Bao gồm các quyền như: quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do đi lại, tự do tôn giáo, tự do lập hội…; các quyền về sức khỏe, quyền giáo dục, quyền về nhà ở, quyền về bảo trợ xã hội
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU:
Quyền con người là thành quả phát triển lâu dài của lịch sử nhân loại, là giá trị chung của các dân tộc Ngày nay, quyền con người được xem là thước
đo sự tiến bộ và trình độ văn minh của các xã hội, không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển và bản sắc văn hóa Với vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi việc đảm bảo tốt hơn quyền con người là mục tiêu hướng tới của mình Trên cơ sở nhận thức pháp
lý ngày càng sâu sắc và thực hiện công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia, Hiến pháp 2013 một lần nữa lại khẳng định việc thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ quyền con người một cách mạnh mẽ, rõ ràng và hiện đại nhất
Trong Bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776, chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh trong trong bản tuyên ngôn độc lập nước ta, được đọc vào
ngày 2/9/1945 trước toàn thế giới: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.
Xuất phát từ những lý do trên, em chọn nội dung “Quan điểm của Đảng
cộng sản Việt Nam về Quyền con người, Quyền công dân” làm bài thu hoạch
kết thúc môn Lý luận và pháp luật về quyền con người
Trang 2B PHẦN NỘI DUNG:
I- KHÁI NIỆM VỀ QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN 1- Khái niệm quyền con người:
Quyền con người là những quyền mà pháp luật cần phải thừa nhận đối với tất cả các thể nhân, đó là quyền tối thiểu mà các cá nhân phải có, những quyền mà các nhà lập pháp không được xâm hại Nhằm mục đích bảo vệ những quyền tự nhiên này của con người những sự xâm phạm của bất kể chủ thể nào, nên xã hội loài người đã phải tạo ra cho mình một thiết chế có trách nhiệm đảm bảo những quyền này được gọi là nhà nước
Văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người do Liên Hiệp Quốc ban hành, đó là Tuyên ngôn toàn cầu về nhân quyền (UDHR), Công ước quốc tế
về quyền dân sự - chính trị (ICCPR), và Công ước quốc tế về quyền kinh tế,
xã hội và văn hóa đã liệt kê một loạt các quyền được xem là quyền con người Bao gồm các quyền như: quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do đi lại,
tự do tôn giáo, tự do lập hội…; các quyền về sức khỏe, quyền giáo dục, quyền
về nhà ở, quyền về bảo trợ xã hội…
2- Khái niệm Quyền công dân:
Quan hệ giữa Nhà nước và các cá nhân sống trên lãnh thổ là mối quan hệ nền tảng trong mỗi quốc gia Quan hệ đó thể hiện trong các quyền và nghĩa vụ được quy định tạo thành địa vị pháp lý của cá nhân Địa vị pháp lý này nhiều,
ít tùy thuộc vào tính chất của Nhà nước (quân chủ chuyên chế, dân chủ tư sản hay dân chủ xã hội chủ nghĩa) và vào tính công dân của người đó (là công dân, người không quốc tịch hay người nước ngoài) Do đó việc xác định tính công dân (quốc tịch) của một cá nhân là một yếu tố trong việc quy định địa vị pháp lý của cá nhân
Công dân là bộ phận dân cư chủ yếu của một Nhà nước bao gồm những người được xác định lệ thuộc pháp lý đối với Nhà nước đó Người là công dân của Nhà nước sở tại thì được hưởng đầy đủ những quyền và lợi ích tương xứng và đồng thời phải gánh vác những nghĩa vụ do Nhà nước quy định Những cá nhân không phải là công dân thì chỉ được hưởng một số quyền lợi
Trang 3và gánh vác những nghĩa vụ không đầy đủ so với những người là công dân theo quy định của pháp luật nước sở tại và các hiệp ước được ký kết hoặc phê chuẩn Khái niệm công dân được gắn liền với khái niệm quốc tịch, ai là công dân của Nhà nước nào thì có quốc tịch của nước đó Khái niệm quốc tịch được dùng để phân biệt công dân của một nước với công dân của nước khác
và với người không phải là công dân của bất cứ quốc gia nào trên thế giới
3- Mối quan hệ giữa quyền con người, quyền công dân:
Quyền con người và quyền công dân là những khái niệm không đồng nhất xét về mặt chủ thể lẫn nội dung Quyền con người là khái niệm rộng hơn, mặt khác, quyền con người không loại trừ quyền công dân, mặt khác cũng không thể thay thế được khái niệm đó Ngược lại khái niệm quyền công dân cũng không thể chứa đựng hết khái niệm quyền con người Trong ý nghĩa pháp lý, khái niệm quyền công dân hẹp hơn, không bao quát tất cả các quyền của cá nhân con người được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ bằng pháp luật trong nước cũng như quốc tế Về phương diện chủ thể, quyền con người ngoài
cá nhân được xác định là công dân còn bao hàm cả những người không phải
là công dân (người nước ngoài, người không quốc tịch…) Những người này tuy không được hưởng quyền công dân nhưng vẫn được hưởng các quyền con người với tính cách là một thực thể tự nhiên - xã hội
II QUANN ĐIỂM VỀ QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN
Ở VIỆT NAM:
Ở Việt Nam, quan điểm về các quyền và tự do cơ bản của con người dược hình thành và phát triển cùng với quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc và việc thực hiện, bảo vệ quyền con người cũng gắn với những trình độ phát triển khác nhau của đất nước qua các thời kỳ lịch sử
Đặc điểm lịch sử nổi bật nhất của dân tộc Việt Nam là trong suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta thường xuyên phải đương đầu với các cuộc đấu tranh chống thiên tai và chống giặc ngoại xâm Cũng vì vậy
mà quyền con người gắn với quyền độc lập dân tộc đã trở thành một quan
Trang 4điểm nhất quán trong lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam, mà biểu hiện rõ ràng nhất là ở ba bản Tuyên ngôn độc lập của dân tộc
- Bản tuyên ngôn độc lập thứ nhất: Ngay từ thế kỷ XI (năm 1077) tư
tưởng chính trị căn bản trên nguyên tắc giữ vững nền độc lập và chủ quyền của đất nước đã được thể hiện một cách sâu sắc qua bài thơ thần hủ mà người anh hùng Lý Thường Kiệt chống quân Tổng trên phòng tuyến sông Như
Nguyệt: “Sông núi nước Nam vua Nam ở/ Rành rành định phận ở sách trời/
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm/ Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời” Tư tưởng chủ
đạo của bài thơ là khẳng định quyền tự chủ của dân tộc và quyết tâm giữ vững nền tự chủ ấy Bài thơ có giá trị như một bản Tuyên ngôn độc lập, đã đem lại niềm tin sắt đá vào thắng lợi của cuộc chiến tranh chống xâm lược, vào tiền
đồ phát triển lâu dài của đất nước, chừng nào dân tộc còn bị kẻ thù xâm lược, thôn tính thì chừng đó các quyền và phẩm giá của mỗi cá nhân cũng bị chà đạp, vùi dập
- Bản tuyên ngôn độc lập lần thứ 2: Đến thế kỷ XV, sau cuộc kháng
chiến chống quân xâm lược nhà Minh kết thúc thắng lợi, Nguyễn Trãi – người anh hùng dân tộc, người cùng Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa Lam Sơn đã viết Bình Ngô đại cáo – bản Tuyên ngôn độc lập lần thứ hai trong lịch sử dân tộc Việt Nam để nêu cao tinh thần độc lập tự chủ của dân tộc và khẳng định đanh thép quyền được sống, được tồn tại trong thái bình, thịnh vượng của người
dân Việt: “Như nước Đại Việt ta từ trước,/ Vốn xưng nền văn hiến đã lâu/ Núi sông bờ cõi đã chia/ Phong tục Bắc Nam cũng khác./ Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần, bao đời gây nền độc lập/ Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương/ Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau/ Song hào kiệt đời nào cũng có” Một lần nữa quan điểm quyền con người gắn với quyền dân tộc
lại được khẳng định
- Bản tuyên ngôn độc lập lần thứ 3: Tiếp nối truyền thống hào hùng
của ông cha, sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 02/9/1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt chính phủ
và toàn thể nhân dân Việt Nam trịnh trong tuyên bố với thế giới bản Tuyên
Trang 5ngôn độc lập lần thứ ba trong lịch sử dân tộc Việt Nam Người long trọng tuyên bố: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” Cách suy luận biện chứng của người cho thấy nếu như quyền của mỗi con người là lẽ tự nhiên thì quyền của mỗi dân tộc cũng là lẽ tự nhiên
Như vậy, từ các bản Tuyên ngôn độc lập của ông cha trong lịch sử đến bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, quan điểm gắn quyền con người với quyền độc lập dân tộc được khẳng định một cách nhất quán, rõ nét, đanh thép
Kế thừa truyền thống của ông cha, tiếp thu tư tưởng nhân quyền tiến bộ của nhân loại, thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về quyền con người, Đảng ta hiện nay xác định một trong những quan điểm chỉ đạo xuyên suốt cho việc xây dựng chính sách bảo vệ và thực hiện quyền con người ở Việt Nam là bảo vệ và thực hiện quyền con người không thể tách rời bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia Thực tiễn lịch sử nhân loại cũng cho thấy một dân tộc không có chủ quyền thì ở đó không thể có quyền con người tự do, dân chủ, bình đẳng, hạnh phúc
III QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỀ QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN:
Nước Việt Nam đã cụ thể hóa các quyền con người trong hệ thống pháp luật quốc gia, đặc biệt là trong Hiến pháp năm 2013 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về quyền con người, quyền công dân được trong giai đoạn hiện nay được thể hiện và bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền con người trên các lĩnh vực Ban bí thư trung ương Đảng khóa XII vừa ban hành thông báo kết luận tiếp tục thực hiện chỉ thị 44CT/TWM, ngày 20 tháng 7 năm 2010 của Ban bí thư khóa X về công tác nhân quyền trong tình hình mới
1- Đảng ta đã gắn nhận định về tình hình thế giới, khu vực và thực tiễn
của thời đại để xác định mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ đối ngoại trong những năm tới Trong 5 năm tới, tình hình thế giới và khu vực sẽ còn nhiều diễn biến rất phức tạp, tác động trực tiếp đến nước ta, tạo ra cả thời cơ và thách thức
Trang 6Hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có khu vực Đông Nam Á đã trở thành một cộng đồng, là trung tâm phát triển năng động nhưng cũng là khu vực cạnh tranh chiến lược giữa một số nước lớn Đây cũng là khu vực có nhiều nhân tố bất ổn định, tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo trên Biển Đông còn diễn ra gay gắt Các nước lớn đang điều chỉnh chiến lược, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa cạnh tranh đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau, tác động mạnh đến tình hình thế giới và khu vực Ở trong nước, thế và lực, sức mạnh tổng hợp của đất nước tăng lên, uy tín quốc tế của đất nước ngày càng được nâng cao; tuy nhiên vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức Nhận thức của Đảng ta về tình hình thế giới, tình hình khu vực cũng luôn đổi mới và sát thực tiễn trong giai đoạn mới, đây là một trong những cơ sở trực tiếp để Đảng ta đưa ra quyết sách về đường lối đối ngoại cho phù hợp trong những năm tới Đảng ta đã nhận định: “Nhận thức đúng về xu thế của thời đại và cục diện thế giới, khu vực, Đảng, Nhà nước đã có định hướng chỉ đạo và các chính sách đúng đắn, kịp thời trên cơ sở lợi ích quốc gia - dân tộc”
2- Đại hội XII của Đảng đã đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động đối
ngoại, chủ động hội nhập quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình và tạo điều thuận lợi để phát triển đất nước Đảng ta xác định đây là một trong những giải pháp quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 – 2020; đồng thời là
sự thể hiện nhận thức, đánh giá của Đảng ta về vai trò to lớn của công tác đối ngoại trong tình hình mới Nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tiếp tục đưa các mối quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu Triển khai mạnh mẽ định hướng chiến lược chủ động và tích cực hội nhập quốc tế Nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới trong một kế hoạch tổng thể với lộ trình hợp lý, phù hợp với lợi ích của đất nước Chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng và an ninh… Công tác đối ngoại được đẩy mạnh sẽ tạo môi trường quốc tế thuận lợi, hòa bình, thiết thực góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Trang 73- Về mục tiêu và nhiệm vụ của đối ngoại, Đảng ta đã xác định trong
văn kiện Đại hội XII: mục tiêu tối thượng là bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế nhằm “phục vụ mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài
để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân; nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới” Sự đúng đắn trong quan điểm chỉ đạo của Đảng thể hiện ở việc xác định mục tiêu, nhiệm vụ đối ngoại là bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc là một trong những vấn đề quan trọng nhất “Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển Trên cơ sở vừa hợp tác, vừa đấu tranh, hoạt động đối ngoại nhằm phục vụ mục tiêu giữ vững hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước”
Hiện nay trên thế giới, tất cả các nước đều coi trọng lợi ích quốc gia khi thực thi chính sách đối ngoại Đối với nước ta, xác định đường lối đối ngoại
mà đặt lợi ích quốc gia - dân tộc là mục tiêu hàng đầu là vừa phù hợp với xu thế chung, vừa là ý Đảng lòng Dân và tạo sự đồng thuận cao trong xã hội
4- Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định phương châm và định
hướng lớn của hoạt động đối ngoại là “Đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế” Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác chiến lược và các nước lớn có vai trò quan trọng đối với phát triển và an sinh của đất nước, đưa khuôn khổ quan hệ đã xác lập vào thực chất Chủ động tham gia và phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN và Liên hợp quốc Chủ
Trang 8động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh… Triển khai đồng bộ hoạt động đối ngoại, cả về chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, văn hóa, xã hội Nâng cao chất lượng công tác tham mưu về đối ngoại
và hội nhập quốc tế Tăng cường công tác thông tin đối ngoại, hội nhập quốc
tế, tạo đồng thuận trong nước và tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ đất nước
5- Đảng lãnh đạo thống nhất, Nhà nước quản lý tập trung đối với các
hoạt động đối ngoại tạo nên diện mạo đa dạng với nội dung và hình thức phong phú của đối ngoại Việt Nam trong tình hình mới “Bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại Phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân; giữa ngoại chính trị với ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hóa; giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh” Trong mỗi kỳ Đại hội, Đảng ta đều có nghị quyết lãnh đạo, định hướng để tạo nên sự nhất quán và tiếp tục thực hiện hoạt động đối ngoại Kết luận số 73 của Bộ Chính trị khóa XI về “Tăng cường quan hệ đối ngoại của Đảng trong tình hình mới”, hoạt động đối ngoại Đảng tiếp tục được triển khai chủ động, tích cực, đa dạng, đa tầng nấc từ Trung ương đến địa phương, cả kênh song phương và đa phương trong tình hình mới, tập trung vào một số trọng tâm lớn: phát huy vai trò chính trị, ngoại giao kênh Đảng, tiếp tục tạo nền tảng chính trị vững chắc cho sự phát triển bền vững, đi vào chiều sâu, thực chất quan hệ giữa nước ta với nước khác, nhất là các nước láng giềng có chung biên giới, các nước đối tác lớn đã góp phần nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại
6- Đảng ta rất chú trọng hoạt động đối ngoại với các Đảng anh em, góp
phần định hướng, giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quan hệ giữa Việt Nam với một số nước, nhất là các nước láng giềng Trong thời điểm khó khăn, quan hệ ngoại giao giữa Đảng ta với các Đảng anh em đã góp phần hiệu quả tháo gỡ vướng mắc, khai thông bế tắc, giữ nhịp cho quan hệ nhà nước và tổng thể quan hệ chung phát triển ổn định, lành mạnh, đúng hướng Trong đó, chủ động mở rộng và tăng cường quan hệ đối ngoại Đảng, đưa các mối quan hệ đi
Trang 9vào chiều sâu, hiệu quả, thiết thực Chú trọng tới khâu đột phá là quan hệ với các đảng cầm quyền, tham chính, và những đảng có vị trí và vai trò quan trọng trong việc hình thành và triển khai chính sách của các nước đối với Việt Nam Đồng thời, thông qua kênh quan hệ Đảng, góp phần củng cố đoàn kết nội khối, phát huy vai trò trung tâm, dẫn dắt của ASEAN trong khu vực, đóng góp tích cực vào quá trình xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh Chủ động, tích cực tham gia có hiệu quả cao vào các hoạt động đa phương chính đảng, theo đó phát huy mạnh mẽ vai trò của Đảng ta tại Hội nghị quốc tế các chính đảng Châu Á (ICAPP), các hội nghị, hội thảo của các chính đảng ở các khu vực, nhằm tranh thủ sự ủng hộ của các chính đảng, các lực lượng chính trị đối với công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước, bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ, đồng thời góp phần vào phong trào tiến bộ trên thế giới
Sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô (cũ) và Đông Âu sụp đổ, phong trào cộng sản quốc tế khủng hoảng trầm trọng, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào, thì chủ trương củng cố và tăng cường tình đoàn kết, hợp tác với các Đảng Cộng sản, cánh tả và phong trào cách mạng, tiến bộ trên thế giới, thể hiện lập trường kiên định trước sau như một của Đảng ta cũng chính
là tình cảm, là nghĩa vụ và trách nhiệm của một Đảng mácxít trong điều kiện hiện nay Trong bối cảnh quốc tế toàn cầu hoá, việc Đảng ta đoàn kết, củng cố
và tăng cường quan hệ, trao đổi kinh nghiệm và hợp tác mọi mặt với các chính đảng này chính là thực hiện chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân trong tình hình mới Điều này không chỉ vì lợi ích kinh tế đơn thuần mà còn
có ý nghĩa rất quan trọng về mặt chính trị và an ninh cho chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đồng thời cũng góp phần thúc đẩy phong trào cộng sản và cách mạng trên thế giới
Việc khẳng định tiếp tục mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền và các đảng khác thể hiện tư duy đối ngoại linh hoạt, mềm dẻo, sáng tạo cần thiết của Đảng Cộng sản Việt Nam Mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền ở các nước nhằm trao đổi kinh nghiệm lãnh đạo và quản lý đất nước, góp phần thúc đẩy quan hệ mọi mặt giữa nước ta với nước mà đảng đó cầm quyền đã
Trang 10góp phần nâng cao vị thế uy tín của Việt Nam trên các diễn đàn đa phương Đương nhiên, trong quan hệ với các đảng cầm quyền trên thế giới chúng ta cũng xác định rõ các nguyên tắc: độc lập tự chủ; bình đẳng; tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; cùng nhau thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hợp tác, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển
và tiến bộ; và Đảng ta không quan hệ với các đảng, các tổ chức cực đoan