MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 4 1 Khái niệm quyền con người 4 2 Thực tiễn việc bảo đảm quyền con người ở nước ta hiện nay 4 3 Một số thành tựu có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ và phát triển quyền c[.]
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 4
1 Khái niệm quyền con người 4
2 Thực tiễn việc bảo đảm quyền con người ở nước ta hiện nay 4
3 Một số thành tựu có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ và phát triển quyền con người tại Việt Nam 6
4 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quyền con người và bảo đảm quyền con người, quyền công dân ở nước ta hiện nay 8
5 Một số giải pháp bảo đảm các quyền con người ở nước ta 11
KẾT LUẬN 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 2MỞ ĐẦU
Quyền con người không được xác lập đồng thời cùng với sự xuất hiện của loài người trên thế giới, trong lịch sử phát triển đã chứng minh quyền con người không tự nhiên mà có mặc dù nó là quyền “tạo hóa” của con người, ví dụ như ở thời kỳ chiếm hữu nô lệ con người ở tầng lớp nô lệ chỉ được coi như hàng hóa mua đi bán lại… Họ không được coi là con người thì làm sao có thể nói đến việc hưởng quyền con người Vì vậy, vấn
đề thực hiện quyền con người là cả một quá trình đấu tranh giải phóng áp bức lâu dài, để quyền con người được tôn trọng, thừa nhận và hưởng thụ một cách đầy đủ
Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập ra nước Việt Nam mới, lúc sinh thời luôn có một ước vọng: "Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn
tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành" Ý nguyện đó của Người phản ánh khát vọng của nhân dân Việt Nam, thực hiện những giá trị thiết yếu về quyền con người, là mục đích, tôn chỉ hoạt động xuyên suốt của Nhà nước Việt Nam Dân tộc Việt Nam, không phân biệt già trẻ, gái trai, sắc tộc, tôn giáo đã đoàn kết một lòng, vượt qua mọi thử thách, gian khổ, hy sinh để giành và giữ các quyền cơ bản đó
Ngay sau khi giành được độc lập năm 1945, quyền con người, quyền công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1946 và sau đó tiếp tục được khẳng định với những nội hàm rộng, hẹp khác nhau trong các Hiến pháp năm 1959, năm 1980 và năm 1992 Hiến pháp năm 2013, tại Điều 14 khẳng định một cách rõ ràng rằng, ở Việt Nam, “các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”.
Nhà nước ta luôn xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước, khẳng định con người là trung tâm của
Trang 3các chính sách kinh tế - xã hội, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là nhân
tố quan trọng cho sự phát triển bền vững, bảo đảm thắng lợi sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Do đó việc nắm vững thêm Một số quan điểm, giải pháp của Đảng về quyền con người và bảo đảm quyền con người ở nước ta hiện nay là rất cần thiết để có nhận thức đầy đủ về chính
sách, quan điểm của Đảng, nhà nước ta trong việc tôn trọng, bảo đảm và thực hiện quyền con người
Trang 4NỘI DUNG
1 Khái niệm quyền con người
Từ nửa sau thế kỷ XX, với sự hình thành của Hiến chương Liên hợp quốc và Bộ luật nhân quyền quốc tế, quyền con người đã trở thành một khái niệm toàn cầu, có ảnh hưởng sâu rộng đối với nhiều quốc gia, ở Việt Nam, khái niệm quyền con người đã được ghi nhận trong một số Hiến pháp, điển hình như Hiến pháp 2013, quy định: Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tất cả các quyền của con người về chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội và văn hóa được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm
Có nhiều khái niệm về quyền con người như Tuyên bố Viên và Chương trình hành động (1993) định nghĩa: “Quyền con người và tự do cơ bản là quyền bẩm sinh của mọi người được hưởng; việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền đó là trách nhiệm trước tiên của Chính phủ” Hoặc theo Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người (1994): “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân
và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người”…
Trong khoa học pháp lý, các quyền con người được hiểu đó là những quyền mà pháp luật cần phải thừa nhận đối với tất cả các thể nhân Đó là quyền tối thiểu mà các cá nhân phải có, những quyền mà các nhà lập pháp không được xâm hại
Dù còn nhiều quan điểm khác nhau, nhưng có thể hiểu: Quyền con
người là các đặc quyền tự nhiên, bắt nguồn từ phầm giá vốn có của tất cả mọi người, được ghi nhận, bảo đảm bằng pháp luật quốc gia và quốc tế.
2 Thực tiễn việc bảo đảm quyền con người ở nước ta hiện nay
Sự nghiệp đổi mới đã tạo ra bước phát triển quan trọng cho đất nước, thành quả đạt được có vai trò, đóng góp to lớn của việc đổi mới nhận thức
Trang 5và thực tiễn bảo đảm quyền con người ở Việt Nam Từ việc đáp ứng các quyền con người trên tất cả các lĩnh vực, tiến trình đổi mới đã đặt ra những yêu cầu mới về quyền con người
Trong quá trình đổi mới, đồng thời có những tác động đan xen cả tiêu cực và tích cực đến thực hiện quyền con người, như: gia tăng khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội, tiềm ẩn những bất bình đẳng trong quá trình bảo đảm quyền con người; sự bộc lộ một cách đa dạng, có khi gay gắt, nhiều vấn đề cũ đồng thời xuất hiện những vấn đề mới liên quan đến công tác bảo đảm quyền con người (quyền sở hữu đất và bất động sản; bảo vệ quyền có việc làm và nghề nghiệp; bảo vệ quyền của người tiêu dùng; quyền về môi trường; quyền sở hữu trí tuệ; quyền của kiều dân nước ngoài định cư tại Việt Nam và Việt kiều; gia tăng vai trò của các tổ chức phi chính phủ quốc gia và quốc tế trong việc giải quyết các vấn
đề quyền con người; quyền của người đồng tính, ) Sự tác động của biến động kinh tế, nhất là của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu vừa qua, đến tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam; sự tác động đa chiều của truyền thông và dư luận xã hội trong điều kiện tồn tại, phát triển các mạng xã hội; sự tác động của pháp luật và cơ chế nhân quyền quốc tế, khu vực đến công tác bảo đảm quyền con người, cũng tác động đến thực hiện quyền con người.
Trong điều kiện như vậy, công tác bảo đảm quyền con người ở nước
ta đã đạt được những thành tựu rất quan trọng Nguyên nhân chủ yếu là do các chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm quyền con người, trước hết và chủ yếu là Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, đã tích cực và từng bước chủ động thực hiện nghĩa vụ bảo đảm quyền con người; hệ thống thiết chế và thể chế bảo đảm quyền con người từng bước được xây dựng theo hướng hoàn thiện; sự tham gia tích cực của người dân và các tổ chức xã hội vào công tác bảo đảm quyền con người
Trang 63 Một số thành tựu có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ và phát triển quyền con người tại Việt Nam
Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 12-7-1992 của Ban Bí thư Trung ương Đảng một lần nữa khẳng định quan điểm của Đảng ta về quyền con người được thể hiện một cách tập trung và toàn diện hơn, trong đó quyền con người được nhìn nhận là giá trị chung của nhân loại, là kết quả cuộc đấu tranh lâu dài của loài người; xem xét vấn đề này không thể tách rời phạm trù quyền dân tộc, chủ quyền quốc gia cũng như truyền thống văn hóa, lịch
sử và trình độ phát triển của dân tộc
Trong hơn 30 năm đổi mới đất nước trên mọi lĩnh vực, đất nước đã
có nhiều thay đổi to lớn, gặt hái nhiều thành tựu về kinh tế, văn hóa, xã hội… trong đó vấn đề tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người đã có nhiều bước tiến quan trọng
Trước hết, Đảng và Nhà nước ta coi việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật có ý nghĩa then chốt đối với việc bảo đảm và phát triển quyền con người Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam năm 1946 mới chỉ gồm 70 điều, nhưng đã dành 18 điều cho việc quy định các quyền
và nghĩa vụ cơ bản của công dân, được trình bày tập trung tại một chương:
“Nghĩa vụ và quyền lợi công dân” và đặt trang trọng ở vị trí ưu tiên, ngay tại Chương II Hiến pháp năm 2013 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” (khoản 1 Điều 14) Đây chính là điều kiện để bảo đảm tính hiện thực của quyền con người, quyền công dân, bảo đảm sự cân bằng, minh bạch và lành mạnh giữa các lợi ích trong mối quan hệ giữa Nhà nước với con người, công dân, cá nhân và phù hợp với các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên; hạn chế tối đa bất
cứ sự lạm dụng hay tùy tiện nào tước đi hay hạn chế các quyền và tự do vốn có của mọi người bởi các cơ quan nhà nước
Trang 7Trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội,các quyền và nghĩa vụ học tập; quyền và nghĩa vụ lao động; quyền được hưởng chế độ bảo vệ sức khỏe; quyền về nhà ở; quyền sở hữu, tự do kinh doanh, đều được cụ thể hóa trong các luật như: Luật Giáo dục; Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân; Bộ luật Lao động; Luật Bình đẳng giới; Luật Nhà ở Trong các quyền nêu trên, tự do kinh doanh là một quyền rất cơ bản được quy định trong Hiến pháp Ðể cụ thể hóa vấn đề này, Quốc hội cũng đã ban hành nhiều văn bản luật, như: Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Ðầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại, Luật Hàng hải
Về các quyền liên quan đến phụ nữ và trẻ em,đã được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật, góp phần quan trọng vào những thành tựu về bảo đảm và thúc đẩy các quyền của phụ nữ và trẻ em Luật Bình đẳng giới cùng với các quy định về quyền được chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bà mẹ, trẻ em; chế độ thai sản, chế độ đối với lao động nữ, đã tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò người công dân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người; đồng thời, góp phần phòng, chống các tệ nạn xã hội, các hành vi bạo lực, xâm hại và xúc phạm nhân phẩm phụ nữ, trẻ em Các quyền cơ bản của trẻ em như: quyền được chăm sóc sức khỏe; quyền được học tập, được phát triển; quyền được vui chơi, giải trí; đều được cụ thể hóa trong các quy định của pháp luật
Về các quyền nhân thân, Quốc hội đã quy định khá cụ thể trong nhiều văn bản pháp luật.Trong nhóm các quyền này, quyền bất khả xâm phạm về thân thể là quyền tự do cá nhân đặc biệt quan trọng, được các bản Hiến pháp nước ta quy định Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện Kiểm sát nhân dân, trừ những trường
Trang 8hợp phạm tội quả tang Việc bắt hoặc giam giữ người phải đúng pháp luật Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân Hiến pháp còn quy định: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật” Ðể bảo đảm thực thi những quy định đó, Quốc hội đã ban hành nhiều văn bản pháp luật liên quan nhiều đến các quyền tự do dân chủ, tự do
cá nhân của công dân Trong các văn bản pháp luật này, ngoài việc quy định cụ thể về quyền bất khả xâm phạm của công dân, còn thể hiện tính chất nhân đạo của Ðảng và Nhà nước ta đối với người phạm tội, như về việc đặc xá; bảo đảm quyền bào chữa, quyền khiếu nại, tố cáo của bị can,
bị cáo; về chế độ thăm nuôi, nhận quà và đặc biệt là về chế độ ăn, mặc, ở, học tập, khám chữa bệnh cho phạm nhân
Việt Nam đã tham gia Tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948
và đã ký, phê chuẩn 7 trong số 9 công ước cơ bản về quyền con người Việt Nam cũng đã ký và phê chuẩn 2 Nghị định thư tùy chọn của Công ước
về quyền của trẻ em là Nghị định thư về sự tham gia của trẻ em vào xung đột vũ trang và Nghị định thư tùy chọn của Công ước về quyền của trẻ em,
về việc buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và khiêu dâm trẻ em
Ngoài các công ước do Liên Hợp quốc thông qua, còn có các công ước do các tổ chức thuộc hệ thống Liên Hợp quốc ban hành Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) kể từ khi thành lập đến nay đã thông qua hơn 190 công ước, trong đó có 8 công ước được coi là cơ bản
4 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quyền con người
và bảo đảm quyền con người, quyền công dân ở nước ta hiện nay
Một là, quyền con người là giá trị chung của nhân loại, quyền con
người bắt nguồn từ phẩm giá của con người Nhưng để có nội hàm phong phú như ngày này là thành quả chung của cả nhân loại trong việc chinh phục tự nhiên và giải phóng con người khỏi mọi sự tha hóa, khôi phục bản
Trang 9thể vốn có của con người Là thành quả đấu tranh lâu dài, gian khổ của Nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức qua mọi thời kỳ phát triển của lịch sử Quyền con người vừa là sản phẩm của văn minh nhân loại, vừa là sản phẩm của cuộc đấu tranh lâu dài của con người chống lại áp bức, làm chủ thiên nhiên và tự hoàn thiện mình Đảng ta chủ trương: “Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá của con người…”
Hai là, trong xã hội có giai cấp, khái niệm quyền con người mang tính
giai cấp sâu sắc Từ thực tiễn Việt Nam và thế giới, Đảng ta chỉ rõ: “Trong
xã hội có phân chia giai cấp đối kháng, khái niệm quyền con người mang tính giai cấp sâu sắc” Để các các nhu cầu, phẩm giá của con người trở thành quyền thì những nhu cầu ấy cần phải được pháp luật ghi nhận và bảo
vệ Trong xã hội Việt Nam, quyền lợi của giai cấp công nhân và Nhân dân lao động gắn liền với quyền lợi của đất nước, dân tộc; tính giai cấp của quyền con người thống nhất với tính nhân loại, tính phổ biến của quyền con người Nói một cách cụ thể, trong xã hội Việt Nam, quyền con người của tất cả mọi người đều được tôn trọng và bản đảm, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo…
Ba là, quyền con người gắn với độc lập dân tộc và chủ quyền quốc
gia Đảng ta cho rằng : “Quyền con người gắn với quyền dân tộc cơ bản và
thuộc phạm vi chủ quyền quốc gia” Thực tiễn lịch sử Việt Nam và nhiều nước từng trải qua quá trình đấu tranh giành độc lập đã cho thấy, đất nước
bị nô lệ thì người dân không thể có tự do, các quyền con người sẽ bị chà đạp nghiêm trọng Có thể nói, độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia là điều kiện tiên quyết để bảo đảm quyền con người; không có độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, không thể nói đến các quyền con người Độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia là đòi hỏi hàng đầu trong việc bảo đảm và thực thi
Trang 10nhân quyền, nhưng điều có ý nghĩa cực kỳ quan trọng là nhà nước phải sử dụng các điều kiện này để đem lại cuộc sống hạnh phúc cho mọi thành viên của quốc gia
Bốn là, quyền con người gắn liền với lịch sử, truyền thống và phụ
thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa của mỗi quốc gia Đảng ta
cho rằng: “Quyền con người luôn luôn gắn liền với lịch sử, truyền thống và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa của đất nước Do vậy không thể áp đặt hoặc sao chép máy móc các tiêu chuẩn, mô thức của nước này cho nước khác” Quyền con người là giá trị kết tinh từ những thành tựu, kinh nghiệm đặc sắc trong việc bảo vệ quyền con người của mỗi quốc gia, tính đặc thù của quyền con người còn bắt nguồn từ sự phát triển
“không đều” về mọi mặt của thế giới, nên quyền con người cũng không thể đáp ứng như nhau giữa các quốc gia, mà luôn phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của mỗi nước
Năm là, quyền con người là mục tiêu, động lực của sự phát triển xã
hội, là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa Từ hoạt động nghiên cứu lý
luận và thực tiễn đấu tranh cách mạng, Đảng ta đã đi đến kết luận: “Đối với chúng ta, vần đề quyền con người được đặt ra xuất phát từ mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, từ bản chất của chế độ ta”; “Giải phóng con người gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội Chỉ dưới tiền đề độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội thì quyền con người mới được bản đảm rộng rãi, đầy đủ, trọn vẹn nhất”… Tại Đại hội lần thứ XII, Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm cho dân tộc ta có độc lập, tự do thực sự, đất nước phát triển phồn vinh, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc”…
Sáu là, quyền con người, quyền công dân được ghi nhận và bảo vệ
bằng hiến pháp, pháp luật Thực tiễn Việt Nam và thế giới cho thấy, đảm
bảo bằng pháp luật là một trong những điều kiện quan trọng nhất để các