GDĐH

ở Anh: tài chính, giải trình trong GDĐH, chất lượng giáo dục, tỉ lệ tốt nghiệp, thái độ sinh viên và một số vấn đề xã hội của GDĐH ở Anh Điều đó đóng góp quan trọng vào phát triển GDĐH ở Anh[133] Tuy nhiên, điều kiện ở Anh khác với chúng ta, vì nước Anh cải cách GD đã khá lâu do vậy sự phát triển của các trường NCL đã được khảng định và xã hội thừa nhận, trong khi đó ở Việt Nam vấn đề này còn chưa thuận lợi vì vậy cần rất nhiều vai trò của Nhà nước để đảm bảo công bằng khi XHH

Fielden (2008), trong “Global trends in university govermance” (Xu hướng

toàn cầu trong quản trị đại học), đã hệ thống và khái quát xu hướng toàn cầu trong quản trị đại học về thể chế hóa địa vị pháp lý các trường ĐH công như thực thể độc lập tự chủ, giảm bớt sự kiểm soát nhà nước, trao quyền tự chủ tài chính cho các

Trang 31

trường, tăng cường các biện pháp đảm bảo trách nhiệm xã hội, tăng cường quản lý cấp trường thông qua xây dựng hội đồng trường vv[130] Tuy nhiên, một số quan niệm và cách tiếp cận quản trị còn chưa phù hợp với bối cảnh của Việt Nam, vì chúng ta đang trong quá trình chuyển đổi thì Nhà nước giữ vai trò thiết yếu, nhưng nghiên cứu lại tách hoạt động của các trường ĐH khỏi sự quản lý của Nhà nước

A Hauptman (2008), “Financing for higher education trends and issues”

(Tài chính cho GDĐH xu hướng và vấn đề)[121], đã cung cấp bức tranh chung

về chính sách tài chính GDĐH, phản ánh những quan điểm đang thay đổi trên thế giới và sự tác động sâu sắc đến phương hướng phát triển của quốc gia Mặc

dù tác giả có đề cập đến trường hợp của Việt Nam nhưng cũng chỉ gợi mở một

số vấn đề then chốt càn giải quyết nhằm trả lời câu hỏi: “nên chăng VN cần một cuộc tái thiết tận góc rễ hệ thống GDĐH” như cách đặt vấn đề

Vallely , trong “Đề cương thảo luận: xây dựng trường đại học hàng đầu tại Việt Nam”(2005) và“Giáo dục bậc ĐH Việt Nam: Khủng hoảng và phản ứng”

(2008)[140] đã chỉ ra một số vấn đề về thực trạng GDĐH và khuyến cáo hình thành một cơ chế quản lý mới mà trong đó có quyền tự chủ nhà trường và tự do học thuật được đề cao “Nói một cách khái quát, nền GDĐH của Việt Nam hiện nay có ba lựa chọn: phục hồi các trường ĐH hiện có, hình thành các chi nhánh hay các đơn vị vệ tinh của các trường ĐH nước ngoài và xây dựng các trường ĐH mới hoàn toàn Trên thực tế, Việt Nam phải cần thực hiện cả ba chính sách này Chúng tôi cho rằng lựa chọn thứ ba – xây dựng một trường ĐH mới chất lượng cao, đóng vai trò như một hình mẫu và vườn ươm vốn con người - là đặc biệt quan trọng Kinh nghiệm cho thấy rằng việc cải cách các trường ĐH hiện có là một quá trình lâu dài khi sự cố thủ của các nhóm lợi ích dần dần bị trung hòa Các trường và cơ sở đào tạo của nước ngoài có thể rất hữu ích nhưng không thể thực hiện vai trò của một trường ĐH nghiên cứu” Tuy nhiên, nội dung được nêu ra chỉ là ý tưởng nhằm gợi mở thảo luận, còn luận điểm, so với quan điểm phát triển GDĐH của nước ta, có nhiều khác biệt vì nền GD còn đang trong quá trình đổi mới do vậy, Nhà nước luôn giữ vai trò quan

Trang 32

trọng nhất cho quá trình này, vì vậy có cái nhìn cụ thể hơn về vai trò của nhà nước là chủ thể quản lý vĩ mô

Ewan Ferlie, Christine Musselin (2008), trong “The steering of higher education systems: a public management perspective” (Chỉ đạo hệ thống GDĐH:

một quan điểm quản lý công cộng), đã tập trung nghiên cứu vào việc chỉ đạo các hệ thống GDĐH dưới ánh sáng của khoa học chính trị và phương pháp quản lý công cộng Các tác giả nghiên cứu vào các chính sách công về cải cách và ra quyết định, ngoài ra các tác giả còn khám phá và tìm hiểu mạng lưới chính sách và quản lý nhà nước trong việc xây dựng các chính sách Cả hai quan điểm có xu hướng xem GDĐH là một lĩnh vực cụ thể [129] Các tác giả cho rằng các thay đổi trong GDĐH tương tự như các thay đổi của các dịch vụ công cộng quan trọng khác, có thể hiểu là một định nghĩa lại về vai trò của nhà nước nói chung Do đó, họ đề nghị xem xét các

mô hình chỉ đạo trong GDĐH bằng cách điều tra các 'tường thuật' cơ bản về cải cách quản lý công cộng và sự thay đổi hoặc kết hợp của chúng từ quốc gia châu Âu này sang quốc gia khác Ba tường thuật chính của cải cách dịch vụ công được thảo luận: Quản lý công cộng mới (NPM), quản trị mạng và tường thuật Neo-Weberian

Brian Salter, Ted Tapper (2013), trong “The State and Higher Education”

(Nhà nước và giáo dục đại học), các tác giả cho rằng áp lực nhà nước đối với các trường đại học về GDĐH nói chung, là một thực tế của cuộc sống Với việc thông qua Đạo luật cải cách giáo dục năm 1988 ở Anh và Đạo luật giáo dục đại học

1992, tốc độ thay đổi trong giáo dục đại học đã thay đổi nhanh chóng [126] Các tác giả đã phác thảo những đặc điểm chính của mô hình giáo dục đại học đương đại ở Anh, để tạo ra các mô hình gói gọn tính đại diện của hệ thống ĐH Anh Như vậy, nội dung quản lý nhà nước về GDĐH đã có nhiều công trình nghiên cứu, tuy nhiên mới chỉ nghiên cứu trên giác độ cụ thể và chưa xây dựng được một cách có hệ thống Về mặt lý luận các khái niệm, cũng như nội dung quản lý của nhà nước về GDĐH và vai trò của Nhà nước khi giải quyết mối quan

hệ giữa quản lý nhà nước về GDĐH với XHH dịch vụ công, các công trình chưa

đề cập đến hoặc đề cập chưa sâu Đây là những nội dung chủ yếu mà luận án sẽ

Trang 33

đề cập đến một cách hệ thống, cụ thể cả về lý luận và thực tiễn và qua đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện cũng như các điều kiện thực hiện

Có thể kết luận, đề tài luận án nghiên cứu cũng như nội hàm của vấn đề mà luận án đề cập, phân tích, bình luận là hoàn toàn mới chưa bị trùng lặp với các công trình nghiên cứu khoa học nào Việc nghiên cứu một cách hệ thống, cụ thể cả về lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về GDĐH khi XHH dịch vụ này có thể coi đây

là công trình khoa học mới Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài có giá trị nhất định đối với khoa học quản lý nhà nước về GDĐH nói riêng và GD nói chung, đặc biệt sẽ

có những đóng góp khoa học giá trị cho hoạch định chính sách trong thực tiễn

1.2.2 Các công trình trong nước

Trong nhiều năm qua dã có nhiều công trình khoa học viết về quản lý nhà nước về giáo dục:

Phan Huy Hùng (2009), Quản lý nhà nước theo hướng đảm bảo sự tự chủ,

tự chịu trách nhiệm của các trường đại học ở Việt Nam.Tác giả tập trung đi sâu

vào vấn đề tự chủ của các trường đại học công lập, đưa ra những tiêu chí và giải pháp cho vấn đề đảm bảo tự chủ đại học khi nhà nước thực hiện xã hội hóa giáo dục đại học[48] Tuy nhiên, vai trò quản lý của nhà nước, đặc biệt vấn đề đảm bảo sự công bằng cho các trường đại học trong và ngoài công lập khi xã hội hóa dịch vụ này lại chưa được tác giả chú ý đề cập đến nhiều hơn, trong khi vai trò của nhà nước là vô cùng quan trọng

Trong công trình Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục đại học,(2012) tác giả Nguyễn Thị Thu Hà đã đi sâu phân tích các nội dung về quản

lý nhà nước với GDĐH: xây dựng hệ thống pháp luật, xây dựng bộ máy quản lý, từ đó đánh giá được thực trạng của hoạt động quản lý với GDĐH và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nước[40] Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập tới vấn đề trong điều kiện XHH thì nhà nước cần làm gì, quản lý như thế nào với hệ thống GDĐH

Bài viết Quản lý nhà nước đối với giáo dục đại học của Phạm Thị Hạnh

Phương (2021), tác giả đã khái quát được một số nội dung về quản lý nhà nước

Trang 34

với GDĐH: ban hành thể chế, xây dựng bộ máy và nhấn mạnh quản lý nhà nước đối với GDĐH có vai trò đặc biệt quan trọng quyết định hiệu lực, hiệu quả của GDĐH, quyết định chất lượng của GDĐH Đồng thời, tác giả cũng đánh giá được sơ bộ thực trạng của GDĐH về các mặt tích cực và một số hạn chế[112] Bên cạnh đó tác giả cũng đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học: xây dựng đội ngũ giáo viên, đa dạng hóa nguồn tài chính, đổi mới mô hình quản lý và quản trị đại học

Đặng Thị Minh trong “Chính sách phát triển trường đại học tư thục ở Việt Nam”(2015) Luận án đã nghiên cứu về lý luận và thực tiễn được tiếp cận một cách

hệ thống, có cơ sở khoa học, bổ sung về mặt lý luận các khái niệm về trường Đại học Tư thục, chính sách phát triển ĐHTT, phân loại ĐHTT lợi nhuận và phi lợi nhuận, vai trò quan trọng của các trường ĐHTT và các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách phát triển của trường ĐHTT, làm rõ nội hàm của chính sách phát triển ĐHTT như chính sách tài chính, phát triển đội ngũ giảng viên và chính sách đảm bảo quyền tự chủ trong hoạt động đào tạo của trường ĐHTT[62] Đặc biệt tác giả đã xây dựng những quan điểm phát triển trường ĐHTT và nguyên tắc hoàn thiện chính sách phát triển ĐHTT để cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách phát triển ĐHTT phù hợp với chủ trương của Đảng và nhà nước về đổi mới

cơ bản và toàn diện giáo dục và xu thế phát triển GDĐH trên thế giới

Trần Hòa Bình (2013), Quản lý nhà nước đối với giáo dục không chính quy trong phát triển nguồn nhân lực đất nước Công trình đã hoàn chỉnh về lý thuyết

giáo dục không chính quy và quản lý nhà nước với giáo dục không chính quy, làm

rõ được chức năng, nhiệm vụ, vai trò và nội dung của giáo dục không chính quy trong việc phát triển nguồn nhân lực đất nước, làm sáng tỏ, phong phú, bổ sung thêm cơ sở lý luận và thực tiễn QLNN với giáo dục không chính quy[10] Đồng thời đánh giá hoạt động của giáo dục không chính quy và đánh giá QLNN với giáo dục không chính quy,

Đoàn Văn Dũng (2015), Quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học

Đã nghiên cứu các vấn đề lý luận về GDĐH, chất lượng GDĐH, quản lý nhà nước

Trang 35

đối với chất lượng GDĐH, vai trò của nhà nước đối với chất lượng GDĐH[26]; đồng thời tác giả đã phân tích, đánh giá những tác động của quản lý nhà nước, tác động của những đổi mới, thành tựu trong QLNN về GDĐH ở Việt Nam, thực trạng của QLNN về GDĐH chỉ ra những nguyên nhân của những bất cập, hạn chế trong QLNN về GDĐH từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của QLNN về chất lượng GDĐH ở Việt Nam hiện nay

Phạm Đức Chính - Nguyễn Tiến Dũng (đồng chủ biên, 2014), Giáo dục đại học Việt Nam góc nhìn từ lý thuyết kinh tế - tài chính hiện đại Các tác giả đã đi sâu

phân tích về sản phẩm của GDĐH trong nền kinh tế thị trường và khẳng định sự phát triển của mỗi quốc gia có vai trò to lớn của GDĐH Vì vậy mà chính sách đối với GD trong đó đặc biệt là chính sách tài chính ĐH được các quốc gia nghiên cứu

tỉ mỉ và toàn diện, bởi nó có ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của quốc gia đó[12] Công trình cũng đã tập trung nghiên cứu phân tích tài chính giáo dục, sự đầu tư vào GDĐH của Việt Nam nêu ra những nguyên tắc, mô hình tài chính ĐH vận dụng ở Việt Nam nhằm khắc phục những mâu thuẫn hiện có trong GDĐH ở Việt Nam, hướng tới sự công bằng và hiệu quả trong chi tiêu công cho GDĐH ở Việt Nam Bên cạnh đó các tác giả cũng đã đề cập đến mô hình quản lý nhà nước về GDĐH gồm mô hình kiểm soát nhà nước và giám sát nhà nước cũng như đặc trưng của từng mô hình phù hợp với từng giai đoạn phát triển của nền giáo dục Việt Nam Các quan điểm, cách hiểu về XHH GDĐH ở Việt Nam hiện nay cũng được cuốn sách đề cập tới một cách cụ thể và khoa học

Đỗ Thị Nhan (2015), Phân tích hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển các cơ sở giáo dục Đại học, Cao đẳng công lập trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong điều kiện xã hội hóa giáo dục và hội nhập quốc tế Tác giả đã hệ thống hóa

các vấn đề lý luận về phân tích hiệu quả huy động sử dụng vốn đầu tư phát triển GDĐH, cao đẳng công lập trong điều kiện XHH GD, mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của GDĐH và hội nhập quốc tế Đồng thời, luận giải các ưu điểm

và những hạn chế cũng như các nguyên nhân trong huy động và sử dụng vốn đầu

tư phát triển các cơ sở GDĐH, cao đẳng công lập trên địa bàn tỉnh Hải Dương[69]

Trang 36

Luận án cũng đưa ra được các giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển các cơ sở GDĐH, cao đẳng công lập trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong điều kiện XHH GD và hội nhập quốc tế

Trong đề tài Cơ chế quản lý tài chính đối với giáo dục đại học công lập ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và phát triển (2022) của tác giả Đặng Thành

Dũng đã tập trung nghiên cứu cơ chế chính sách quản lý tài chính của nhà nước đối với GDĐH công lập và các công cụ quản lý khác được lồng ghép trong các nội dung cơ chế quản lý tài chính hoặc lực để cấp ở mức cần thiết, trong đó, trọng tâm là từ khi có Nghị quyết 29 - NQ/TW Ngày 4/ 11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo[27] Công trình cũng nghiên cứu cơ chế quản lý tài chính của nhà nước với các nguồn tài chính cho các trường đại học công lập trên cơ sở nghiên cứu nguồn thu Ngân sách nhà nước và nguồn thu ngoài Ngân sách nhà nước Tác giả cũng đã nghiên cứu cơ chế quản lý tài chính của nhà nước đối với GDĐH Công lập ở Việt Nam với các cơ sở đào tạo trong hệ thống giáo dục đại học công lập không thuộc khối quốc phòng, an ninh

Tác giả Hồ Viết Thịnh với công trình Tăng cường quản lý giáo dục đại học

ở Việt Nam từ góc độ kinh tế (2019) Chủ yếu nghiên cứu các nội dung của quản

lý nhà nước về kinh tế đối với giáo dục đại học ở Việt Nam, cụ thể: Hoạch định chiến lược phát triển GDĐH nhằm đạt được mục tiêu trong lĩnh vực GDĐH và giáo dục nói chung; Ban hành hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến quản lý GDĐH từ góc độ kinh tế; Xây dựng chính sách phát triển GDĐH trong từng thời

kỳ nhằm thực hiện chiến lược giáo dục đại học đã được hoạch định; Tổ chức bộ máy quản lý về kinh tế đối với giáo dục đại học; Kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện mục tiêu chiến lược, chính sách phát triển giáo dục của các cơ sở giáo dục đại học[80] Công trình đã đánh giá được thực trạng của quản lý giáo dục đại học Chỉ ra được những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong quản lý GDĐH từ góc độ kinh tế Đề xuất được những giải pháp tăng cường quản

lý giáo dục đại học từ góc độ kinh tế phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường định

Trang 37

hướng Xã hội chủ nghĩa ở nước ta, phù hợp với xu hướng hội nhập, toàn cầu hóa kinh tế và giáo dục, giúp tăng hiệu quả hoạt động QLNN đối với GDĐH

Qua các công trình nghiên cứu trên cho thấy, các tác giả cũng đã tập trung nghiên cứu đến các chính sách quản lý của nhà nước về dịch vụ công, đặc biệt đã đi sâu vào Quản lý nhà nước về giáo dục, cũng có các công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề xã hội hóa dịch vụ công như: chính sách xã hội hóa dịch vụ công, hay quản lý dịch vụ công, tuy nhiên các công trình hoặc là nghiên cứu về quản lý chuyên ngành về giáo dục, hoặc là về dịch vụ công và xã hội hóa dịch vụ công

1.3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KHOẢNG TRỐNG TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

Qua nghiên cứu các công trình khoa học có liên quan đến quản lý nhà nước

về GDĐH trong điều kiện XHH DVC của các tác giả trong và ngoài nước, tác giả thấy rằng các công trình được công bố dưới dạng đề tài khoa học, các sách tham khảo, các luận án Tiến sĩ đã khái quát được chính sách, thực trạng về GDĐH ở Việt Nam Các nghiên cứu đã đề cập đến một số khía cạnh khác nhau về tài chính, chính sách đối với đội ngũ giảng viên, về đảm bảo quyền tự chủ đối với cơ sở GDĐH, về phát triển GDĐH NCL, về những khó khăn cũng như thách thức đối với GDĐH trong bối cảnh hiện nay

Các nghiên cứu đã tập trung ở các khía cạnh sau:

Thứ nhất, về XHH DVC trong đó có XHH GDĐH, các tác giả đã khái quát

được xu hướng cũng như cách thức thực hiện Ở Việt Nam quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước là khuyến khích phát triển XHH

Thứ hai, về quản lý nhà nước về GDĐH trong bối cảnh XHH DVC Các công

trình cũng đã nghiên cứu quản lý về giáo dục trong đó có GDĐH Tuy nhiên chưa công trình nào nghiên cứu cụ thể về quản lý nhà nước về GDĐH trong điều kiện XHH dịch vụ công như: việc ban hành thể chế, xây dựng bộ máy quản lý nhà nước

về GDĐH, kiểm định chất lượng, thanh tra GDĐH, Hơn nữa, các nghiên cứu về

QL GDĐH ở nước ta trong thời gian vừa qua chủ yếu được thực hiện hoặc với khối đại học công lập hoặc đại học NCL Tuy nhiên cần có những nghiên cứu tổng thể

Trang 38

cho toàn bộ các trường đại học để có cái nhìn tổng thể về QLGDĐH tạo điều kiện bình đẳng cho các trường đại học cùng phát triển

Thứ ba, về vai trò của nhà nước trong quản lý GDĐH khi XHH DVC Các

công trình có đề cập đến vai trò quản lý của nhà nước, tuy nhiên trong điều kiện XHH DVC thì các công trình trên chưa chỉ rõ được vai trò cụ thể là đảm bảo công bằng về tham gia vào hoạt động GDĐH của cả tư nhân và nhà nước Đặc biệt trong bối cảnh mới sự tham gia của các thành phần xã hội vào phát triển GDĐH

là rất cần thiết để giảm gánh nặng cho nhà nước Lúc này nhà nước là chủ thể tạo điều kiện cho các thành phần tham gia một cách thuận lợi nhất Đây chính là điểm

mà tác giả Luận án hướng tới giải quyết

Thứ tư, về nội dung quản lý nhà nước về GDĐH trong điều kiện XHH DVC

Các công trình trên có phân tích, đánh giá thực trạng về quản lý nhà nước, nhưng với GDĐH đặc biệt trong điều kiện XHH thì chưa công trình nào phân tích đánh giá, so sánh về quản lý nhà nước trước và sau khi thực hiện XHH

Như vậy, các công trình nghiên cứu trên chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu: trong điều kiện XHH DVC Nhà nước phải quản lý GDĐH như thế nào để đáp ứng được yêu cầu vừa huy động nguồn lực xã hội cho GDĐH và đa dạng hóa các loại hình đào tạo lại vẫn giữ được vai trò quản lý của nhà nước và

đảm bảo được chất lượng giáo dục

Khoảng trống nghiên cứu:

- Về Phạm vi: Luận án sẽ nghiên cứu tổng thể hệ thống GDĐH CL và NCL với mục đích xây dựng môi trường, chính sách tạo điều kiện bình đẳng cho các cơ

sở GDĐH phát triển, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục của quốc gia

- Về nội dung nghiên cứu: (1) Tiếp tục hoàn thiện cơ sở lý luận về quản lý

nhà nước về GDĐH trong điều kiện XHH DVC đặc biệt là làm rõ khái niệm, nội dung, các yếu tố ảnh hưởng; (2) Nghiên cứu đánh giá thực trạng quản lý nhà nước

về giáo dục đại học trong điều kiện XHH DVC trong giai đoạn 2012-2021 trên cơ

sở những số liệu thứ cấp và sơ cấp nhất là số liệu sơ cấp về mức độ theo các nội

Trang 39

dung quản lý đối với GDĐH được thu thập; (3) Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về GDĐH trong điều kiện XHH DVC

đó là vấn đề Nhà nước cần quản lý GDĐH như thế nào khi XHH? Nhà nước cần làm gì để tạo sự công bằng, bình đẳng cho các cơ sở GDĐH CL và NCL cùng phát triển? Làm thế nào để đảm bảo chất lượng GDĐH khi XHH? Để khỏa lấp khoảng trống đó, Luận án sẽ đi sâu nghiên cứu các vấn đề lý luận về DVC và XHH DVC, lý luận về quản lý nhà nước về giáo dục đại học trong điều kiện XHH DVC; các nhân tố ảnh hưởng cũng như kinh nghiệm quốc tế về quản lý GDĐH Trên cơ sở phân tích đó sẽ làm căn cứ để phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về GDĐH trong điều kiện XHH DVC

Trang 40

Chương II

CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

TRONG ĐIỀU KIỆN XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG

2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DỊCH VỤ CÔNG VÀ XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG 2.1.1 Khái niệm dịch vụ công

Trong xã hội hiện đại ngày nay DVC chính là công cụ thiết yếu của NN để đảm bảo quyền lợi của con người và sự phát triển mạnh mẽ của đất nước Chính vì vậy, các quốc gia luôn hướng tới làm thế nào để phục vụ tốt hơn nhu cầu của con người ngày một cao Theo quan niệm chung, DVC là những dịch vụ do NN thực hiện hoặc

ủy quyền cho tổ chức khác thực hiện để phục vụ cộng đồng, nhằm bảo đảm những nhu cầu thiết yếu, cần thiết nhất của con người trong cuộc sống thường ngày

Tại Nghị định 32/2019/NĐ-CP cũng có đề cập tới khái niệm này cụ thể như sau:

Dịch vụ công “là dịch vụ thiết yếu đối với đời sống kinh tế – xã hội của đất nước, cộng đồng dân cư hoặc bảo đảm quốc phòng, an ninh mà Nhà nước phải tổ chức thực hiện trong một số lĩnh vực nhất định.”

Như vậy, DVC là một chức năng của nhà nước, bao gồm việc cung cấp những hàng hóa, sản phẩm dưới bất kỳ hình thức nào vì lợi ích công cộng Từ đó

có thể hiểu “Dịch vụ công là những hoạt động phục vụ các lợi ích chung, thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân, do NN trực tiếp đảm nhận hay uỷ nhiệm cho các cơ sở ngoài NN thực hiện nhằm bảo đảm trật tự

và công bằng XH”[60, tr24]

Dịch vụ công có những đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, đó là những hoạt động phục vụ cho nhu cầu và lợi ích chung thiết

yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân

Thứ hai, những hoạt động này do các cơ quan công quyền hay những chủ thể

được chính quyền ủy nhiệm đứng ra thực hiện

Thứ ba, Nhà nước có trách nhiệm đảm bảo các dịch vụ này cho xã hội Ngay

cả khi nhà nước chuyển giao dịch vụ này cho tư nhân cung ứng thì nhà nước vẫn

Ngày đăng: 22/04/2023, 09:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w