1. Trang chủ
  2. » Tất cả

(Luận văn tốt nghiệp) nghiên cứu khẩu phần ăn của ngựa bạch để xác định diện tích trồng cỏ va06 tại chi nhánh nghiên cứu và phát triển động thực vật bản địa

74 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu khẩu phần ăn của Ngựa Bạch để xác định diện tích trồng cỏ VA06 tại Chi nhánh nghiên cứu và phát triển Động thực vật bản địa
Tác giả Ngô Việt Cường
Người hướng dẫn TS. Trần Công Quân
Trường học Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Nông lâm kết hợp
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 2,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Đặt vấn đề (10)
  • 1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài (11)
    • 1.2.1. Mục tiêu của đề tài (11)
    • 1.2.2. Yêu cầu của đề tài (11)
  • 1.3. Ý nghĩa của đề tài (12)
    • 1.3.1. Ý nghĩa trong thực tập và nghiên cứu khoa học (12)
    • 1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất (12)
  • Phần 2. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (10)
    • 2.1. Cơ sở khoa học và lý luận của vấn đề nghiên cứu (13)
      • 2.1.1. Cơ sở khoa học (13)
      • 2.1.2. Cơ sở lý luận của việc trồng và đánh giá các giống cỏ hoà thảo (18)
      • 2.1.3. Đặc điểm của giống cỏ VA06 (24)
    • 2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam (28)
      • 2.2.1. Tình hình nghiên cứu cỏ và Ngựa bạch trên thế giới (28)
      • 2.2.2. Tình hình nghiên cứu cỏ và Ngựa bạch ở Việt Nam (32)
    • 2.2. Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Tỉnh Thái Nguyên (40)
      • 2.2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế -xã hội (40)
      • 2.2.3. Thực trạng tình hình phát triển chăn nuôi động vật hoang dã và bán hoang dã của Trại (0)
      • 2.2.4. Thực trạng phát triển đàn Ngựa bạch của Trại chăn nuôi động vật bán hoang dã ở xã Tức Tranh, huyện Phú Lương (0)
    • 3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (46)
      • 3.1.1. Đối tượng nghiên cứu (46)
      • 3.1.2. Phạm vi nghiên cứu (46)
    • 3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành (46)
    • 3.3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu (46)
      • 3.3.1. Cách tiếp cận của đề tài (46)
      • 3.3.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể (47)
      • 3.3.3. Phương pháp điều tra thực địa (47)
      • 3.3.4. Phương pháp phân tích & xử lý số liệu (49)
  • Phần 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (13)
    • 4.1. Sơ lược về tình hình phát triển của Chi nhành Chăn nuôi động vật bán hoang dã tại xã Tức Tranh, huyện Phú lương, tỉnh Thái Nguyên (53)
      • 4.1.1. Tình hình sản xuất của của cây thức ăn chăn nuôi (53)
      • 4.1.2. Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi ngựa (53)
      • 4.1.3. Công tác thú y (54)
    • 4.2. Khả năng cho năng suất của giống cỏ VA06 qua các thời vụ trong năm (55)
      • 4.2.1. Một số chỉ tiêu sinh trưởng của cỏ VA06 qua các thời vụ (55)
      • 4.2.2. Năng suất của cỏ VA06 qua các thời vụ khác nhau (58)
      • 4.2.3. Ảnh hưởng của thời vụ đến hiệu suất sử dụng cỏ VA06 (58)
    • 4.3. Xác định khẩu phần ăn của 01 Ngựa bạch (kg/con/năm) tại Trại chăn nuôi động vật bán hoang dã ở xã Tức Tranh, huyện Phú Lương (60)
      • 4.3.1. Khẩu phần ăn của Ngựa bạch (60)
      • 4.3.2. Cân đối khẩu phần thức ăn của Ngựa bạch với diện tích cần trồng cỏ VA06 ở Chi nhánh chăn nuôi động vật bán hoang dã ở xã Tức Tranh, huyện Phú Lương (60)
    • 4.4. Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật trong trồng cỏ nhằm phát triển chăn nuôi động vật bán hoang dã thuộc Chi nhánh nghiên cứu và phát triển động thực vật bản địa, ở xã Tức Tranh, huyện Phú Lương (64)
      • 4.4.2. Kỹ thuật trồng một số cỏ hoà thảo thân bụi (65)
  • Phần 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ (53)
    • 5.1 Kết luận (70)
    • 5.2. Kiến nghị (70)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (71)

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGÔ VIỆT CƯỜNG NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH DIỆN TÍCH TRỒNG CỎ VA06 PHÙ HỢP ĐỂ LÀM THỨC ĂN CHO NGỰA BẠCH TẠI CHI NHÁNH NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN

Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

Mục tiêu của đề tài

- Xác định được khẩu phần ăn của Ngựa bạch trung bình/ngày và trung bình/năm (Kg/con/năm)

- Xác định sản lượng trung bình cỏ/ha/năm có thể cung cấp thức ăn cho động vật

- Cân đối lượng thức ăn (cỏ) với số lượng động vật (Ngựa bạch) để phát triển chăn nuôi Ngựa và hươu giải pháp phát triển mô hình.

Yêu cầu của đề tài

Đề tài tập trung thu thập số liệu về khẩu phần thức ăn cỏ VA06 dành cho một con ngựa bạch trung bình hàng ngày hoặc hàng năm, nhằm đánh giá lượng thức ăn tiêu thụ Ngoài ra, nghiên cứu còn xác định sản lượng trung bình (kg/ha/năm) của cỏ VA06 tại Chi nhánh nghiên cứu và phát triển Động thực vật bản địa – Công ty cổ phần khai khoáng miền núi, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên Những dữ liệu này giúp tối ưu hóa quản lý chăn nuôi và nâng cao năng suất cỏ phục vụ chăn nuôi ngựa bạch trong khu vực.

Để đảm bảo cân đối sản lượng cỏ cho diện tích 1 ha phù hợp với số lượng Ngựa bạch, cần xây dựng kế hoạch quản lý chăm sóc và phân bổ nguồn thức ăn hợp lý Tại Chi nhánh Nghiên cứu và Phát triển Động vật Thực vật Bản địa của Công ty Cổ phần Khai khoáng Miền núi, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, đề xuất các giải pháp phát triển bền vững nhằm nâng cao năng suất cỏ và đảm bảo dinh dưỡng cho đàn Ngựa bạch Việc áp dụng các phương pháp kỹ thuật mới và phối hợp nghiên cứu khoa học sẽ góp phần thúc đẩy phát triển chăn nuôi hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tế địa phương.

Ý nghĩa của đề tài

Ý nghĩa trong thực tập và nghiên cứu khoa học

Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp các dữ liệu khoa học có giá trị về khẩu phần thức ăn cỏ VA06 cho một ngựa bạch trung bình mỗi ngày Thông qua phân tích, nghiên cứu đã xác định rõ lượng thức ăn phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả dinh dưỡng và sức khỏe cho ngựa Các thông tin này giúp các nhà chăn nuôi tối ưu hóa khẩu phần ăn, đảm bảo ngựa phát triển tốt và duy trì hiệu suất làm việc cao Đây là nguồn dữ liệu quan trọng để xây dựng chế độ dinh dưỡng cân đối, phù hợp với từng mục tiêu chăn nuôi cụ thể.

Trong vòng 01 năm, đã xác định được sản lượng trung bình đạt x kg/ha/năm tại Chi nhánh nghiên cứu và phát triển Động thực vật bản địa – Công ty Cổ phần Khai khoáng miền núi, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

Dưới đây là kết quả nghiên cứu quan trọng của đề tài, cung cấp tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác nghiên cứu và phát triển tại Chi nhánh Nghiên cứu và Phát triển Động Thực vật Bản Địa – Công ty Cổ phần Khai khoáng miền núi, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Cơ sở khoa học và lý luận của vấn đề nghiên cứu

2.1.1.1 Đặc tính thực vật của cỏ hoà thảo

Cỏ hoà thảo thuộc họ hoà thảo (Graminea), gồm 28 họ phụ, 563 giống và 6802 loài, đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái.

95 - 98% trong thảm cỏ (Từ Quang Hiển và cộng sự, 2002) [4]

Cỏ hòa thảo đóng vai trò quan trọng trong thảm cỏ nhờ khả năng thích ứng rộng, phù hợp với mọi điều kiện khí hậu và đa dạng các loại đất đai.

Một số loài thực vật như cỏ xương cá, cỏ lông đồi (Eulalia) và cỏ B.decumbens có khả năng sinh trưởng tốt trên các vùng đất khô hạn, có độ ẩm trung bình từ 20-30%, mặc dù khí hậu mùa đông có nhiệt độ thấp Những loại cỏ này thích nghi cao, phù hợp với điều kiện khí hậu khắc nghiệt, góp phần cải tạo đất và nâng cao năng suất nông nghiệp ở vùng đất hạn chế độ ẩm.

Một số loài thực vật như cỏ Paspalum atratum, cỏ đuôi bò (Festuca rubra) và cỏ đuôi mèo (Pleiuin pratense) có khả năng sinh trưởng tốt ở những vùng đất ẩm ướt với độ ẩm từ 60-80% Trong mùa khô, khi độ ẩm thấp hơn, chúng vẫn phát triển và sinh trưởng bình thường, cho thấy khả năng thích nghi cao với điều kiện khô hạn Những loài này thích hợp để trồng ở các vùng có đất ẩm và có thể chịu được tình trạng khô hạn nhất định.

Có loài sống cả ở những nơi đất nhập nước, đất thụt lầy như: Cỏ môi (leersia hexandra), cỏ bấc (juncus effusus), cỏ lồng vực (echilochloa crus - galli)

Dựa trên đặc tính sinh thái của từng loại cỏ, chúng ta có thể chọn giống cỏ phù hợp để trồng trên các địa hình đất đai khác nhau, đảm bảo thích nghi tốt với điều kiện độ ẩm và độ cao Việc lựa chọn giống cỏ phù hợp giúp nâng cao hiệu quả trồng cỏ, thúc đẩy sự phát triển bền vững của năng suất và chất lượng cây trồng Nhờ hiểu rõ đặc tính sinh thái của các loại cỏ, người nông dân có thể tối ưu hóa việc chăm sóc và quản lý đất đai, từ đó mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn.

Cỏ hoà thảo là cây có một lá mầm đơn tử diệp, thân tròn hoặc bầu dục, tùy theo giống Lá mọc thành hai dãy, phần lớn không có cuống nhưng bẹ to, có thìa lìa, phiến lá dài với vân lá song song Thân cỏ thuộc loại thân rạ, rỗng trừ mấu đốt, trong đó có những loài thân đặc như cỏ voi, goatemala Rễ của cỏ hoà thảo thường là rễ chùm, và hoa phần lớn là hoa lưỡng tính, thích ứng với phương thức thụ phấn nhờ gió, phù hợp với môi trường sinh thái tự nhiên (Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến, 1976).

Căn cứ vào hình dáng của thân và đặc điểm sinh trưởng người ta chia cỏ hoà thảo thành các loại sau:

Thân rễ là loại thân nằm dưới mặt đất, chia nhánh dưới đất, phù hợp để trồng làm đồng cỏ chăn nuôi nhờ đặc điểm dễ thích nghi Loài cỏ tranh (Imperata cylindrica) là ví dụ điển hình của loại thân rễ này, yêu cầu đất tơi xốp, mật độ cỏ thưa và độ che phủ không quá dày để phát triển tốt.

Thân bụi là loại thân xuất phát từ gốc, đẻ nhiều nhánh tạo thành bụi như khóm lúa, với hệ rễ phát triển mạnh mẽ Các nhánh của thân bụi có khả năng mọc từ dưới mặt đất hoặc trên mặt đất, giúp cây phát triển ổn định và bền vững.

Cỏ ghinê (Panicum maximum) và cỏ mộc châu (Paspalum wirvilei) là những loại cỏ mang lại năng suất cao khi trồng trên đất tốt, tơi xốp và thoáng khí Các loại cỏ này phù hợp để phát triển mạnh mẽ và tối ưu hóa sản lượng trong điều kiện đất đai lý tưởng Việc lựa chọn các loại cỏ phù hợp sẽ giúp nâng cao hiệu quả kinh tế và bền vững trong chăn nuôi Đặc biệt, cây cỏ này thích hợp với những vùng đất có độ thoáng khí, giúp phát triển tốt và cho năng suất vượt trội.

Loại cỏ này có thể trồng để thu cắt hoặc chăn thả

Thân bò là loại cỏ có đặc điểm thân nhỏ, mềm, thường nằm ngả trên mặt đất và có khả năng đâm rễ từ các đốt, giúp nhanh chóng tạo thành thảm cỏ dày đặc và phủ kín mặt đất Các giống tiêu biểu như cỏ pangola (Digitaria decumbens) và Lông para (Brachiaria mutica) thể hiện đặc điểm này Tuy nhiên, cỏ thân bò có năng suất thấp, thường được sử dụng để chăn thả hoặc cắt làm cỏ khô dự trữ cho gia súc vào mùa đông.

Loại thân đứng thường mọc mầm từ phần gốc dưới mặt đất hoặc hom trồng, với thân vươn thẳng lên giống như cây mía hoặc cây ngô Loại này có thân cao, to, giúp năng suất cao, phù hợp cho các mô hình trồng cây hiệu quả Đại diện tiêu biểu của loại thân đứng là cỏ VA06 (Varisme số 6), được đánh giá cao về năng suất và khả năng thích nghi.

Cỏ hoà thảo yêu cầu lượng nước cao nhờ vào bộ lá lớn và hệ số toả hơi nước vượt trội so với họ đậu, đạt khoảng 400-500 gram Trong khi đó, cỏ họ đậu chỉ có hệ số toả hơi nước khoảng 214 gram, chứng tỏ khả năng thoát hơi nước của cỏ hoà thảo mạnh hơn, phù hợp với điều kiện cần tưới nhiều nước để phát triển tốt.

216 gram Độ ẩm đất yêu cầu theo từng giai đoạn

Từ nảy mầm đến lúc chia nhánh: 25 - 30%

Giai đoạn phát triển cành: 75%

Cuối thời kỳ sinh trưởng nhu cầu nước giảm dần (Trịnh Văn Thịnh và cs,

- Nhu cầu về dinh dưỡng:

Cỏ hoà thảo đòi hỏi đất tốt, giầu mùn và đạm, lân, kali Nhu cầu dinh dưỡng cũng chia theo từng giai đoạn

Giai đoạn 1 (nảy mầm - phân nhánh) cần nhiều đạm, lân, kali

Giai đoạn 2 (phân nhánh) cần nhiều đạm, lân

Giai đoạn 3 (ra hoa, hình thành hạt) cần nhiều lân và kali

Cỏ càng cho năng suất cao thì yêu cầu lượng phân bón càng lớn.(Nguyễn Đăng Khôi, Dương Hữu Thời, 1981) [6]

- Nhu cầu về không khí:

+ Loại thân rễ, thân bụi, thân đứng chia nhánh dưới mặt đất thì đòi hỏi đất phải tơi xốp, thoáng khí

+ Loại thân bụi chia nhánh trên mặt đất và thân bò thì có thể chịu được đất kém thoáng khí hơn

Cỏ hoà thảo sinh trưởng và tái sinh trải qua 3 giai đoạn

+ Giai đoạn 1: Cỏ mới gieo trồng hoặc sau khi cắt lúc này tốc độ sinh trưởng chậm

+ Giai đoạn 2: Sau khi gieo trồng hoặc thu cắt 15 - 20 ngày cỏ sinh trưởng và phát triển nhanh

+ Giai đoạn 3: Sau khi gieo trồng hoặc thu cắt 40 - 70 ngày cỏ sinh trưởng chậm hoặc ngừng hẳn (Đoàn Ẩn,Võ Văn Trị, 1976) [1]

Căn cứ vào đặc điểm sinh trưởng của từng giống để chúng ta định thời gian thu hoạch hợp lý

Tiêu chuẩn thu hoạch dựa trên điều kiện sinh trưởng của giống cỏ để đảm bảo năng suất và chất lượng, tránh thu hoạch quá non gây giảm giá trị dinh dưỡng và ảnh hưởng đến khả năng tái sinh của cỏ Thu hoạch quá già sẽ làm giảm chất lượng cỏ, giảm số lứa cắt trong năm và làm cỏ dễ bị suy kiệt Nếu bộ phận trên đất phát triển quá nhanh, dự trữ đường bột tích luỹ ở gốc sẽ bị cạn kiệt, dẫn đến suy giảm khả năng sinh trưởng của cỏ và làm giảm tuổi thọ của đồng cỏ Đối với cỏ ghine, thu hoạch nên được thực hiện khi thảm cỏ cao từ 60-90 cm, còn cỏ lông para đạt chiều cao từ 45 cm để đảm bảo năng suất và chất lượng tối ưu.

60 cm, cỏ pangola cao 35 - 50 cm (Hamphray, 1980) [14]

Theo Điền Văn Hưng (1964) [5] cho biết:

- Cỏ thân bò thu hoạch lứa đầu sau khi trồng từ 50 - 55 ngày còn sau khi cắt 30 - 45 ngày

- Cỏ thân bụi thu hoạch lứa đầu sau trồng 60 ngày còn lứa sau khi cắt 35

- Cỏ thân đứng sau trồng hoặc sau khi cắt trên 60 ngày

* Sức sống của cỏ hoà thảo

Sức sống của cây hòa thảo rất đa dạng, có loài sống lâu năm nhưng cũng có loại chỉ tồn tại được trong vòng một năm Chính vì vậy, người ta chia cây hòa thảo thành 4 loại chính, phù hợp với đặc điểm sinh học và thời gian phát triển của từng loại Các loại hòa thảo này giúp người trồng và người sử dụng hiểu rõ hơn về khả năng thích nghi và ứng dụng của từng loại cây trong các lĩnh vực khác nhau.

- Loại cỏ sống 1 năm thì tàn lụi và chết gọi là cỏ hàng năm như: cỏ Xu đăng, cỏ Lồng vực

- Loại cỏ sức sống ngắn (2 -3 năm) như: cỏ giày, cỏ mật (melinis minutiflora)

- Loại cỏ sức sống vừa (4 - 6 năm) như: cỏ pangola, cỏ voi, cỏ ghinê, paspalum, Brachiaria

- Loại có sức sống lâu (6 - 10 năm) như cỏ mạch tước không râu (Quang Ngọ, Sinh Tặng, 1976) [7]

Căn cứ vào sức sống của các loại cỏ mà người ta dự tính thời gian trồng lại để đảm bảo năng suất

Sau đây là bảng thành phần dinh dưỡng của một số giống cỏ hòa thảo

Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng của 1 kg cỏ hoà thảo tươi

Tên cỏ VCK Pr thô Lipit Xơ DXKĐ Khoáng Ca P NLTĐ

(Viện chăn nuôi Quốc gia, 2001) [25]

2.1.1.2 Giá trị kinh tế của cỏ hoà thảo trong nông nghiệp

Thực tiễn sản xuất cho thấy cỏ là thức ăn chủ yếu và tốt nhất cho gia súc nhai lại nhờ năng suất cao, dễ sản xuất và ổn định Các giống cỏ lâu năm sở hữu lợi thế chỉ cần gieo trồng một lần và sử dụng trong nhiều năm, giúp giảm công lao trồng trọt Cỏ hoà thảo có năng suất và giá trị dinh dưỡng cao, ít rụng lá, mốc hoặc độc tố trong quá trình chế biến và bảo quản Ngoài ra, cỏ hoà thảo còn có khả năng chịu đựng tốt, phù hợp với các phương thức chăn nuôi đa dạng, góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi lâu dài.

Tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam

2.2.1 Tình hình nghiên cứu cỏ và Ngựa bạch trên thế giới

2.2.1.1 Tình hình nghiên cứu cỏ trên thế giới Để phát triển chăn nuôi động vật nói chung và động vật nhai lại nói riêng thì một trong những vấn đề cơ bản cần phải giải quyết là nguồn thức ăn xanh

Có hai phương thức chính để cung cấp dinh dưỡng cho gia súc nhai lại: nguồn thức ăn thô xanh và các loại thức ăn khác Trong đó, thức ăn thô xanh đóng vai trò quan trọng, đáp ứng hơn 60% nhu cầu dinh dưỡng của gia súc nhai lại Chính vì vậy, việc đảm bảo nguồn thức ăn thô xanh phong phú và chất lượng cao là yếu tố hàng đầu, đặc biệt đối với các nước có nền kinh tế còn kém phát triển lẫn các quốc gia phát triển.

Sau cuộc “Cách mạng về thức ăn gia súc” ở Tây Âu, đặc biệt là Anh, đã thúc đẩy sự phát triển của ngành chăn nuôi và mở rộng diện tích đồng cỏ Những cải tiến này giúp tăng năng suất chăn nuôi, đồng thời nâng cao vai trò của đồng cỏ trong nền nông nghiệp, góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp các nước Tây Âu.

Trong suốt những thập kỷ qua, diện tích trồng cỏ và ngũ cốc đã có sự chuyển biến đáng kể Từ năm 1942 tại Pháp, diện tích trồng cỏ chỉ đạt 4 triệu ha và ngũ cốc 15 triệu ha, đến năm 1974, đã tăng lên lần lượt là 12 triệu ha và giảm còn 8 triệu ha Ở Liên Xô cũ, diện tích trồng cỏ đã từ 2,1 triệu ha (1913) tăng lên 7,3 triệu ha (1933), và đến năm 1961, đạt mức 51,9 triệu ha, nhấn mạnh bước tiến lớn trong lĩnh vực nông nghiệp Cùng với đó, việc nghiên cứu, chọn lọc giống cây cỏ có năng suất và giá trị dinh dưỡng cao đã trở thành ưu tiên, trong đó ngoài giống nguyên chủng, còn lai tạo các giống cỏ mới có năng suất và chất lượng vượt trội Những thành tựu này góp phần quan trọng trong việc cung cấp thức ăn cho gia súc, đảm bảo chất lượng và số lượng phù hợp Theo ước tính hiện nay, trên toàn thế giới, gia súc sử dụng khoảng 3,4 tỷ ha đất cho chăn thả và sản xuất thức ăn chăn nuôi, diện tích này lớn hơn 2/3 diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng, chứng tỏ vai trò quan trọng của lĩnh vực này trong nền nông nghiệp toàn cầu.

Nghiên cứu cho thấy cỏ phát triển tốt nhất trên đất thoáng nước, có độ pH chua nhẹ và đất kém màu mỡ, nhưng cũng có thể phát triển trong thời gian ngắn trên đất không thoáng nước Các nước như Nam Phi, Nam Mỹ, Mỹ và Tiệp Khắc đã thành công trong việc nghiên cứu và ứng dụng nhiều giống cỏ có năng suất và chất lượng cao, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất cỏ.

2.2.1.2 Tình hình nghiên cứu Ngựa Bạch trên thế giới

Theo số liệu thống kê của FAO, thế giới có khoảng 80 quốc gia phát triển ngành chăn nuôi ngựa, với tổng số ngựa vào năm 2000 là khoảng 63 triệu con, giảm xuống còn khoảng 60 triệu con vào năm 2003 Để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm chăn nuôi ngựa, nhiều quốc gia đã nghiên cứu và phát triển các giống ngựa cao sản như: giống ngựa dòng Ku-Sun với năng suất sữa từ 14 đến 21 lít, chiều cao từ 156 đến 160 cm, trọng lượng từ 500 đến 600 kg; giống ngựa Ả Rập cao từ 151 đến 153 cm, nặng từ 450 đến 500 kg, có khả năng chạy nhanh từ 55 đến 60 km/giờ; và giống ngựa Kabardin cao từ 150 đến 155 cm, trọng lượng khoảng 500 kg.

Ngựa Ku – Su có trọng lượng từ 663 đến 675 kg và thích hợp để sản xuất thịt, trong khi ngựa Ku – Sun được phát triển để phục vụ mục đích kéo và cưỡi Ngựa Ku có khả năng chạy nhanh đạt tốc độ 45 – 50 km/giờ, kéo trọng tải lên tới 2000 kg, giúp vận chuyển hàng hóa hiệu quả Với khả năng đi liên tục trong đêm từ 250 đến 280 km, ngựa Ku – Sun là lựa chọn đáng tin cậy cho các chuyến đi dài và công việc nặng nhọc.

Nhiều quốc gia đã tập trung nghiên cứu chọn lọc các giống ngựa địa phương nhằm nâng cao năng suất và thích nghi với điều kiện chăn nuôi hộ gia đình Ngoài ra, việc pha máu với các giống ngựa có năng suất cao từ nước ngoài góp phần cải tạo và phát triển các giống ngựa phù hợp với môi trường địa phương Các hoạt động này nhằm thúc đẩy sự đa dạng gen và nâng cao hiệu quả chăn nuôi ngựa trong cộng đồng.

Nhiều nước đã nghiên cứu và ứng dụng từ máu và huyết thanh ngựa chửa để chiết xuất các loại thuốc kích dục tố cho gia súc, GamaGlobulin, vắc-xin phòng dại và rắn cắn, kháng huyết thanh chống lép to, băng cầm máu, enzym phát hiện nhiễm độc thuốc trừ sâu trong nông nghiệp Trung Quốc là quốc gia gần Việt Nam, tuyển chọn ngựa Bạch để nuôi thành các trang trại gia đình, chọn lọc nhân thuần và bảo tồn nguồn gen ngựa Bạch nhạn Theo Hasse và cộng sự (2007), gen quy định màu trắng là gen trội W, khi tổ hợp gen là Ww, ngựa sẽ có màu lông trắng toàn thân, da hồng, mắt nâu hoặc xanh Ngựa cái trắng lai với ngựa đực màu sẽ cho 50% con mang gen Ww màu trắng, 25% con mang gen ww màu thường, và 25% con mang gen WW có nguy cơ chết thai Tổ hợp gen gây chết (WW) đã được phát hiện từ năm 1953 và khẳng định vào năm 1969.

Màu lông là một đặc điểm nổi bật đóng vai trò quan trọng trong quá trình thuần hóa và chọn lọc giống vật nuôi từ thời kỳ đầu Trong khi các loài động vật hoang dã thường có màu lông tương đối giống nhau, thì các loài vật nuôi như ngựa lại sở hữu nhiều kiểu màu lông đa dạng Điều này phản ánh sự khác biệt trong quá trình chọn lọc, khi môi trường và mục đích nuôi nhốt ảnh hưởng lớn đến sự đa dạng của màu lông trên các loài vật nuôi.

Các gen ảnh hưởng đến màu lông và da của động vật có vú có thể được chia thành hai nhóm chính: nhóm thứ nhất ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp các sắc tố, trong khi nhóm thứ hai tác động trực tiếp vào các tế bào sinh ra sắc tố (Stefan, 2009).

Các gen kiểm soát màu lông ngựa đã được nghiên cứu từ lâu, giúp hiểu rõ các yếu tố di truyền liên quan đến màu lông Gần đây, các alen và marker chức năng mới đã được phát hiện ở mức phân tử ADN, mở ra nhiều cơ hội mới trong lĩnh vực di truyền học ngựa Ngựa có các màu lông cơ bản như hạt dẻ, hồng và đen, đều được xác định bởi bốn alen chính, trong đó hai alen thuộc locut Extension (E) và hai alen còn lại liên quan đến các gen khác trong hệ thống di truyền màu lông Các phát hiện này góp phần nâng cao kiến thức về di truyền màu lông ngựa và hỗ trợ các dự án chọn giống hiệu quả hơn.

Màu hạt dẻ và đen là kiểu di truyền lặn (Ee, Ee và Aa, Aa), trong đó màu hạt dẻ lấn át màu đen Màu đen chỉ biểu hiện khi kiểu gen Extension khác với kiểu gen Ee Màu hồng xuất hiện do tổ hợp Aa ở locus A kết hợp với các alen Ee hoặc e.

Các đột biến quy định màu lông của ngựa đã được phân lập rõ ràng trong nghiên cứu Trong gen MC1R, Marklund (1996) phát hiện alen e, quy định màu hạt dẻ do đột biến nucleotide đơn (C901T, AF 2883575) Wagner và Reissmann (2000) sau đó xác định alen thứ hai là ea, cũng quy định màu hạt dẻ Trong phân tích gen ASIP, Rieder (2001) báo cáo đột biến mất 11 bp liên quan đến kiểu gen lặn màu lông đen ở ngựa, phát hiện này giúp hiểu rõ cơ chế di truyền các màu lông Sự phối hợp các alen này tương tác với nhau tạo ra sự dịch chuyển màu của ba màu lông chính trên ngựa.

Trong lĩnh vực chăn nuôi, nhiều ngựa con sinh ra có màu lông trắng do bị bạch tạng, gây khó khăn trong việc phân biệt giữa ngựa bạch và ngựa bạch tạng Ngựa bạch tạng thường không khả năng sinh sản, và ngựa con sinh ra màu trắng thường gặp phải hội chứng OLWS (Overo Lethal White Syndrome) gây tử vong Nghiên cứu của các tác giả như Yang (1998), Santschi (1998) và Metallinos (1998) đã phát hiện đột biến hai nucleotid (TC353-354AG) trong gen Endothelin-B receptor (EDNRB) liên quan đến hội chứng chết của ngựa con màu trắng Đột biến này dẫn đến thay đổi amino acid từ Isoleucine sang Lysine trong G-protein coupled receptor, và hội chứng chết của ngựa con phát sinh chủ yếu do đột biến đồng hợp tử, khi cả bố mẹ đều mang kiểu gen dị hợp tử.

Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Tỉnh Thái Nguyên

2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế -xã hội

2.2.1.1 Điều kiện tự nhiên a vị trí địa lý

Chi nhánh nghiên cứu và phát triển động thực vật bản địa – Công ty cổ phần khai khoáng miền núi

Chi nhánh chăn nuôi và phát triển động thực vật bản địa tọa lạc tại xóm Gốc Gạo, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, có tổng diện tích tự nhiên là 5,8ha Vị trí địa lý của chi nhánh tiếp giáp với các xã lân cận, tạo thuận tiện cho hoạt động sản xuất và phát triển bền vững.

- Phía đông bắc và đông tiếp giáp với xã Phú Đô

- Phía tây và tây bắc tiếp giáp xã Yên Lạc

- Phía nam giáp với xã Vô Tranh b Điều kiện về khí hậu - thủy văn

Chi nhánh nằm trong khu vực trung du và miền núi phía Bắc, nơi có khí hậu đặc trưng với hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Khí hậu này ảnh hưởng lớn đến hoạt động và đời sống của cộng đồng địa phương Mùa mưa kéo dài thường xuyên, đem lại lượng nước phong phú cho sản xuất nông nghiệp, trong khi mùa khô đặc trưng bởi khí hậu khắc nghiệt, cần áp dụng các biện pháp thích hợp để đảm bảo phát triển bền vững.

Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, tập trung chủ yếu vào các tháng 6, 7 và 8, trong khi lượng mưa những tháng còn lại thấp hơn Trung bình lượng mưa hàng năm khoảng 1.875 mm, cao nhất đạt 2.390 mm và thấp nhất khoảng 1.420 mm, giúp duy trì một hệ sinh thái phong phú Nhiệt độ trung bình trong năm dao động từ 23°C đến 28°C, phù hợp cho các hoạt động ngoài trời và du lịch Độ ẩm tương đối duy trì ở mức cao từ 80% đến 85%, tạo nên khí hậu ẩm ướt phù hợp với các loại thực vật đặc trưng của khu vực.

Mùa khô kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, đặc trưng bởi lượng mưa ít, nhiệt độ thấp và thời tiết khô lạnh Nhiệt độ trung bình trong khoảng từ 15-19˚C, có những thời điểm nhiệt độ giảm xuống còn 4-7˚C, với độ ẩm tương đối dao động từ 70-75%.

Trung tâm có dòng Sông Cầu chảy qua bao bọc phía bắc và phía đông, thường xuyên cung cấp nước cho sản xuất

Điều kiện thủy văn và thời tiết thuận lợi cho sản xuất của trang trại, tuy nhiên sự khác biệt giữa các mùa tạo ra những thách thức Lượng mưa nhiều vào tháng 6, 7, 8 kết hợp với địa hình đất phẳng pha cát dễ gây ngập úng cây trồng, ảnh hưởng đến năng suất Ngược lại, mùa khô dài gây thiếu nước và tác động tiêu cực đến việc sản xuất thức ăn cho gia súc Các yếu tố về địa hình, đất đai, giao thông và thủy lợi đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hiệu quả sản xuất nông nghiệp.

* Điều kiện về địa hình, đất đai

Trang trại có địa hình bằng phẳng, dòng Sông Cầu chảy qua tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất Đất đai tương đối màu mỡ, tầng đất canh tác dày, phù hợp để trồng cây thức ăn xanh cho gia súc Trong những năm gần đây, trang trại đã đầu tư thử nghiệm các giống cây thức ăn xanh năng suất cao, giàu dinh dưỡng, giúp đáp ứng nhu cầu thức ăn xanh mùa mưa và dự trữ cho mùa khô Tổng diện tích trang trại là 5,8 ha, trong đó có 1,5 ha dành cho trồng cây thức ăn xanh và 1 ha đồng cỏ chăn thả, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của chăn nuôi gia súc.

Chi nhánh nghiên cứu và phát triển động thực vật bản địa của Công ty cổ phần khai khoáng miền núi có vị trí thuận lợi về giao thông, cách thành phố Thái Nguyên 30 km về phía tây nam qua tuyến quốc lộ 3 Tuyến đường liên xã Tức Tranh - Yên Lạc - Yên Đổ đã được bê-tông hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại của người dân và phát triển trang trại Tuyến đường đi qua 17 xóm, trong đó gồm 1 xóm thuộc xã Tức Tranh, 1 xóm thuộc xã Yên Đổ và 15 xóm thuộc xã Yên Lạc, bắt đầu từ đường liên xã Phấn Mễ - Tức Tranh tại xóm Cầu Trắng, xã Tức Tranh, giúp kết nối dễ dàng với các khu vực lân cận.

Trang trại nằm dọc theo dòng Sông Cầu, cung cấp nguồn nước tự nhiên phục vụ cho hoạt động trồng trọt và chăn nuôi Hệ thống thủy lợi hiện đại gồm trạm bơm điện và hệ thống ống dẫn nước được xây dựng nhằm đảm bảo nguồn nước ổn định cho sản xuất Nhờ đó, diện tích canh tác của trang trại luôn được đảm bảo về nước tưới, góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả hoạt động nông nghiệp.

2.2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Trại chăn nuôi động vật bán hoang dã tại xã Tức Tranh, thuộc Chi nhánh nghiên cứu và phát triển động thực vật bản địa – Công ty cổ phần khai khoáng miền núi, là trung tâm hỗ trợ phát triển ngành chăn nuôi tại các tỉnh trung du và miền núi Trang trại tập trung nghiên cứu khoa học, đề tài và cải tiến kỹ thuật sáng tạo nhằm nâng cao phương pháp chăn nuôi và sản xuất, mặc dù nguồn thu kinh tế từ hoạt động kinh doanh còn hạn chế dẫn đến đời sống vật chất gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên, nhờ việc mở rộng các mô hình và ứng dụng công nghệ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn, trang trại đã khẳng định vị thế và tạo tiếng vang trong cộng đồng, góp phần thúc đẩy phát triển ngành chăn nuôi khu vực miền núi và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường.

2.2.1.3 Những thuận lợi và khó khăn a Thuận lợi

Trại chăn nuôi động vật bán hoang dã tại xã Tức Tranh, thuộc Chi nhánh nghiên cứu và phát triển động thực vật bản địa – Công ty cổ phần khai khoáng miền núi, có đội ngũ chuyên gia có nhiều kinh nghiệm và sáng tạo trong việc chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Đội ngũ sinh viên nhiệt tình, ham học hỏi và luôn áp dụng công nghệ mới vào nghiên cứu và thực hiện các đề tài tốt nghiệp, đóng góp vào phát triển ngành chăn nuôi Trại từng bước tích lũy kinh nghiệm trong hoạt động nghiên cứu, sản xuất và chuyển giao công nghệ, đồng thời kế thừa thành quả của các thế hệ đi trước để nâng cao hiệu quả chăn nuôi.

Sau hơn 8 năm xây dựng và trưởng thành, trang trại đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để phát triển bền vững Quá trình này đã góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và thúc đẩy sự thay đổi trong quản lý phù hợp với sự phát triển của xã hội Trong quá trình phát triển, trang trại đã gặp phải nhiều thử thách, từ việc thích nghi với biến đổi khí hậu đến việc áp dụng kỹ thuật mới, nhưng nhờ sự kiên trì và đổi mới liên tục, doanh nghiệp đã khẳng định vị thế của mình trên thị trường.

Sự chênh lệch nhiệt độ giữa hai mùa cao gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cây thức ăn trong mùa khô, làm giảm năng suất và gây khó khăn cho chăn nuôi Thời tiết đột ngột thay đổi ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của gia súc, gây căng thẳng và giảm hiệu quả chăn nuôi Tỷ lệ sinh của hươu và ngựa thường thấp, thời gian thai sản dài, khiến việc sản xuất giống không đều đặn và chu kỳ quay vòng chậm, ảnh hưởng đến nguồn cung sản phẩm Địa hình có dòng sông cầu bồi đắp tạo đất pha cát khiến đất dễ bị ngập úng vào mùa mưa và khô cằn khi nắng, làm tăng chi phí tưới tiêu, điện và nước trong hoạt động chăn nuôi và trồng trọt.

2.2.2 Thực trạng tình hình phát triển chăn nuôi động vật hoang dã và bán hoang dã của Trại

Trại chăn nuôi động vật bản địa tại xóm Gốc Gạo, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, Thái Nguyên đã nhanh chóng phát triển chỉ sau vài năm hoạt động Với diện tích hơn 5 ha, trang trại đã xây dựng được quy mô chăn nuôi bề thế, góp phần thúc đẩy nền nông nghiệp địa phương phát triển bền vững.

Chi nhánh đã mở rộng mô hình Hợp tác xã tại các xóm và huyện lân cận, hiện đã kết nạp thêm 12 xã viên trở thành thành viên HTX Địa phương đã thu hút các trang trại vệ tinh với quy mô trên 1 ha, chủ yếu nuôi lợn rừng, hươu, ngựa bạch, góp phần thúc đẩy phát triển nông nghiệp và kinh tế địa phương.

Trong thời gian gần đây, Chi nhánh đã trở thành địa điểm ứng dụng các đề tài nghiên cứu cấp quốc gia như về Gà cánh củm, Dê bán chăn thả, Bưởi da xanh, đồng thời cũng triển khai các dự án cấp tỉnh nhằm phát triển đàn ngựa bạch về mặt sinh sản và tăng số lượng con.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là giống cỏ VA06 và Ngựa bạch được nuôi trồng tại Trại chăn nuôi động vật bán hoang giã tại xã Tức Tranh thuộc Chi nhánh nghiên cứu và phát triển động thực vật bản địa – Công ty cổ phần khai khoáng miền núi

Nghiên cứu khả năng cung cấp sản lượng cỏ VA06 trên mỗi hecta mỗi năm và xác định khẩu phần ăn của Ngựa Bạch giúp xác định diện tích trồng cỏ phù hợp tại Chi nhánh Việc này đảm bảo cân đối nguồn cung cấp thức ăn, tối ưu hóa năng suất cỏ và duy trì chế độ dinh dưỡng phù hợp cho Ngựa Bạch Từ đó, xây dựng kế hoạch trồng cỏ hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi và giảm thiểu rủi ro về thiếu hụt thức ăn.

Địa điểm và thời gian tiến hành

-Thời gian nghiên cứu: Đề tài được thực hiện từ tháng 01/2020 đến tháng 06 năm 2020

Trại chăn nuôi động vật bán hoang dã tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, Thái Nguyên, là địa điểm nghiên cứu quan trọng của Chi nhánh nghiên cứu và phát triển động thực vật bản địa – Công ty cổ phần khai khoáng miền núi Nơi đây tập trung nghiên cứu và bảo tồn các loài động vật bản địa trong môi trường bán hoang dã, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững và bảo vệ đa dạng sinh học khu vực.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Ngày đăng: 15/02/2023, 20:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đoàn ẩn, Võ Văn Trị (1976), Cây trồng và sử dụng một số giống cỏ năng suất cao, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 6 – 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây trồng và sử dụng một số giống cỏ năng suất cao
Tác giả: Đoàn ẩn, Võ Văn Trị
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1976
2. Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến (1973), Phân loại thực vật, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr.17,85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại thực vật
Tác giả: Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1973
3. Nguyễn Ngọc Hà và CS (1998 – 1999), Tính năng sản xuất và một số biện pháp kỹ thuật tăng năng suất chất xanh và hạt cỏ, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính năng sản xuất và một số biện pháp kỹ thuật tăng năng suất chất xanh và hạt cỏ
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hà, CS
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1998 – 1999
4. Từ Quang Hiển, Nguyễn Khánh Quắc, Trần Trang Nhung (2002), Đồng cỏ và cây thức ăn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 8 – 38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng cỏ và cây thức ăn
Tác giả: Từ Quang Hiển, Nguyễn Khánh Quắc, Trần Trang Nhung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
5. Điền Văn Hưng (1974), Cây thức ăn gia súc miền Bắc Việt Nam, Nxb Nông Thôn, tr. 5 – 46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây thức ăn gia súc miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Điền Văn Hưng
Nhà XB: Nxb Nông Thôn
Năm: 1974
6. Nguyễn Đăng Khôi, Dương Hữu Thời (1981), Nghiên cứu về cây thức ăn gia súc Việt Nam, Nxb Khoa học & kỹ thuật, tập 2,tr: 6-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về cây thức ăn gia súc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Khôi, Dương Hữu Thời
Nhà XB: Nxb Khoa học & kỹ thuật
Năm: 1981
7. Quang Ngọ, Sinh Tặng (1976), Tập đoàn cây thức ăn gia súc miền núi và trung du miền bắc Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr: 42-61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập đoàn cây thức ăn gia súc miền núi và trung du miền bắc Việt Nam
Tác giả: Quang Ngọ, Sinh Tặng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1976
8. Nguyễn Khánh Quắc, Từ Quang Hiển, Trần Trang Nhung ( 1995 ), Giáo trình đồng cỏ và cây thức ăn gia súc, tài liệu nội bộ của trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình đồng cỏ và cây thức ăn gia súc
Tác giả: Nguyễn Khánh Quắc, Từ Quang Hiển, Trần Trang Nhung
Năm: 1995
9. Nguyễn Văn Thiện (2000), Phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 105 – 148 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
11. Nguyễn Văn Thưởng, I. S. Sumilin (1992), Sổ tay thành phần dinh dưỡng thức ăn gia súc Việt Nam, Nxb Nông nghiệp Hà Nội, tr: 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay thành phần dinh dưỡng thức ăn gia súc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Thưởng, I. S. Sumilin
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1992
12. Nguyễn Xuân Trường, Lê Văn Nghĩa, Lê Quốc Phong, Nguyễn Đăng Nghĩa (2000), Sổ tay sử dụng phân bón, Nxb Nông nghiệp TPHCM. Tr: 60-93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay sử dụng phân bón
Tác giả: Nguyễn Xuân Trường, Lê Văn Nghĩa, Lê Quốc Phong, Nguyễn Đăng Nghĩa
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp TPHCM
Năm: 2000
13. Viên Chăn Nuôi (1977), Nội dung và phương pháp nghiên cứu trồng cỏ, tài liệu nội bộ, tr: 15-22.II- TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nội dung và phương pháp nghiên cứu trồng cỏ
Tác giả: Viên Chăn Nuôi
Nhà XB: tài liệu nội bộ
Năm: 1977
14. Hamphray (1980), Hướng dẫn thâm canh đồng cỏ nhiệt đới và á nhiệt đới, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 10 – 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thâm canh đồng cỏ nhiệt đới và á nhiệt đới
Tác giả: Hamphray
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1980
15. Loch, D. S (1978), Basilisk signal grass, a productive pasture grass for the humid tropics, Queensl, Agric. J, P 104, 402-406.III- CÁC Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Basilisk signal grass, a productive pasture grass for the humid tropics
Tác giả: D. S. Loch
Nhà XB: Queensland Agriculture Journal
Năm: 1978
10. Trịnh Văn Thịnh, Hoàng Phương, Nguyễn An Tường, Borget. M. Boudet Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm