11 MỞ ĐẦU Trong suốt chiều dài lịch sử, loài người luôn đấu tranh nhằm giải phóng con người, xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Trong thời gian dài dân tộc Việt Nam bị nước ngoài đô hộ,[.]
Trang 1MỞ ĐẦU
Trong suốt chiều dài lịch sử, loài người luôn đấu tranh nhằm giải phóng con người, xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Trong thời gian dài dân tộc Việt Nam bị nước ngoài đô hộ, phải gánh chịu những hy sinh to lớn để giành độc lập dân tộc và tự do của Tổ quốc Bằng cuộc đấu tranh bất khuất, kiên cường qua nhiều thế kỷ, dân tộc Việt Nam đã khẳng định rằng, quyền thiêng liêng, cơ bản nhất của con người là quyền được sống trong độc lập, tự do, quyền được tự quyết định vận mệnh của mình Đây cũng chính là nguyên tắc có tính nền tảng về quyền
tự quyết dân tộc đã được khẳng định trong Hiến chương Liên hiệp quốc và tại Điều
1 của cả 2 Công ước quốc tế cơ bản nhất của Liên hiệp quốc về quyền con người: Công ước quốc tế về các quyền Kinh tế, Xã hội, Văn hoá và Công ước quốc tế về các quyền Dân sự, Chính trị
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn có một ước vọng: "Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân
ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành" Ý nguyện đó của Người phản ánh khát vọng của nhân dân Việt Nam, thực hiện những giá trị thiết yếu về quyền con người, là mục đích, tôn chỉ hoạt động xuyên suốt của Nhà nước Việt Nam Dân tộc Việt Nam, không phân biệt già trẻ, gái trai, sắc tộc, tôn giáo đã đoàn kết một lòng, vượt qua mọi thử thách, gian khổ, hy sinh để giành và giữ các quyền cơ bản đó
Vì vậy, chuyên đề “Quan điểm, chính sách của Đảng ta về Quyền con người” là vấn đề tôi quan tâm và chọn làm chủ đề viết thu hoạch.
Trang 2NỘI DUNG
1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN
1.1 Quyền con người là khát vọng chung của nhân loại
Quyền con người (QCN) hình thành cùng với sản xuất nguyên thủy và là sản phẩm của bản tính người nhằm duy trì, bảo vệ quyền sống của người nguyên thủy QCN trong xã hội nguyên thủy ngay từ đầu có đặc điểm: phổ biến, cộng đồng, bình đẳng nguyên thủy (ý niệm cảm tính, tự phát, thô sơ, chất phát) Qua các hình thái xã
hội, khát vọng chung của nhân loại từng bước được hiện thực hóa theo quy luật phủ
định của phủ định: Tính phổ biến nguyên thủy - phân hóa cho thiểu số - từng bước cho đa số - tái lập tính phổ biến có ý thức tự giác Tính cộng đồng nguyên thủy – phân hóa cho cá nhân – tái lập cho cá nhân – cộng đồng tự do Tính bình đẳng nguyên thủy – phân hóa bất bình đẳng – tái lập bình đẳng - tự do
1.2 Quyền con người trong truyền thống dân tộc Việt Nam
- Về hình thức: Tư tưởng QCN chủ yếu được định tính, gián tiếp, nhiều khi
không rõ ràng, và được thể hiện rất đa dạng (minh triết; triết lý nhân sinh về tính, tình, tâm, luân lý, đạo đức; tín ngưỡng, tôn giáo; phong tục tập quán, nếp sống; văn hóa nghệ thuật; ) Thể hiện trực tiếp có tính định lượng thông qua lệ (luật tục, hương ước) và pháp luật của Nhà nước phong kiến
- Về nội dung: Tư tưởng “chính danh”; Tôn trọng, hòa nhã trong cư xử với
mọi người theo chữ “Lễ”; không chỉ liên quan đến cá nhân, mà chủ yếu và trước hết liên quan đến quyền lợi chung của toàn cộng đồng, toàn xã hội; dân là gốc - làm gốc; công bằng; coi trọng quyền lực nhà nước và quyền dân tộc
- Hạn chế lịch sử: Tư tưởng cá nhân chủ nghĩa ẩn sau các tư tưởng mang
tính đạo học, tôn giáo; được thể hiện đa dạng nhưng rời rạc, không thống nhất; chủ yếu thể hiện ở bổn phận và lợi ích của cộng đồng, của xã hội; nhiều khi mang tính đẳng cấp, thậm chí hà khắc, chuyên chế trong luật tục và pháp luật
1.3 Quyền con người, quyền công dân trong Học thuyết Mác - Lênin
Trang 3QCN gắn với sự tồn tại của con người và là kết tinh của các quá trình sản xuất xã hội của loài người (tồn tại; tái sản sinh con người;lao động; phát triển nhu cầu; phát triển ý thức) Trong khi đánh giá cao giá trị cải tạo xã hội, giải phóng con người của các cuộc cách mạng dân chủ tư sản, chủ nghĩa Mác – Lê-nin cũng chỉ ra những hạn chế của các cuộc cách mạng đó Các nhà tư tưởng mác-xít cho rằng, những giá trị về quyền con người do các cuộc cách mạng dân chủ tư sản đem lại còn mang nặng tính hình thức, thực sự nó chỉ đem lại quyền tự do cho giai cấp tư sản, một bộ phận rất nhỏ trong xã hội, đại bộ phận quần chúng lao động chưa được giải phóng, chủ nghĩa tư bản duy trì sự bất bình đẳng về quyền sở hữu, do đó sự bất bình đẳng về năng lực cá nhân là điều không thể tránh khỏi C Mác cho rằng, con người vừa là sản phẩm của xã hội vừa là sản phẩm của tự nhiên, vì vậy khi xem xét vấn đề quyền con người cần phải đặt vào những hoàn cảnh lịch sử cụ thể và quyền không bao giờ có thể cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hoá (do chế độ kinh tế đó quyết định)
1.4 Quyền con người trong Tư tưởng Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa Mác – Lê-nin và chủ nghĩa yêu nước chân chính Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và quyền con người là sự kết hợp giữa chủ nghĩa nhân đạo xã hội chủ nghĩa với truyền thống yêu nước, thương nòi của dân tộc Việt Nam, giữa lý luận mác-xít và thực tiễn cách mạng Việt Nam Quan điểm trên được Người thể hiện bằng bản Tuyên ngôn
độc lập bất hủ, ngay trong ngày khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa: “Tất
cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng, tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được Trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc…” (Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945) Tuyên ngôn
Độc lập của nước Việt Nam mới năm 1945, không chỉ nhằm công bố với thế giới về
sự ra đời của một quốc gia độc lập, có chủ quyền mà còn là một bản tuyên ngôn về quyền con người của Việt Nam và khẳng định nhân dân Việt Nam quyết tâm đem hết tinh thần và lực lượng để bảo vệ giá trị thiêng liêng đó Tuyên ngôn Độc lập và Cánh mạng Tháng Tám năm 1945 của Việt Nam có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ các dân tộc bị áp bức đứng lên đấu tranh phá tan hệ thống thuộc địa thế giới, thủ tiêu
Trang 4chủ nghĩa thực dân cũ giành độc lập dân tộc từ châu Á, châu Phi đến Mỹ La-tinh thời kỳ giữa thế kỷ XX Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 còn là một đóng góp lớn lao vào tư tưởng nhân quyền của nhân loại Lần đầu tiên, các quyền tự do cá nhân được
mở rộng thành quyền dân tộc, đó là độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và quyền dân tộc tự quyết Những đóng góp đó vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay Kế thừa và phát huy giá trị của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và truyền thống văn hoá dân tộc, quan điểm nhất quán và xuyên suốt về quyền con người của Đảng và Nhà nước ta là giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột, đem lại tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân Đảng và Nhà nước ta khẳng định, con người và quyền con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng Việt Nam Mục tiêu của chúng ta là xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, đóng góp vào cuộc đấu tranh chung vì mục tiêu hoà bình và tiến bộ xã hội của nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới
1.5 Quyền con người là mục tiêu chính của Liên Hiệp Quốc, là trách nhiệm của các quốc gia
- Mục tiêu chính: QCN gắn với an ninh - hòa bình & phát triển để “Xây dựng
một nền văn hóa phổ biến về QCN, nhằm hướng tới tương lai con người có thể làm việc được cùng nhau và đưa nhân quyền, công lý, nhân phẩm đến cho tất cả mọi người”
- Pháp lý quốc tế về bảo vệ QCN: Trong lịch sử, các QCN có thể đã được
diễn tả bằng triết học, chính trị hoặc đạo đức, và được đáp ứng từ phía Nhà nước dân tộc hoặc các tổ chức chính trị - xã hội khác Hiệu quả tác động của nó phụ thuộc vào từng bối cảnh xã hội
+ Với Bộ luật nhân quyền quốc tế, việc bảo đảm QCN không chỉ là vấn đề pháp lý nội bộ của mỗi quốc gia, mà còn là vấn đề pháp lý quốc tế, đòi hỏi các quốc gia khi tham gia các công ước quốc tế, phải có trách nhiệm tuân thủ
- Một số vấn đề QCN trên thế giới: Toàn cầu hóa và “phản toàn cầu hóa” với
QCN; Thương mại, tài chính, kinh doanh quốc tế với QCN; An ninh, hòa bình &
Trang 5phát triển (can thiệp nhân đạo, trách nhiệm bảo vệ; diễn biến hòa bình, hòa bình và phát triển); …
- Một số thách thức trong bảo đảm QCN: Sự khác biệt trong quan điểm về
QCN; tiêu chuẩn kép về nhân quyền; thách thức trong việc giải quyết những QCN (quyền dân tộc, quyền phát triển; quyền về môi trường; bảo đảm quyền cho các nhóm dễ bị tổn thương); các nguy cơ vi phạm QCN (chiến tranh; đói nghèo; bất bình đẳng giới)
- Thực tế và triển vọng của QCN: QCN trở thành ngôn ngữ chung của nhân
loại; được thể chế hóa thành nhiều công ước quốc tế; là chủ đề chính ở các diễn đàn Liên hiệp quốc; thành một nội dung hoạt động chính của cơ chế khu vực
- Trách nhiệm của các quốc gia: Từ quá trình hội nhập quốc tế, trách nhiệm
tham gia vào các thể chế quốc tế và khu vực liên quan đến bảo vệ và thúc đẩy QCN Trách nhiệm ràng buộc đối với các cam kết quốc tế của một quốc gia khi trở thành
thành viên của Liên Hiệp Quốc, của các Công ước quốc tế về QCN
+ Trách nhiệm theo các công ước quốc tế về QCN: Nội luật hóa; tổ chức,
triển khai, thực hiện QCN; giáo dục, tuyên truyền, phổ biến QCN; báo cáo về thực
hiện QCN theo các công ước quốc tế về QCN đã ký kết
+ Trách nhiệm theo cơ chế dựa trên Hiến chương Liên Hiệp Quốc: Tôn
trọng hay nghĩa vụ thụ động: Nhà nước phải kiềm chế, không can thiệp Bảo vệ hay
nghĩa vụ chủ động: Nhà nước phải phải ngăn chặn sự vi phạm Nghị quyết của bên thứ ba; chủ động đưa ra các biện pháp, kế hoạch và xây dựng cơ chế phòng ngừa,
xử lý các hành vi vi phạm QCN Thực hiện hay nghĩa vụ chủ động: Nhà nước phải
có biện pháp hỗ trợ công dân trong thực hiện QCN
1.6 Quyền con người trong chính sách đối ngoại của các nước phương Tây
- Tính đặc thù trong quan niệm của phương Tây về QCN
- Chính sách “Ngoại giao nhân quyền” của Chính phủ Mỹ và một số nước phương Tây về “tiêu chuẩn kép” về Nghị quyết
Trang 6- Coi tư tưởng nhân quyền phương Tây mang tính phổ quát toàn nhân loại, thậm chí cao hơn chủ quyền quốc gia; biểu hiện của chủ nghĩa đế quốc về tư tưởng, văn hóa
1.7 Thực tiễn đổi mới, hội nhập, phát triển đất nước và yêu cầu mới về bảo đảm Quyền con người, Quyền công dân
- Cải thiện các điều kiện kinh tế, xã hội cho việc thúc đẩy bảo đảm QCN trong thực tế Việt Nam tham gia các điều ước nhân quyền: 7/9 công ước cốt lõi
- Thực hiện trách nhiệm quốc gia: Thực hiện các công ước đã tham gia theo cách trực tiếp và gián tiếp; Thực hiện “Kế hoạch tổng thể triển khai thực hiện các khuyến nghị của Việt Nam chấp thuận theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát chu kỳ
II của Hội đồng nhân quyền Liên Hiệp Quốc” theo QĐ số 2057/ QĐ - TTg (23-11-2015); “Đề án đưa nội dung QCN vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân” theo Quyết định số 1309/QĐ-TTg (5/9/2017)
- Từ đầu những năm 1990 đến nay liên tục đối thoại, đấu tranh trên lĩnh vực QCN Nhận thức của Đảng ngày càng rõ, toàn diện: vừa thấy tính phổ quát vừa thấy tính đặc thù; từ đó gắn lý luận với thực tiễn bảo đảm QCN
- Yêu cầu mới đối với bảo đảm QCN: Nhu cầu QCN phát triển và phân hóa;
phát triển KT-XH chưa cao, chưa ổn định; nợ công, nợ xấu cao; phân hóa xã hội, tệ nạn xã hội, đặc biệt tham nhũng điểm nóng về khiếu kiện đông người, tôn giáo, dân tộc; quan hệ với các nước lớn và với thể chế quốc tế và Cộng đồng ASEAN
2 QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG TA VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
Quyền được sống, quyền được mưu cầu hạnh phúc, tự do, bình đẳng… là những quyền cơ bản của con người Quyền con người là thành quả phát triển của lịch sử lâu dài sự nghiệp đấu tranh giải phóng, cải tạo xã hội và cải tạo thiên nhiên của cả nhân loại Trong một thế giới đang toàn cầu hoá hiện nay, quyền con người ở mỗi quốc gia, không kể hoàn cảnh lịch sử, chế độ chính trị - xã hội, kinh tế và văn hoá đều có những giá trị chung giống nhau, không thể chia cắt và phụ thuộc lẫn nhau, đó là tính phổ cập của quyền con người Tuy nhiên, quyền con người còn mang tính đặc thù dân tộc, khu vực và bối cảnh khác nhau về chính trị, lịch sử, văn
Trang 7hoá và tôn giáo Nội dung cơ bản của các quan điểm và chính sách của Đảng ta về Quyền con người là:
1 Đảng và Nhà nước ta khẳng định quyền con người là thành quả và khát
vọng chung của nhân loại Đảng chỉ rõ: “Quyền con người là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài qua các thời đại của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới và cũng là cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên, qua đó, quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại ”. Vì vậy, Đảng và Nhà nước
ta thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ những giá trị cao quý về quyền con người được
thế giới thừa nhận rộng rãi Đảng chỉ đạo “ Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân chính về phẩm giá con người”.
2 Quyền con người thống nhất với quyền dân tộc cơ bản, nhân quyền không được cao hơn chủ quyền Đây là nguyên tắc bất di, bất dịch, xuyên suốt Đảng ta cho rằng, sự nghiệp giải phóng con người, đưa lại các quyền tự do cá nhân gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, cải tạo xã hội cũ Bài học
“nước mất - nhà tan” đã trở thành chân lý của dân tộc Việt Nam được đúc rút qua lịch sử trên 4000 năm dựng nước và giữ nước Qua kinh nghiệm đấu tranh cách mạng, Đảng ta khẳng định rằng, chỉ ở một nước độc lập thực sự, chỉ dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền con người mới được thực thi đầy đủ và có điều kiện để đảm bảo một cách chắc chắn Đấu tranh chống các thế lực thực dân, phong kiến, giành độc lập dân tộc cũng là nhằm giành quyền tự do cho cá nhân Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy rằng, nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập
cũng chẳng có ý nghĩa gì. Chủ quyền quốc gia hay quyền dân tộc tự quyết và quyền
con người tuy là những phạm trù khác nhau nhưng có mối quan hệ mật thiết và thống nhất với nhau Thực thi quyền con người phải dựa trên cơ sở ưu tiên bảo vệ quyền dân tộc tự quyết, chủ quyền quốc gia Nếu dân tộc không được độc lập, chủ quyền quốc gia không được xác lập thì không có quyền con người
3 Giải quyết các vấn đề cụ thể về quyền con người phải kết hợp giữa tính phổ biến và tính đặc thù Thừa nhận tính phổ biến của quyền con người với những
Trang 8giá trị chung của nhân loại, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn nhấn mạnh khi giải quyết vấn đề nhân quyền phải đặt trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể Ngoài những giá trị phổ biến, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia tuỳ theo chế độ chính trị, kinh tế, lịch sử, văn hoá dân tộc, tôn giáo có những giá trị riêng không ai có thể xâm phạm được (nếu nó không đi ngược lại những giá trị chung của nền văn minh nhân loại) Nhà nước ta tôn trọng những giá trị đã được quốc tế thừa nhận, như: Tất cả các quyền con người đều mang tính phổ cập, không thể chia cắt, phụ thuộc lẫn nhau và liên quan đến nhau; trong khi phải luôn ghi nhớ ý nghĩa của tính đặc thù dân tộc, khu
vực và bối cảnh khác nhau về lịch sử, văn hoá và tôn giáo Đảng chỉ đạo: “Nhà nước cần tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, từng bước thể chế hoá nội dung các quyền con người phù hợp với điều kiện cụ thể nước ta và với tiêu chuẩn tiến bộ
về quyền con người đã được quốc tế thừa nhận rộng rãi” Tính phổ biến của quyền con người chỉ có thể được đảm bảo chắc chắn khi tính đến những đặc thù khác nhau
ở mỗi khu vực, trong những điều kiện cụ thể về lịch sử, văn hoá, tôn giáo, chế độ chính trị, chế độ kinh tế
4 Quyền con người mang tính giai cấp Lịch sử đấu tranh giải phóng con người, cải tạo xã hội trong xã hội có giai cấp là lịch sử các cuộc đấu tranh giai cấp Quyền con người là thành quả của các cuộc đấu tranh đó Vì vậy, quyền con người không thể không mang tính giai cấp Chủ nghĩa Mác – Lê-nin và Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản thủ tiêu chế độ người bóc lột người là nhằm đem lại quyền lợi cho toàn thể nhân dân lao động Những người cộng sản không đấu tranh cho riêng giai cấp của mình mà đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng nhân loại Nhân dân Việt Nam thừa nhận những người cộng sản Việt Nam không chỉ là đại biểu trung thành lợi ích giai cấp công nhân mà còn là đại biểu trung thành lợi ích của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam Sau khi Liên
Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ, cục diện thế giới đã có những thay đổi căn bản, chủ nghĩa xã hội lâm vào khủng hoảng, nhưng các mâu thuẫn lớn của thời đại, trong đó mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội vẫn tồn tại và đang diễn ra rất gay gắt Chủ nghĩa đế quốc chưa bao giờ từ bỏ bản chất hiếu chiến, xâm lược và mưu đồ thủ tiêu phong trào cộng sản và công nhân thế giới, ráo
Trang 9riết thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, gây bạo loạn, lật đổ, sử dụng chiêu bài
“dân chủ”, “nhân quyền” hòng loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản ở các nước xã hội chủ nghĩa còn lại Do đó, cuộc đấu tranh vì quyền con người vẫn là cuộc đấu tranh giai cấp gay go, quyết liệt ở cấp độ toàn cầu Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào những người cộng sản không được phép lơ là, mất cảnh giác trước những luận điệu sai trái về quyền con người của chủ nghĩa đế quốc và phản động quốc tế
5 Quyền con người ở Việt Nam được thể hiện trong quyền và nghĩa vụ công dân, thực hiện quyền con người gắn liền với quá trình thực hiện dân chủ hoá xã hội Cương lĩnh của Đảng chỉ rõ, dân chủ gắn liền với công bằng xã hội phải được thể hiện trong thực tế cuộc sống trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội thông qua hoạt động của Nhà nước do nhân dân cử ra và bằng hình thức dân chủ trực tiếp; dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương, phải được thể chế hoá bằng pháp luật
và được pháp luật đảm bảo Quyền con người là sự thống nhất giữa quyền và nghĩa
vụ công dân, giữa quyền, lợi ích cá nhân với quyền và lợi ích cộng đồng Các quyền
và lợi ích của công dân nước ta luôn được gắn với nhau, được quy định trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật Công dân Việt Nam được thực hiện các quyền tự do
cá nhân mà pháp luật không cấm, nhưng quyền tự do cá nhân không được xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người khác và cộng đồng, không được thực hiện các hành vi gây nguy hại đến an ninh quốc gia và trật tự luật pháp xã hội chủ nghĩa
6 Chúng ta chủ trương giải quyết vấn đề quyền con người bằng đối thoại hoà bình và mở rộng hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng, cùng có lợi, đồng thời kiên quyết đấu tranh chống âm mưu và luận điệu lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ
của nước ta Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X chỉ rõ:“Chủ động tham gia cuộc đấu tranh chung vì quyền con người Sẵn sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực có liên quan về vấn đề nhân quyền Kiên quyết làm thất bại âm mưu, hành động xuyên tạc và lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” hòng can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh và ổn định chính trị của Việt Nam”.
Trang 10KẾT LUẬN
Từng là nạn nhân của chủ nghĩa thực dân và phải trả bằng xương, máu trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, nhân dân Việt Nam hiểu hơn bao giờ hết giá trị của độc lập, tự do Đảng và Nhà nước Việt Nam trước sau như một, kiên trì quan điểm giải quyết vấn đề quyền con người trên nguyên tắc nhân quyền không được cao hơn chủ quyền, bảo đảm quyền con người phải căn cứ vào hoàn cảnh kinh tế
-xã hội và truyền thống văn hoá, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng
“dân chủ”, “nhân quyền” để can thiệp vào công việc nội bộ của một quốc gia có chủ quyền
Nhà nước Việt Nam luôn xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước Nhà nước Việt Nam khẳng định con người là trung tâm của các chính sách kinh tế - xã hội, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người
là nhân tố quan trọng cho phát triển bền vững, bảo đảm thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước Mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Việt Nam đều nhằm phấn đấu cho mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, tất cả vì con người và cho con người
Dựa trên quan điểm bảo đảm quyền con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng Việt Nam, nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước đã thực thi nhiều chính sách đảm bảo quyền con người và đã thu được nhiều thành tựu quan trọng, đưa đất nước ta tiến dần đến mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại vì mục tiêu hoà bình và tiến bộ xã hội