Ảnh hưởng của mức năng lượng, protein và axit amin trong khẩu phần ăn của lợn cái hậu bị đến năng suất sinh sản .... Ảnh hưởng của tỷ lệ lysine tiêu hóa/ME trong khẩu phần đến năng suất
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trı̀nh nghiên cứu của riêng tôi Các số liê ̣u, kết quả
nêu trong luâ ̣n văn là trung thực, khách quan và chưa từng công bố trong bất kı̀ công trı̀nh nào khác
Tôi xin cam đoan các thông tin trı́ch dẫn trong luâ ̣n văn đều đã được làm rõ
nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Lê Thị Tâm
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp hoàn thành luận văn, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS Trần Thị Bích Ngọc, Bộ môn Dinh dưỡng và Thức ăn Chăn nuôi - Viện Chăn Nuôi; thầy giáo PGS.TS Phạm Kim Đăng, Bộ môn Sinh lý và tập tính động vật khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo tận tình tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong Bộ môn Sinh
lý và tập tính động vật, các thầy cô trong khoa Chăn nuôi đã giúp đỡ và đóng góp nhiều
ý kiến quý báu trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
Lời cảm ơn chân thành của tôi xin được gửi tới các bác, các cô, các chú trong trại lợn giống ngoại tại Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, trại lợn Ba Vì, Hà Nội đã hợp tác và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới, gia đình cùng bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ động viên tôi trong suốt thời gian qua
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Lê Thị Tâm
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục biểu đồ viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Tình hình chăn nuôi lợn nái ngoại ở Việt Nam 3
2.2 Nhu cầu năng lượng và protein của lợn 4
2.3 Ảnh hưởng của mức năng lượng, protein và axit amin trong khẩu phần ăn của lợn cái hậu bị đến năng suất sinh sản 13
2.4 Ảnh hưởng của chế độ ăn của lợn cái hậu bị đến năng suất sinh sản 17
2.5 Ảnh hưởng của lysine đến mức ăn của lợn nái 18
2.6 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 19
Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 25
3.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 25
3.2 Nội dung nghiên cứu 25
3.3 Phương pháp nghiên cứu 25
Phần 4 Kết quả và thảo luận 30
4.1 Thực trạng tình hình chăn nuôi lợn nái ngoại sinh sản tại một số tỉnh ở Việt Nam 30
4.1.1 Nguồn nhân lực ở các trang trại chăn nuôi nái ngoại được điều tra 30
4.1.2 Loại hình, quy mô và cơ cấu đàn lợn sinh sản ở các trang trại điều tra 31
4.1.3 Chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái nuôi con và lợn con của các trang trại điều tra 37
Trang 54.1.4 Năng suất sinh sản của lợn nái lai Landrace và Yorkshire 40
4.2 Ảnh hưởng của tỷ lệ lysine tiêu hóa/ME trong khẩu phần đến chăn nuôi nuôi lợn nái lai giữa landrace và yorkshire ở giai đoạn nuôi con trong điều kiện chuồng kín và chuồng hở 43
4.2.1 Ảnh hưởng của tỷ lệ lysine tiêu hóa/ME trong khẩu phần đến năng suất sinh sản và hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn nái nuôi con 43
4.2.2 Ảnh hưởng của tỷ lệ lysine tiêu hóa/ME trong khẩu phần đến thay đổi khối lượng và thời gian động dục trở lại của lợn nái nuôi con 51
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 57
5.1 Kết luận 57
5.2 Kiến nghị 57
Tài liê ̣u tham khảo 58
Phụ lục 66
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
CCS Số con cai sữa
CĐ Chế độ CSS Số con sơ sinh CSSS Số con sơ sinh còn sống
TTTA Tiêu tốn thức ăn
Y Yorkshire
YL (Yorkshire x Landrace)
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Số lượng lợn và sản lượng thịt lợn hơi của Việt Nam giai đoạn
2014 - 2017 3
Bảng 2.2 Cơ cấu đàn nái trong tổng đàn giai đoạn 2006 - 2014 4
Bảng 2.3 Mức năng lượng cần bổ sung cho lợn con 5
Bảng 2.4 Nhu cầu protein và axit amin lợn con 11
Bảng 2.5 Ảnh hưởng của mức ăn trước kỳ động dục tới số lượng trứng rụng 14
Bảng 2.6 Ảnh hưởng mức ăn trước thời kỳ động dục tới số lượng trứng rụng 15
Bảng 3.1 Danh sách tỉnh-huyện lựa chọn cho nghiên cứu thực địa 26
Bảng 3.2 Sơ đồ thiết kế thí nghiệm 27
Bảng 3.3 Thành phần nguyên liệu, hóa học và giá trị dinh dưỡng của khẩu phần thí nghiệm 28
Bảng 4.1 Tình hình nguồn nhân lực ở các trang trại nuôi lợn nái ngoại được điều tra 30
Bảng 4.2 Quy mô và cơ cấu chăn nuôi lợn của các trang trại điều tra (con) 32
Bảng 4.3 Quy mô và cơ cấu đàn lợn ở trang trại phân theo mục đích nuôi (con) 34
Bảng 4.4 Quy mô và cơ cấu đàn lợn ở trang trại phân theo kiểu chuồng nuôi (con) 36
Bảng 4.5 Cơ cấu giống lợn sinh sản phân theo miền (%) 37
Bảng 4.6 Tình hình sử dụng thức ăn và phương thức nuôi dưỡng lợn nái nuôi con ở Thái Nguyên, Thanh Hóa và Đồng Nai 38
Bảng 4.7 Chất lượng thức ăn hỗn hợp dùng cho lợn nái đẻ ở các trang trại
điều tra 39
Bảng 4.8 Năng suất sinh sản của lợn nái lai Landrace và Yorkshire ở 3 tỉnh Thái Nguyên, Thanh Hoá và Đồng nai 41
Bảng 4.9 Ảnh hưởng của tỷ lệ lysine tiêu hóa/ME trong khẩu phần đến năng suất sinh sản của lợn nái nuôi con trong điều kiện chuồng hở 44
Bảng 4.10 Ảnh hưởng của tỷ lệ lysine tiêu hóa/ME trong khẩu phần đến năng suất sinh sản của lợn nái nuôi con trong điều kiện chuồng kín 45
Bảng 4.11 Ảnh hưởng của tỷ lệ lysine tiêu hóa/ME trong khẩu phần đến hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn nái nuôi con trong điều kiện chuồng hở 48
Trang 8Bảng 4.12 Ảnh hưởng của tỷ lệ lysine tiêu hóa/ME trong khẩu phần đến hiệu quả
sử dụng thức ăn của lợn nái nuôi con trong điều kiện chuồng kín 48 Bảng 4.13 Ảnh hưởng của tỷ lệ lysine tiêu hóa/ME trong khẩu phần đến thay đổi
khối lượng và thời gian động dục trở lại của lợn nái nuôi con trong điều kiện chuồng hở 52 Bảng 4.14 Ảnh hưởng của tỷ lệ lysine tiêu hóa/ME trong khu phần đến thay đổi
khối lượng và thời gian động dục trở lại của lợn nái nuôi con trong điều kiện chuồng kín 53
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Lao động thường xuyên trung bình của các tỉnh điều tra 31 Biểu đồ 4.2 Tổng đàn lợn, tổng đàn lợn nái và lợn thịt của ba tỉnh điều tra 33 Biểu đồ 4.3 Quy mô của lợn nái và lợn con theo mẹ phân theo mục đích 35 Biểu đồ 4.4 tuổi động dục và tuổi phối giống lần đầu của lợn cái lai Landrace
và Yorkshire ở 3 tỉnh Thái Nguyên, Thanh Hoá và Đồng nai 42 Biểu đồ 4.5 Số con cai sữa còn sống/ổ và số con cai sữa/nái/năm của lợn nái lai
Landrace và Yorkshire ở 3 tỉnh Thái Nguyên, Thanh Hoá và Đồng nai 42 Biểu đồ 4.6 Tuổi cai sữa trung bình của lợn nái lai Landrace và Yorkshire ở 3
tỉnh Thái Nguyên, Thanh Hoá và Đồng nai 43 Biểu đồ 4.7 Khối lượng lợn con cai sữa (kg/con) trong điều kiện chuồng hở và
chuồng kín 45 Biểu đồ 4.8 Tăng khối lượng hàng ngày của lợn con theo mẹ (g/con/ngày)
trong điều kiện chuồng hở và chuồng kín 46 Biểu đồ 4.9 Lượng lysine thu nhận hàng ngày của lợn nái nuôi con trong điều
kiện chuồng hở và chuồng kín 49 Biểu đồ 4.10 Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg lợn con cai sữa trong điều kiện chuồng
hở và chuồng kín 49 Biểu đồ 4.11 Thức ăn thu của lợn nái trong điều kiện chuồng hở và chuồng kín 50 Biểu đồ 4.12 Hao hụt khối lượng của lợn nái trong giai đoạn nuôi con ở điều
kiện chuồng hở và kín 55 Biểu đồ 4.13 Tỷ lệ hao hụt khối lượng của lợn nái trong giai đoạn nuôi con ở
điều kiện chuồng hở và kín 56
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Lê Thị Tâm Tên luận văn: Nghiên cứu khẩu phần ăn phù hợp cho lợn nái lai giữa Landrace và
Yorkshire ở giai đoạn nuôi con trong điều kiện chuồng kín và chuồng hở
Ngành: Chăn nuôi Mã số: 8 62 01 05 Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu
Xác định được khẩu phần ăn phù hợp cho lợn nái lai giữa Landrace và Yorkshire
ở giai đoạn nuôi con trong điều kiện chuồng kín và chuồng hở
Phương pháp nghiên cứu
Tình hình chăn nuôi lợn nái sinh sản đã được đánh giá thông qua điều tra, phỏng vấn theo bộ câu hỏi được thiết lập sẵn 59 trang trại chăn nuôi lợn giống ngoại đại diện cho các cơ sở chăn nuôi quy mô của ba tỉnh đại diện cho ba miền (Thái Nguyên đại diện cho miền Bắc, Thanh Hoa đại diện cho miền Trung, Đồng Nai đại diện cho Đồng Nai) Trong giai đoạn nuôi con đã xây dựng khẩu phần ăn phù hợp cho lợn nái lai Landrace và Yorkshire trong điều kiện chuồng kín tại trại lợn Ba Vì của công ty CP TACN Thái Dương và điều kiện chuồng hở tại trại lợn Phổ Yên – Thái Nguyên
Ở mỗi thí nghiệm, 30 nái nuôi con ở lứa thứ 2-4 sẽ được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên trên 30 chuồng cá thể cho lợn nái nuôi con (trong cùng một dãy chuồng nuôi) với
3 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức gồm 10 con nuôi trong 10 ô, 1 con/ô và mỗi ô là một lần lặp lại Thức ăn thí nghiệm được xây dựng theo khuyến cáo của NRC (2012)
Các chỉ tiêu theo dõi: Thức ăn đưa vào và thức ăn thừa được cân hàng ngày, khối
lượng cơ thể mẹ vào lúc đẻ và cai sữa lợn con, khối lượng lợn con sơ sinh, lợn con sơ
sinh còn sống, lợn con cai sữa/ổ ở cả hai lứa đẻ, ngày phối giống trở lại
Xử lý số liệu: Số liệu thí nghiệm được xử lý bằng phần mềm Minitab 14.0
Trang 11Số lợn con cai sữa/nái/năm ở các trang trại tại miền Bắc có xu hướng cao hơn (23,92 con) so với ở miền Trung (22,96 con) và ở Đồng Nai (21,61 con)
Tăng tỷ lệ Lysine tiêu hóa/ME trong khẩu phần ăn cho lợn nái nuôi con đã làm tăng khối lượng lợn con cai sữa (tính theo ổ và theo từng con) và tăng khối lượng hàng ngày của lợn con theo mẹ, đồng thời làm giảm tiêu tốn thức ăn cho 1 kg lợn con cai sữa
và giảm hao hụt khối lượng của lợn mẹ
Trong điều kiện chuồng kín tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng của lợn con cai sữa đạt tốt nhất là 1,75kg thức ăn/kg tăng trọng và điều kiện chuồng hở đạt 1,7kg thức ăn/kg TT với tỷ lệ Lys tiêu hóa/ME trong khẩu phần lợn nái nuôi con là 2.75g/Mcal
Khẩu phần lợn nái nuôi con có tỷ lệ 2,75 g/Mcal Lys tiêu hóa/ME đã đem lại hiệu quả chăn nuôi cao hơn so với khẩu phần lợn nái nuôi con có tỷ lệ 2,29 và 2,51 g/Mcal Lys tiêu hóa/ME
Trang 12
Determine appropriate diets for Landrace and Yorkshire sows in during nursing
period in close and open house Materials and Methods
The reproductive sow prodution was evaluated in using the interviews questionnaires Fifty nine exotic breed pig farms representative of ed livestock farms of three provinces representing for three regions (Thai Nguyen represents the North, Thanh Hoa represents the Central, Dong Nai represents the South)
A suitable diet was used for crossbred sow beetween Landrace and Yorkshire raised in close housing at Ba Vi pig farm of Thai Duong Joint Stock Company and in open housing at Pho Yen - Thai Nguyen pig farm
In each of the experiments, 30 crossbred sows in 2nd to 4th farrow were randomly allocated to 30 individual cages for lactating sows (in the same row of cages) with three replicates (10 sows in 10 individual cage/each experiment replicate)
Experimental diets were formulated according to the recommendations of the NRC (2012)
Measurements:
Feed intake, weight of sow at farrowing and at weaning, weight of piglets born, piglet born alive and piglet weaned per litter of both farrowing, and day of next insemination
Data analysis: The experimental data were analyzed by Minitab 14.0
Main results and conclusions
Investigated farms in three provinces of Thai Nguyen, Thanh Hoa, and Dong Nai have from 86.15 to 206.95 sows per farm Most of sows in these investigated farms are crossbre sows Landrace and Yorshire Majority of farms aplly the close production system from reproductive sow to finishing (84.75%)
The number of piglets weaned per sow per year in the North was higher (23.92 piglet/sow/year) than in the Central (22.96 piglet/sow/year) and in the South
Trang 13(21.61piglet/sow/year)
Increase the Lys rate digestive/ME in lactation diets was increased weight of weaning piglet (litter size and individual weight) and increase the daily weight as well
as descrease feed intake for one kilogram of piglet and reduce the loss of weight of sow
In the close housing condition, the feed intake comsume for 1 kg of weaning pig weight gain was the best at 1.75 kg of feed / kg gain while in in open housing that is 1.7
kg feed / kg weight gain with Lys digestive/ME in lactating sows was 2.75g / Mcal
The lactating sow raised by the diet with rate ofwas 2.75 g / Mcal Lys digestive/
ME gave higher yields than the sow raised with diets at 2.29 and 2.51 g/Mcal Lys
Digestive / ME
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng đã và đang phát triển cả
về qui mô và tính chuyên hóa Thành tựu chăn nuôi đã khẳng định vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế cũng như đảm bảo an sinh xã hội ở nước ta
Theo số liệu thống kê của Cục chăn nuôi, tổng số đầu lợn ở nước ta trong những năm gần đây giao động trong khoảng từ 27 đến 29 triệu (Cục chăn nuôi, 2017), trong đó tổng đàn lợn nái hơn 4 triệu con (chiếm 14.6% tổng đàn) Hàng năm tăng trưởng số đầu nái đạt ở mức khoảng 4-5%, mục tiêu trong vòng 20 năm tới Việt Nam sẽ là nước đứng thứ 2 thế giới về chăn nuôi lợn Tuy nhiên, nếu nhìn nhận về số đầu nái so với tổng đàn của chúng ta là chiếm tỷ lệ quá cao so với thế giới (Đan Mạch qui mô đầu lợn là 30 triệu con, nái trên 1 triệu con chiếm trên 3% tổng đàn (Theo báo Tiền Phong, ngày 06/9/2018) điều này buộc chúng ta phải thừa nhận một thực tế là chất lượng và năng suất sinh sản của chúng ta là quá thấp
Hiện nay người chăn nuôi ở cả quy mô trang trại và quy mô nông hộ chủ yếu sử dụng con giống ngoại và con lai có năng suất cao, tập trung chủ yếu là giống lai giữa Landrace và Yorkshire Tuy nhiên, mỗi trại có một cách quản lý và cách chăm sóc khác nhau nên năng suất của đàn lợn nái cũng rất khác nhau
Trong số các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của đàn nái cơ bản, khẩu phần ăn cho lợn nái nuôi con đóng một vai trò rất quan trọng, không chỉ ảnh hưởng đến năng suất của đàn lợn con mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất của chính con nái ở các lứa sau Chính vì vậy, chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý đàn lợn nái nuôi con cần được coi trọng
Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc nuôi dưỡng lợn nái nuôi con nhưng vẫn còn nhiều tranh luận về khẩu phần ăn phù hợp, đặc biệt trong điều kiện chăn nuôi, khí hậu khác nhau vẫn chưa có nghiên cứu và khuyến cáo trong thực tiễn sản xuất ở Việt Nam Xuất phát từ thực tiễn đó, việc tiến hành thực hiện
đề tài: “Nghiên cứu khẩu phần ăn phù hợp cho lợn nái lai giữa Landrace và
Yorkshire ở giai đoạn nuôi con trong điều kiện chuồng kín và chuồng hở” là
rất cần thiết
Trang 151.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
- Xác định tỷ lệ Lysine tiêu hoá/ME phù hợp trong khẩu phần ăn cho lợn nái lai giữa Landrace và Yorkshire ở giai đoạn nuôi con trong điều kiện chuồng kín và chuồng hở
Trang 16PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI LỢN NÁI NGOẠI Ở VIỆT NAM
Việt Nam là nước có truyền thống lâu đời về chăn nuôi lợn và nằm trong
số 10 nước có số đầu lợn lớn nhất thế giới Kết quả công bố của Tổng cục Thống
kê cho thấy số lượng đàn lợn từ năm 2014 đến năm 2017 có sự tăng trưởng hằng năm nhưng không nhiều dao động trong khoảng từ 26,76 - 29,07 triệu con Như vậy, có thể thấy rằng đàn lợn Việt Nam đang có xu hướng duy trì ổn định về mặt
số lượng
Bảng 2.1 Số lượng lợn và sản lượng thịt lợn hơi của Việt Nam
giai đoạn 2014 - 2017 Chỉ tiêu ĐVT Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017
Số lượng lợn nghìn con 26.761,6 2.7751,0 29.075,3 27.406,7 Sản lượng thịt
Hiện nay, trên cả nước có 4.293 trang trại chăn nuôi lợn, sản lượng thịt từ các trang trại đạt khoảng 40 – 45% tổng sản lượng thịt hơi trên thị trường Chăn nuôi lợn trang trại đang ngày một phát triển, dần thể hiện vai trò của chăn nuôi hiện đại Rất nhiều trang trại lớn với quy mô hàng ngàn nái hiện đã và đang xuất hiện ngày một nhiều Chăn nuôi trang trại chính là loại hình then chốt giúp thúc đẩy nâng cao năng suất và hiệu quả chăn nuôi lợn do được đầu tư lớn về chuồng trại, con giống, kỹ thuật Chăn nuôi nông hộ còn khoảng 4 triệu hộ Cùng với sự phát triển chăn nuôi nông hộ có xu hướng giảm dần
Trang 17Bảng 2.2 Cơ cấu đàn nái trong tổng đàn giai đoạn 2006 - 2014
Năm
Tổng
số con (1000 con)
Số lượng con (1000 con)
Tỷ lệ trong tổng đàn (%)
Số lượng con (1000 con)
Tỷ lệ trong tổng đàn (%)
Số lượng con (1000 con)
Tỷ lệ trong tổng đàn (%)
Theo định hướng Đề án tái cơ cấu ngành chăn nuôi đến năm 2020 đã được
Bộ Nông nghiệp và PTNT phê duyệt, chăn nuôi nông hộ phát triển theo hướng chăn nuôi công nghiệp, có kiểm soát, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, an toàn sinh học, giảm thiểu môi trường Đóng góp của phương thức chăn nuôi trang trại năm 2020
là đối với lợn số lượng đầu con có xu hướng tăng từ 30% đến 52%, sản lượng thịt
từ 40% tăng lên 60% Chăn nuôi lợn chuyển dịch theo hướng tăng trưởng nóng sang hướng nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả chăn nuôi
Theo dự kiến kế hoạch những năm tới, cơ cấu đàn giống, tỷ lệ nái ngoại chiếm 19,8% năm 2013 tăng lên khoảng 30% năm 2020
2.2 NHU CẦU NĂNG LƯỢNG VÀ PROTEIN CỦA LỢN 2.2.1 Nhu cầu năng lượng
* Nhu cầu năng lượng của lợn con
Sinh trưởng của lợn con chủ yếu là sinh trưởng mô nạc Nhu cầu dinh
Trang 18dưỡng của lợn con được quyết định bởi tốc độ sinh trưởng mô nạc Hai yếu tố quan trọng hàng đầu ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của lợn con là năng lượng
và protein (axit amin) (Bùi Quang Tuấn và Đặng Thúy Nhung, 2002) Để có cơ
sở bổ sung năng lượng cho lợn con cần căn cứ vào mức năng lượng được cung cấp từ sữa mẹ và nhu cầu của lợn con, từ đó quyết định mức bổ sung cho lợn con
Theo tác giả Lucac (1982) thì mức năng lượng cần bổ sung qua các giai đoạn cho lợn con như sau:
Bảng 2.3 Mức năng lượng cần bổ sung cho lợn con Tuần
tuổi Khối lượng
Năng lượng tiêu hóa hàng ngày của mỗi lợn (Kcal) Nhu cầu Sữa mẹ cung cấp Nhu cầu bổ sung
DE ăn vào (Kcal/ngày) = - 151,7 + (11,2 x ngày tuổi); R2 = 0,72
Lợn con sau cai sữa với khối lượng khoảng từ 5 – 15 kg, lượng thức ăn thu nhận được xác định như sau (NRC, 1998):
DE ăn vào (Kcal/ngày) = - 1,531 + (455,5 x BW) + (11,2 x BW2); R2 = 0,92
Nguyễn Thị Lương Hồng và cs (2003) khi nghiên cứu về mức năng lượng
và protein thích hợp cho lợn con sau cai sữa cho biết, đàn lợn con ngoại thuần ở giai đoạn sau cai sữa có tốc độ sinh trưởng cao nhất khi ăn khẩu phần có mức năng lượng 3300 và 3400 Kcal ME/kg (14 MJ DE/kg); tốc độ sinh trưởng của lợn đạt cao khi khẩu phần có mức năng lượng 14 MJ DE/kg
* Nhu cầu năng lượng của lợn đang sinh trưởng
Năng lượng cung cấp cho lợn đang sinh trưởng bao gồm cho sự duy trì cơ
Trang 19thể, cho sự tăng trọng hàng ngày và dùng để duy trì thân nhiệt trong môi trường lạnh Để tính toán nhu cầu năng lượng thì chúng ta thừa nhận một số thông số sau:
- Năng lượng trao đổi (ME) = 95% năng lượng tiêu hóa (DE) (Lê Hồng Mận và Bùi Đức Lũng, 2003)
- Mô cơ có 77% nước
- Mô mỡ có 10% nước Nhu cầu năng lượng trao đổi để duy trì (MEm) bao gồm cả năng lượng cần thiết cho các chức năng của cơ thể và những hoạt động thiết yếu Những nhu cầu này thường được biểu thị trên cơ sở khối lượng trao đổi của cơ thể khối lượng này được quy ước là khối lượng cơ thể mũ 0,75 (BW0,75) Các lũy thừa khác
được đề nghị là 0,67 (Heusner 1982); 0,60 (Noblet et al., 1989b); 0,42 (Noblet et
al., 1994) Các tính toán nhu cầu về năng lượng duy trì/kg BW0,75 là mức từ 92 đến 160 Kcal/ngày, phổ biến nhất là từ 100 đến 125 Kcal/ngày Số liệu trung bình ước tính cho MEm là 106 Kcal ME/kg BW0,75 (Whittemore 1976; Bohme et
al., 1980; Wenk et al., 1980; ARC, 1981; Noblet and Le Dividich, 1982;
Campbell and Denkin, 1983; Close and Stanier, 1984; Mc Nutt and Ewan, 1984,
Gadeken et al., 1985; Noblet et al., 1985), số này tương đương với 110 Kcal
DE/kg Whittemore (1983) đưa ra mô hình có thể tính chính xác hơn:
MEm (Kcal/ngày) = 442 x Pt0,78 với Pt là tổng lượng protein của cơ thể tính bằng kg
Theo báo cáo của Robles and Ewan (1982), nhu cầu NE hàng ngày cần để duy trì (NEm) là 71 Kcal/kg BW0,75 Còn Noblet et al (1994) cho rằng MEm = 86 Kcal/kg BW0,42
Các ước tính năng lượng tiêu tốn cho tích lũy protein (MEpr) dao động từ
6,8 đến 14,0 Mcal ME/kg, trung bình là 10,6 Mcal/kg (Tess et al.,1984) Các báo
cáo về năng lượng tiêu tốn cho tích lũy mỡ (MEf) thường từ 9,5 đến 16,3 Mcal
ME/kg (Tess et al., 1984) Mặc dù năng lượng tiêu tốn cho tích lũy nạc và mỡ tương đối gần nhau (Wenk et al., 1980), nhưng trong 1kg thịt nạc chỉ chứa 20 –
23% protein, trong khi đó 1 kg thị mỡ có tới 80 – 95% mỡ Vì vậy, năng lượng dùng cho tích lũy nạc cao hơn rất nhiều so với tích lũy mỡ
* Nhu cầu năng lượng của lợn nái sinh sản
Theo Vũ Duy Giảng (2010), lợn nái sinh sản có hai giai đoạn quan trọng
là mang thai và tiết sữa nuôi con Có những yêu cầu nuôi dưỡng hoàn toàn khác nhau cho mỗi giai đoạn:
Trang 20- Giai đoạn mang thai cần cho ăn với một số lượng thức ăn hợp lý để lợn không quá béo trước khi vào đẻ
- Giai đoạn tiết sữa nuôi con cần cho lợn mẹ ăn được một lượng thức ăn tối đa để lượng sữa tiết được nhiều nhất, giúp lợn con khỏe mạnh và tăng trưởng tốt nhất
Trong giai đoạn nái mang thai nếu cho ăn nhiều thì lợn sẽ quá béo Lợn giai đoạn này quá béo, nhất là trước khi vào đẻ sẽ có nhiều tác hại Trước hết là lợn giảm ăn khi vào giai đoạn tiết sữa nuôi con, dù thức ăn lúc nào cũng đầy máng, chúng cũng ăn ít, thức ăn bỏ lại nhiều; ăn ít thì cơ thể hao mòn nhiều Sữa
ít thì sức lớn của lợn con giảm, khối lượng cai sữa thấp Khối lượng cai sữa của lợn con cao hay thấp có quan hệ với tăng trưởng sau này của lợn nuôi thịt Người
ta đã tính rằng khối lượng cai sữa giảm 1 kg so với bình thường thì để đạt khối lượng xuất bán (90 kg) phải tốn thêm 10 ngày nuôi nữa, nhưng khối lượng cai sữa tăng 1 kg thì sẽ giảm được 10 ngày nuôi để đạt khối lượng xuất bán (Vũ Duy Giảng, 2010)
Lợn mẹ hao mòn cơ thể nhiều thì làm cho thời gian chờ phối (số ngày từ khi cai sữa lợn con cho đến khi phối giống trở lại) kéo dài ra Vũ Duy Giảng (2010) khi nghiên cứu trên lợn mẹ đang tiết sữa nuôi con cho biết: nếu hao cơ thể lợn mẹ trong thời kỳ này là 20 - 25 kg thì thời gian phối giống trở lại nằm trong khoảng 5 - 7 ngày, nhưng nếu hao mòn cơ thể lợn mẹ là 30 - 35 kg thì thời gian phối giống trở lại kéo dài tới 10 - 15 ngày Thời gian chờ phối càng kéo dài thì càng làm giảm số lứa đẻ của lợn nái trong năm
Tuy nhiên, trong giai đoạn mang thai nếu cho ăn quá ít thì cũng không tốt, lợn mẹ sẽ gầy yếu, con đẻ ra có khối lượng sơ sinh thấp Khối lượng sơ sinh của lợn con có quan hệ với khối lượng lợn cai sữa Theo tính toán nếu khối lượng sơ sinh giảm hơn bình thường 100 g thì khối lượng cai sữa cũng sẽ giảm 200 g, ngược lại khối lượng sơ sinh cao hơn bình thường 100 g thì khối lượng cai sữa cũng sẽ tăng 200g (Vũ Duy Giảng, 2010)
* Nhu cầu năng lượng cho nái chửa
Nhu cầu thức ăn và năng lượng cho nái chửa là rất khác nhau và phụ thuộc vào khối lượng cơ thể, mức tăng trọng và thời gian chửa, các điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc khác nhau Aherne and Kirwood (1985), gợi ý rằng nái chửa cần được chăm sóc tốt và cho ăn sao cho cơ thể lợn mẹ có thể tăng trọng được 25 kg
Trang 21trong thời gian chửa đối với ít nhất 3 đến 4 lứa đầu Khối lượng của nhau thai và các chất khác trong bào thai phải đạt khoảng 20 kg, như vậy tổng khối lượng cơ
thể tăng lên trong thời gian có chửa là 45 kg (Noblet et al., 1990) Để đạt được
khối lượng tăng lên của cơ thể mẹ và bào thai như trên, nói chung phải cung cấp
6 McalME/ngày và không ảnh hưởng gì đến số con đẻ ra cũng như tăng trọng lợn
mẹ (Elsley, 1973; ARC, 1981)
Lợn nái trong thời kỳ có chửa nhu cầu năng lượng hàng ngày là tổng nhu cầu năng lượng cho duy trì, cho tích lũy protein, tích lũy mỡ và điều hòa thân nhiệt Nhu cầu năng lượng duy trì hàng ngày cho lợn nái chửa được tính bằng
106 Kcal ME/kg BW0,75 (hay 110 Kcal DE/kg với BW0,75) (NRC, 1998)
Dựa trên số liệu của Beyer et al (1994) các sản phẩm gắn liền với mỗi
bào thai ước chừng nặng 2,28 kg và chứa 246 g protein Lượng tăng trọng còn lại
ở nái chửa là lượng tăng trọng cơ thể mẹ, bao gồm cả nạc và mô mỡ Theo dữ
liệu của Beyer et al (1994), phần mô mỡ này được tính toán như sau:
Mô mỡ tích lũy = - 9,08 + (0,638 x MG) với MG là khối lượng tăng của
cơ thể lợn mẹ (kg)
Tổng lượng protein và mỡ tích lũy hàng ngày được tính toán với giả thiết thời gian chửa là 115 ngày Tiêu hao năng lượng cho tích lũy protien được giả định là 10,6 Kcal/ME/g và cho tích lũy mỡ là 12,5 Kcal ME/g Nhu cầu năng lượng hàng ngày cho mỗi bào thai là 35,8 Kcal ME (NRC, 1998)
Ở môi trường lạnh, lợn nái đòi hỏi được bổ sung một lượng năng lượng
Trong mô hình này, nhiệt độ lý tưởng là nhiệt độ trung bình trong 24 giờ là 20oC
Theo tính toán, một lợn nái với khối lượng khi chửa trung bình là 200kg mỗi ngày sẽ cần một lượng khoảng 240 Kcal ME bổ sung (250 Kcal DE) cho với mỗi
1oC dưới 20 oC Không có tính toán với nhiệt độ môi trường trên 20 oC (NRC, 1998)
Như vậy tổng nhu cầu ME hàng ngày là tổng nhu cầu cho duy trì, cho tích lũy thịt, cho bào thai và cho điều chỉnh thân nhiệt Nhu cầu DE được tính bằng nhu cầu ME/0,96
Lê Hồng Mận và Bùi Đức Lũng (2003) cũng cho biết nhu cầu năng lượng cho lợn nái chửa được xác định như sau:
Nhu cầu năng lượng = năng lượng duy trì + năng lượng cho phát triển cơ thể mẹ + năng lượng phát triển cho bào thai và các tổ chức có liên quan
Trang 22Năng lượng duy trì = 0,5 MJDE x W0,75 Nhu cầu cho sự phát triển cơ thể mẹ phụ thuộc vào sự tăng trọng của cơ thể
mẹ trong giai đoạn có chửa Trung bình trong giai đoạn có chửa lợn mẹ tăng trọng 20kg Để tăng trọng 1kg khối lượng cơ thể cần cung cấp 26 MJDE từ thức ăn Nhu cầu cho sự phát triển cơ thể mẹ và các tổ chức liên quan có thể dùng phương pháp tính: 80 ngày chửa đầu thai còn bé, nhu cầu đó không đáng kể, nên chủ yếu tính cho 34 ngày chửa cuối Từ 80 ngày có chửa trở đi nhu cầu cho sự phát triển bào thai và các tổ chức có liên quan cộng với nhu cầu duy trì được tính gộp bằng 0,611 MJDE x W0,75 (Nguyễn Quang Linh, 2005)
Lợn nái được ăn tự do trong thời gian chửa sẽ ăn vào lượng năng lượng nhiều hơn mức cần thiết cho duy trì và nuôi dưỡng bào thai, điều này làm cơ thể
mẹ tích lũy mỡ và protein nhiều hơn Vì năng lượng ăn vào và khối lượng cơ thể tăng trong thời gian chửa nên năng lượng ăn vào và khối lượng cơ thể khi nuôi
con lại giảm (Baker et al.,1969; Brook and Smith, 1980; William et al.,1985) Vì
vậy cần hạn chế năng lượng trong giai đoạn chửa để kiểm soát tăng trọng
* Nhu cầu năng lượng của nái nuôi con
Nhu cầu năng lượng hàng ngày của nái nuôi con bao gồm nhu cầu cho duy trì (MEm) và nhu cầu tiết sữa và cho điều hòa thân nhiệt Cũng giống như đối với nái chửa nhu cầu năng lượng cho duy trì hàng ngày của nái nuôi con được tính bằng 106 Kcal ME/kg BW0,75 (hay 110 Kcal DE/kg với BW0,75) (NRC, 1998)
Nhu cầu năng lượng cho tiết sữa có thể được ước tính dựa trên tốc độ phát tiển của lợn con đang bú và số lượng lợn con trong đàn (Noblet and Etienne, 1989):
Năng lượng tiết sữa = (4,92 x ADG x số con) – (90 x số con) trong đó năng lượng tiết sữa là Kcal, năng lượng thô GE/ngày, ADG là tăng trọng trung trên ngày của lợn con trong giai đoạn bú (g/c/ngày), số con là số lợn con trong lứa Giả sử rằng hiệu quả của chuyển hóa năng lượng khẩu phần thành năng lượng tiết sữa là 0,72 (Noblet and Eteinne, 1989), thì có thể biểu diễn như sau:
ME cho sữa = (6,83 x ADG x số con) – (125 x số con) Nếu năng lượng khẩu phần cung cấp không đủ đáp ứng cho nhu cầu duy trì và tiết sữa, cơ thể sẽ huy động các mô để cung cấp đủ dinh dưỡng cần cho tiết sữa Noblet and Eteinne (1987) đưa ra kết luận rằng hiệu quả chuyển hóa năng lượng cho tiết sữa là 0,88 với nguồn năng lượng chủ yếu từ mỡ
Trang 23Tác giả Lê Hồng Mận và Bùi Đức Lũng (2003) cho biết, ở nái nuôi con năng lượng của thức ăn đưa vào máu như glucoza và axit béo sẽ được chuyển thành năng lượng sữa ở dạng lactoza và mỡ sữa với mức hiệu quả là 65 - 70%
Sự chuyển hóa năng lượng thức ăn thành mỡ cơ thể đạt 75% Còn hiệu quả của
sự chuyển hóa năng lượng mỡ cơ thể thành năng lượng của sữa đạt 85 - 90%
Quá trình chuyển hóa hai lần của năng lượng thức ăn thành năng lượng cơ thể rồi lại chuyển hóa thành năng lượng sữa đạt mức xấp xỉ 65%
Lợn nái nuôi con ở điều kiện chuồng trại nóng hay lạnh đều điều chỉnh năng lượng ăn vào để thích ứng Mô hình này coi nhiệt độ trung bình 24 giờ lý tưởng là 20oC, vậy năng lợn nái cần ăn thêm 310 Kcal ME từ khẩu phần (323 Kcal DE) mỗi ngày để thích ứng với 1oC dưới 20 oC Tương tự, lợn mẹ sẽ ăn vào
ít hơn 310 Kcal ME (323 Kcal DE) mỗi ngày tương ứng với 1oC trên 20oC (NRC, 1998)
* Nhu cầu năng lượng của lợn hậu bị
Lợn hậu bị cần được cho ăn tự do cho tới khi được chọn vào đàn giống, với khối lượng cơ thể khoảng 100 kg, cho phép đánh giá được tỷ lệ phát triển và tích lũy nạc Sau khi đã được lựa chọn vào đàn giống, năng lượng ăn vào cần được hạn chế nhằm đạt được khối lượng yêu cầu khi sử dụng làm giống (Wahlstrom, 1991)
Nhu cầu năng lượng cho lợn hậu bị được tính theo năng lượng trao đổi (ME)
ME = năng lượng duy trì (MEm) + năng lượng tăng trọng (MEp) (Nguyễn Quang Linh, 2005)
MEp bao gồm năng lượng tích lũy tổ chức nạc và năng lượng tích lũy tổ chức mỡ Esley (1956) và Miseman (1986) tính toán năng lượng được tích lũy vào nạc và mỡ như sau: để tích lũy được 1kg tổ chức nạc, cần cung cấp 15 MJ/DE từ thức ăn; để tích lũy được 1kg tổ chức mỡ cần cung cấp 50MJ/DE từ thức ăn
Nguồn cung cấp năng lượng cho lợn nái hậu bị có thể lấy từ cám gạo, bột ngô, bột sắn, bột rễ củ và các phế phụ phẩm khác trong nông nghiệp cũng như trong công nghiệp chế biến thực phẩm
2.2.2 Nhu cầu Protein và axit amin
* Nhu cầu protein, axit amin của lợn con
Cung cấp đủ protein cho lợn con rất quan trọng bởi vì đây là thời kì sinh
Trang 24trưởng rất mạnh của hệ cơ và lượng protein được tích lũy rất lớn Ngoài việc cung cấp đủ lượng protein trong khẩu phần thức ăn cho lợn con thì cũng cần cân đối axit amin trong khẩu phần Lysine có vai trò quan trọng trong hình thành xương, ảnh hưởng đến tổng hợp các nucleotit, hemoglobin, duy trì trạng thái bình thường của cơ thể Thiếu lysine con vật lười ăn, da khô, giảm khối lượng Số liệu tổng kết một số nghiên cứu gần đây về nhu cầu axit amin cho lợn con (3 – 20 kg) thì tổng nhu cầu lysine được thiết lập là; 5 kg, 1,45%; 10 kg, 1,25%; 15 kg, 1,15%; 20 kg, 1,05%
Nguồn: Nielsen et al (1982)
Tôn Thất Sơn và cs (2010) khi nghiên cứu ảnh hưởng của 3 mức Lysine (1,6%; 1,5%, 1,4%) trong thức ăn đến khả năng sinh trưởng của lợn con từ 7- 28 ngày đã cho biết mức protein 23% và lysine 1,5 % cho khối lượng lợn con cao nhất Theo Cole (1985) khẩu phần cho lợn con cai sữa tới lúc đạt 50kg có mức lysine 0,9% và protein thô 18,5% là thích hợp nhất
Tốc độ sinh trưởng của lợn con rất nhanh nên đòi hỏi nhu cầu dinh dưỡng cao Lê Hồng Mận (2002) cho biết nhu cầu protein bổ sung cho lợn con 10 -12 ngày tuổi là 12g/con/ngày; 20 – 30 ngày là 24g/con/ngày; 30 – 45 ngày tuổi là 30g/con/ngày; 45 – 60 ngày tuổi là 40g/con/ngày Việc xác định được nhu cầu dinh dưỡng của lợn con là cơ sở để tính toán cân đối các loại nguyên liệu để có được khẩu phần phù hợp với các giai đoạn của lợn con
* Nhu cầu protein, axit amin của lợn nái chửa
Nhu cầu protein, axit amin ở nái chửa phụ thuộc vào nhu cầu cho duy trì, tổng hợp protein cho cơ thể mẹ và tổng hợp protein cho bào thai Theo Whittemore (1998), lượng protein tích lũy ở tử cung lợn mẹ trong giai đoạn chửa
là 0,0036 e0,026t (e ≈ 2,71828; t là ngày có chửa)
Trang 25Ngoài ra khi nuôi lợn nái có chửa cần cung cấp lượng protein cho sự phát triển tuyến vú Whittemore (1984) cho biết, nhu cầu protein cho sự phát triển tuyến vú là rất ít, nhu cầu này cực đại khoảng 10 g/ngày ở giai đoạn gần
đẻ Nhu cầu protein cho sự phát triển nhau thai là 0,000038 e 0,059t (e ≈ 2,71828;
t là ngày có chửa)
Như vậy nhu cầu protein cho phát triển bào thai và các tổ chức liên quan
sẽ được tính toán như sau: khối lượng sơ sinh cả ổ là 10 – 12 kg, khối lượng màng nhau, màng ối 2,5 kg, tử cung mẹ là 3 kg, tuyến vú khoảng 2 kg Tổng tăng trọng 18 kg (protein tích lũy 2,2 kg) Nhưng chủ yếu ở 34 ngày chửa cuối, do vậy trung bình hàng ngày ở giai đoạn chửa cuối, protein cần tích lũy ở bào thai và các
tổ chức có liên quan là 65 g/ngày
Như vậy nhu cầu protein của lợn nái ở giai đoạn chửa đầu là 60 g + 26 g =
86 g/ngày Nếu như giá trị sinh học (BV) của protein là 60% và lợn có tỉ lệ tiêu hóa 80%, thì nhu cầu protein cần cung cấp hàng ngày sẽ là 179 g/ngày Ở giai đoạn chửa cuối nhu cầu protein sẽ là 151 g/ngày Vậy theo các chỉ số trên thì lợn cần 236 g/ngày Vậy nên khi cung cấp protein cho lợn nái chửa chúng ta cần phải chú ý đến chất lượng protein, đảm bảo cân bằng axit amin Whittermore (1998) cho biết số lượng các axit amin trong khẩu phần lợn nái chửa như sau: lysine 70g, threonine 45g, methionine + cystine 40g, triptophan 15g, histidine 25g, leucine 75g, isoleucine 40g, valine 50g, tyrosine + phenylalanin 75g Khẩu phần
ăn của lợn có chửa khoảng 12% protein thô có thể đủ cho nhu cầu của lợn nái chửa nhưng tỷ lệ lysine và methionine + cystine phải đảm bảo với mức 5% và 3,5% là tối thiểu
* Nhu cầu protein, axit amin cho lợn nái nuôi con
Để xác định nhu cầu protein cho lợn nái nuôi con cần phải biết sản lượng sữa trung bình/ngày của lợn mẹ, tỷ lệ protein trong sữa, protein duy trì của cơ thể mẹ
Phương pháp xác định protein duy trì cũng tương tự như đối với việc xác
định cho lợn nái chửa (Whittermore et al.,1987) Carr and Borman (1982), đề
nghị công thức tính protein duy trì là 0,15 g N x W0,75 Nhu cầu protein sản xuất sữa của lợn nái được căn cứ vào hàm lượng protein trong sữa và sản lượng sữa tiết ra hàng ngày để xác định (sữa lợn trung bình 6% protein) Căn cứ vào giá trị sinh học (BV) và tỷ lệ tiêu hóa của protein,
ta sẽ xác định được lượng protein thô trong thức ăn Căn cứ vào lượng thức ăn
Trang 26cung cấp, xác định được tỷ lệ protein thích hợp trong khẩu phần Có thể thấy nhu cầu protein cho lợn nái nuôi con là rất cao, nếu không cung cấp đủ thì lợn mẹ phải huy động nguồn protein dự trữ trong cơ thể để tạo sữa, hao mòn cơ thể lợn
mẹ sẽ cao, lâu phục hồi lại sức khỏe sau cai sữa Khi bổ sung protein cho lợn nái nuôi con cần chú ý tới chất lượng protein, sự cân bằng axit amin trong khẩu phần Tỷ lệ các axit amin trong khẩu phần có thể như sau: lysine 3,8%, Threonin 2,6%, Methionine + cystine 2,5%, Triptophan 0,8%, Histidine 1,9%, Leucine 6,4%, Isoleucin 4,5%, Valin 4,6%, Tyrosine + Phenylalanin 6,3% (NRC, 1998)
2.3 ẢNH HƯỞNG CỦA MỨC NĂNG LƯỢNG, PROTEIN VÀ AXIT AMIN TRONG KHẨU PHẦN ĂN CỦA LỢN CÁI HẬU BỊ ĐẾN NĂNG SUẤT SINH SẢN
Sinh sản là một quá trình sinh học phức tạp của cơ thể động vật đồng thời cũng là chức năng tái sản xuất của gia súc gia cầm Để tăng cường chức năng này nhằm nâng cao sức sản xuất của đàn gia súc cần nghiên cứu tới các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng sản xuất của đực và cái giống, trong đó dinh dưỡng là một nhân tố quan trọng Thức ăn là nguồn cung cấp dinh dưỡng, năng lượng cho tất
cả các hoạt động sống của cơ thể, nó đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm
Lợn nái ngoại khẩu phần ăn thường chiếm từ 15 - 17% protein, tùy thuộc vào thể trạng và các giai đoạn Nếu cung cấp thừa hay thiếu protein đều ảnh hưởng tới sinh sản của lợn nái Nếu thiếu ở giai đoạn mang thai sẽ làm khối lượng sơ sinh thấp, số con đẻ ra ít, thể trạng yếu ớt Ở giai đoạn nuôi con sẽ ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng sữa từ đó ảnh hưởng đến khả năng nuôi con của lợn mẹ Nếu cung cấp protein thừa ở giai đoạn mang thai sẽ làm tăng tỷ lệ thai chết, gây lãng phí protein, không đem lại hiệu quả kinh tế Hàm lượng protein có trong khẩu phần thức ăn tùy thuộc vào từng giai đoạn nuôi dưỡng của lợn nái Theo tiêu chuẩn Việt Nam (1994) thì hàm lượng protein trong thức ăn đối với lợn nái chửa là 14%, đối với nái nuôi con là 16% Tuy nhiên việc cung cấp protein cho lợn nái còn phụ thuộc số con để nuôi và thể trạng của con mẹ Qua nhiều nghiên cứu cho thấy cung cấp protein có nguồn gốc từ động vật năng suất sinh sản của vật nuôi cao hơn so với protein có nguồn gốc từ thực vật
Việc cung cấp năng lượng theo nhu cầu của lợn nái cho từng giai đoạn có ý nghĩa rất quan trọng, vừa đảm bảo cho sinh lý bình thường và nâng cao được năng suất sinh sản Nếu cung cấp thừa hay thiếu năng lượng đều không tốt vì nó
Trang 27ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất sinh sản của lợn nái Cung cấp thừa năng lượng trong thời gian mang thai sẽ làm cho lợn nái béo gây chết phôi, đẻ khó và sau khi đẻ sẽ kém ăn làm giảm khả năng tiết sữa đặc biệt là sữa đầu, từ đó ảnh hưởng đến sức sống cũng như sự phát triển của đàn con Nếu cung cấp thiếu năng lượng cho lợn nái trong giai đoạn mang thai sẽ làm cho lợn nái quá gầy, không đảm bảo cho quá trình sinh trưởng, phát triển của thai Nếu thiếu trầm trọng có thể dẫn đến tiêu thai, sẩy thai Nhu cầu năng lượng phù hợp cho nái ngoại và lợn nái lai ngoại là 3000 - 3100 Kcal/kg thức ăn hỗn hợp Khẩu phần ăn cho lợn nái chửa kỳ I là 1,8 - 2,5 kg/nái/ngày Lợn nái chửa kỳ II là 2,5 - 3 kg/con/ngày Nái nuôi con trung bình là từ 4,5 - 5 kg/con/ngày
Chu kỳ tính của lợn nái khoảng 19 - 27 ngày (trung bình là 21 ngày) Chu
kỳ tính phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó yếu tố dinh dưỡng giữ vai trò quan trọng Trong cùng một giống nếu dinh dưỡng đầy đủ, chu kỳ tính ổn định, con vật có biểu hiện động dục đều đặn Nếu dinh dưỡng kém, chu kỳ tính kéo dài, động dục gián đoạn (Nguyễn Quang Linh, 2005)
Số lượng trứng rụng trong lần động dục cũng phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng Qua nhiều thí nghiệm, Chester and Polanchina (1987) đã kết luận rằng: số trứng rụng trong lần động dục đầu tiên trung bình là 9,8 trứng, nếu nuôi dưỡng tốt sẽ tăng thêm 2,9 trứng; số trứng rụng ở lứa đẻ thứ hai trung bình là 11,8 trứng, nếu nuôi dưỡng tốt sẽ tăng thêm 1,2 trứng (trích dẫn theo Nguyễn Quang Linh, 2005) Books and Cooper (1972) (dẫn theo Ian Gordon, 1997) cũng cho biết nuôi dưỡng tốt lợn nái trước khi động dục có thể làm tăng số lượng trứng rụng, tăng
số phôi sống
Nghiên cứu của Hughes and James (1996) cho biết rằng khi tăng mức ăn trước khi phối giống và hạn chế mức ăn trong tuần đầu sau khi phối sẽ tăng tỷ lệ thụ thai, tăng số con đẻ ra/lứa Mức ăn cao trước động dục đã nâng cao số tế bào trứng rụng
Bảng 2.5 Ảnh hưởng của mức ăn trước kỳ động dục tới số lượng
trứng rụng (Hughes and Vanley, 1980)
Trang 28Bảng 2.6 Ảnh hưởng mức ăn trước thời kỳ động dục tới số lượng
trứng rụng (Huges and Vanley 1980)
Số nái TN (n) Ngày ăn cao trước động dục
(ngày) Tế bào trứng rụng tăng
Nguồn: Nguyễn Quang Linh (2005)
Beltranena et al (1991) cho biết tăng mức ăn trước kỳ phối giống thì tăng nồng độ insulin trong máu Theo các tác giả Cox et al (1990), khi tiêm insulin
trong máu sẽ tăng kích thích não tăng tiết LH tăng số tế bào trứng rụng, nhưng tăng mức ăn vào giai đoạn đầu của thời kỳ có chửa sẽ giảm tỷ lệ số phôi sống (trích theo Nguyễn Quang Linh, 2005)
Theo số liệu từ một báo cáo của Aherne and Williams (1992), lượng thức
ăn ăn vào ở mức cao (> 2,5 kg/ngày) trong 3 ngày đầu thụ thai sẽ giảm tỷ lệ phôi thai sống sót khoảng 5%, tuy nhiên giảm tỷ lệ phôi sống sót không có nghĩa số con sinh ra giảm
Đối với lợn hậu bị, Park et al (1987) cho rằng áp dụng chế độ ăn hạn chế
theo giai đoạn để kìm hãm bớt tốc độ tăng trọng của lợn hậu bị sẽ làm tăng sản lượng sữa lứa đẻ thứ nhất của lợn nái Theo Crenshaw (1990), sản lượng sữa lứa
1 của lợn nái tăng 36% khi hạn chế thức ăn (TA) ăn vào ở giai đoạn trước khi thành thục và mang thai bằng cách bổ sung 30% xơ vào trong khẩu phần (KP)
Theo Weldon et al (1991), nếu tăng năng lượng ăn (5,76 đến 10,5 Mcal ME/kg
BW0,75) cho nái từ ngày thứ 75 đến ngày thứ 105 của thời gian chửa sẽ làm giảm
số lượng tế bào vú, và dẫn tới năng suất tiết sữa có thể giảm Theo Sorensen et
al (1993), khi cho lợn hậu bị (từ 42 ngày tuổi tới khi phối giống) ăn 3 khẩu phần:
(i) đối chứng (thỏa mãn nhu cầu sinh trưởng); (ii) 75% so với đối chứng; và (iii) cho ăn tự do, đã cho thấy không sai khác thống kê về sản lượng sữa, số con sinh
ra, khối lượng cai sữa, và thời gian động dục lại sau cai sữa Tuy nhiên ở khẩu
phần 75% so với đối chứng có xu hướng giảm số con sinh ra Theo Klindt et al
(1999) ở lợn hậu bị 13 – 25 tuần tuổi khi cho ăn hạn chế ở mức 75% và 90% so với ăn tự do cải thiện số bào thai sống ở thời điểm 30 ngày mang thai
Trang 29Theo Nguyễn Tuấn Anh (1998), để duy trì năng suất sinh sản cao thì nhu cầu duy trì dinh dưỡng đối với lợn cái hậu bị cần lưu ý đến cách thức nuôi dưỡng Cho ăn tự do đến khi đạt khối lượng 80 – 90 kg, sau đó cho ăn hạn chế đến lúc phối giống (chu kỳ động dục thứ 2 hoặc thứ 3) 2 kg/ngày (khẩu phần 14% protein thô) Điều chỉnh mức ăn để khối lượng đạt 120 – 140 kg ở chu kỳ động dục thứ 3 và được phối giống Trước khi phối giống 14 ngày cho ăn chế độ kích dục, tăng lượng thức ăn từ 1 – 1,5 kg, có bổ sung khoáng và vitamin sẽ giúp cho lợn nái ăn được nhiều hơn và tăng số trứng rụng từ 2 – 2,1 trứng/lợn nái Sau khi phối giống cần chuyển sang chế độ ăn hạn chế, nếu tiếp tục cho ăn mức năng lượng cao ở giai đoạn chửa đầu vừa không kinh tế, vừa làm cho tỷ lệ chết phôi cao, làm giảm số lợn con sinh ra trong một ổ
Khi nghiên cứu trên lợn nái chửa, Lodge et al (1966) cho biết khối lượng
của lợn mẹ tăng lên trong giai đoạn chửa ngoài việc tăng trọng của bản thân con
mẹ là sự tăng lên các bộ phận của thai, các sản phẩm thai, tử cung và mô vú Tốc
độ phát triển của bào thai rất nhanh, đặc biệt là thời kỳ cuối (thai lợn ngoại 28 ngày nặng 1 – 1,5 g; 50 ngày nặng 50 g; 70 ngày nặng 220 g) Cùng với sự phát triển của thai là sự hình thành của các màng thai, sự lớn lên nhanh chóng của dạ con do vậy nhu cầu dinh dưỡng cũng thay đổi Như vậy trong giai đoạn này dinh dưỡng
có ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất sinh sản của lợn cũng như chất lượng của đàn con sinh ra
Theo Chung và cs (1998), tăng lượng thức ăn thu nhận ở lợn nái tiết sữa sẽ làm tăng sản lượng sữa và tăng khả năng tăng trọng của lợn con Ian Gordon (2004) cho biết: tăng lượng thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn đầu
và giữa chu kỳ tiết sữa sẽ có tác dụng giảm thời gian động dục trở lại hơn là tăng lượng thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn cuối, tăng lượng thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn giữa và cuối chu kỳ tiết sữa sẽ có tác dụng tăng khối lượng cai sữa hơn là tăng ở giai đoạn đầu
Nuôi dưỡng lợn nái trong thời kỳ tiết sữa nuôi con với mức protein thấp trong khẩu phần sẽ làm tăng thời gian động dục trở lại (Robinson, 1990 dẫn theo Ian Gordon, 1997) Mức dinh dưỡng protein thấp trong thời kỳ chửa cuối sẽ làm cho lợn nái phải huy động dinh dưỡng của cơ thể để nuôi thai, do đó làm giảm khả năng sống của thai và lợn con khi đẻ cũng như sau khi đẻ, làm giảm khả năng tiết sữa của lợn mẹ (Pike and Boaz,1969), do đó dẫn đến lợn nái sinh sản kém (dẫn theo Ian Gordon, 1997)
Trang 30Nuôi dưỡng lợn nái trong thời kỳ tiết sữa nuôi con với mức lysine thấp và protein thấp sẽ làm suy yếu sự phát triển của bao noãn, giảm khả năng trưởng thành của tế bào trứng, giảm số con đẻ ra và số con còn sống trên ổ, tăng tỷ lệ
hao hụt của lợn mẹ và giảm tốc độ sinh trưởng của lợn con (Yang et al., 2000)
2.4 ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ ĐỘ ĂN CỦA LỢN CÁI HẬU BỊ ĐẾN NĂNG SUẤT SINH SẢN
Khẩu phần ăn là một hỗn hợp thức ăn thỏa mãn tiêu chuẩn ăn của vật nuôi trong một ngày đêm Khi phối trộn thức ăn cần phải biết rõ các thành phần dinh dưỡng của thức ăn, nắm chắc nguyên tắc của phối trộn khẩu phần thức ăn mới có thể đáp ứng đủ hợp lý của lợn nói chung và của lợn nái hậu bị nói riêng Khẩu phần thức ăn phải đáp ứng đầy đủ dinh dưỡng, thỏa mãn được tiêu chuẩn ăn, đảm bảo được sự cân bằng các chất dinh dưỡng như: axit amin, khoáng, vitamin…
Lợn là loài đa thai có khả năng đẻ nhiều con/lứa và nhiều lứa/năm Lợn mỗi lứa có thể đẻ được từ 6 - 14 con tùy theo từng giống Sở dĩ lợn có thể đẻ được nhiều con mỗi lứa là do số trứng rụng nhiều mỗi lần động dục Thông thường số trứng rụng mỗi lần động dục là từ 18 - 30 trứng (bình quân 20 - 25 trứng) và số trứng này cũng tăng dần theo mỗi lứa đẻ của lợn và đạt cao cho đến lứa thứ 7, thứ 8 Tuy nhiên số con đẻ ra thường ít hơn số trứng rụng là do số hợp
tử tạo thành ít và có một số phôi bị chết trong thời kỳ có chửa Nhưng nhìn chung
ta có thể tăng được số con đẻ ra mỗi lứa nếu tăng tỷ lệ thụ thai và chế độ chăm sóc lợn nái hợp lý khi có chửa Mỗi năm lợn có thể đẻ đạt 2,0 - 2,3 lứa/năm với
số con là 19 - 22 lợn con cai sữa Lợn cái bình thường có thể sử dụng tới 4 năm
Lợn cái hậu bị là lợn cái từ sau khi cai sữa được chọn làm cái giống nuôi cho đến khi phối giống lần đầu Khả năng năng sinh sản của lợn nái là chỉ tiêu kỹ thuật, kinh tế hết sức quan trọng, nó phản ánh phẩm chất giống và kỹ thuật chăn nuôi của lợn Kỹ thuật chăm sóc cái hậu bị rất quan trọng, làm sao cho cái hậu bị khi đến tuổi phối giống đạt khối lượng yêu cầu, đảm bảo thành thục về tính và thể vóc Chăm sóc lợn cái hậu bị là một khâu khó đòi hỏi lợn không được quá gầy yếu dẫn đến sức sinh sản kém, đồng thời tránh quá béo sẽ khó động dục Đây
là nguyên nhân gây nên loại thải, tỷ lệ loại thải cao có thể lên tới 40 - 45% Như vậy khẩu phần ăn cho lợn hậu bị cần phù hợp và là nhân tố vô cùng quan trọng ảnh hưởng đến năng suất sinh sản Dinh dưỡng ảnh hưởng đến động dục lần đầu, nuôi hạn chế làm chậm động dục đến 16 ngày (Anderson and Melampy, 1972)
Trang 31Nuôi dưỡng tốt để tăng khối lượng cơ thể và mỡ dự trữ, điều chỉnh mức protein
và axit amin thu nhận để có khối lượng cơ thể và khối lượng protein cơ thể hợp
lý với lượng mỡ đảm bảo cân bằng với các chất khoáng và vitamin với mục đích
để có số trứng rụng nhiều nhất, số phôi sống lớn nhất, điều kiện cơ thể tốt nhất
Chế độ nuôi dưỡng trước khi phối giống 11 - 14 ngày rất quan trọng
2.5 ẢNH HƯỞNG CỦA LYSINE ĐẾN MỨC ĂN CỦA LỢN NÁI
Sữa lợn mẹ cung cấp 75% tổng nhu cầu năng lượng Glucose là chất dinh dưỡng chuyển hóa quan trọng nhất trong quá trình sinh sữa (70% tổng lượng glucose do tuyến vú sinh ra) Trong 7 ngày đầu tiên tiết sữa, mức ăn được thường không đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng, vì vậy mỡ dự trữ của cơ thể được huy động (có thể đạt hiệu quả sử dụng đến 88%) Nhu cầu về năng lượng trong ngày tiết sữa đầu tiên khoảng 10.000 – 12.000 kcal ME/ ngày, ngày tiết sữa thứ 14 –
18 tăng lên 18.000 – 20.000 kcal ME/ ngày Tốc độ sinh trưởng của lợn con phụ thuộc vào năng suất và thành phần sữa mẹ Lợn con cần khoảng 4g sữa để tạo ra
1 g tăng khối lượng Như vậy, cần có 10 kg sữa/ ngày để đạt mức tăng khối lượng ngày là 2,25 kg/ ổ (ví dụ 10 lợn con, mỗi con 250 g/ngày)
Tổng nhu cầu lysine là 26 g/ngày (để đạt tốc độ sinh trưởng 1 kg/ổ/ ngày)
Nếu ổ có 10 lợn con, cần 58,5 g/ngày, nhu cầu cho duy trì của lợn mẹ khoảng 2,5 g/ngày, như vậy tổng nhu cầu lysine ăn vào cần 61 g/ngày Nếu không đủ lysine,
sẽ huy động từ protein của cơ thể Lợn đẻ lứa đầu cần đủ lysine để đáp ứng nhu cầu tiếp tục phát triển mô cơ của mẹ Nếu thiếu lysine trong lứa sữa đầu, sẽ hao hụt protein trong cơ thể (gây chậm động dục lại sau đẻ, giảm số con sinh ra/ ổ ở lứa đẻ sau) Hao hụt protein cơ thể trong tuần đầu sau đẻ có thể chiếm 45% tổng mức protein được huy động trong toàn kỳ tiết sữa nuôi con Vì vậy, rất cần giúp cho lợn đẻ lứa đầu tăng mức ăn được sau đẻ Cần cho lợn ăn mức năng lượng cao
để sử dụng tối đa mức lysine cao trong khẩu phần dành cho lợn đẻ lứa đầu đang nuôi con (với những ổ 10 lợn con, có thể gửi bú nhờ) Tăng thêm mức ăn được 1 kg/ngày (ví dụ 4,5 kg – 5,5 kg/ngày) cho lợn nái đẻ lứa đầu có thể tăng thêm 1 lợn con ổ cho lứa đẻ thứ hai)
Lượng chất dự trữ của cơ thể (cả protein để tạo mô và mỡ lưng) lúc lợn đẻ
và cai sữa có tác động lớn đến năng suất sinh sản Người ta cho rằng lợn nái cân nặng dưới 150 kg sẽ động dục lại chậm hơn 5 – 7 ngày so với những lợn có thể trọng cao hơn Để bắt đầu một chu kỳ sinh sản mới, lợn nái cần có thể trạng
Trang 32“đồng hóa” béo tốt vừa phải Yếu tố gây ảnh hưởng xấu nhất đến mức ăn được khi nuôi con là cho lợn nái ăn quá nhiều khi có chửa (lợn béo phệ) và nhiệt độ trong chuồng nuôi lợn đẻ và stress chuyển hóa Để chống táo bón, cần cung cấp
đủ nguồn chất xơ giữ nước, cung cấp nước có chất lượng tốt và cân bằng khoáng (theo báo Vusta ngày 09/12/2010)
2.6 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC 2.6.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Với một tỷ lệ loại thải lợn nái hậu bị cao trong các trang trại chăn nuôi từ
30 đến 50% (Thacker, 1999; Young, 2003), đàn nái hậu bị thay thế đóng một vai trò quan trọng trong chăn nuôi lợn nái Chính vì thế, việc đưa đàn lợn hậu bị vào đàn giống là nhằm đảm bảo năng suất sinh sản đạt được tối đa Để đạt được mục đích này lợn hậu bị phải đáp ứng đủ những chỉ tiêu như độ tuổi, khối lượng cơ thể và sinh lý thành thục trước khi chọn giống cũng như cân đối lượng thịt nạc và
mỡ tích luỹ tối ưu tại thời điểm phối giống đầu tiên (Julian, 2001; Close et al.,
2004) Lợn cái hậu bị mà quá nạc tại thời điểm chọn lọc đưa vào đàn giống có thể giới hạn về năng suất sinh sản trong vòng đời của chúng (hoặc khả năng sinh sản thấp hoặc loại thải sớm) do chúng không đáp ứng đủ lượng mỡ dự trữ trong
cơ thể (lượng mỡ dự trữ ở lợn cái hậu bị thường được biểu hiện bằng độ dày mỡ
lưng) Với một qui mô nghiên cứu lớn, Gaughan et al (1995) đã chỉ ra rằng lợn
hậu bị có độ dày mỡ lưng từ 9 - 13 mm tại thời điểm chọn lọc giống có số lứa đẻ
và số lợn sơ sinh còn sống/vòng đời lợn nái (2,81; 24,03) kém hơn so với lợn hậu
bị có độ dày mỡ lưng 14 - 16 mm (3,47; 30,86) và ≥ 17 mm (3,75; 32,76) Những kết quả này cho thấy số lợn con sơ sinh còn sống/chu kỳ lợn nái tăng thêm 9 con khi tăng thêm 6mm độ dày mỡ lưng của lợn hậu bị trước khi tiếp xúc với lợn đực
giống Tương tự như vậy, Challinor et al (1996) đã kết luận số lợn con sơ sinh
còn sống/chu kỳ lợn nái tăng từ 51,2 đến 59,8 khi độ dày mỡ lưng P2 của lợn cái
hậu bị tăng từ 14,6 đến 21,7 mm tại thời điểm phối giống đầu tiên Theo Close et
al (2004) lợn cái hậu bị được chọn lọc vào đàn giống nên đạt mức khối lượng là
60 kg với độ dày mỡ lưng khoảng 7 - 8mm và đưa vào phối giống đầu tiên ở độ tuổi từ 220 - 230 ngày, khối lượng cơ thể từ 130 - 140kg, độ dày mỡ lưng là 16 -
20 mm và phối giống ở lần động dục thứ 2 hoặc thứ 3
Ở gia súc cho thịt tốc độ tăng trọng thịt nạc ngày càng cao và điều này cũng xảy ra tương tự đối với lợn cái hậu bị làm giống Mà lợn cái hậu bị tích luỹ
Trang 33nạc cao hơn sẽ đạt độ tuổi thành thục chậm hơn so với lợn hậu bị tích luỹ mỡ
nhiều hơn (Rydmer et al., 1994; trích dẫn bởi Evans and O’Doherty, 2001), điều
này dẫn đến khả năng sinh sản ở lợn cái hậu bị giảm (Julian, 2001) Bên cạnh đó, tốc độ tích luỹ của thịt nạc và mỡ có mối tương quan với sinh lý thành thục và năng suất sinh sản của lợn cái hậu bị (Edwards, 1998; trích dẫn bởi Evans and O’Doherty, 2001) và tốc độ này như là một chỉ tiêu quan trọng để xác định độ
thành thục sinh dục (Ghaughan et al.,1997) Vì vậy, một điều quan trọng để đảm
bảo lợn cái hậu bị đưa vào đàn giống có tuổi thọ kéo dài và năng suất sinh sản cao thì chúng cần đáp ứng đủ lượng nạc và mỡ dự trữ Điều này đặt ra một câu hỏi cho các nhà nghiên cứu dinh dưỡng gia súc là làm thế nào để cung cấp đủ nhu cầu năng lượng và axit amin (protein) cho lợn cái hậu bị nhằm cân đối và đáp ứng tối ưu lượng thịt nạc và mỡ dự trữ trong cơ
Việc xác định các mục tiêu năng suất sinh sản là điều quan trọng trong chăn nuôi lợn nái Theo Julian (2001), mục tiêu thứ nhất là phải đạt được 2,4 lứa/nái/năm, mỗi chu kỳ bao gồm 116 ngày mang thai, 18 - 28 ngày nuôi con, khoảng cách từ lúc cai sữa đến phối giống lại thành công là 6 - 9 ngày Mục tiêu thứ hai là số lợn con cai sữa/nái/lứa là 10,5 (số lợn con sinh ra là 11) đối với lợn nái đẻ trên 1 lứa là 10 (số lợn con sinh ra là 10,5) đối với nái hậu bị Như vậy, mỗi con lợn nái sẽ đạt khoảng 24,5 lợn con cai sữa/năm và năng suất cho vòng đời lợn nái trung bình là 60 lợn con cai sữa và độ tuổi loại thải tối thiểu là 3 năm
Tuy nhiên, những mục tiêu này rất khó đạt được là vì tỷ lệ loại thải lợn nái
ở hầu hết các trang trại không nhỏ vào khoảng 30 - 50% (Thacker, 1999; Young, 2003), trong số đó khoảng 45 - 50% lợn hậu bị bị loại thải sau lứa đẻ thứ nhất và
35% ở lứa đẻ thứ hai (Lucia et al., 2000; Julian, 2001) Lý do loại thải này chủ
yếu vì sau lứa đẻ thứ nhất lợn hậu bị không đủ khả năng sinh sản (không biểu hiện động dục và không có chửa) Điều này dẫn đến kết quả là đàn nái hậu bị thay thế chiếm một tỷ lệ đáng kể trong đàn lợn giống và bất kỳ sự cải tiến nào về khả năng sinh sản của chúng đều ảnh hưởng lớn đến năng suất sinh sản của toàn đàn Hơn nữa, trong số các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của đàn nái
cơ bản, chế độ nuôi dưỡng lợn cái hậu bị từ khi chọn lọc đến lần phối giống đầu tiên đóng một vai trò rất quan trọng, bởi vậy chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý đàn lợn hậu bị thay thế cần được chú ý và quan tâm
Lợn cái hậu bị được chọn lọc để cho ra đời sau có năng suất sinh trưởng cao, tỷ lệ mỡ thấp đòi hỏi chế độ dinh dưỡng cao hơn lợn không được chọn lọc
Trang 34Một vài nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng việc nuôi lợn nái hậu bị bằng cách cho ăn hạn chế 50 - 85% so với ăn tự do đã làm chậm thời gian động dục từ 10 đến 14 ngày Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng hạn chế lượng thức ăn, năng lượng, protein hoặc axit amin thấp hơn 10 - 15% so với lượng thức ăn thu nhận tự do trong suốt thời gian sinh trưởng của lợn cái hậu bị không làm chậm biểu hiện động dục, giảm tỷ lệ rụng trứng hay giảm năng suất sinh sản ở các lứa đẻ (Young, 2003) Nhưng cũng có ý kiến chứng minh rằng tốc độ phát triển nhanh ở lợn hậu bị sinh trưởng không làm ảnh hưởng có hại đến năng suất sinh sản cho một chu kỳ giống Nghiên cứu ở cả hai trường ĐH bang Kansas (KSU) và Alberta (UA) ngay lập tức đã khẳng định lập luận này Trường ĐH Alberta cho biết nếu tốc độ tăng trọng khoảng 0,55-0,8 kg ở giai đoạn từ khi sinh đến 100 ngày tuổi thì không có mối quan hệ giữa tốc độ tăng trọng và độ tuổi thành thục Tương tự nghiên cứu trên, trường ĐH bang Kansas đã đưa ra kết luận với tốc độ sinh trưởng khoảng 0,6 - 1,04 từ 70 đến 200 ngày tuổi đối với tất cả lợn cái hậu bị đạt thành thục sinh dục thì không có mối quan hệ giữa tốc độ sinh trưởng và độ tuổi thành thục (trích bởi Young, 2003) Vì thế một khuyến cáo cho rằng lợn nái hậu bị trong giai đoạn sinh trưởng (trước động dục) cần được ăn tự do để đảm bảo nhận đuợc ít nhất 8360 kcal DE trên ngày suốt cả thời kỳ từ khi chọn lọc đến khi phối giống (Thacker, 1999) tức là khẩu phần phải đảm bảo đạt 3100 kcal DE/kg, 15% protein, 0,7%
lysine 0,82 % Ca và 0,73% P Lợn nái cần trải qua ít nhất 2 chu kỳ động dục, khối lượng đạt 115 - 125 kg và độ dày mỡ lưng đạt 17 - 20 mm Hoặc nếu vì một lý do nào đó lợn phải ăn hạn chế trong qua trình mang thai thì ít nhất cũng phải được ăn
tự do trong 2 tuần trước khi phối giống Trong khi đó, Gill (2007) cho biết lợn cái hậu bị nên ăn tự do ở các giai đoạn 30 – 60 kg với khẩu phần ăn chuẩn của lợn thịt sinh trưởng và 60 – 100 kg với khẩu của lợn thịt kết thúc Giai đoạn từ 100 kg đến phối giống lợn cái hậu bị cần ăn khẩu phần với mức 13,5 MJ/kg và 0,8% lysine nhằm tiếp tục đáp ứng nhu cầu cho sự tích luỹ thịt nạc và mỡ, nhưng lượng ăn vào cần được hạn chế khoảng 80 - 90% so với độ thèm ăn để kiểm soát tốc độ tăng
trọng nhanh và giảm rủi ro về què chân Close et al (2004) lại cho rằng giai đoạn
25 – 60 kg lợn cái hậu bị nên ăn tự do với mật độ năng lượng và lysine trong khẩu phần là 3,25 Mcal ME/kg và 12 g /kg, từ 60-125 kg cho ăn ở mức 2,5 - 3,5 kg Một chiến lược quan trọng nhằm đảm bảo tỷ lệ rụng trứng và phôi sống đạt cao nhất ở lợn cái hậu bị là cung cấp thức ăn với mức cao (ăn tự do) trong thời kỳ động dục trước khi phối giống với hàm lượng năng lượng và lysine tương tự như giai đoạn
Trang 3560 - 125 kg Ngược lại với các ý kiến nêu trên, tại Anh cho khuyến cáo gần đây nhất về nhu cầu dinh dưỡng cho lợn cái hậu bị ở giai đoạn sinh trưởng từ 30 đến
130 kg nên cho lợn hậu bị ăn hạn chế để có tăng trọng thấp hơn nhưng độ dày mỡ lưng cao hơn lợn cái nuôi thịt
Yếu tố giống ảnh hưởng rất lớn đến độ tuổi thành thục sinh dục, trong đó lợn cái lai hậu bị đạt độ tuổi thành thục sinh dục sớm hơn và số ngày không
mang thai ngắn hơn so với lợn giống thuần (Bidanel et al., 1996) Bên cạnh đó,
sự biến động về độ tuổi thành thục sinh dục giữa các giống là trong khoảng 20 ngày và được giải thích bởi sự tiến bộ di truyền trong các giống và chế độ nuôi dưỡng Mặt khác, lợn cái hậu bị nên đạt khối lượng cơ thể tối thiểu khoảng 75 kg
trước khi đạt sự thành thục sinh dục (Young et al.,1990; trích dẫn bởi Evans and
O’Doherty, 2001) Tuy nhiên, khối lượng cơ thể ở độ tuổi thành thục sinh dục rất
khác nhau giữa các giống và chế độ nuôi dưỡng Bởi vậy, Philip et al (2007,
2008) đã nghiên cứu ảnh của chế độ dinh dưỡng cho hai dòng lợn cái hậu bị YL
và Nebraska Index Line (L45X) (60 kg - phối giống) với hai chế độ ăn tự do (3400 Kcal ME/kg và 0,7% lysine tổng số) và ăn hạn chế 75% năng lượng ME
ăn vào so với ăn tự do (3400 ME Kcal và 0,93% lysine tổng số) đến khả năng sinh trưởng và sinh sản qua 4 lứa đẻ Kết quả cho thấy, tuy tốc độ sinh trưởng ở
cả 2 giống YL và L45X khác nhau rõ rệt tại thời điểm 123 ngày tuổi và lúc phối giống, nhưng khối lượng cơ thể cũng như độ dày mỡ lưng vào lúc đẻ và cai sữa lợn con giữa hai giống và giữa hai chế độ ăn không có sự sai khác Mặc dù chế
độ ăn hạn chế đã làm giảm khối lượng cơ thể và độ dày mỡ lưng lúc phối giống nhưng không làm giảm năng suất sinh sản (số con cai sữa/ổ, khối lượng lợn con cai sữa/ổ) của lợn nái qua 4 lứa đẻ
Giảm lượng thức ăn cho gia súc sẽ làm giảm giá thành thức ăn Klindt et
al (1999) đã nghiên cứu các chế độ nuôi dưỡng ở lợn cái hậu bị từ 13 - 25 tuần
tuổi Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng hạn chế mức ăn vừa phải (74% so với ăn tự do) ở lợn cái hậu bị trong giai đoạn này có khả năng tăng 30% số phôi sống sót trên một đơn vị thức ăn tiêu thụ từ 13 tuần tuổi đến 30 ngày có chửa Bởi vậy, chế độ ăn hạn chế cho lợn cái hậu bị có thể tăng hiệu quả chăn nuôi lợn mà
không ảnh hưởng tới năng suất sinh sản Tương tự như trên, Le Cozler et al
(1999) cho biết lợn cái hậu bị ăn hạn chế (90% so với ăn tự do) cũng không ảnh hưởng tới năng suất sinh sản Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ ra rằng lợn cái hậu bị
ăn hạn chế có lượng thức ăn thu nhận ở giai đoạn nuôi con và tỷ lệ loại thoải cao
Trang 36hơn so với lợn cái hậu bị ăn tự do Điều này cho thấy hiệu quả kinh tế ở lợn cái hậu bị ăn hạn chế có thể giảm sau hai lứa đẻ đầu tiên
Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc nuôi dưỡng lợn cái hậu bị nhưng vẫn còn nhiều tranh luận, đặc biệt về vấn đề nuôi lợn cái hậu bị theo chế
độ ăn tự do hay ăn hạn chế? Như vậy có thể nói rằng, tuỳ thuộc vào giống, độ dày mỡ lưng và khối lượng cơ thể của lợn cái hậu bị lúc phối giống mà có chế độ dinh dưỡng thích hợp
2.6.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Các công trình nghiên cứu về lĩnh vực nuôi dưỡng lợn cái hậu bị giống ngoại ở nước ta còn rất ít Phùng Thị Vân và cs (2000) đã nghiên cứu chế độ ăn hạn chế ở lợn cái hậu bị L, Y và cái lai YL, LY tới năng suất sinh sản của chúng qua 3 lứa đẻ Tác giả đã đưa ra được qui trình nuôi dưỡng chúng, từ 30 - 65 kg ăn
tự do với nhu cầu năng lượng 5512 Kcal ME /ngày ở khẩu phần 3000 Kcal ME/kg và 15% protein; từ 65 kg đến 14 ngày trước phối giống tương ứng với
5800 Kcal ME/ngày ở khẩu phần 2900 Kcal ME/kg và 14% protein Kết quả cho thấy nhu cầu năng lượng trao đổi cũng như mật độ chất dinh dưỡng đó trong khẩu phần thấp hơn rất nhiều so với khuyến cáo của NRC (1998) Hơn nữa, nghiên cứu này vẫn còn hạn chế vì chỉ thực hiện tại một vùng sinh thái trong cả nước (một số tỉnh miền Bắc) và qui trình nuôi dưỡng này lại áp dụng chung cho
cả 4 nhóm giống trên
Năm 2014, Đoàn Vĩnh nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng và chế độ ăn thích hợp trên lợn cái hậu bị giống ngoại L, Y, LY và YL, kết quả cho thấy: Nhu cầu năng lượng trao đổi cho lợn cái hậu bị L và Y trong giai đoạn từ 20 kg đến
50 kg; từ 51 kg đến 90 kg và từ 91 kg đến khi phối giống lứa 1 là 3.265 kcal/kg
Protein thô; lysine; methionine + cystine và threonine tiêu hóa, tương ứng trong giai đoạn từ 20 kg đến 50 kg là 17%; 0,75%; 0,44%; 0,46%; từ 51 đến 90 kg là
16%; 0,7%; 0,42%; 0,44% và từ 91 kg đến khi phối giống lần 1 là 14%; 0,55%;
0,33; 0,37 trong điều kiện cho ăn tự do (ad libitum) Nhu cầu năng lượng, protein
và axit amin tiêu hóa (lysine, methionine + cystine, threonine) ở lợn cái hậu bị thuộc hai giống lai YL và LY là như nhau và có mức dinh dưỡng khẩu phần ở
mức 105% NRC (1998) Nhu cầu năng lượng trao đổi, cho lợn cái hậu bị giống lai YL và LY trong giai đoạn từ 20 kg đến 50 kg; từ 51 kg đến 90 kg và từ 91 kg đến khi phối giống lứa thứ nhất 3.425 kcal/kg Protein thô; lysine; methionine + cystine và threonine tiêu hóa, tương ứng trong giai đoạn từ 20 kg đến 50 kg là
Trang 3718%; 0,78%; 0,46%; 0,49%; từ 51 kg đến 90 kg là 17%; 0,74%0; 44%; 0,48% và
từ 91 kg đến khi phối gống lứa thứ nhất là 15%; 0,57%; 0,39%; 0,46% trong điều kiện cho ăn tự do (ad libitum) Chế độ nuôi dưỡng lợn cái hậu bị thích hợp nhất ở
cả 2 giống thuần L và Y là như sau: với khẩu phần ăn có mức ME, protein thô và axit amin tiêu hóa (lysine, methionine+cystine và threonine) theo khuyến cáo của NRC (1998) giai đoạn dưới 90 kg nên cho ăn tự do, giai đoạn từ 90 kg đến 10 ngày trước phối giống nên cho ăn hạn chế 90% so với khả năng ăn được của lợn khi được ăn tự do và giai đoạn 10 ngày trước phối giống nên cho ăn tự do Chế
độ nuôi dưỡng lợn cái hậu bị thích hợp nhất đối với giống lai giữa Landrace và Yorkshire là như sau: với khẩu phần ăn có mức ME, protein thô và axit amin tiêu hóa (lysine, methionine+cystine và threonine) 105% NRC (1998) Giai đoạn dưới
50 kg nên cho ăn tự do, giai đoạn từ 51 kg đến 10 ngày trước phối giống nên cho
ăn hạn chế 90% so với khả năng
Theo báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu nhu cầu năng lượng, protein và axit amin (lysine, methionine, threonine và tryptophan) cho các tổ hợp lợn lai ngoại x ngoại nuôi thịt ở Việt Nam”, kết quả cho thấy nhu cầu năng lượng và protein cho lợn lai 2 và 4 máu ngoại giai đoạn 20 - 50 kg và 50 kg đến xuất chuồng tương ứng là 3050 - 2950 Kcal ME/kg và 16 - 13% Nhu cầu axit amin tiêu hóa đối với lợn lai 4 máu ngoại giai đoạn 20 – 50 kg và 50 kg đến xuất chuồng tương ứng là lysine: 0,98 - 0,83% (vụ đông - xuân) và 0,89 - 0,74% (vụ hè - thu), methionine + cystine: 0,64 - 0,50% (vụ đông-xuân) và 0,53 - 0,44% (vụ hè - thu), threonine:
0,71 - 0,56% (vụ đông-xuân) và 0,60 - 0,50% (vụ hè - thu), tryptophan: 0,18 - 0,15% (vụ đông - xuân) và 0,16 - 0,13% (vụ hè - thu) Nhu cầu axit amin tiêu hóa đối với lợn lai 2 máu ngoại giai đoạn 20-50 kg và 50 kg đến xuất chuồng tương ứng là lysine: 0,89 - 0,74% (vụ đông-xuân) và 0,74 - 0,65% (vụ hè-thu), methionine + cystine: 0,53 - 0,44% (vụ đông-xuân) và 0,48 - 0,39% (vụ hè-thu), threonine: 0,60 - 0,50% (vụ đông-xuân) và 0,54 - 0,44% (vụ hè - thu), tryptophan: 0,16 - 0,13% (vụ đông - xuân) và 0,16 - 0,12% (vụ hè - thu)
Trang 38PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Đối tượng: các trang trại chăn nuôi nái ngoại, lợn nái lai giữa Landrace và
Yorkshire giai đoạn nuôi con
Thời gian: nghiên cứu được thực hiện từ tháng 6/2016 đến tháng 8 năm
2018
Địa điểm:
- Điều tra thực địa được triển khai tại các trang trại, gia trại có nuôi lợn nái ngoại tại ba tỉnh đại diện cho ba miền, miền Bắc (tỉnh Thái Nguyên: Thành phố Thái Nguyên, Thị xã Phổ Yên, Thị xã Sông Công); miền trung (Tỉnh Thanh Hóa:
huyện Thiệu Hóa, Thọ Xuân và Yên Định) và miền nam (Đồng Nai: huyện Trảng Bom và Thống Nhất)
- Thí nghiệm trong điều kiện chuồng kín đã được triển khai ở Trang trại Lợn Ba Vì có địa chỉ Tãn Lĩnh - Ba Vì – Hà Nội của Công ty CP TACN Thái Dương; thí nghiệm ở điều kiện chuồng hở đã được triển khai ở trại lợn tại Phổ Yên-Thái Nguyên của Công ty CP Dịch vụ Thương mại và Sản xuất Kinh doanh
Hà Thái
3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Nội dung 1: Tìm hiểu, đánh giá về tình hình và hoạt động chăn nuôi của các cơ sở chăn nuôi bao gồm cả nguồn lực, giống, cơ cấu giống, cơ cấu đàn, và
năng suất sinh sản
- Nội dung 2: Ảnh hưởng của tỷ lệ lysine tiêu hoá/ME đến năng suất sinh
sản của lợn nái lai Landrace và Yorkshire
- Nội dung 3: Ảnh hưởng của tỷ lệ lysine tiêu hoá/ME đến hiệu quả sử dụng
thức ăn của lợn nái lai Landrace và Yorkshire và lợn con theo mẹ
- Nội dung 4: Ảnh hưởng của tỷ lệ lysine tiêu hoá/ME đến thay đổi khối
lượng và thời gian động dục trở lại của lợn nái lai Landrace và Yorkshire
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Phương pháp nghiên cứu nội dung 1
Số liệu thứ cấp liên quan đến tổng đàn gia súc được thu thập từ các báo
Trang 39cáo của các Sở Nông nghiệp và PTNT, Trung tâm Khuyến nông và niên giám thống kê các tỉnh
Điều tra đánh giá thực địa:
Đề tài đã áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng-hệ thống-ngẫu nhiên
để lựa chọn cơ sở điều tra Các bước chọn mẫu như sau:
Bước 1: Xác định các tỉnh điều tra Căn cứ vào tình hình phát triển chăn nuôi lợn, của các tỉnh trong 3 vùng, điều kiện địa lý, sinh thái và cùng với ý kiến của các chuyên gia, 3 tỉnh đã được lựa chọn cho việc triển khai các nội dung của
đề tài là: Thái Nguyên (Miền Bắc); Thanh Hóa (Miền Trung) và Đồng Nai (Miền Nam)
Bước 2: Chọn các huyện đại diện cho mỗi tỉnh dựa trên số liệu về tình hình chăn nuôi lợn nái ngoại kết hợp với ý kiến chuyên gia
Bước 3: Chọn các xã cho mỗi tỉnh lựa chọn theo phương pháp chuyên gia:
31 xã đã được lựa chọn dựa trên tiêu chí của đề tài và sự tư vấn của cán bộ cấp tỉnh và huyện
Bước 4: dựa trên danh sách cơ sở chăn nuôi do cán bộ thú y hay khuyến nông xã cung cấp, 59 trang trại chăn nuôi lợn nái ngoại được lựa chọn theo tiêu chí của đề tài: >60 nái sinh sản/trại, nuôi trong điều kiện chuồng hở hoặc kín
Bảng 3.1 Danh sách tỉnh-huyện lựa chọn cho nghiên cứu thực địa
Số liệu sơ cấp về thực trạng chăn nuôi lợn nái ngoại đã được thu thập thông qua tổ chức điều tra đánh giá tại 59 cơ sở chăn nuôi thuộc 3 miền trong cả nước bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp thông qua bảng câu hỏi được thiết
kế trước Bảng câu hỏi đã được kiểm nghiê ̣m ta ̣i hiê ̣n trường trước khi điều tra chı́nh thức Bảng hỏi bao gồm các hợp phần chı́nh sau: thông tin chung về trang
Trang 40trại chăn nuôi; thông tin chung về chăn nuôi lợn; và thông tin về năng suất chăn nuôi lợn nái
Phương pháp nghiên cứu nội dung 2,3,4:
Gia súc và bố trí thí nghiệm: Lợn trước khi đưa vào thí nghiệm đã được
kiểm tra cá thể có lý lịch rõ ràng, khoẻ mạnh, không có bệnh tật; lợn có khối lượng, năng suất sinh sản đạt trung bình đàn trở lên và giữa các cá thể không chênh lệch quá 10%
Thí nghiệm được tiến hành trên hai mô hình, chuồng kín và chuồng hở
Mỗi mô hình được thiết kế gồm 3 nghiệm thức với tổng 30 nái nuôi con (Yorkshire lai với Landrace) Lợn ở lứa thứ 2-4 đã được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên trên 30 chuồng cá thể cho lợn nái nuôi con (trong cùng một dãy chuồng nuôi) với 3 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức gồm 10 con nuôi trong 10 ô, 1 con/ô
và mỗi ô là một lần lặp lại
Thiết kế thí nghiệm như sau:
Bảng 3.2 Sơ đồ thiết kế thí nghiệm
thức 1
Nghiệm thức 2
Nghiệm thức 3
Lợn con theo mẹ tập ăn cùng một chế độ khẩu phần ăn như nhau ở các lô
thí nghiệm, và lợn con theo mẹ được bố trí đều trên các lô