1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu Luận Tthcm.docx

32 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư Tưởng Hồ Chí Minh về Đại Đoàn Kết Toàn Dân Tộc Và Sự Vận Dụng của Đảng CSVN Trong Xây Dựng Và Bảo Vệ Tổ Quốc
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Chính Trị Và Luật
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thủ Đức
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 224,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA CHÍNH TRỊ VÀ LUẬT TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Thủ Đức, tháng 11 năm 2022 ĐỀ TÀI “TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN K[.]

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA: CHÍNH TRỊ VÀ LUẬT

TIỂU LUẬN

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Thủ Đức, tháng 11 năm 2022

ĐỀ TÀI

“TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ

ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC

VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG CSVN TRONG

XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC”

Trang 2

LỜI NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

ĐIỂM

-MỤC LỤ

Trang 3

MỤC LỤC 4

PHẦN MỞ ĐẦU 5

1 Tính cấp thiết của đề tài 5

2 Đối tượng nghiên cứu 5

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Kết cấu tiểu luận 6

PHẦN NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC 7

1.1 Các khái niệm 7

1.1.1 Khái niệm đại đoàn kết toàn dân tộc 7

1.1.2 Đại đoàn kết toàn dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh 8

1.2 Vai trò của đại đoàn kết toàn dân tộc 8

1.3 Lực lượng khối đại đoàn kết toàn dân tộc 10

1.4 Điều kiện xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc 11

1.5 Hình thức tổ chức của khối đại đoàn kết toàn dân tộc - Mặt trận dân tộc thống nhất 13

1.5.1 Mặt trận Dân tộc thống nhất 13

1.5.2 Nguyên tắc xây dựng và hoạt động của Mặt trận dân tộc thống nhất 15

1.6 Phương thức xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc 18

1.6.1 Làm tốt công tác vận động quần chúng (Dân vận): 18

1.6.2 Thành lập đoàn thể, tổ chức quần chúng phù hợp với từng đối tượng để tập hợp quần chúng: 18

1.6.3 Các đoàn thể, tổ chức quần chúng được tập hợp và đoàn kết trong Mặt trận dân tộc thống nhất: 19

Trang 4

CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC TRONG CÔNG CUỘC XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC 20 2.1 Thực trạng đại đoàn kết toàn dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc ở nước ta hiện nay 20

2.1.1 Thành tựu 20 2.1.2 Khó khăn và Thách thức 20

2.2 Chính sách của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc trong công cuộc xây dựng

và bảo vệ tổ quốc 21

2.2.1 Phát triển kinh tế, nâng cao mức sống của toàn dân tộc 21 2.2.2 Bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hoá của toàn dân tộc 23 2.2.4 Củng cố hệ thống chính trị, đảm bảo an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội 25

2.3 Sinh viên vận dụng tư tưởng về đại đoàn kết toàn dân tộc trong công cuộc xây dựng bảo vệ tổ quốc: 27

KẾT LUẬN 30TÀI LIỆU THAM KHẢO 31BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC VÀ ĐÁNH GIÁ HOÀN THÀNH CỦA CÁC

THÀNH VIÊN TRONG NHÓM 32

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài 

Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống những quan điểm toàn diện và sâu sắc về nhữngvấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, ta có thểnhận thấy cụm từ "đoàn kết" được Người nhắc tới hơn hai nghìn lần và cụm từ "đại đoànkết" được nhắc tới hơn tám mươi lần Điều đó nói lên sự quan tâm của Người đối với vấn

đề đoàn kết, đại đoàn kết ở mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh lịch sử Qua chiều dài lịch sử,hàng ngàn năm văn hiến, giữa bao nhiêu truyền thống được dân ta lưu giữ, đoàn kết, đạiđoàn kết đã chứng minh được vị thế quan trọng của mình Đấy là tư tưởng xuyên suốt vànhất quán trong tư duy lý luận và hoạt động thực tiễn của chủ tịch Hồ Chí Minh và đã trởthành chiến lược cách mạng của Đảng ta, gắn liền với những thắng lợi vẻ vang của dântộc Và không chỉ ở quá khứ, mà trong cả hôm nay và ngày mai, đại đoàn kết vẫn có giátrị trường tồn đối với quá trình phát triển của toàn dân tộc ta

Vì vậy, việc hiểu rõ và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộctrong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước là vấn đề hết sức quan trọng, có ý nghĩa hếtsức to lớn

2 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu hệ thống quan điểm của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc nhưvai trò, lực lượng và điều kiện để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Những chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự vận dụng của sinh viên vềđại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc xây dựng và bảo vệ tổquốc hiện nay

Trang 6

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ quan điểm đại đoàn kết toàn dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh

- Làm rõ vai trò, lực lượng, hình thức tổ chức của khối đại đoàn kết toàn dân tộc

- Xác định được điều kiện, phương thức xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc

- Làm rõ quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạiđoàn kết toàn dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc

- Kiến nghị giải pháp giúp sinh viên hiện nay vận dụng yếu tố đại đoàn kết toàn dântộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc

5 Phương pháp nghiên cứu

Nhằm nghiên cứu nội dung về đại đoàn kết toàn dân tộc và các vấn đề liên một cáchchính xác, khách quan, rõ ràng, linh hoạt… đề tài có thể vận dụng, kết hợp chặt chẽ cácphương pháp như: phương pháp lịch sử, thống kê, liệt kê, phân tích - tổng hợp, thu thập

số liệu…

6 Kết cấu tiểu luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được kết cấu thành 2 chương, bao gồm:

CHƯƠNG 1: Tư tưởng hồ chí minh về đại đoàn kết toàn dân tộc

CHƯƠNG 2: Vận dụng tư tưởng về đại đoàn kết toàn dân tộc trong công cuộc xâydựng và bảo vệ tổ quốc

Trang 7

PHẦN NỘI DUNGCHƯƠNG 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC 1.1 Các khái niệm

    1.1.1 Khái niệm đại đoàn kết toàn dân tộc 

Từ khi bắt đầu nhận thức được thế giới xung quanh thì những người con đất Việt đãđược thế hệ ông cha kể về những trận chiến lịch sử bảo vệ tổ quốc đầy hào hùng cùngnhững truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam Trong đó, đại đoàn kết toàn dân tộc -truyền thống quý báu, cội nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu của cách mạng Việt Nam làmột phần không thể không nhắc đến

Đoàn kết có thể hiểu một cách đơn giản là sự tập hợp, kết thành một khối thốngnhất, cùng hoạt động vì một mục đích chung nào đó Còn đại đoàn kết là đoàn kết rộng rãitức muốn nhấn mạnh tới thành phần, quy mô, lực lượng của khối đoàn kết

Sự đoàn kết của con người là tấm gương phản chiếu các mối quan hệ gắn kết xã hộivới nhau, biến những cái “tôi” riêng biệt, nhiều, trở thành một cái “chúng ta”

Còn dân tộc có hai phương diện khác nhau: quốc gia và tộc người Tuy nhiên, vì đốitượng nghiên cứu của bài tiểu luận này là đại đoàn kết toàn dân tộc trong một quốc gia đadân tộc nên ta chỉ đề cập đến khái niệm dân tộc ở phương diện tộc người. 

Dân tộc – tộc người là khái niệm dân tộc dùng để chỉ cộng đồng người hình thành,phát triển trong lịch sử với ba đặc trưng cơ bản đó là có chung một ngôn ngữ tộc người,một bản sắc văn hóa tộc người và đặc biệt có ý thức tự giác tộc người

Vậy đại đoàn kết toàn dân tộc có thể hiểu một cách đơn giản là sự hợp lực, đồnglòng thành một khối để cùng làm một việc nào đó giữa các cá nhân, tập thể trong côngđồng người và giữa các cộng đồng người với nhau; là sự thông cảm chia sẻ và có việc làm

cụ thể giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn; là sự liên kết, đùm bọc lẫn nhau, giúp đỡ nhau tạo

Trang 8

nên sức mạnh lớn hơn để hoàn thành nhiệm vụ của mỗi người và làm nên sự nghiệpchung.

    1.1.2 Đại đoàn kết toàn dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, với tinh thần nhân văn cao cả vànhãn quan chính trị sắc bén, Chủ tịch Hồ Chí Minh không ngừng xây dựng và hoàn thiện

tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc, truyền bá và giáo dục tư tưởng đó trong toàn Đảng,toàn quân và toàn dân Trong các bài nói, buổi trò chuyện với dân, với đồng bào cả nước,hay các tài liệu Bác viết thì tinh thần đại đoàn kết luôn hiện hữu, được Bác thân thươngnhắc đến bằng các cụm từ đến như “đại đoàn kết toàn dân”, “đoàn kết toàn dân”, “đoànkết dân tộc”, “toàn dân tộc ta đoàn kết” Dù cách diễn đạt khác nhau nhưng nội hàm củacác cụm từ này chỉ có một

Chủ tịch Hồ Chí Minh nới nhiều tới đoàn kết, đại đoàn kết, Người nói rằng: “Đạiđoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân mà đại đa số nhân dân là côngnhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác Đó là nền, gốc của đại đoàn kết

Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoànkết các tầng lớp nhân dân khác”1.  

Như vậy, đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh là đại đoàn kết các dântộc, giai cấp, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng của đất nước, đoàn kết mọi thành viêntrong đại gia đình dân tộc Việt Nam dù sống trong nước hay định cư ở nước ngoài thànhmột khối vững chắc trên cơ sở thống nhất về mục tiêu chung và những lợi ích căn bản

1.2 Vai trò của đại đoàn kết toàn dân tộc

Thứ nhất, đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của cách mạng

Xuyên suốt quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn gắn liền vớitruyền thống đoàn kết toàn dân tộc quý báu; đó là động lực cao cả, thôi thúc và quyết địnhmọi sự thành công của cách mạng Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ ra rằng:

1 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.7, tr.438.

Trang 9

“Sử dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độclập, tự do Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”2 Để đánh bạicác thế lực đế quốc thực dân nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóngcon người, nếu chỉ có tinh thần yêu nước thì chưa đủ; cách mạng muốn thành công vàthành công đến nơi, phải tập hợp được tất cả mọi lực lượng có thể tập hợp, xây dựng đượckhối đại đoàn kết dân tộc bền vững Chính vì vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoànkết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, cơ bản, nhất quán và lâu dài, xuyên suốt tiếntrình cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát nên nhiều luận điểm từ thực tiễn cách mạng ởViệt Nam về vai trò của đại đoàn kết toàn dân tộc như sau: “Đoàn kết là sức mạnh củachúng ta”, “Đoàn kết là một lực lượng vô địch của chúng ta để khắc phục khó khăn, giànhthắng lợi”, “Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi”, “Đoàn kết là sức mạnh, là thenchốt của thành công”, “Bây giờ có một điểm rất quan trọng, cũng là điểm mẹ Điểm này

mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt: Đó là đoàn kết” 3 Từ đó, Người đã rút ra kếtluận: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công”

Đại đoàn kết toàn dân tộc là một mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam

Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, của dân tộc Trong

tư tưởng Hồ Chí Minh, yêu nước nhân nghĩa - đoàn kết là sức mạnh, là mạch nguồn củamọi thắng lợi Do đó, đại đoàn kết dân tộc phải được xác định là mục tiêu, nhiệm vụ hàngđầu của Đảng, phải được quán triệt trong tất cả mọi lĩnh vực, từ đường lối, chủ trương,chính sách tới hoạt động thực tiễn của Đảng Trong các buổi nói chuyện, Chủ tịch Hồ ChíMinh thường nêu: "Mục đích của Đảng có thể bao gồm trong 8 chữ là: “Đoàn kết toàndân, phụng sự tổ quốc” Có thể hiểu rằng, cách mạng là sự nghiệp lâu dài của toàn thểnhân dân và đại đoàn là yêu cầu tất yếu đối với quá trình này Do đó, Đảng phải thức tỉnh,

tổ chức, lãnh đạo quần chúng nhân dân đứng lên đấu tranh dựa trên nguyên tắc đại đoànkết toàn dân tộc

2 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.3 tr.256

3 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.8, tr.392

Trang 10

1.3 Lực lượng khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Chủ thể của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là toàn thể nhân dân Việt Nam

Điều đó được khẳng định trong câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Trong bầu trờikhông có gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoànkết của nhân dân”. 

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, dân, nhân dân có một nội hàm rất rộng Người dùngcác khái niệm này để chỉ tất cả con dân của nước Việt Nam, những người được gọi là

“con Lạc cháu Hồng” “Nhân dân”, “dân” vừa được hiểu với nghĩa là mỗi cá nhân conngười Việt Nam cụ thể, vừa là toàn thể đồng bào, một tập hợp đông đảo quần chúng nhândân Theo quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dân là đồng bào, là anh em mộtnhà, không phân biệt tầng lớp nhân dân, các giai cấp, các chính đảng, đoàn thể, các dântộc, tôn giáo, kể cả những người trước đây lầm đường lạc lối nhưng đã biết hối cải, quay

về với chính nghĩa của dân tộc Người nói: Ngay cả “với những đồng bào lạc lối lầmđường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ Có như thế mới thành đại đoàn kết…”Đoàn kết trong tư tưởng của Người là đoàn kết rộng rãi, mở rộng và tranh thủ tất cảnhững lực lượng và bộ phận có thể tranh thủ Nguyên tắc đoàn kết rộng rãi được dựa trênđiểm tương đồng là: “Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dânchủ, thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoànkết với họ” “Ai có tài, có sức, có đức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì

ta đoàn kết với họ”

Nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Chủ nghĩa Mác- Lênin đã chỉ ra con đường tự giải phóng cho các dân tộc bị áp bức.Lê-nin cho rằng, điều kiện tiên quyết để giai cấp vô sản lãnh đạo cách mạng là sự liên kếtgiai cấp Trước hết, ta cần phải liên minh giai cấp công nhân với nông dân, đó là điều làhết sức cần thiết, bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng vô sản Nếu không có sự đồngtình và ủng hộ của đa số nhân dân lao động với đội ngũ tiên phong của nó, tức giai cấp vôsản, thì cách mạng vô sản không thể thực hiện được. 

Trang 11

Cũng giống cách mạng vô sản, nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là côngnhân, nông dân và trí thức Nền tảng này càng được củng cố vững chắc thì khối đại đoànkết toàn dân tộc càng có thể mở rộng, khi ấy không có thế lực nào có thể làm suy yếu khốiđại đoàn kết toàn dân tộc. 

Thêm vào đó, trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc phải đặc biệt chú trọng yếu tố

“hạt nhân” là sự đoàn kết và thống nhất trong Đảng Vì sự đoàn kết của Đảng càng đượccủng cố thì sự đoàn kết toàn dân tộc càng được tăng cường Đảng đoàn kết, dân tộc đoànkết và sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân đã tạo nên súc mạnh bên trong của cáchmạng Việt Nam để vượt qua mọi khó khăn, thử thách, chiến thắng mọi kẻ thù, đi tới thắnglợi cuối cùng của cách mạng

1.4 Điều kiện xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc

    Một là, phải kế thừa truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, đoàn kết của dân tộc

   Đề cập đến chủ nghĩa yêu nước của dân tộc, chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Dân ta

có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta từ xưa đến nay,mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vôcùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũbán nước và cướp nước” 4.   

    Tinh thần nhân nghĩa, truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái là những néthết sức đặc sắc Truyền thống này hình thành một lúc với sự hình thành dân tộc, từ hoàncảnh và nhu cầu đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên và giặc ngoại xâm Người Việt Namgắn bó với nhau trong tình làng, nghĩa xóm Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát huy sức mạnhbốn chữ “đồng” (đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh) Người thường nhấn mạnh,nhân dân ta đã từ lâu sống với nhau có tình có nghĩa

   Những truyền thống này được hình thành, củng cố và phát triển trong suốt quátrình dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm của dân tộc và đã trở thành giá trị bền vững,thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm, tâm hồn của mỗi con người Việt Nam và được truyền từthế hệ này sang thế hệ khác Truyền thống đó là cội nguồn sức mạnh vô địch để cả dân tộc

4 Báo cáo Chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội lần thứ II, tháng 2 năm 1951 của Đảng Lao động Việt Nam

Trang 12

chiến đấu và chiến thắng thiên tai địch họa, làm cho đất nước được trường tồn, bản sắcdân tộc được giữ vững.

     Thứ hai, phải có lòng khoan dung, độ lượng với con người

    Theo Hồ Chí Minh, trong mỗi cá nhân cũng như mỗi cộng đồng đều có những ưuđiểm, khuyết điểm, mặt tốt, mặt xấu Cho nên, vì lợi ích của cách mạng, cần phải cólòng khoan dung độ lượng, trân trọng phần thiện dù nhỏ nhất ở mỗi người, có vậy mới tậphợp, quy tụ rộng rãi mọi lực lượng. 

    Người từng căn dặn đồng bào: “Năm ngón tay cũng có ngón ngắn, ngón dài.Nhưng ngắn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay Trong mấy triệu người cũng có người thếnày hay thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta Vậy nên ta phảikhoan hồng đại độ Ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiềulòng ái quốc Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảmhóa họ Có như thế mới thành đại đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc chắn sẽ vẻvang”

    Tư tưởng khoan dung, hòa bình, hòa hiếu là truyền thống nhân văn được hun đúc

từ ngàn năm lịch sử của nhân dân Việt Nam Truyền thống đó xuyên suốt từ truyền thốngtới hiện đại, là hòa bình, hòa hiếu và chính nghĩa Khoan dung Hồ Chí Minh bắt nguồn từtruyền thống khoan dung của dân tộc kết hợp với tinh hoa thời đại Sự kế thừa và kết hợp

đó đã làm thắm đượm thêm truyền thống khoan dung của con người Việt Nam và nângtruyền thống đó lên một tầm cao mới.  Khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh là một nét đặcsắc trong tư tưởng nhân văn của Người

    Ba là, phải có niềm tin vào Nhân dân 

    Với Hồ Chí Minh, yêu dân, tin dân, dựa vào dân và phấn đấu vì hạnh phúc củanhân dân là nguyên tắc tối cao trong cuộc sống Nguyên tắc này vừa là sự tiếp nối truyềnthống dân tộc “Nước lấy dân làm gốc”, “Chở thuyền và lật thuyền cũng là dân”, đồng thời

là sự quán triệt sâu sắc nguyên lý mácxit “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” Dân

là chỗ dựa vững chắc đồng thời cũng là nguồn sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kếttoàn dân tộc, quyết định thắng lợi của cách mạng Vì vậy, muốn thực hiện đại đoàn kếttoàn dân tộc, phải có niềm tin vào Nhân dân. 

Trang 13

   Người khái quát sâu sắc rằng: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân Trongthế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” Có thể nói, mọi tưtưởng, mọi sáng tạo của Hồ Chí Minh đều xuất phát từ lòng yêu thương, kính trọng, tintưởng ở nhân dân Bởi vì, theo nguyên tắc đại đoàn kết Hồ Chí Minh lấy dân là gốc, lànền tảng, là chủ thể của đại đoàn kết; dân là nguồn sức mạnh vô tận của khối đại đoàn kết,quyết định mọi thắng lợi của cách mạng; dân cũng là chỗ dựa vững chắc của Đảng, của hệthống chính trị.

     Chẳng hạn, quân đội nhân dân Việt Nam từ nhân dân mà ra, vì nhân dân màchiến đấu, được nhân dân thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ, tin tưởng và trao tặng danhxưng cao quý Bộ đội Cụ Hồ Mối quan hệ quân - dân là một hình mẫu tiêu biểu cho mốiquan hệ máu thịt, cá-nước, thủy chung vẹn toàn, trở thành lời thề danh dự của quân nhâncách mạng

1.5 Hình thức tổ chức của khối đại đoàn kết toàn dân tộc - Mặt trận dân tộc thống nhất

1.5.1 Mặt trận Dân tộc thống nhất 

Một trong các yếu tố quyết định đến thắng lợi của cách mạng Việt Nam Ngay từnhững năm 20 của thế kỷ XX, sau khi quyết định được con đường giải phóng dân tộc, cứunước thì Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt chú trọng về việc thành lập Đảng Cộng sảnViệt Nam và thực hiện xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, và nòng cốt là Mặt trậnDân tộc thống nhất Được sự chủ trì của Người, Hội nghị Đảng ra đời từ ngày 6-1 đếnngày 7-2-1930 đã ra quyết định thông qua là: “Đảng chỉ định một đồng chí chịu tráchnhiệm họp đại biểu tất cả các đảng phái như Tân Việt, Thanh Niên, Quốc dân Đảng, ĐảngNguyễn An Ninh, v.v để thành lập mặt trận phản đế mà về sau cá nhân hoặc tổ chức đều

có thể gia nhập”5

Tiếp tục với tinh thần đó, tại Hội nghị lần thứ nhất tháng 10-1930 của Ban Chấphành Trung ương Đảng, khi phân tích tình hình của những giai tầng dưới sự cai trị củathực dân Pháp đã nêu rõ: “Những điều ấy tỏ ra rằng ở Đông Dương có nhiều lực lượngphản đế, mà hiện nay cần phải hiệp lại làm một phong trào cách mạng thống nhất để đánh

5 ĐCSVN, Văn kiện Đảng Toàn tập, t.2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.13,195.

Trang 14

đổ đế quốc chủ nghĩa mưu sự giải phóng cho xứ Đông Dương Bởi vậy cho nên Đảng cầnphải tổ chức ra ở Đông Dương một phân bộ của Đại đồng minh phản đế Những điều kiện

để tổ chức đã có đủ” 6 Trên cơ sở quyết định đã thông qua đó, ngày 18-11-1930, BanThường vụ Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị thành lập Hội phản đế Đồng minh và hìnhthức của tổ chức đầu tiên Mặt trận Dân tộc thống nhất đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Từ

đó, ngày 18-11 hằng năm đã trở thành ngày kỷ niệm ngày thành lập của Mặt trận Dân tộcthống nhất Việt Nam

Để phù hợp với từng cột mốc, giai đoạn cách mạng, tên gọi Mặt trận Dân tộc thốngnhất đã qua nhiều lần thay đổi như: Mặt trận Thống nhất Nhân dân phản đế Đông Dương(10-1936), thành lập Mặt trận Dân chủ Đông Dương (3-1938) và Mặt trận Thống nhấtDân tộc Phản đế Đông Dương (11-1939) Và tháng 5-1941, sau khi trở về nước, Hồ ChíMinh trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người chỉ đạo thành lập Mặt trận Việt Namđộc lập Đồng minh (gọi tắt là Mặt trận Việt Minh) thay cho tên gọi của Mặt trận Thốngnhất Dân tộc Phản đế Đông Dương Đoàn kết trong là Mặt trận Việt Minh, nhân dân ViệtNam đã làm nên Cách mạng Tháng Tám thành công dành được độc lập và lập nên nướcViệt Nam Dân chủ Cộng hòa

Tháng 5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo để thành lập Hội Liên hiệp quốcdân Việt Nam (gọi tắt là Hội Liên Việt) đã quy tụ hơn nữa khối đại đoàn kết toàn dân tộc.Trước sự phát triển mạnh mẽ của thực tiễn cách mạng, theo chủ trương của Chủ tịch HồChí Minh và Trung ương Đảng, tháng 3-1951, Hội Liên Việt và Mặt trận Việt Minh đãhợp thành một mặt trận có tên là Mặt trận Liên Việt Đoàn kết trong Mặt trận Liên Việt lànhân dân Việt Nam đã không ngừng kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, hoàntoàn giải phóng miền Bắc và lập lại hòa bình ở Đông Dương Trên những cơ sở đó thìMặt trận Tổ quốc Việt Nam ra đời ở miền Bắc (1954) “Đoàn kết trong Mặt trận Tổ quốcViệt Nam, nhân dân ta đã giành được thắng lợi trong công cuộc khôi phục kinh tế, cải tạo

xã hội chủ nghĩa và trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc” 7

6 ĐCSVN, Văn kiện Đảng Toàn tập, t.2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.13,195.

7 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.13, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.452, 453.

Trang 15

Trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ của nhân dân miền Nam (1954-1975), Chủtịch Hồ Chí Minh cùng với Bộ Chính trị đã chủ trương thành lập Mặt trận Dân tộc giảiphóng miền Nam Việt Nam tháng 12-1960 và đến tháng 4-1968 thì thành lập khối Liênminh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh là vừangười sáng lập, vừa là linh hồn của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam.

Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, trong công cuộc xây dựng và phát triển của Mặt trận Dân tộcthống nhất Việt Nam là nhằm quy tụ, tập hợp tất cả sức mạnh toàn thể dân tộc, quy tụ củamọi tổ chức, cá nhân yêu nước, tất cả con dân cả nước Việt dù là ở, phấn đấu vì mục tiêuchung là đem lại độc lập dân tộc, sự thống nhất Tổ quốc, tự do và hạnh phúc cho nhândân, theo tinh thần “Dân tộc trên hết Tổ quốc trên hết” Mặt trận là phương thức thựchiện mục đích đại đoàn kết đó. 

1.5.2 Nguyên tắc xây dựng và hoạt động của Mặt trận dân tộc thống nhất

Mặt trận phải được xây dựng với khối liên minh công - nông - trí nền tảng

Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích vì sao Mặt trận dân tộc thống nhất phải lấy liênminh công - nông - trí làm nền tảng, bởi trên thực tế xã hội Việt Nam đến giữa những năm

50 của thế kỷ XX cho thấy rằng đại đa số nhân dân là công nhân, nông dân nghèo và cáctầng lớp nhân dân tri thức lao động khác Khối liên minh công nông: “là người trực tiếpsản xuất tất cả mọi tài phú làm cho xã hội sống Vì họ đông hơn hết mà cũng bị áp bứcbóc lột nặng nề hơn hết Vì chí khí cách mạng của họ chắc chắn, bền bỉ hơn của mọi tầnglớp khác” 8 Bên cạnh đó, Người cũng đã khẳng định rõ vai trò rất quan trọng của tầng lớptrí thức và các tầng lớp: “trong sự nghiệp cách mạng, trong sự nghiệp xây dựng xã hội chủnghĩa, lao động trí óc có một vai trò quan trọng và vẻ vang” Vì vậy, “công, nông, trí, cầnphải đoàn kết chặt chẽ thành một khối” 9 Mối quan hệ giữa liên minh công - nông - trí vàMặt trận Dân tộc thống nhất là sự phản ánh về mặt tổ chức và các mối quan hệ biệnchứng, giữa dân tộc và giai cấp, giữa toàn thể và bộ phận

Mặt trận Dân tộc thống nhất chỉ có thể phát triển bền chặt và được củng cố vữngchắc chỉ khi được Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo Việc lãnh đạo của Đảng đối với

8  Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.10, sđd, tr.376, 376.

9  Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.10, sđd, tr.376, 376.

Trang 16

Mặt trận dân tộc thống nhất mang tính nguyên tắc và tất yếu, bởi vì chỉ có duy nhất Đảngcủa giai cấp công nhân, được trang bị những lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin mới đượcthực sự đánh giá đúng vai trò và sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân trong lịch sử.Đảng Cộng sản cũng chính là tổ chức đã tập hợp đầy đủ các lực lượng, lập các đoàn thểquần chúng nhân dân yêu nước trong và ngoài nước, đưa họ tham gia vào tổ chức Mặttrận Dân tộc thống nhất.

Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là lực lượng lãnh đạo, vừa là một thành viên chủ chốtcủa Mặt trận, là linh hồn, “bộ não” của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Đảng lãnh đạo Mặttrận bằng chính sách Mặt trận đúng đắn, phù hợp với từng giai đoạn, từng thời gian củacách mạng; bằng vận động, thuyết phục, giáo dục, nêu gương, lấy từ lòng chân thành đểcảm hóa, đối xử, để khơi gợi tinh thần yêu nước, từ đó tự giác, tự nguyện tham gia cáchmạng và bằng thực tiễn đoàn kết trong nội bộ của Đảng Khẳng định nguyên tắc của Đảnglãnh đạo Mặt trận Dân tộc thống nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhắc nhở rằng: “Đảngkhông thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ ra là một bộphận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất Chỉ trong đấu tranh và công táchằng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạocủa Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo” 10 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói cóđược sự đoàn kết trong Đảng, có được sự liên kết chặt chẽ giữa những cán bộ lãnh đạo -

là cơ sở của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là yếu tố đóng vai trò rất quan trọng hơn baogiờ hết

Mặt trận Dân tộc thống nhất hoạt động theo nguyên tắc hiệp thương dân chủ

Mặt trận hoạt động trên nguyên tắc hiệp thương dân chủ, đoàn kết với cơ sở là tựnguyện của các cá nhân, tổ chức Mặt trận lấy việc thống nhất là làm sao để cho lợi ích tốicao của dân tộc và những lợi ích cơ bản của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội làm cơ sở

để củng cố chặt chẽ và tiếp tục mở rộng Bởi lẽ đó đến đại đoàn kết là giải quyết vấn đềcác mối quan hệ và những vấn đề về các lợi ích giữa bộ phận và toàn cục, cá nhân và tậpthể, giữa dân tộc và giai cấp Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra đáp án chung cho toàn thể

10 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, sđd, tr.168, 230.

Ngày đăng: 24/04/2023, 21:16

w