1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

bài thu hoạch số 06 dân sự

11 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bản Thu Hoạch Sơ Tình Huống LS.DS - 06 Vai Trò Của Luật Sư Trong Tranh Chấp Quyền Sử Dụng Đất
Trường học Đại học Hà Nội
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Bản thu hoạch
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 166 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BẢN THU HOẠCH HỒ SƠ TÌNH HUỐNG LUẬT SƯ DÂN SỰ SỐ 06 Vụ án TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ LUẬT SƯ ĐẠI DIỆN CHO NGUYÊN ĐƠN. TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN. KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TOÀN. LUẬN CỨ BẢO VỆ NGUYÊN ĐƠN

Trang 1

KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ

BỘ MÔN LUẬT SƯ VÀ ĐẠO ĐỨC NGHỀ LUẬT SƯ

BẢN THU HOẠCH

HỒ SƠ TÌNH HUỐNG LS.DS - 06

Vụ án: TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ:

LUẬT SƯ ĐẠI DIỆN CHO NGUYÊN ĐƠN

Họ và tên : ………….

Vai diễn án : Nguyên đơn bà Chu Thị Thanh Sinh ngày : ………….

Số báo danh : ………….

Lớp Luật sư : ………….

Trang 2

MỤC LỤC

I TÓM TẮT NỘI DUNG TRANH CHẤP VÀ YÊU CẦU CỦA ĐƯƠNG SỰ 1

1 Tóm tắt nội dung tranh chấp 1

2 Yêu cầu của nguyên đơn 3

3 Chứng cứ chứng minh yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn 3

II KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TÒA 3

1 Hỏi nguyên đơn – ông Chu Văn Sinh 3

2 Hỏi nguyên đơn – bà Chu Thị Thanh 3

3 Hỏi bị đơn – bà Đinh Thị Tám 4

4 Hỏi người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan 5

5 Hỏi người làm chứng 5

III LUẬN CỨ BẢO VỆ NGUYÊN ĐƠN 5

Trang 3

I TÓM TẮT NỘI DUNG TRANH CHẤP VÀ YÊU CẦU CỦA ĐƯƠNG SỰ.

1 Tóm tắt nội dung tranh chấp.

- Nguyên đơn:

(1)- Bà Chu Thị Hồng Thanh (tên gọi khác: Chu Thị Thanh), sinh năm 1930 Người đại diện theo uỷ quyền: Chị Chu Thị Hồng Tâm, sinh năm 1970

Cùng địa chỉ: Số nhà 12 tổ 16, phường Nam Thanh, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên

(2)- Ông Chu Văn Sinh, sinh năm 1936

Địa chỉ: thôn Vạn Thắng, xã Hoà Thắng, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn

- Bị đơn:

(1)- Bà Đinh Thị Tám, sinh năm 1930

Địa chỉ: Thôn 6, xã Phù Vân, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam

- Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:

(1)- Bà Chu Thị Loan, sinh năm 1935

Địa chỉ: Tổ 3, phường Cầu Thía, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái

(2)- Bà Chu Thị The, sinh năm 1944

Địa chỉ: Đội 1, thôn Diên Điền, xã Bình Hòa, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định

Đại diện ủy quyền cho bà Loan và bà The: ông Chu Anh Quyết, sinh năm

1952

Địa chỉ: Thôn 6, xã Phù Vân, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam

(3)- Ông Chu Khắc Hồng, sinh năm 1956

(4)- Bà Trần Thị Đắc, sinh năm 1957

(5)- Bà Chu Thị Mai, sinh năm 1952

Địa chỉ ông Hồng, bà Đắc, bà Mai: Thôn 6, xã Phù Vân, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam

Nội dung vụ tranh chấp:

Ông Chu Khắc Trường (đã chết năm 1945) và bà Chu Thị Cúc (đã chết năm 1990) có với nhau 4 người con là Chu Thị Thanh (sinh năm 1931), Chu Thị Loan (sinh năm 1934), Chu Văn Sinh (sinh năm 1939), Chu Thị The (sinh năm 1944) Ông Trường, bà Cúc có mảnh đất diện tích 777m2 thuộc thửa số 40, tờ bản đồ

số 2 lập năm 1998 tại thôn 6, xã Phù Vân, Tp Phủ Lý, tỉnh Hà Nam Trên mảnh đất này, ông Trường và bà Cúc đã xây dựng một căn nhà gỗ hai gian lợp ngói, vách đất với diện tích là 183,4 m2

Năm 1945, ông Trường mất Bà Cúc tiếp tục ở lại mảnh đất và nhà nói trên Sau đó, lần lượt 4 người con bà Cúc rời quê lập gia đình và đi làm ăn xa Năm 1990,

Trang 4

Bà Cúc mất không để lại di chúc, bà có để lại tài sản gồm một nhà gỗ hai gian lợp ngói, vách đất và một số cây lâu năm trên diện tích đất 777m2

Ngày 20/01/1994 ông Chu Khắc Sinh tự ý lập giấy chuyển nhượng tài sản thừa

kế trên bao gồm: đất thổ diện tích 502m2, một nhà hai gian mái ngói vách đất, ao cùng toàn bộ cây cối lưu niên trong vườn cho vợ chồng ông Chu Khắc Thuyên và bà Đinh Thị Tám giá trị là 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn) mà không có sự đồng

ý của các đồng thừa kế khác

Tháng 4/1994, bà Chu Thị Thanh và bà Chu Thị The về quê thì biết việc ông Sinh chuyển quyền thừa kế cho ông Thuyên nên đã làm đơn khiếu nại đến UBND xã Phù Vân Ngày 10/04/1944, UBND xã Phù Vân ra thông báo số 05/TB-UB tạm đình chỉ việc chuyển nhượng nói trên giữa ông Sinh và vợ chồng ông Thuyên

Ngày 15/04/1994, bốn chị em bà Thanh, ông Sinh, bà Loan, bà The đã thống nhất làm giấy ủy quyền giao mảnh đất cho ông Thuyên và bà Tám để trông nom, quản lý với nội dung là: Để có nơi hương khói thờ phụng ông bà, cha mẹ và cũng là nơi anh chị em gặp mặt trong những ngày giỗ, tết hàng năm Thời hạn giao là 05 năm bắt đầu từ ngày 15/4/1994 đến ngày 15/4/1999 Người được sử dụng phải có giao ước sau: Nhà cửa tu sửa giữ để ở, không để dột nát, đất đai tự sản xuất ra sản phẩm sử dụng và nạp nghĩa vụ đối với nhà nước (trồng cây ngắn ngày) Không được xây dựng cơ bản như: làm nhà, đất phải giữ nguyên mặt bằng không được đào khoét, cây cối lưu niên không được chặt phá Tổng giá trị thu nhập cây lưu niên hằng năm phải có sự chứng kiến của 2 bên nội, ngoại Số tiền đó ông Thuyên được hưởng 50% (năm mươi phần trăm), phần còn lại 4 chị em bà Thanh sử dụng (mã số

ở ngân hàng do bà Chu Thị Thanh đứng tên)

Đầu tháng 5/2016, bà Tám tiến hành xây dựng nhà trên mảnh đất diện tích nói trên Không đồng ý với việc xây cất trên, cuối tháng 5/2016, bà Thanh đã trở về quê ngăn cản và báo chính quyền cơ sở thôn Ngày 19/6/2016, UBND Xã Phù Vân đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai giữa 4 chị em bà Thanh với bà Đinh Thị Tám và tổ chức hòa giải cho bà Thanh và bà Tám nhưng không thành Ngày 25/10/2016, UBND Xã Phù Vân tiếp tục tổ chức hòa giải cho bà Thanh, ông Sinh và bà Tám nhưng vẫn không thành

Ngày 05/11/2012, bà Thanh và ông Sinh gửi đơn khởi kiện đến TAND Thành phố Phủ Lý, Tỉnh Hà Nam để yêu cầu bà Tám trả đất, trả nhà, cây cối trên đất và 50% tổng giá trị thu nhập cây lưu niên kể từ ngày 15/4/1994

Ngày 09/11/2012, TAND Thành phố Phủ Lý, Tỉnh Hà Nam ra thông báo số 20/TB-TLVA về việc thụ lý vụ án Ngày 23/02/2013, TAND Thành phố Phủ Lý, Tỉnh Hà Nam tiến hành hòa giải lần 1 cho các đương sự

2

Trang 5

Ngày 23/02/2013, ông Sinh làm đơn yêu cầu định giá tài sản, với tài sản định giá là: thửa đất số 2 tờ bản đồ số 40 lập năm 1998, diện tích 777,4m2, nhà cửa vật kiến trúc, cây cối và hoa màu trên đất TAND Thành phố Phủ Lý, Tỉnh Hà Nam ra quyết định số 02/2012/QĐ-ĐG quyết định định giá tài sản Ngày 01/3/2013, TAND Thành phố Phủ Lý, Tỉnh Hà Nam đã tiến hành định giá tài sản tranh chấp

Ngày 03/8/2013, TAND Thành phố Phủ Lý, Tỉnh Hà Nam ra quyết định số 65/2012/QĐST-DS đưa vụ án ra xét xử

2 Yêu cầu của nguyên đơn

Nguyên đơn bà Chu Thị Hồng Thanh (Chu Thị Thanh), ông Chu Văn Sinh yêu cầu bà Đinh Thị Tám phải:

(1)- Trả lại diện tích 777m2 đất tại thửa số 40 lập năm 1998, địa chỉ: thôn 6, xã Phù Vân, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam cho bà Chu Thị Thanh, ông Chu Văn Sinh, bà Chu Thị Loan và bà Chu Thị The

(2)- Tháo dỡ nhà và các công trình đã xây dựng trái phép trên thửa đất

(3)- Trả lại nhà và cây cối trên diện tích đất 777m2 tại thửa đất số 40 lập năm

1998 của gia đình và hoa màu trên đất với 50% tổng giá trị thu nhập cây lưu niên kể

từ ngày 15/4/1994 đến 15/4/1999 theo giấy gửi UBND xã Phù Vân, thành phố Phủ

Lý, tỉnh Hà Nam (15/4/1994)

3 Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn gồm có:

- Chứng minh nhân dân của bà Chu Thị Thanh;

- Chứng minh nhân dân của ông Chu Văn Sinh;

- Giấy chứng nhận ông Chu Khắc Trường đã chết (BL16);

- Giấy chứng tử của bà Chu Thị Cúc (BL17);

- Sổ hộ khẩu;

- Trích lục bản đồ thửa đất;

- Thông báo của UBND xã Phù Vân ngày 10/4/1994;

- Biên bản hòa giải của UBND xã Phù Vân ngày 19/6/2012, ngày 25/10/2012;

- Báo cáo số 79/BC-UBND ngày 25/10/2012 của UBND xã Phù Vân về kết quả giải quyết tranh chấp;

- Giấy chứng tử của bà Cúc, giấy xác nhận ông Trường đã mất;

- Giấy uỷ quyền trông nom ngày 15/4/1994;

- Giấy giao quyền sử dụng ngày 22/11/2001;

- Thông báo số 05/TB-UB ngày 10/4/1994 của UBND xã Phù Vân về tạm đình chỉ việc chuyển quyền thừa kế

Các biên bản họp gia đình ngày 10/01/2007, ngày 05/6/2012

II KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TOÀ

Trang 6

Mục đích: Làm sáng tỏ các sự việc, đồng thời chứng minh yêu cầu của Nguyên đơn – bà Chu Thị Thanh và ông Chu Văn Sinh là có căn cứ và hợp pháp

1 Hỏi nguyên đơn: Chu Văn Sinh

(1)- Ông hãy trình bày cho HĐXX biết, có phải ông đã chuyển quyền thừa kế cho ông Thuyên vào ngày 20/1/1994 đối với thửa đất số 40 tờ bản đồ số 2 có diện tích 777 m2?

(2)- Việc ông chuyển quyền như vậy đã được sự đồng ý của các chị em ông chưa?

(3)- Vào thời điểm ông làm đơn chuyển quyền thừa kế đó, bao gồm những tài sản gì?

2 Hỏi nguyên đơn: bà Chu Thị Thanh

(1)- Bà hãy cho HĐXX biết, trước ngày 20/1/1994 chị em bà có bao giờ thỏa

thuận hay bàn về việc chia di sản thừa kế của cha mẹ bà để lại không?

(2)- Khi biết việc ông Sinh chuyển quyền thừa kế như vậy, bà đã có những hành động gì? Chính quyền địa phương có ý kiến gì với yêu cầu đình chỉ chuyển quyền thừa kế của chị em bà?

(3)- Khi bốn chị em bà giao cho ông Thuyên trông nom, quản lý thì thời điểm

đó trên thửa đất này có những tài sản gì? Của ai?

(4)- Giấy trông nom này có được sự đồng ý của đầy đủ 4 chị em, ông Thuyên

và bà Tám hay không?

(5)- Khi biết được bà Tám xây nhà trên đất do bố mẹ mình để lại Nguyên đơn

có phản ứng gì không?

(6)- Từ năm 1994 đến nay, bà Tám có thực hiện liên tục việc chia 50% lợi tức từ việc thu hoạch các sản phẩm cây cối trên đất cho chị em bà như thoả thuận hay không?

3 Hỏi bị đơn: bà Đinh Thị Tám

(1)- Bà hãy trình bày cho HĐXX biết nguồn gốc thửa đất mà nguyên đơn kiện

đòi lại?

(2)- Thửa đất mà hai bên đang tranh chấp hiện tại do ai đứng tên?

(3)- Đơn chuyển quyền thừa kế ngày 20/01/1994 được lập giữa vợ chồng Bị đơn với ông Sinh, tại buổi thực hiện việc chuyển quyền thừa kế Các bà Thanh, Loan, The không có mặt và biết về việc này không?

(4)- Bà có ý kiến gì về việc UBND xã Phù Vân đã tạm đình chỉ việc giao quyền thừa kế giữa ông Sinh và ông Thuyên chồng bà vào ngày 10/4/1994?

(5)- Bà hãy cho HĐXX biết, bà có biết nội dung trong tờ Giấy mà 4 người con của bà Cúc (bà Thanh, bà Loan, ông Sinh và bà The) lập giao cho vợ chồng của bà trong đất không? Vậy việc bà xây dựng nhà trên diện tích đó có nằm trong nội dung

tờ giấy đó không?

4

Trang 7

4 Hỏi người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan

4.1 Hỏi bà Chu Thị Loan

(1)- Trước ngày 20/1/1994 chị em bà có bao giờ bàn về việc chia di sản thừa kế

của cha mẹ bà?

(2)- Vào thời điểm nào bà biết việc ông Sinh chuyển quyền thừa kế cho ông Chu Khắc Thuyên?

(3)- Chị, em bà có họp gia đình thống nhất giao cho ông Thuyên quản lý, thu hoa màu có lập biên bản không?

(4)- Hiện nay nguyện vọng của bà như thế nào đối với việc giải quyết vụ án?

4.2 Hỏi bà Chu Thị Mai

(1)- Tài sản trên đất mà ông Sinh, bà Thanh đang kiện đòi mẹ đẻ bà (mẹ con bà

đang ở) là của ai?

(2)- Phần nghĩa vụ tài chính và thuế đối với thửa đất này từ trước đến nay ai nộp?

5 Hỏi người làm chứng: ông Phạm Trường Sinh

(1)- Những gì Bị đơn và bà Đinh Thị Tám vừa trả lời về việc chỉ có bà Tám và gia đình bà chăm nom bà Cúc trước khi mất và lo mai táng cho bà Cúc, ông có đồng

ý không?

(2)- Có phải gia đình bà Tám vẫn quản lý và sử dụng thường xuyên thửa đất trên kể từ khi bà Cúc chết?

III LUẬN CỨ BẢO VỆ NGUYÊN ĐƠN.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

BẢN LUẬN CỨ

- Kính thưa vị đại diện Viện Kiểm Sát (VKS).

- Kính thưa các luật sư đồng nghiệp và tất cả các vị có mặt tại phiên tòa ngày hôm nay.

Tôi là luật sư Thanh Hà, văn phòng luật sư A Đoàn luật sư thành phố Hà Nội Tôi tham gia phiên toà hôm nay với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn là bà Chu Thị Thanh và ông Chu Văn Sinh trong vụ án ly hôn được đưa ra xét xử ngày hôm nay

Trước hết, tôi xin cảm ơn tới Quý tòa đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi và cộng

sự trong quá trình tiếp cận, thu thập thông tin, sao chụp hồ sơ tài liệu, để tôi có thể thực hiện tốt nhất nhiệm vụ của mình trong vụ án này

Trang 8

Sau quá trình nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ án, nội dung tại các bản tự khai và lời khai của đương sự tại phiên tòa ngày hôm nay, tôi xin trình bày quan điểm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn về việc giải quyết vụ án như sau:

Kính thưa hội đồng xét xử

Nguyên đơn bà bà Chu Thị Thanh và ông Chu Văn Sinh đã có đơn khởi kiện

ra TAND thành phố Phủ Lý yêu cầu về việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất với bị đơn bà Đinh Thị Tám Luật sư xét thấy yêu cầu khởi kiện của bà Chu Thị Thanh và ông Chu Văn Sinh là hoàn toàn chính đáng và có cơ sở pháp lý

I CÁC VẤN ĐỀ VỀ TỐ TỤNG

Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý đã đảm bảo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Trong quá trình giả quyết vụ án cho đến thời điểm diễn ra phiên tòa ngày hôm nay, không phát sinh các tình tiết tố tụng làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án

II CÁC VẤN ĐỀ VỀ NỘI DUNG VỤ ÁN

1 Việc chuyển nhượng di sản thừa kế của ông Sinh là trái pháp luật

Thứ nhất, diện tích đất tranh chấp là tài sản thừa kế thuộc sở hữu chung của 4

người, bao gồm bà Thanh, ông Sinh, bà Loan và bà The

Ông Trường chết năm 1945, bà Cúc chết năm 1990, hai ông bà có bốn người con là Thanh, Sinh, Loan, The Di sản để lại gồm mảnh đất diện tích 777 m2 thuộc thửa số 2, tờ bản đồ số 40 lập năm 1998 tại thôn 6, xã Phù Vân, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam

Theo Khoản 1 Điều 4 Pháp lệnh về thừa kế năm 1990, Mục 1 Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 thì: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác, quyền về tài sản do người chết để lại.”

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 25 Pháp lệnh về thừa kế năm 1990, Mục 4 Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 thì hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ,

chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết

Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Pháp lệnh về thừa kế năm 1990 quy định:

“Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau”.

Từ các căn cứ nêu trên, khẳng định 4 người con của ông Trường, bà Cúc thuộc hàng thừa kế thứ nhất, và di sản là mảnh đất 777m2 được chia làm bốn phần bằng nhau Thửa đất (bao gồm cả hoa lợi, lợi tức có được, phát sinh từ tài sản đó) là tài sản thừa kế của bốn người con gồm Thanh, Sinh, The, Loan nên quyền sở hữu được xác lập chung giữa bốn người

Thứ hai, việc chuyển nhượng di sản thừa kế do ông Sinh tự mình định đoạt,

không được sự chấp thuận của các đồng thừa kế

6

Trang 9

Căn cứ vào biên bản lấy lời khai của bà Đinh Thị Tám ngày 21/11/2012 (BL 38-40), bà Tám thừa nhận rằng việc chuyển quyền thừa kế toàn bộ đất đai, nhà cửa

và cây cối trên thửa đất trên chỉ do ông Sinh chuyển cho vợ chồng bà Tám Bà Thanh, bà Loan và bà The không hề biết sự việc trên

Ngoài ra, theo nội dung thỏa thuận ngày 15/04/1994 (BL 10-11) của bốn chị

em bà Chu Thị Thanh về việc giao quyền trông nom di sản thừa kế cho vợ chồng ông Thuyên, bà Tám, thì vợ chồng ông bà Thuyên - Tám chỉ thực hiện việc trôm nom quản lý, không được làm thay đổi hiện trạng và thực hiện bất kỳ công việc gì ngoài việc trông nom, quản lý và thu hoạch cây trái

Theo quy định tại Điều 681 BLDS năm 2005 về Họp mặt những người thừa kế:

Sau khi có thông báo về việc mở thừa kế hoặc di chúc được công bố, những người thừa kế có thể họp mặt để thoả thuận bao gồm nhưng không giới hạn về: Cử người quản lý di sản, xác định quyền, nghĩa vụ của những người này và mọi thỏa thuận của các đồng thừa kế đều phải lập thành văn bản

Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định việc ông Sinh tự ý chuyển nhượng lại toàn

bộ di sản thừa kế cho ông Thuyên mà không hỏi ý kiến và chưa có sự đồng ý của các anh chị em khác với tư cách là các đồng thừa là trái quy định pháp luật, dù có sự đồng ý của trưởng thôn, trưởng tộc, xác nhận của UBND xã nhưng đều là không phù hợp với pháp luật nên không có giá trị pháp lý

Theo đó, vợ chồng ông bà Thuyên – Tám chỉ có quyền trông nom, quản lý và được phép khai thác hoa màu từ diện tích đất trên theo thỏa thuận của các bên trong biên bản giao quyền trông nom (BL 10-11)

2 Hành vi chiếm hữu và xây dựng nhà trái phép trên đất Nguyên đơn của

Bị đơn

Việc 4 người con của ông Trường và bà Cúc ký thỏa thuận giao cho ông Thuyên

quyền quản lý, trông nom di sản thừa kế, căn cứ theo quy định tại Điều 638 BLDS năm 2005 thì ông Thuyên chính là người quản lý phần di sản đó Ông Thuyên có các

quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 639 BLDS năm 2005 về Nghĩa vụ của người quản lý di sản và Điều 640 BLDS năm 2005 Quyền của người quản lý di sản.

Theo quy định tại Điều 639 BLDS năm 2005, người quản lý di sản không được

bán, tặng cho, cầm cố, thế chấp và định đoạt tài sản bằng các hình thức khác nếu không được những người đồng thừa kế đồng ý bằng văn bản

Đến ngày 3/3/1999 thì ông Thuyên mất, các đồng thừa kế vì ở xa nên chưa có điều kiện để về chia di sản nên việc trông nom di sản do vợ ông Thuyên là bà Tám tiếp tục thực hiện Bà Tám có nghĩa vụ phải giao lại di sản theo yêu cầu của người thừa kế là phù hợp theo quy định của pháp luật

Trang 10

sản Ngày 19/6/2012, trong biên bản hòa giải tranh chấp đất đai giữa bà Thanh và bà Tám tại UBND xã Phù Vân (BL 25-26) đã kết luận:

1- Việc bà Tám xây dựng là xây dựng trái phép;

2- Đất đang tranh chấp là đất của bà Chu Thị Cúc chứ không phải là đất của bà Tám; 3- Việc xây dựng của gia đình bà Tám yêu cầu giữ nguyên hiện trạng

Tuy nhiên bà Tám không chịu ký vào văn bản và vẫn tiếp tục hành vi xây dựng trái phép

Đến ngày 25/10/2012 theo đơn yêu cầu của ông Sinh về việc giải quyết tranh chấp đất đai và hành vi xây dựng trái phép của bà Tám, UBND xã đã tiến hành mời hai bên lên hòa giải lần hai, nhưng bà Tám cố tình vắng mặt mà không có lý do chính đáng Hành vi của Tám cho thấy sự bất chấp trước pháp luật, cố tình trì hoãn việc trả lại đất cho các đồng thời kế

Do đó, việc bà Tám tự ý xây dựng các công trình trên đất là vi phạm quy định của pháp luật vì bản thân bà Tám không có quyền sử dụng đối với thửa đất trên

Căn cứ theo quy định tại Điều 255 BLDS năm 2005 về Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu thì “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu Toà án,

cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi thường thiệt hại”

Căn cứ tại Điều 256 BLDS năm 2005 về Quyền đòi lại tài sản thì “Chủ sở hữu,

người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó” Theo quy định tại Điều 599 BLDS năm 2005 về nghĩa vụ hoàn trả thì “Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật thì phải hoàn trả cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp tài sản đó”.

Mặt khác theo quy định tại điểm b, mục 2.4 Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP TANDTC, trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế, nhưng các thừa kế

không trực tiếp sử dụng quản lý, mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu, quản

lý theo ủy quyền thì các thừa kế có quyền kiện đòi tài sản

Từ những căn cứ trên, kết luận việc chiếm hữu và xây dựng của bà Tám là không có căn cứ pháp luật nên thân chủ tôi và các anh chị em của thân chủ tôi hoàn toàn có quyền yêu cầu bà Tám phải trả lại tài sản và tháo dỡ toàn bộ nhà và công trình xây dựng trái phép trên thửa đất

3 Bị đơn vi phạm thỏa thuận trông nom, quản lý di sản và thu hoa lợi, lợi tức

Theo thỏa thuận giao quyền trông nom, quản lý di sản ngày 15/4/1994 (BL 10-11) có sự đồng tình của bên giao là bốn người con của bà Cúc và ông Thuyên là bên

8

Ngày đăng: 25/04/2023, 20:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w