1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐẢNG TA là một ĐẢNG cầm QUYỀN mỗi ĐẢNG VIÊN và cán bộ PHẢI THẤM NHUẦN đạo đức CÁCH MẠNG, THẬT sự cần KIỆM LIÊM CHÍNH, CHÍ CÔNG vô tư PHẢI GIỮ gìn ĐẢNG TA THẬT TRONG SẠCH, PHẢI XỨNG ĐÁNG

71 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 61,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • LỜI MỞ ĐẦU

  • I. CƠ SỞ LUẬN ĐIỂM

    • 1. Cơ sở lý luận

      • 1.1. Chủ nghĩa Mác Lênin là cơ sở cho sự ra đời của Đảng Cộng sản.

      • 1.2. Hồ Chí Minh vận dụng chủ nghĩa Mác Lênin trong xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam

    • 1. Cơ sở thực tiễn

      • 1.1. Bối cảnh trong nước

      • 1.2. Bối cảnh quốc tế

  • II. NỘI DUNG LUẬN ĐIỂM

    • 1. Đảng ta là một đảng cầm quyền

      • 1.1 Khái niệm Đảng cầm quyền

      • 1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về “ Đảng ta là một Đảng cầm quyền”

    • 1. Đảng phải trong sạch, vững mạnh

      • 1.1. Đảng là đạo đức, là văn minh

      • 1.2. Đảng là người lãnh đạo, là đầy tớ của nhân dân

      • 1.3. Xây dựng đội ngũ cán bộ đảng viên

  • III. GIÁ TRỊ, Ý NGHĨA CỦA LUẬN ĐIỂM

    • 1. Giá trị của luận điểm

    • 1. Ý nghĩa của luận điểm

  • IV. LIÊN HỆ THỰC TIỄN VIỆT NAM

    • 1. Thành tựu

      • 1.1. Kinh tế

      • 1.2. Văn hóa - Xã hội

    • 2. Hạn chế

      • 2.1. Kinh tế

      • 2.2. Văn hóa - Xã hội

      • 2.3. An sinh xã hội:

    • 3. Mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ

      • 3.1. Mục tiêu phát triển

      • 3.2. Phương hướng, nhiệm vụ

        • b, 06 nhiệm vụ trọng tâm

    • 4. Thực tiễn

      • 4.1. Vai trò của Đảng thể hiện qua thành công của Đại hội XIII:

      • 4.2. Vai trò của Đảng thể hiện qua thành công của cuộc bầu cử Đại biểu quốc hội khóa XV và Đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kì 2021-2026

      • 4.3. Vai trò của Đảng thể hiện qua nỗ lực chống dịch và tiêm phòng vacxin cho nhân dân

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nội dung

nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi íchVới Hồ Chí Minh, một Đảng với tư cách Đảng cầm quyền thì trước hết, Đảng phải có “lý luận cách mệnh tiền phong”, có

CƠ SỞ LUẬN ĐIỂM

Cơ sở lý luận

1.1 Chủ nghĩa Mác Lênin là cơ sở cho sự ra đời của Đảng Cộng sản.

Theo quan điểm của Mác - Lênin, “trong xã hội xây dựng trên cơ sở phân chia giai cấp, cuộc đấu tranh giữa các giai cấp thù địch, đến một chừng mực nào đó, sẽ trở thành đấu tranh chính trị Đấu tranh của Đảng là phản ánh đấu tranh chính trị của giai cấp có giá trị đầy đủ và có thể thức dứt khoát nhất” Giai cấp vô sản muốn hoàn thành sứ mệnh của mình là giải phóng nhân dân lao động khỏi mọi áp bức bóc lột và lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản thì cần phải có sự thống nhất về mục đích và tổ chức Và chỉ có đảng chính trị mới có thể đem lại sự thống nhất ấy Theo Lênin, phong trào công nhân không thể thắng lợi nếu như không có lý luận cách mạng khoa học: “Lý luận này không thể do tưởng tượng mà bịa đặt ra Lý luận này được hình thành trên cơ sở tổng hợp kinh nghiệm cách mạng và tư tưởng cách mạng của tất cả các nước trên trái đất Lý luận đó ra đời từ nửa thế kỷ

19 Lý luận đó là chủ nghĩa Mác” Học thuyết Mác xuất hiện bên ngoài phong trào tự phát của công nhân, mặt khác nó đã ra đời như là kết quả phát triển khách quan và tất yếu của tư tưởng cách mạng Nó đã xuất hiện từ cơ sở tư tưởng và khoa học,được vun đắp bởi các nhà đại diện của giới trí thức cách mạng Theo V Lênin vớiTuyên ngôn của đảng cộng sản, chủ nghĩa Mác đã trở thành thế giới quan hoàn chỉnh của giai cấp công nhân V.Lênin cũng đã nhấn mạnh: Nhiệm vụ quan trọng của đảng cộng sản là “phải tích cực giáo dục chính trị cho giai cấp công nhân, là phải tăng cường giác ngộ chính trị cho giai cấp công nhân” Đảng cộng sản, bộ phận tiên phong của giai cấp, nhờ được vũ trang bởi học thuyết mác-xít mới có thể đem ý thức giác ngộ xã hội chủ nghĩa đến cho phong trào công nhân, mới là đại diện cho những quyền lợi cơ bản của giai cấp công nhân Kết luận này đã được

V Lênin chỉ rõ trong hai luận điểm mật thiết liên hệ với nhau: “Không có lý luận cách mạng, không thể có phong trào cách mạng” và từ đó “chỉ có đảng được vũ trang bằng lý luận tiên phong mới đóng được vai trò là người chiến sĩ tiên phong”.

Thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng cầm quyền mà không có lý luận dẫn đường thì cách mạng sẽ không có “phong trào vận động” và đảng sẽ không thể làm nổi “trách nhiệm cách mạng tiền phong” Từ rất sớm, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức rất rõ điều đó Trong toàn bộ hoạt động của Đảng, Đảng ta luôn luôn đề cao vai trò của lý luận, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng.

Cùng với việc làm sáng tỏ vị trí, vai trò cầm quyền của Đảng, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn luôn xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn để

“xây dựng chủ nghĩa cho vững” Chủ nghĩa ấy phải đảm bảo thể hiện rõ bản chất giai cấp công nhân, tính cách mạng sáng tạo và khoa học của Đảng Trước hết, trên hết phải vì lợi ích của giai cấp, của toàn thể nhân dân và dân tộc Việt Nam; phản ánh đúng tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, dẫn đường chỉ lối cho nhân dân hành động phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử và thời đại.

Trên nền tảng Cương lĩnh chính trị đầu tiên (năm 1930) của Đảng, trải qua nhiều thời kỳ cách mạng khác nhau cam go, gian khó, trong đó có cả sự bất hòa trong hệ thống XHCN, nhưng Đảng ta vẫn tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác

- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa ấy, tư tưởng ấy vào hoàn cảnh cụ thể của từng giai đoạn cách mạng nước ta, đồng thời làm phong phú thêm nó Đường lối cách mạng Việt Nam mỗi thời kỳ lại được bổ sung, phát triển,nhưng trước sau như một, Cương lĩnh của Đảng vẫn xác định: “Đảng Cộng sảnViệt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, ”

1.2 Hồ Chí Minh vận dụng chủ nghĩa Mác Lênin trong xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam

Với Hồ Chí Minh, một Đảng với tư cách Đảng cầm quyền thì trước hết, Đảng phải có “lý luận cách mệnh tiền phong”, có “chủ nghĩa làm cốt” Ngay từ năm 1927, trong tác phẩm Đường cách mệnh, Bác đã nhấn mạnh: Cách mạng muốn thành công thì phải có tổ chức vững bền, sức cách mạng phải tập trung, muốn tập trung thì trước hết phải có Đảng, cũng giống như đũa thì phải bó lại thành bó chứ không phải mỗi chiếc một nơi Cách mạng muốn thành công thì trước hết phải có Đảng cách mệnh Có Đảng để trong thì vận động công nông và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với tất cả các nước và giai cấp vô sản trên toàn thế giới Bác khẳng định, Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như “người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy”.

Tuy nhiên, chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam” Bác cũng chỉ ra: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê-nin” Bác xem chủ nghĩa Mác Lênin như “cái cẩm nang thần kỳ”, “là mặt trời chân lý”, “là cái kim chỉ nam cho mọi hành động” mà Đảng ta với tư cách là một Đảng cầm quyền cần phải có, cần phải làm theo và lấy đó làm vũ khí tinh thần để làm tròn vai trò tiền phong, vai trò lãnh đạo cách mạng của mình.

Khẳng định vai trò “làm cốt” của chủ nghĩa Mác-Lênin đối với vị trí cầm quyền và vai trò lãnh đạo của Đảng ta, Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhấn mạnh: Chủ nghĩa Mác-Lênin không chỉ là “lực lượng tư tưởng hùng mạnh” chỉ đạo mọi hoạt động của Đảng ta, mà còn là lý luận nền tảng, mang bản chất cách mạng và khoa học, làm cho Đảng ta “trở thành hình thức tổ chức cao nhất của quần chúng lao động, hiện thân của trí tuệ, danh dự và lương tâm” của dân tộc Việt Nam chúng ta. Mặc dù Đảng lấy chủ nghĩa Mác Lênin làm kim chỉ nam cho mọi hành động nhưng theo Bác, điều đó không có nghĩa là Đảng giáo điều theo từng câu, từng chữ của C.Mác, của V.I.Lênin, mà là nắm vững tinh thần, lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin; đồng thời tiếp thu những tinh hoa của văn hoá dân tộc và nhân loại, tham khảo kinh nghiệm của các Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế, vận dụng đúng đắn và sáng tạo vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam để đề ra đường lối, chủ trương, phương thức lãnh đạo đúng đắn, phù hợp cho Cách mạng Việt Nam.

Cơ sở thực tiễn

Trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, năm 1858, thực dân Pháp bắt đầu xâm lược Việt Nam, từng bước thiết lập chế độ thống trị tàn bạo, phản động của chủ nghĩa thực dân trên đất nước ta Ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược, nhân dân ta liên tiếp đứng lên chống lại chúng Từ năm 1858 đến trước năm 1930, hàng trăm cuộc khởi nghĩa, phong trào chống Pháp đã nổ ra theo nhiều khuynh hướng khác nhau, như phong trào Cần Vương, phong trào Đông Du Các cuộc khởi nghĩa, phong trào đấu tranh đó vô cùng anh dũng, nhưng đã bị thực dân Pháp đàn áp tàn bạo và đều thất bại.

Nguyên nhân cơ bản dẫn tới thất bại của các phong trào đấu tranh là do những người đứng đầu các cuộc khởi nghĩa, các phong trào chưa tìm được con đường cứu nước phản ánh đúng nhu cầu phát triển của xã hội Việt Nam. Đứng trước sự khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước, việc tìm một con đường cứu nước đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc và thời đại là nhu cầu bức thiết nhất của dân tộc ta lúc bấy giờ.

Giữa lúc cách mạng Việt Nam đang lâm vào cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, ngày 5-6-1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành ra nước ngoài, bắt đầu đi tìm con đường cứu nước Người đã qua nhiều nơi trên thế giới, vừa lao động, vừa học tập, nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm các cuộc cách mạng tư sản điển hình (Pháp, Mỹ), tích cực tham gia hoạt động trong Đảng Xã hội Pháp. Sau một thời gian ngắn tham gia học tập ở Liên Xô và hoạt động trong Quốc tế Cộng sản, tháng 11-1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc) trực tiếp chỉ đạo việc chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam Các tổ chức cộng sản lần lượt được thành lập:

• Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Bắc Kỳ.

• Mùa Thu năm 1929, An Nam Cộng sản Đảng được thành lập ở Nam Kỳ.

• Ngày 1-1-1930, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn được thành lập ở Trung Kỳ.

Chỉ trong một thời gian ngắn, ở Việt Nam đã có ba tổ chức cộng sản tuyên bố thành lập Điều đó phản ánh xu thế tất yếu của phong trào đấu tranh cách mạng ở Việt Nam Tuy nhiên, 3 tổ chức cộng sản lại hoạt động riêng rẽ, tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau, không có lợi cho cách mạng.

Trong Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản về phong trào cách mạng ở An Nam,ngày 5/3/1930, Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Khoảng tháng 5/1929, Hội Việt NamCách mạng Thanh niên họp hội nghị toàn quốc Đại biểu Bắc Kỳ đề nghị tổ chức

1 0 ngay một Đảng Cộng sản Các đại biểu khác đề nghị sau này hãy tổ chức Nhóm

Bắc Kỳ bỏ hội nghị ra về và tổ chức một đảng (Đông Dương) Một số khác, sau đó đã tổ chức một đảng khác (An Nam) Đó là mối bất hoà đầu tiên Nhóm Bắc Kỳ tìm hết cách để phá hoại Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên vì họ cho rằng: hội đó quá đông và cơ hội chủ nghĩa nên nó có thể làm lu mờ ảnh hưởng và công tác của Đảng Cộng sản trong quần chúng Nhóm An Nam ra sức giữ cho Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tiếp tục hoạt động vì họ cho rằng: Hội có thể lợi dụng để tập họp tầng lớp trí thức và giai cấp tiểu tư sản Đó là mối bất hoà thứ hai. Cả hai đều cố thống nhất nhau lại, nhưng càng cố gắng bao nhiêu thì càng hiểu lầm nhau bấy nhiêu và hố sâu ngăn cách ngày cũng rộng ra bấy nhiêu” Sự chia rẽ, mất đoàn kết đã làm phân tán sức mạnh chung của phong trào, không có lợi cho cách mạng Điều này thể hiện sự cấp thiết của cách mạng Việt Nam là lúc này phải thành lập ngay một Đảng Cộng sản duy nhất ở Việt Nam để tiếp tục đưa cách mạng tiến lên Từ ngày 6-1 đến ngày 7-2-1930, Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản họp tại bán đảo Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc) hội nghị nhất trí thành lập một đảng thống nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí

■=> Nguyễn Ái Quốc là người đầu tiên sớm ý thức và hiện thực hóa ý thức đó về một tổ chức Đảng lãnh đạo - nhân tố then chốt quyết định sự thắng lợi của cách mạng Từ đây, phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam tiến hành theo con đường cách mạng vô sản.

■=> Lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành đảng cầm quyền thực hiện sự lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam.

Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 là một trong những sự kiện vĩ đại nhất của thế kỷ 20, đánh dấu mốc mới trong lịch sử phát triển của nhân loại, đã tạo ra nhà nước của người lao động, thể hiện giấc mơ của toàn nhân loại. Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga đã tiếp sức cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Từ đó, một làn sóng cách mạng vô sản ở châu Âu đã bùng lên mạnh mẽ, tạo ra một cao trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, làm rung chuyển nền thống trị của giai cấp tư sản độc quyền ở nhiều nước. Một hệ thống xã hội chủ nghĩa đã ra đời, đóng vai trò to lớn trong tiến trình phát triển của thế giới hiện đại Cách mạng tháng Mười Nga còn tác động mạnh mẽ đến đời sống chính trị-xã hội của nhiều quốc gia, dân tộc; đã thức tỉnh, cổ vũ các dân tộc thuộc địa bị áp bức và các nước phụ thuộc vùng dậy đấu tranh vì độc lập tự do, đem lại niềm tin và niềm hy vọng về khả năng tự giải phóng.

Với những ý nghĩa to lớn và sâu sắc như vậy, thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga thực sự đã sáng tạo ra một kỷ nguyên mới của nước Nga, đồng thời đã mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại Sau Cách mạng Tháng 10 Nga và việc thành lập Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết (Liên Xô) đã chỉ hướng cho nhân dân các quốc gia bị áp bức và các nước thuộc địa về con đường đấu tranh giải phóng dân tộc Quốc tế Cộng sản được thành lập với nhiệm vụ giải phóng dân tộc các quốc gia bị áp bức bóc lột trên toàn thế giới với giai cấp vô sản là nòng cốt.

Ngày 27 tháng 10 năm 1929 Quốc tế Cộng sản gửi cho người Cộng sản tại Đông Dương về việc thành lập một Đảng Cộng sản tại Đông Dương: “Việc thiếu một Đảng Cộng sản duy nhất trong lúc phong trào công nhân và nông dân ngày

1 2 càng phát triển, đã trở thành một điều nguy hiểm vô cùng cho tương lai trước mắt cuộc cách mạng ở Đông Dương” Quốc tế Cộng sản nhấn mạnh: “Nhiệm vụ quan trọng nhất của tất cả những người Cộng sản Đông Dương là thành lập một Đảng cách mạng có tính chất giai cấp của giai cấp vô sản, nghĩa là một Đảng Cộng sản có tính chất quần chúng Đông Dương Đảng đó phải chỉ có một và là tổ chức cộng sản duy nhất ở Đông Dương ”

NỘI DUNG LUẬN ĐIỂM

Đảng ta là một đảng cầm quyền

1.1 Khái niệm Đảng cầm quyền

C.Mác và Ph.Ăngghen là những người đầu tiên xây dựng học thuyết về Đảng Cộng sản trong những năm nửa đầu thế kỷ XIX Tuy nhiên, trong thời kỳ của C.Mác và Ph.Ăngghen chưa có một đảng nào lãnh đạo nhân dân giành được chính quyền Do đó, vấn đề đảng trong điều kiện lãnh đạo chính quyền xây dựng xã hội mới- xã hội chủ nghĩa chưa được các ông nghiên cứu nhiều Sự ra đời của Đảng Bônsêvích Nga (đảng kiểu mới của giai cấp công nhân) và việc thành lập Quốc tế III là sự thể hiện tư tưởng của Lênin về học thuyết Đảng Cộng sản.

Khái niệm "đảng cầm quyền" được dùng ở các nước tư bản chủ nghĩa và các nước xã hội chủ nghĩa Các nước tư bản chủ nghĩa, khái niệm này dùng để chỉ một đảng hay một liên minh chính trị gồm nhiều đảng đã nắm được chính quyền, điều hành đất nước trong nhiệm kỳ hiện tại của quốc hội, nhiệm kỳ của tổng thống Với các nước xã hội chủ nghĩa, khái niệm này được dùng trong thời kỳ từ khi ĐảngCộng sản đã giành được chính quyền, nắm chính quyền, lãnh đạo nhân dân thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu chính trị Như vậy, đảng cầm quyền là đảng giành chiến thắng trong các cuộc bầu cử dân chủ và cạnh tranh Từ đó, đảng thành lập chính phủ đưa ra các quyết định chính sách đại diện cho nhân dân.

Ngay từ trước Cách mạng tháng Mười Nga (năm 1917), Lênin nói rằng Đảng Bônsêvích Nga bất cứ lúc nào cũng sẵn sàng đứng ra nắm chính quyền Sau Cách mạng Tháng Mười Nga, Đảng Bônsêvích, sau đó là Đảng Cộng sản Liên Xô trở thành đảng cầm quyền đã có những đóng góp hết sức to lớn cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân Liên Xô và nhân dân thế giới Lênin lần đầu tiên đã đưa ra khái niệm "Đảng Cộng sản cầm quyền" vào ngày 27/3/1922 trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Nga và nhận định ở nước Nga chỉ có

"đảng cầm quyền duy nhất" Ở Việt Nam, sau cách mạng tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng thuật ngữ này để nói về vai trò cầm quyền của Đảng như ''Đảng giành được chính quyền'', ''Đảng nắm chính quyền'', ''Đảng cầm quyền'' Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “Đảng ta là một Đảng cầm quyền” Những khái niệm này cũng đã được ghi trong các văn kiện của Đảng ta khi đề cập đến vai trò của Đảng đối với xã hội từ sau khi có chính quyền cách mạng Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam được Đại hội toàn quốc lần thứ X, XI thông qua có ghi "Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền".

Với các Đảng Cộng sản cầm quyền, thuật ngữ Đảng Cộng sản dùng để chỉ các đảng Cộng sản ở những nước có duy nhất một đảng cầm quyền, nắm chính quyền lãnh đạo mọi mặt trong đời sống xã hội Đảng cầm quyền có nghĩa là đảng phải chịu trách nhiệm trước nhân dân, trước dân tộc Điều mà Chủ tịch Hồ ChíMinh đã từng nói, Đảng chẳng những phải lo những việc to lớn như việc biến đổi kinh tế và văn hóa mà còn còn phải lo đến những việc nhỏ nhặt "tương cà, mắm muối" là những thứ cần thiết cho đời sống thường nhật của nhân dân Đảng đại diện lợi ích của giai cấp công nhân, cho toàn thể nhân dân lao động, trở thành đội tiên phong chính trị của cả dân tộc Đảng luôn giữ được bản chất cách mạng và khoa học, có phương thức lãnh đạo đúng đắn.

1 4 Đảng Cộng sản Việt Nam đã giữ vững được nguyên tắc xây dựng đảng của các nhà nhà sáng lập chủ nghĩa cộng sản, vận dụng sáng tạo, kế thừa có chọn lọc học thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin. Đảng là một tổ chức của những người tự nguyện cùng chung một chí hướng đấu tranh cho lợi ích của một giai cấp hoặc một tầng lớp nhất định Ở các nước phương Tây, thuật ngữ "đảng cầm quyền", "đảng chấp chính", "đảng nắm chính quyền" đã được dùng từ lâu, dùng để chỉ rõ vai trò, vị thế của một đảng khi đã có chính quyền Đảng cầm quyền có nghĩa là đảng lãnh đạo chính quyền, chi phối chính quyền, làm cho mọi hoạt động của chính quyền thể hiện tư tưởng, đường lối của đảng đó, phù hợp với lập trường và phục vụ cho lợi ích của giai cấp, tầng lớp mà đảng đó đại diện. Đối với các nước xã hội chủ nghĩa, con đường trở thành Đảng Cộng sản cầm quyền lại có đặc điểm và sắc thái riêng Để trở thành đảng cầm quyền, Đảng Cộng sản phải lãnh đạo nhân dân đứng lên đấu tranh, chống “thù trong, giặc ngoài”, tiến hành cuộc cách mạng vô sản hoặc cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân để lật đổ chính quyền của giai cấp bóc lột, thiết lập chính quyền mới của giai cấp công nhân Sau khi hoàn thành cuộc cách mạng, giành chính quyền về tay mình, Đảng Cộng sản lãnh đạo nhà nước và bộ máy của nó, tiến hành cải tạo xã hội cũ, xây dựng chế độ xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa Khi Đảng Cộng sản nắm được quyền thống trị, thì điều đó có nghĩa là “nắm quyền đó với ý thức là chỉ một mình mình nắm”1 Theo V.I.Lênin, trong thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa, duy nhất chỉ có Đảng Cộng sản nắm quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội, không có sự cạnh tranh, chia sẻ quyền lực cho các đảng chính trị khác; thực hiện thể chế nhất nguyên, không có đảng đối lập tranh giành quyền lực nhà nước.

1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về “ Đảng ta là một Đảng cầm quyền”

Tại sao Bác không nói là “Đảng ta là đảng cầm quyền” mà phải nói là

“một đảng cầm quyền”? “Một” thể hiện tính duy nhất, hàm ý cả tính tuyệt đối. Đảng không được chia sẻ quyền lực với đảng khác trong vai trò cầm quyền của mình (nên hiểu là “không chia sẻ quyền lực” chứ không độc nhất tồn tại, vì thời của Bác còn có Đảng Dân chủ Việt Nam (1944 đến năm 1988) và Đảng Xã hội Việt Nam (1946 - 1988), nhưng không giữ vai trò lãnh đạo Tức là không liên minh, liên kết với bất kỳ đảng khác để thực hiện vai trò lãnh đạo của mình Đây không phải là sự độc chiếm quyền lực mà đó là kết quả tất yếu của lịch sử.

Tuy nhiên, cũng cần hiểu đầy đủ lời của Người: “Đảng ta là một đảng cầm quyền” Ở đây, Hồ Chí Minh đã hàm ý cảnh báo Vì là “một đảng cầm quyền” nên có thể phát sinh những vấn đề do chỉ có một đảng nắm quyền, nhất là khi nắm quyền liên tục trong một thời gian dài Thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, chắc chắn Hồ Chí Minh hiểu rằng mọi sự vật, hiện tượng đều luôn vận động và biến đổi.

Là đảng duy nhất cầm quyền, ở đỉnh cao quyền lực, rất có thể nội bộ đảng nảy sinh những trì trệ, thậm chí sai lầm, nếu Đảng giáo điều, không phát huy và mở rộng dân chủ, không lắng nghe phản ánh từ nhân dân, không tiếp thu các ý kiến phản biện Rất có thể, khi cầm quyền trong thời gian dài, đảng tự xây cho mình một

“tháp ngà” và tự cách biệt mình với quần chúng nhân dân Nghiêm trọng hơn,chính điều đó nảy sinh quan liêu, xa dân, tham nhũng, thậm chí độc đoán, dần đánh mất lòng tin của nhân dân Điều này đã từng xảy ra với một số đảng, dẫn đến kết cục đảng không cầm quyền được nữa, gây những hệ lụy nguy hiểm cho quốc gia,cho dân tộc Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, một triều đại lúc mới khai sáng thì luôn có vua sáng tôi hiền, có nhiều đóng góp quan trọng cho đất nước thì về sau lại trở nên trì trệ, khủng hoảng, suy tàn Đây là một hiện tượng bình thường trong lịch sử, trong xã hội, được khái quát trong tư tưởng của người phương Đông,

“trăng có khi tròn khi khuyết” Nhận thức được vấn đề này Đảng luôn luôn tự đổi mới, tự hoàn thiện mình, tự khắc phục các hạn chế, khuyết điểm điểm để phù hợp với hoàn cảnh cụ thể, với yêu cầu lãnh đạo cụ thể. Ở Việt Nam,Đảng Cộng Sản nắm quyền lãnh đạo nhưng quyền lãnh đạo đó là thuộc về nhân dân và Đảng nhận sự ủy thác giao phó quyền lực từ dân.Hồ Chí minh nói : “cách mạng rồi thì chuyển giao cho dân chúng số nhiều,chớ để trong tay một bọn ít người”.Người đề cập xây dựng một Nhà nước “của dân,do dân và vì dân” Một khi Đảng trở thành Đảng lãnh đạo chính quyền thì Đảng cầm quyền, dân là chủ, như Hồ Chí Minh đã chỉ rõ Đảng cầm quyền là Đảng tiếp tục lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người Song, Đảng cầm quyền, dân là chủ: “quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” Đây là vấn đề nguyên tắc, là bản chất của chế độ mới Đảng lãnh đạo chính quyền là nhằm thiết lập quyền làm chủ của nhân dân, mọi quyền lực phải thuộc về nhân dân, làm trái nguyên tắc đó Đảng sẽ thoái hóa, biến chất Bởi vậy, phải xây dựng cơ chế Đảng cầm quyền mà cái cốt lõi của cơ chế này là mối quan hệ giữa Đảng, nhân dân. Đảng lãnh đạo cách mạng là để thiết lập và củng cố quyền làm chủ của nhân dân.Theo Người, quyền lực thuộc về nhân dân là bản chất,là nguyên tắc của chế độ mới, một khi xa rời nguyên tắc này ,Đảng sẽ trở thành đối lập với nhân dân.Dân làm chủ,Đảng lãnh đạo,Đảng phải “lấy dân làm gốc” Dân muốn làm chủ thật sự thì phải theo Đảng.Mỗi người dân phải biết lợi ích và bổn phận của mình tham gia vào xây dựng chính quyền Theo Hồ Chí minh,nguyên tắc dân làm chủ,dân làm gốc có thành hiện thực khi cán bộ,Đảng viên còn là đầy tớ trung thành của nhân dân

Vì vậy, là thành viên của “một đảng cầm quyền”, Hồ Chí Minh đã căn dặn:

“Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” Những chữ

“thực sự”, “thật sự”, “thật” là sự nhấn mạnh của Bác đối với các yêu cầu của Đảng,của mỗi đảng viên trong lời khẳng định “Đảng ta là một đảng cầm quyền” Tức là,một đảng cầm quyền thì đảng viên phải thực sự như thế, không thể khác được.

Đảng phải trong sạch, vững mạnh

Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân Ở đây Bác đang muốn đề cập đến vấn đề đạo đức của Đảng và muốn nhấn mạnh rằng Đảng cần phải có sự trong sạch và vững mạnh.

2.1 Đảng là đạo đức, là văn minh

Trong bài nói tại Lễ Kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng (năm 1960), Hồ chí Minh cho rằng: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức cách mạng là gốc của người cách mạng, từ rất sớm và xuyên suốt cuộc đời cách mạng của mình Cuốn sách Đường cách mệnh năm 1927 không phải là một chuyên luận về vấn đề đạo đức cách mạng, nhưng ở trang đầu cuốn sách Người đã nêu lên hai mươi ba điều về tư cách một người cách mạng, giải quyết ba mối quan hệ: Với mình, với người, với việc Những thập kỷ bốn mươi, năm mươi, sáu mươi,Người đều có những bài viết ngắn gọn, súc tích về đạo đức cách mạng Người coi đạo đức như gốc của cây, như nguồn của sông, cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo.Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho

1 8 loài người là một công việc to tát mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hoá, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?” Vai trò nền tảng của đạo đức cách mạng được Hồ Chí Minh khẳng định: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới, là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang” Đạo đức trở thành nhân tố quyết định sự thành bại của mọi công việc, phẩm chất mỗi con người: “Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không”, “Tuy năng lực và công việc mỗi người có khác nhau, người làm việc to, người làm việc nhỏ, nhưng ai giữ được đạo đức cách mạng đều là người cao thượng” Người từng khẳng định: “Chúng ta đem tinh thần mà chiến thắng vật chất” Chỉ nhìn về vật chất, chỉ nhìn ở hiện tượng, chỉ lấy con mắt hẹp hòi mà xem, thì không giải thích được thắng lợi của ta đối với kẻ thù lớn mạnh Hồ Chí

Minh chỉ rõ: “Đảng ta theo chủ nghĩa Mác-Lênin, chúng ta không những nhìn vào hiện tại mà lại nhìn vào tương lai, chúng ta tin chắc vào tinh thần và lực lượng của quần chúng, của dân tộc Cho nên chúng ta quả quyết trả lời những người lừng chừng và bi quan kia rằng:

“Nay tuy châu chấu đấu voi,

Nhưng mai voi sẽ bị lòi ruột ra”. Đạo đức còn “có ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp đổi xã hội cũ thành một xã hội mới và xây dựng mỹ tục thuần phong” “Có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước , khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”., không kèn cựa về mặt hưởng thụ, không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo không hủ hóa” Đạo đức của Đảng thể hiện qua những điểm:

• Mục đích hoạt động của Đảng là lãnh đạo đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con người Đó là sự nghiệp cách mạng theo chủ nghĩa Mác-Lênin, làm cho dân tộc được độc lập, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc thực sự, đoàn kết hữu nghị với các dân tộc trên thế giới Đạo đức của Đảng là thật sự vì nước, vì dân, nêu cao lợi ích của đất nước, dân tộc, Tổ quốc trên hết, độc lập trên hết Toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên nhận thức và hành động vì lợi ích của dân tộc Ngoài lợi ích của giai cấp, dân tộc và nhân dân, Đảng không có lợi ích nào khác Toàn Đảng chung sức lãnh đạo đấu tranh làm sao cho đất nước được hoàn toàn độc lập, thống nhất, dân tộc, đồng bào được tự do, hạnh phúc, bảo đảm quyền sống và thoát khỏi sự áp bức, bất công, đau khổ dưới sự thống trị của chế độ thực dân, phong kiến và các thế lực phản động.

• Cương lĩnh, đường lối, chủ trương và mọi hoạt động thực tiễn của Đảng đều nhằm mục đích đó Đảng phải luôn luôn trung thành với lợi ích toàn dân tộc vì Đảng không có mục đích riêng, sự ra đời và phát triển của Đảng đều là vì mục đích làm cho đất nước hùng cường đi lên chủ nghĩa xã hội, đưa lại quyền lợi cho dân.

• Đội ngũ đảng viên phải luôn thấm nhuần đạo đức cách mạng, ra sức tu dưỡng, rèn luyện, suốt đời phấn đấu cho lợi ích của dân, của nước Do vậy, một trong những biểu hiện rõ nhất của Hồ Chí Minh về rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam để cho Đảng trở thành Đảng của đạo đức của văn minh là Người “rèn” đạo đức cán bộ, đảng viên Hồ Chí Minh nhấn mạnh , đảng viên càng phải là những người có lòng nhân ái, “phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”, trung với Đảng, trung với nước, hiếu với dân, có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính và luôn chí công vô tư, có tinh thần quốc tế

• trong sáng.Việc thực hiện phẩm chất này, đặt ra đối với tất cả mọi người, đòi hỏi mỗi người phải lấy bản thân mình làm đối tượng điều chỉnh Nó diễn ra hàng ngày, hàng giờ, trong công tác, sinh hoạt Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là những khái niệm đạo đức phương Đông, đạo đức truyền thống

Việt Nam, được Hồ Chí Minh tiếp thu chọn lọc, đưa vào những yêu cầu và nội dung mới Người khẳng định: “Bọn phong kiến ngày xưa nêu ra cần, kiệm, liêm, chính, nhưng không bao giờ làm mà lại bắt nhân dân phải tuân theo để phụng sự quyền lợi cho chúng Ngày nay ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm gương cho nhân dân theo để lợi cho nước, cho dân” Tháng 6-1949, với bút danh Lê Quyết Thắng, Hồ Chí Minh viết tác phẩm Cần, kiệm, liêm, chính Sau đó, Người thường xuyên đề cập tới các phạm trù đạo đức này.

• Hồ Chí Minh không chỉ giải thích nghĩa của cần, kiệm, liêm, chính mà Người còn nêu lên mối quan hệ giữa bốn phẩm chất đó: “Cần, Kiệm, Liêm, là gốc rễ của Chính Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có ngành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn Một người phải Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải Chính mới là người hoàn toàn” So sánh với bốn mùa của trời, bốn phương của đất, Người cho rằng: “Thiếu một mùa thì không thành trời Thiếu một phương thì không thành đất, thiếu một đức, thì không thành người”.

• Cần, kiệm, liêm, chính đối với cán bộ đảng viên lại càng cần thiết, bởi vì:

“Cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút” Theo Hồ Chí Minh, càng có chức, có quyền càng cần phải cần kiệm, liêm, chính Người viết: “Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”

• Theo Hồ Chí Minh, cần, kiệm, liêm, chính là thước đo văn minh, tiến bộ của một dân tộc Người viết: “Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm, là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ”.

• Cần, kiệm, liêm, chính, vì vậy là “nền tảng của đời sống mới, của thi đua ái quốc”; là cái cần để “làm việc, làm người, làm cán bộ, phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại” Đồng chí Phạm Văn Đồng cho rằng “cần, kiệm, liêm, chính là đặc điểm của xã hội hưng thịnh Những điều trái lại là đặc điểm của xã hội suy vong”.

• Chí công, vô tư là không nghĩ đến mình trước, hưởng thụ đi sau, là lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào Điều mà Phạm Trọng Yêm đời Tống đã nói: “Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc” đã được Hồ Chí Minh đưa thành nội dung phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân Hồ Chí Minh đòi hỏi, thực hành chí công vô tư là phải “kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng” Bởi vì, chủ nghĩa cá nhân là trái với chủ nghĩa tập thể, trái với đạo đức cách mạng.

GIÁ TRỊ, Ý NGHĨA CỦA LUẬN ĐIỂM

LIÊN HỆ THỰC TIỄN VIỆT NAM

Ngày đăng: 16/01/2022, 08:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w