TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT QUỐC TẾ BUỔI THẢO LUẬN THỨ TƯ MÔN LUẬT HÌNH SỰ PHẦN CHUNG CỤM 2 TỘI PHẠM VÀ CẤU THÀNH TỘI PHẠM GIẢNG VIÊN ThS KIM NGUYỄN HỒNG MINH DANH SÁCH NHÓ.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT QUỐC TẾ
- -
BUỔI THẢO LUẬN THỨ TƯ
MÔN: LUẬT HÌNH SỰ PHẦN CHUNG CỤM 2: TỘI PHẠM VÀ CẤU THÀNH TỘI PHẠM GIẢNG VIÊN: ThS KIM NGUYỄN HỒNG MINH
DANH SÁCH NHÓM 5
1 Nguyễn Thị Thanh Nga 2153801015155
2 Đỗ Nguyễn Khánh Ngân 2153801015157
4 Nguyễn Minh Nghĩa 2153801015170
5 Nguyễn Liễu Quỳnh Như 2153801015199 Nhóm trưởng
6 Nguyễn Thị Ngọc Quyền 2153801015212
7 Bùi Đặng Minh Tâm 2153801015218
Trang 2NHẬN ĐỊNH
1 Hậu quả của tội phạm là dấu hiệu luôn được quy định trong cấu thành tội phạm cơ bản
Nhận định sai
- Ví dụ 1:
Cơ sở pháp lý: khoản 1 Điều 123 BLHS
Cấu thành tội phạm cơ bản trong Điều luật này có quy định về hậu quả, đó là “gây thiệt hại về thể chất”
- Ví dụ 2:
Cơ sở pháp lý: khoản 1 Điều 168 BLHS
Cấu thành tội phạm cơ bản trong Điều luật này không có quy định về hậu quả, hay nói cách khác “hậu quả” không phải là yếu tố bắt buộc đối với cấu thành tội phạm cơ bản của chế định “Tội cướp tài sản”
Như vậy, hậu quả của tội phạm không luôn luôn là dấu hiệu được quy định trong cấu thành tội phạm cơ bản
2 Người mắc bệnh tâm thần thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS thì không phải chịu trách nhiệm hình sự
Nhận định sai
Cơ sở pháp lý: Điều 21 BLHS 2015
Theo quy định của Điều luật này thì người mắc bệnh tâm thần chỉ là điều kiện cần để loại trừ trách nhiệm hình sự Chỉ khi một người mắc bệnh tâm thần dẫn đến mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi trong khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho
xã hội (điều kiện đủ) thì mới không phải chịu trách nhiệm hình sự
3 Người 15 tuổi thực hiện hành vi được quy định tại khoản 2 Điều 128 BLHS thì không phải chịu trách nhiệm hình sự
Nhận định đúng
Cơ sở pháp lý: Khoản 2 Điều 12 BLHS 2015
Vì theo khoản 2 Điều 12 không quy định người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự khi thực hiện hành vi được quy định tại khoản 2 Điều 128 BLHS
4 Người bị cưỡng bức về tinh thần thì không phải chịu trách nhiệm hình sự về
xử sự gây thiệt hại cho xã hội được quy định trong BLHS
Trang 3Nhận định sai
Cơ sở pháp lý: Điều 23, Điều 25, Điểm k khoản 1 Điều 51 BLHS 2015
Trường hợp người bị cưỡng bức hoàn toàn bị tê liệt về ý chí, không còn cách nào khác, buộc phải hành động theo ý muốn của kẻ cưỡng bức thì không phải chịu trách nhiệm hình sự Hay trường hợp bị cưỡng bức về tinh thần để phạm tội trong một tình thế cấp thiết thì sẽ không bị coi là tội phạm theo Điều 23 BLHS 2015
Tuy nhiên, nếu sự cưỡng bức chưa tới mức làm cho người bị cưỡng bức tê liệt ý chí thì người bị cưỡng bức phải chịu trách nhiệm hình sự
Ngoài ra theo quy định tại điểm k khoản 1 Điều 51 BLHS 2015, phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức chỉ là một trong các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự
Điều 25 BLHS 2015 cũng không đề cập đến việc bị cưỡng bức về tinh thần dẫn đến việc phạm tội thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của Luật hình sự
Như vậy, trong một số trường hợp người bị cưỡng bức về tinh thần phải chịu trách nhiệm hình sự về xử sự gây thiệt hại cho xã hội được quy định trong BLHS
5 Tuổi chịu trách nhiệm hình sự là tiền đề để xác định lỗi của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
Nhận định đúng
Hành vi gây thiệt hại cho xã hội bị coi là có lỗi nếu hành vi đó là kết quả của sự lựa chọn khi có đủ điều kiện chủ quan và khách quan để lựa chọn thực hiện xử sự phù hợp với đòi hỏi của xã hội Trong đó, điều kiện chủ quan gồm tuổi chịu trách nhiệm hình sự và năng lực trách nhiệm hình sự
BÀI TẬP
Bài tập 1
Ngày 14/2, khi đang đi xe máy trên đường thì A phát hiện chị X có đeo sợi dây chuyền trên cổ nên A nảy sinh ý định chiếm đoạt A chạy xe đến gần chị X và nhanh tay giật sợi dây chuyền trên cổ chị X rồi bỏ chạy Do bị giật bất ngờ nên chị X bị mất thăng bằng, té đập đầu xuống đất dẫn đến chấn thương sọ não và tử vong
(Biết rằng: Hành vi cướp giật tài sản nêu trên thuộc trường hợp được quy định tại khoản 4 Điều 171 BLHS)
Anh (chị) hãy xác định:
1 Đối tượng tác động của hành vi phạm tội do A thực hiện?
Đối tượng tác động của hành vi phạm tội do A thực hiện: sợi dây chuyền
Trang 4Vì: Đối với “Tội cướp giật tài sản” thì đối tượng tác động là tài sản bị cướp; hành vi của A xâm hại quyền sở hữu chiếc dây chuyền của chị X
2 Hành vi của A đã xâm phạm đến khách thể trực tiếp nào?
Hành vi của A đã xâm phạm đến khách thể trực tiếp là quan hệ sở hữu tài sản của X
3 Loại hậu quả của hành vi phạm tội do A thực hiện?
Loại hậu quả của hành vi phạm tội do A thực hiện là:
- Thiệt hại về vật chất: Sợi dây chuyền
- Thiệt hại về thể chất: Làm chị X chấn thương sọ não và tử vong
4 Thái độ tâm lý đối với hành vi cướp giật tài sản và gây ra cái chết cho nạn nhân của A trong vụ án này có phải trường hợp “hỗn hợp lỗi” hay không? Tại sao?
Đây là trường hợp hỗn hợp lỗi (lỗi cố ý đối với hành vi cướp giật tài sản và lỗi vô ý đối với hậu quả chết người)
Bài tập 2
Trong một lần đi chơi, A (học sinh lớp 9 Trường THCST) nảy sinh tình cảm với B,
cô nữ sinh lớp 8 của một trường khác Trong thời gian quen nhau, nhiều lần nghe B
kể X là người yêu cũ của B hay nhắn tin với cô để mong nối lại tình cảm Do ghen tuông, A quyết định tìm X đánh dằn mặt Trước khi đi, A chuẩn bị một con dao nhọn Đến trước cổng trường của bạn gái, do không biết mặt của X nên khi thấy một nam sinh lớp 10 cùng B đi ngang qua, A nghĩ là X nên xông vào đánh và rút dao đâm hai nhát ngay tim làm nạn nhân chết tại chỗ Tuy nhiên, nạn nhân không phải là X
(Biết rằng hành vi của A cấu thành tội giết người tại khoản 2 Điều 123 BLHS) Anh (chị) hãy xác định:
1 Đối tượng tác động và khách thể bị xâm phạm trong vụ án trên
- Đối tượng tác động trong vụ án là con người (nam sinh lớp 10 đi cùng B)
- Khách thể bị xâm phạm trong vụ án này là quan hệ nhân thân (quyền được bảo vệ tính mạng của con người)
2 Trong trường hợp trên có sai lầm thực tế hay không: Nếu có, thì đó là sai lầm nào? Tại sao?
Trong trường hợp trên có sai lầm thực tế về đối tượng
Tai vì nam sinh A (lớp 9) vi ghen tuông đã lao vào đánh và đâm hai nhát dao vào tim làm nam sinh lop 10 chết tại chỗ nhưng nam sinh lớp 10 không phải là khách thể mà ban đầu nam sinh A định ra tay (nam sinh X)
Trang 53 Quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm trong vụ án này thuộc dạng nào? Tại sao?
Quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm trong vụ án này thuộc dạng quan hệ đơn trực tiếp
Ở đây chỉ có một hành vi trái pháp luật là việc A đã xông ra đánh và rút dao đâm hai nhát ngay tim nam sinh lớp 10 và đây là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả nguy hiểm đó là làm nạn nhân chết ngay tại chỗ
Bài tập 3
Vì muốn giết người có bất đồng với mình, A đã nghiên cứu lịch và nơi sinh hoạt của
B A quan sát thấy trên giường B thường nằm có người đang ngủ A lẻn vào nhà dùng dao găm đâm nhiều nhát liên tiếp, nhưng không thấy B phản ứng Giám định pháp y xác định B đã chết trước đó vì một cơn đau tim
Anh (chị) hãy xác định: Đây là loại sai lầm nào? A có phải chịu trách nhiệm hình
sự về hành vi của mình hay không? Tại sao?
Đây là sai lầm về quan hệ nhân quả
A vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mà A có ý định thực hiện
A sai lầm trong việc đánh giá sự phát triển của hành vi mà mình thực hiện Lẽ ra, hành vi của A phải xảy ra trước hậu quả (B chết), nhưng trường hợp này B đã chết trước khi A hành động Tuy nhiên, hậu quả B chết sẽ là kết quả tất yếu của hành vi
mà A thực hiện Do đó, A vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội giết người quy định tại Điều 123 BLHS