1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đổi mới cơ chế quản lý công sản ở việt nam

78 684 1
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đổi mới cơ chế quản lý công sản ở Việt Nam
Trường học Vietnam National University, Hanoi
Chuyên ngành Public Management/Economics
Thể loại Nghiên cứu
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 2,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đẻ tài Trong tiến trình đổi mới thực hiện CNH, HĐH đất nước, cải cách nên hành chính quốc gia, hoàn thiện quản lý tài chính công, đổi mới quản lý công sản bảo đảm cô

Trang 1

BỘ NỘI VỤ „ HOC VIEN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

Trang 2

MUC LUC

Chuong 1:

Cơ sở lý luận về công sản và cơ chế quản lý công sản

1 Khái quát về công sản

1.1 Khái niệm về công sản

1.2 Vai trò công sản

1.3 Phân loại công sản

2_Lý luận về cơ chế quản lý công sản

2.1 Sự cần thiết quản lý công sản

2.2 Nguyên tắc và yêu cầu quản lý công sản

2.3 Nội dung quản lý công sản

3_ Cơ chế quản lý công sản trong cơ quan nhà nước

3.1 Tài sản công trong cơ quan nhà nước

3.2 Phân loại tài sản trong cơ quan nhà nước

3.3 Nội dung cơ chế quản lý tài sản công

4_ Kinh nghiệm nước ngoài về quản lý công sản

Chương 2:

Thực trạng cơ chế quản lý công sản

1 Khái quát về thực trạng cơ chế quản lý

1.1 Nguyên tắc chung về cơ chế quản lý công sản hiện nay

1.2 Khái quát cơ chế quản lý một số công sản chủ yếu

1.3 Đánh giá chung cơ chế quản lý công sản

2_ Thực trạng cơ chế quản lý tài sản công trong cơ quan nhà nước

2.1 Cơ chế quản lý đất đai thuộc trụ sở

2.2 Thực trạng cơ chế quản lý phương tiện đi lại

Trang 3

2.3 Thuc trang co ché quan ly tai san 1a

Những vấn đề bất cập hiện nay về cơ chế quản lý tài sản công trong cơ

3 quanNN

Chương 3:

Hệ thống giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý công sản ở Việt Nam

1 Phương hướng và giải pháp chung hoàn thiện cơ chế quản lý công sản

1.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật

1.2 Hoàn thiện hệ thống phân cấp

1.3 Hoàn thiện công tác kế hoạch hoá

1.4 Đổi mới tổ chức và công tác

1.5 Ứng dụng công nghệ thông tin

1.6 Đẩy mạnh công tác đào tạo cán bộ

2_ Các giải pháp đổi mới cơ chế quản lý TSC trong cơ quan NN (HCSN)

Trang 4

PHAN MG ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đẻ tài

Trong tiến trình đổi mới thực hiện CNH, HĐH đất nước, cải cách nên

hành chính quốc gia, hoàn thiện quản lý tài chính công, đổi mới quản lý công

sản bảo đảm công sản được khai thác, sử dụng một cách hiệu quả và tiết kiệm

có vai trò rất quan trọng hiện nay ở nước ta Nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn điện cơ sở lý luận cũng như thực tiễn quản lý công sản, qua đó đề ra các giải pháp đổi mới cơ chế quản lý công sản nhằm một mặt đáp ứng được yêu

cầu phát triển đất nước, mặt khác phù hợp với nền kinh tế thị trường định

hướng XHCN là đòi hỏi bức xúc hiện nay ở Việt Nam

Thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ, Bộ Nội vụ giao, Học viện HCQG

đã và sẽ mở rộng quy mô cũng như đối tượng và nội dung đào tạo, trong đó có nội dung quản lý công sản Do vậy việc nghiên cứu cơ chế quản lý công sản còn phục vụ yêu cầu đào tạo cho các đối tượng ở Học viện Hành chính quốc gia

Như vây việc nghiên cứu đề tài “Đổi mới cơ chế quản lý công sản ở Việt Nam” một mặt xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đổi mới đất nước, mặt khác chủ yếu và trực tiếp là phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập ở Học viện Hành chính quốc gia

Đề tài được nghiên cứu trong năm 2005

2 Khái quát về tình hình nghiên cứu

Quan lý công sản có nhiều tài liệu dé cập đến, nhưng chủ yếu là các văn bản pháp luật của Đảng và Nhà nước về khai thác và quản lý sử dụng; một

số bài báo để cập đến các khía cạnh cụ thể của công sản(quản lý đất đai, quản

lý tài nguyên khoáng sản, ), quản lý tài sản công trong cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp.Hiện chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách

có hệ thống, toàn diện về quản lý công sản nói riêng.

Trang 5

Vì vây để tài sẽ đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện cơ chế quản lý công sản đặc biệt là cơ chế quản lý tài sản công trong cơ quan nhà

nước (HCSN) ở Việt Nam hiện nay |

4 Đối tượng và phạm vỉ nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là cơ chế quản lý công sản Đặc biệt tập trung vào cơ chế quản lý tài sản công trong cơ quan nhà nước

- Đề tài nghiên cứu ở tầm vĩ mô trong phạm vi cả nước

5 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước, một số phương pháp chủ yếu sau đây được vận dụng trong nghiên cứu:

- Phương pháp duy vật biện chứng

- Phương pháp duy vật lịch sử

- Phương pháp phân tích tổng hợp

- Phương pháp đối chiếu so sánh

- Phương pháp điều tra xã hội học

Đồng thời đẻ tài sử dụng có chọn lọc những kết quả nghiên cứu, những công trình khoa học, các tài liệu đã được công bố trong và ngoài nước về vấn

dé nay

6 San pham dat duoc

- Bản kiến nghị với nhà nước về một số vấn đề đổi mới cơ chế quản lý công sản

Trang 6

- Tài liệu tham khảo cho nghiên cứu, học tập, giảng dạy ở các cơ sở đào tạo trong cả nước, đặc biệt là hệ thống các trường đào tạo, bồi đưỡng công chức nhà nước mà trực tiếp là ở Học viện Hành chính quốc gia

KẾT CẤU ĐỀ TÀI

Đổi mới cơ chế quản lý công sản ở Việt Nam

Phần mở đầu

Chương1: Cơ sở lý luận về công sản và cơ chế quản lý công sản

Chương 2: Thực trạng cơ chế quản lý công sản ở Việt Nam

Chương 3: Hệ thống giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý công sản ở Việt Nam Kết luận

Trang 7

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG SẢN VÀ cơ CHẾ QUẢN

LÝ CÔNG SẢN

1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG SẢN

1.1 Khái niệm về công sản

Tài sản, theo điều 172b Luật Dân sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là: “Toàn bộ các vật có thực, tiền và giấy ww, có trị giá được bằng tiên hoặc không trị giá được bằng tiền (vô giá) mà các quyền được nhà nước công nhận và bảo vệ theo đúng pháp luật của nhà nước và công ước quốc tế”

Tài sản gắn liển với sự xuất hiện và phát triển của con người, xã hội loài người Trong tiến trình phát triển của nên văn minh nhân loại, nhà nước xuất hiện và ngày càng phát triển Sự xuất hiện của nhà nước làm cho của cải

xã hội được phân thành hai bộ phận:

- Bộ phận tài sản được khai thác, sử dụng vị lợi ích cá nhân, tổ chức

là tài sản tư Đây là động sản và bất động sản thuộc sở hữu tư nhân hoặc các tổ chức (doanh nghiệp, tổ chức xã hội ) Mục tiêu khai thác, sử dụng của phần tài sản này là phục vụ lợi ích của cá nhân hay tổ chức giữ quyền sở hữu tài sản

đó và do chủ sở hữu quyết định

- Bộ phận tài sản liên quan đến hoạt động quản lý nhà nước, việc khai thác, sử dụng nó vì mục tiêu của đất nước, của cộng đồng được gọi là công sản Đối với bộ phận tài sản này việc quản lý, khai thác, sử dụng được thực hiện bằng công quyền (quyền lực nhà nước) và phục vụ lợi ích công (lợi ích nhà nước, lợi ích cộng đồng, lợi ích toàn xã hội)

Công sản trong thực tế đời sống kinh tế xã hội còn được gọi là tài sản công Công sản (Public property) được hiểu là bao gồm tất cả các loại tài sản (động sản và bất động sản) của Quốc gia, của Công chúng được sử dụng vì lợi ích chung của đất nước Nó là toàn bộ tài sản (động sản và bất động sản) của

Trang 8

Quốc gia, của mỗi địa phương, mỗi công sở được đùng vào mục đích lợi ích

cổng Đó là tài sản thuộc sở hữu toàn dan mà nhà nước là người đại diện

Điều 17 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm

1992 quy định “đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi vùng biển, thêm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước đều thuộc sở hữu toàn đân”j Nhà nước có thể giao quyền sử dụng một bộ phận tài sản công cho một cộng lđồng lãnh thổ, một cấp chính quyền địa phương, một tổ chức hay tư nhân Nhưng không ai được mua bán, chuyển dịch tài sản của Nhà nước Mọi sự vi phạm vào tài sản công đều phạm tội xam phạm tài sản quốc gia, tài sản xã hội chủ nghĩa

Ở Việt Nam, công sản được quan niệm là tài sản công, đó là tài sản xã hội chủ nghĩa Các cơ quan nhà nước, các tổ chức cũng như mọi công dân Việt Nam đều có quyền và nghĩa vụ quản lý, bảo vệ công sản theo đúng chế độ nhà nước quy định

Công sản bao gồm tất cả tài sản (động sản và bất động sản) thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý để sử dụng vào mục đích phục

vụ lợi ích của nhà nước, lợi ích của toàn dân

Công sản có những đặc trưng chủ yếu sau đây:

- Về sở hữu, công sản là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân mà nhà

nước là người đại diện chủ sở hữu

- Về mục đích sử dụng, công sản được sử dụng vì lợi ích đất nước, vị

lợi ích của nhân dân

- Về chế độ quản lý, công sản được quản lý theo chế độ của Nhà nước

Ở tâm vĩ mô, công sản được quản lý thống nhất theo pháp luật của nhà nước

Về quản lý sử dụng (quản lý vĩ mô) công sản được nhà nước giao cho các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân quản lý sử dụng có thời hạn theo chế độ

nhà nước

Trang 9

Mọi sự nhượng, bán, cho thuê, công sản đều phải đúng quy định của pháp luật nhà nước

1.2 Vai trò của công sản

Công sản là tài sản của đất nước, của dân mà nhà nước là người đại diện chủ sở hữu Nó có vai trò đặc biệt quan trọng:

Một là, công sân là tài sản vật chất, của cải của đất nước Nó phản ánh sức mạnh về kinh tế của đất nước Nó là tiền để, yếu tố vật chất để nhà nước tổ chức thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước đã đề ra Công sản là yếu tố quyết định hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của quốc gia,

quyết định sức mạnh chính trị, kinh tế của đất nước

Các nhiệm vụ kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước chỉ có thể được thực hiện tốt khi có tiềm lực về tài sản công đủ mạnh đáp ứng được các mục

tiêu, nhu cầu xây dựng đất nước

Hai là, công sản, đặc biệt là tài nguyên, khoáng sản, nguồn lợi vùng biển, vùng trời là tiểm lực bổ sung nguồn tài chính quốc gia Ngoại trừ tài nguyên, khoáng sản, nguồn lợi vùng biển, vùng trời, nguồn tài chính quốc gia được đầu tư phát triển tạo lập nên các côgn trình của đất nước Đây là những tài sản công có ý nghĩa và vai trò rất lớn trong phát triển kinh tế xã hội tạo lập nên những khoản thu lớn cho tài chính công

Hàng năm, nguồn lợi từ việc khai thác tài nguyên, khoáng sản của đất nước đã tạo nên phần thu rất lớn, rất quan trọng cho ngân sách nhà nước

Ba là, tài sản công đặc biệt là tài sản trong các cơ quan nhà nước phản ánh trình độ hiện đại hoá của nền hành chính quốc gia, hiện đại hoá hoạt động công sở Nó quyết định hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước

Bốn là, bộ phận tài sản công thuộc cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội (đường sá, cầu cống, các công trình thuỷ điện, thuỷ lợi, các công trình văn hoá ) phản ánh tính hiện đại, trình độ đô thị hoá của đất nước, qua

đó phán ánh trình độ, mức sống của nhân dân Nhà nước ở bất kỳ quốc gia nào cũns luôn quan tâm lĩnh vực này

Trang 10

Quá trình hiện đại hoá đất nước đồng thời là quá trình xây đựng cơ sở

hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội của đất nước Tài sản công trong lĩnh vực này là điền kiện, nền tảng cho sự phát triển toàn diện của đất nước theo con đường đi lên van minh, hiện đại

Nâng cao vai trò quan trọng của công sản cho mọi công dân là yếu tố

có ý nghĩa to lớn trong đổi mới quản lý công sản hiện nay ở nước ta

1.3 Phân loại công sản

Công sản gồm nhiều loại, tuỳ theo giác độ nghiên cứu xem xét Sau đây là một số cách phân loại chủ yếu:

Thứ nhất, theo sự tôn tại tự nhiên của công sản bao gồm:

- _ Tài nguyên, khoáng sản

-_ Phương tiện đi lại, công cụ làm việc trong cơ quan nhà nước

Thứ hai, phân loại theo cấp quản lý bao gồm:

Công sản do Trung ương quản lý

- _ Công sản do tính, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý

Công sản do cấp huyện quản lý

Công sản do cấp xã quản lý

- — Công sản do các đơn vị, cơ quan nhà nước quản lý Phần tài sản này được gọi là tài sản công trong các cơ quan nhà nước

Thứ ba, phân loại quản lý sử dụng bao gồm:

- _ Tài sản công do đơn vị quản lý sử dụng khai thác

-_ Tài sản công do cá nhân quản lý sử dụng khai thác

Trang 11

Thứ tư, phân loại theo nguồn hình thành và đặc điểm sử dụng, tài sản công bao gồm:

Một là, tài sản công được thiên nhiên ban tặng Đây là tài sản có sẵn trong tự nhiên:

- _ Tài nguyên, khoáng sản

-_ Rừng, núi

- Dat dai

-_ Nông ngòi

- Ao, hé

- Danh lam, thang canh

- _ Nguồn lợi vùng biển, vùng trời, thém luc dia

~-_ Nguồn lợi từ vị trí đại lý, điều kiện tự nhiên

- _ Nguồn lợi về văn hoá dân tộc

Hai là, tài sản công được nhà nước đầu tư xây dựng tạo nên Đó là cơ sở

hạ tầng kỹ thuật, cơ sở hạ tầng xã hội của đất nước :

- Duong sd

- Cau céng

- Céng trinh thuy loi

- Hé théng dién luc

- Hé thong truyén tin

- _ Các công trình xã hội, văn hoá, thể thao

Ba là, tài sản công trong các cơ quan nhà nước: Đây là những tài sản

được hình thành theo các hình thức:

- Nhà nước cấp cho cơ quan: đất đai, nhà cửa, phương tiện lầm việc

- Cơ quan mua sắm từ khoản kinh phí do ngân sách nhà nước cấp cho cơ quan hoặc từ kết quả hoạt động của cơ quan (các đơn vị sự nghiệp có thu, các DNNN)

Dù từ nghuồn tài sản nào trong cơ quan nhà nước đều được quản lý, sử dụng theo đúng chế độ do pháp luật Nhà nước quy định

Trang 12

Mỗi loại tài sản công khác nhau có những yếu tố riêng chi phối Do vậy, cần có sự nghiên cứu, xem xét cụ thể từng loại tài sản này nhằm tạolập cơ chế quản lý hiệu quả nhất cho từng loại tài sản công

2 LÝ LUẬN VỀ CO CHE QUAN LY CONG SAN

2.1 Sự cần thiết quản lý công san

Quản lý công sản là quá trình tác động và điều chỉnh vào sự hình thành

và vận động của công sản nhằm khai thác, sử dụng công sản một cách có hiệu quả nhất vì lợi ích của đất nước Lợi ích của đất nước ở đây là chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đất nước trong từng thời kỳ Mục tiêu cơ bản của quản lý công sản là nhằm khai thác, sử dụng công sản một cách hiệu quả phục vụ tốt nhất mục tiêu phát triển đất nước trong từng thời kỳ

Quản lý công sản là một tất yếu thê hiện qua một số điểm sau đây:

Một là, công sản là tài sản của đất nước, của nhân dân Việc quản lý tốt để tạo lập, khai thác và sử dụng công sản có hiệu quả là đòi hỏi khách quan trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước Đó là nhiệm vụ quan trọng của nhà nước ở mọi quốc gia

Hai là, công sản, đặc biệt là cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội phản ánh sự phát triển của mỗi quốc gia, địa phương, mỗi vùng Quản lý công sản đảm bảo sự phát triển toàn diện, đồng đều giữa các vùng, các miễn của

doanh nghiệp là yêu cầu quan trọng trong tiến trình đổi mới, thực hiện công

nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nhà nước cân có kế hoạch tạo lập, quản lý khai thác phần tài sản công này một cách hợp lý đồng đều nhằm bảo đảm sự phát triển cấn đối của các vùng, miền lãnh thổ Đảng và nhà nước ta rất quan tâm đến vấn đề này trong chính sách đầu tư phát triển đất nước

Ba là, công sản, đặc biệt là phần tài sản công trong các cơ quan nhà nước là phần vốn hiện vật của cơ quan, nó được hình thành từ nguồn chỉ tài chính công Đó là điều kiện đảm bảo cho các cơ quan nhà nước thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao Quản lý tốt phần tài sản công trong các cơ quan nhà nước trong việc mua sắm, sử dụng bảo quản tài sản công, chống thất

Trang 13

thoát lãng phí là đòi hỏi đồng thời trách nhiệm, nghĩa vụ của tất cả mọi cán bộ công chức trong các cơ quan nhà nước

Cuối cùng, quản lý tốt công sản là yêu cầu mong muốn của mọi công

đan Tạo lập, khai thác sử dụng tài sản công có ý nghĩa kinh tế chính trị và xã

hội to lớn Ủy tín của nhà nước, của cán bộ công chức nhà nước, một phần rất lớn được công dân đánh giá thông qua việc quản lý, sử dụng tài sản công

Trong tiến trình đổi mới, cải cách nên hành chính quốc gia, Đảng va

Nhà nước ta rất chú trọng đến quản lý công sản Pháp lệnh chống tham những, pháp lệnh cán bộ công chức quy định rất rõ yêu cầu, điều kiện sử dụng tài sản công của cán bộ, công chức

2.2 Nguyên tắc và yêu cầu quản lý công sản

Thứ nhất, nguyên tắc

Mục tiêu quản lý công sản là nhằm tạo lập, khai thác, sử dụng một cách hợp lý, hiệu quả phục vụ tốt nhất cho quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá phát triển đất nước, xây dựng nên hành chính quốc gia vững mạnh Để đạt được mục tiêu trên, công sản được quản lý theo các nguyên tắc sau đây :

Một là, tập trung thống nhất

Công sản là tài sản quốc gia phải được quản lý tập trung theo chế độ pháp luật thống nhất của nhà nước Việc phân công phân cấp quản lý hiện nay

là việc phân công trách nhiệm, nghĩa vụ cho các ngành, các cấp quản lý tài

sản công thuộc ngành, địa phương theo luật pháp thống nhất của nhà nước Tuyệt đối không phân chia tài sản quốc gia, tài nguyên đất nước Nhà nước giao quyền quản lý tài sản côgn cho các ngành, địa phương, đơn vị là để thực hiện tốt nhiệm vụ, chức năng được giao Mọi sự tranh giành công sản làm của riêng đều vị phạm pháp luật

Hai là, theo kế hoạch

Tính kế hoạch là nguyên tắc của quản lý Quản lý công sản phải theo nguyên tắc này Điều đó có nghĩa là việc khai thác công sản hiện có, tạo lập

Trang 14

công sản mới, sử dụng khai thác công sản đều theo kế hoạch Nó cho phép chủ động sử dụng có hiệu quả, hợp lý tài sản quốc gia

Quản lý công sản theo nguyên tắc kế hoạch cho phép việc khai thác, sử dung công sản phù hợp kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân tạo lập sự cân đối, hài hoà trong quản lý công sản Đặc biệt đối với tài nguyên, khoáng sản, các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện

Nguyên tắc này chống khuynh hướng tuỳ tiện, tự do trong khai thác, tạo lập cũng như sử dụng công sản

Ba là, nguyên tắc tiết kiệm

Công sản phải được quản lý tốt nhằm bảo đảm sử dụng một cách tiết kiệm Tiết kiệm ở đây cần nhận thức theo 2 khía cạnh:

- Tiết kiệm phải đáp ứng tính hợp lý khi tạo lập, khai thác, sử dụng công sản

- Tiết kiệm phải đảm bảo tính hiệu quả của công sản

Tiết kiệm là hợp lý và hiệu quả Nghĩa là quản lý công sản tạo điều kiện để công sản phục vụ hợp lý và hiệu quả nhất cho quá trình xây dựng, phát triển đất nước, phục vụ tốt qúa trình cải cách nền hành chính quốc gia Trước mắt là phục vụ tốt việc quản lý và điều hành đất nước của nhà nước

Trong quản lý công sản cầm đồng thời bảo đảm thực hiện các nguyên tắc trên một cách thống nhất

Thứ hai, yêu cầu

Công sản là tài sản quốc gia Công sản một phần tạo lập từ tài nguyên đất nước (phần do thiên nhiên mang lại) đây là nguồn ưu đãi của tự nhiên Phần quan trọng hơn là quá trình đầu tư xây dựng và mua sắm từ nguồn tài chính công Việc quản lý tốt công sản cho phép bổ sung vào tài chính công ở đây có mối quan hệ biện chứng rất chặt chẽ

Từ đó đặt ra cho quản lý công sản phải thực hiện các yêu cầu chủ yếu sau đây:

Một là, phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nước cũng như ngành, các địa phương trong từng thời kỳ

Trang 15

Đây là yêu cầu rất quan trọng trong quản lý công sản

- Đối với nhóm công sản là tài nguyên, khoáng sản, đất đai, sông ngồi,

ao hồ, vùng biển, vùng trời khai thác sử dụng phải theo quy hoạch, kế hoạch

phát triển kinh tế xã hội của đất nước, ngành, địa phương Điều đó cho phép

khai thác sử dụng công sản hợp lý, hài hoà cân đối giữa các vùng, các ngành trong cả nước

- Đối với nhóm công sản phục vụ cho cộng đồng như đường sá, cầu cống, công trình thuỷ lợi, thuỷ điện, công trình văn hoá xã hội việc tạo lập đầu tư xây dựng cũng như khai thác sử dụng phải theo và đáp úng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội từng thời kỳ, từng địa phương Thựuc tế đã chứng minh rằng sự không phù hợp với kế hoạch tạo nên sự lãng phí, thất thoát, xuống cấp tài sản công

- Đối với tài sản công trong các cơ quan nhà nước là yếu tố vật chất để các cơ quan này thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao Do vậy, nếu phù hợp với kế hoạch hoạt động của đơn vị, tài sản công sẽ phát huy hết vai trò của mình Nguợc lại là nguồn gốc tham những, tiêu cực, thất thoát lãng phí

Những điều trên cho thấy công sản phải được quản lý theo kế hoạch

Nó là một bộ phận của kế hoạch đơn vị, của ngành, địa phương và của nền kinh tế quốc dân

Yêu cầu cụ thể cần đòi hỏi khi phân công quản lý cần xem xét cụ thể năng lực của từng đơn vị, cá nhân Điều đó cho phép giao công sản phù hợp

Trang 16

với khả năng quản lý của cơ quan, cá nhân Thực tế cho thấy rằng nếu không

cụ thể chỉ tiết khi phân công trong quản lý công sản là nguồn gốc lãng phí

công sản, gây nên hiện tượng lãng phí, hư hỏng thất thoát, kém hiệu quả của công sản

Yêu cầu này cần quán triệt trong tất cả các khâu, các cấp các đơn vị thực hiện quản lý công sản

Ba là, quân lý công sản phải gắn với trách nhiệm vật chất cá nhân quản lý

Công sản là tài sản của đất nước, của nhân dân Trong quá trình khai thác sử dụng, công sản được giao cho từng cơ quan, cá nhân phụ trách quản

lý Nhằm năng cao trách nhiệm của cá nhân quản lý cần thiết phải thông qua pháp luật gắn trách nhiệm vật chất đối với cá nhân, đơn vị thực hiện quản lý

Về việc bảo tồn, phát huy giá trị cũng như hiệu quả của công sản ở đây cần nhận thức rõ là gắn trách nhiệm vật chất của đơn vị và cá nhân người quản lý đối với giá trị cũng như hiệu quả của công sản không phải là chuyển thành sở hữu, tài sản riêng của đơn vị, cá nhân quản lý Việc sử dụng, khai thác phải theo chế độ, theo pháp luật, theo quy chế cơ quan Bên cạnh đó đề cao trách nhiệm vật chất đối với cá nhân được giao quản lý trực tiếp cũng như cơ quan đơn vị được giao quản lý

Gắn liền với trách nhiệm vật chất cần có chế độ khen thưởng bằng vật chất thoả đáng nhằm kích thích tích cưc, sáng tạo tính thần trách nhiệm của cơ quan, cá nhân trực tiếp quản lý công sản

Thực hiện yêu cầu này cho phép tránh được 2 khuynh hướng :

- Công sản là của chung không ai chịu trách nhiệm Dẫn đến việc sử dụng, khai thác bừa bãi gây nên hư hỏng, thất thoát

- Biến công sản thành của riêng cá nhân Đây là hiện tượng đặc quyền, đặc lợi, sử dụng tài sản công bừa bãi trong cán bộ công chức nhà nước

Bốn là, quản lý công sản phải đáp ứng yêu cầu công khai |

Yêu cầu công khai trong quản lý công sản phải thực hiện các vấn để chủ yếu:

Trang 17

- Công khai về luật pháp, chế độ, quy chế khai thác, sử dụng công sản

từ những tài sản lớn như tài nguyên đến những tài sản nhỏ như máy tính, máy

- Công khai về chế độ tài chính khi khai thác sử đụng công sản Chẳng hạn, công khia về thuế tài nguyên, thuế đất, phí đường bộ, phí cầu phà Công hkai này tạo điều kiện cho mọi công dân, tổ chức có liên chủ động hiểu biết

để thực hiện

- Công khai về chế độ sử dụng tài sản công trong cơ quan nhà nước Chẳng hạn chế độ xe công, điện thoại, nhà cửa từng đối đối tượng cán bộ công chức Công khai này cho phép hạn chế tham những đặc quyền đặc lợi của cán bộ khi sử dụng tài sản công

Yêu cầu công khai trong quản lý công sản cho phép thực hiện được cơ chế “dân biết, dân kiểm tra” trong quản lý công sản Đây cũng là yếu tố đảm bảo dân chủ trong công tác quản lý nhà nước nói chung và quản lý công sản nói riêng

2.3 Nội dung co ché quan lý công san

Cơ chế quản lý công sản là hệ thống chính sách, chế độ quy định có mối quan hệ ràng buộc chặt chế với nhau liên quan đến phương thức tổ chức,

điều hành, hướng dẫn kiểm tra quá trình khai thác sử dụng công sản theo mục

tiêu, kế hoạch của Nhà Nước

Công sản theo đặc điểm hình thành và tính chất sử dụng được chia làm nhiều loại Ngoài nguyên lý quản lý chung, mỗi loại công sản có cơ chế quản

lý riêng phù hợp với đặc điểm hình thành và tính chất sử dụng

Mỗi loại công sản khác nhau có những yếu tố cụ thể riêng chỉ phối Vì vậy, mỗi loại công sản đều có hệ thống văn bản pháp luật riêng làm cơ sở pháp lý tạo lập cơ chế quản lý khai thác, sử dụng

-_ Đất đai được quản lý theo luật đất đai

-_ Tài nguyên, khoáng sản được quản lý theo luật tài nguyên khoáng sản

- Vùng biển, thểm lục địa được quản lý theo pháp luật vẻ vùng biển, thêm lục địa

Trang 18

- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật (cầu cống, đường sá, các công trình thuỷ điện, thuỷ lợi, điện lực, viễn thông ) được quản lý theo các văn bản pháp luật của nhà nước về từng lĩnh vực cụ thể

- Cơ sở hạ tầng xã hội được quản lý theo quy định pháp luật đối với

từng loại công sản thuộc lĩnh vực này

- Các công viên, công trình văn hoá công công, khu phố cổ, đi tích văn hoá, các công trình thể thao, vui chơi giải trí đều có quy định cụ thể của căn bản pháp luật Đồng thời mỗi công trình đều có quy chế quản lý, sử dụng, khai thác riêng phù hợp với quy định của pháp luật

- Chủ thể quản lý của các loại công sản này là cơ quan nhà nước mà trực tiếp là các Bộ, ngành chuyên môn trong hệ thống cơ quan nhà nước

Ở Việt Nam quy định:

- Đất đai, tài nguyên, khoáng sản do Bộ Tài nguyên môi trường và hệ thống tổ chức của ngành tài nguyên môi trường ở các cấp trực tiếp quản lý

- Nguồn lợi sông, ngòi, vùng biển do Bộ Thuỷ sản và hệ thống tổ chức của ngành thuỷ sản ở các cấp trực tiếp quản lý

- Các công trình giao thông: Đường sá, cầu cống do ngành Giao thông vận tải trực tiếp quản lý

- Các công trình thuỷ lợi do ngành Nông nghiệp và phát triển nông thôn trực tiếp quản lý

Các công trình điện lực do ngành điện lực trực tiếp quản lý

Các công trình viến thông do ngành viễn thông trực tiếp quản lý Các công trình văn hoá do ngành văn hoá trực tiếp quản lý

Các công trình thể thao do ngành thể thao trực tiếp quản lý

Các công trình giáo dục do ngành giáo dục trực tiếp quản lý

+ Các công trình y tế do ngành y tế trực tiếp quản lý

Trong phạm vi đề tài cấp bộ ở đây chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu cơ chế quản lý công sản trong cơ quan nhà nước Phần tài sản này được gọi là tài

Trang 19

sản công trong cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp (gọi tất là cơ quan nhà nước - HCSN)

3 CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG TRONG CƠ QUAN NHÀ NƯỚC (HCSN)

3.1 Tài sản công trong cơ quan nhà nước

Cơ quan nhà nước ở đây được hiểu là cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp (gọi tắt là cơ quan HCSN) Tài sản công trong cơ quan HCSN là những tài sản thuộc sở hữu của nhà nước nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

và được Chính phủ giao cho các cơ quan quản lý nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp (gọi chung là cơ quan HCSN) quản

lý, khai thác và sử dụng

Tài sản công trong các cơ quan nhà nước rất phức tạp và đa dạng về chủng loại, đặc điểm, tính chất trong hình thành, khai thác và sử dụng Để phù hợp với công tác quản lý có thể căn cứ vào một số tiêu thức cơ bản về tài sản tiêu hao (là vật khi đã qua một lần sử dụng dù mất đi hoặc không giữ được tính chất, định dang va tinh năng sử dụng ban đầu) và tài sản không tiêu hao (là vật khi đã qua sử dụng nhiều lần mà cơ bản vẫn giữ được tính chất, hình dạng và tính năng sử dụng ban đầu) để xác định

Tài sản công trong cơ quan HCSN là toàn bộ cơ sở vật chất kỹ thuật để

các cơ quan này hoạt động Nó có vai trò quan trọng, đặc biệt để cơ quan thực

hiện tốt chức năng, nhiệm vụ quản lý được giao thể hiện ở chỗ:

- Đây là điều kiện vật chất của từng đơn vị để thực hiện nhiệm vụ được giao Là nguồn động lực, cơ sở, điều kiện vật chất, tỉnh thần để cơ quan tồn tai

và phát triển

- Đây là nguồn tài chính của từng đơn vị Nguồn tài chính của đơn vị được tồn tại hai dạng: Dạng thứ nhất là dạng tiền tệ thực tế; Dạng thứ hai là đạng hiện vật Nó thể hiện sự nghiêm trang và mức độ hiện đại của mỗi cơ quan

Trang 20

3.2 Phân loại tài sản công trong các cơ quan nhà nước

Tài sản công trong các cơ quan nhà nước là những tài sản được hình thành từ các nguồn:

- Được cơ quan chủ quản giao khi thành lập: đất đai, nhà cửa, các phương tiện làm việc

- Được mua sắm theo quy định của chế độ từ nguồn ngân sách của cơ quan

- Được cấp phát bổ sung tài trợ thêm trong quá trình hoạt động

- Được các tổ chức quốc tế tài trợ

- Quà biếu, tặng cho cơ quan

Dù hình thành từ nguồn nào thì tài sản trong các cơ quan nhà nước đều thuộc sở hữu toàn đân mà nhà nước là đại điện chủ sở hữu.Tài sản đó được nhà nước giao cho đơn vị quản lý sử dụng để thực hiện chức năng nhiệm vụ được giao

Tài sản công trong các cơ quan nhà nước rất phức tạp bởi tính đa dạng

và có nhiều cách phân loại Xuất phát từ yêu cầu quản lý, thường phân loại căn cứ vào đặc điểm tiêu hao của tài sản

- Loại tài sản tiêu hao: Là loại tài sản khi đã qua sử dụng làm mất tính chất, hình dạng, tính năng ban đầu của vật Ví dụ: Giấy, mực, đồ ăn, thức uống

- Loại tài sản không tiêu hao: Là những tài sản dù đã qua sử dụng mà cơ bản vẫn giữ tính chất, hình đạng và tính năng ban đầu Những tài sản này được

sử dụng nhiều lần, khấu hao trong thời gian dài Đó là những tài sản cố định gồm:

+ Dat dai

+ Nhà cửa

+ Vật kiến trúc, xây dựng

+ Máy móc, thiết bị

+ Phương tiện vận tải

+ Phương tiện truyền dẫn

Trang 21

+ Dung cu lam viéc

+ Súc vật làm việc, súc vật cho sản phẩm (nếu có)

+ Cây lâu năm

3.3 Nội dung cơ chế quản lý tài sản công trong các cơ quan nhà nước

Cơ chế quản lý tài sản công trong cơ quan Nhà Nước là hệ thống các chính sách, chế độ cũng như phương thức tổ chức quản lý hướng dẫn kiểm tra việc khai thác, sử dụng hợp lý và hiệu quả chống các hiện tượng tiêu cực làm thất thoát tài sản Nhà Nước

Phù hợp với luật ngân sách nhà nước, cơ chế quản lý tài sản công trong

các cơ quan nhà nước được thực hiện qua các khâu:

- _ Quá trình hình thành tài sản công

- Khai thác, sử dụng tài sản công

- _ Kết thúc sử dụng tài sản công

Thứ nhát, quản lý qúa trình hình thành tài sản công trong cơ quan nhà nước Một là, khi cơ quan được thành lập, cùng với quy định chức năng, nhiệm vụ tổ chức bộ máy biên chế cán bộ công chức cơ quan được cấp một số tài sản ban đầu nhất định để làm công sở và phương tiện làm việc bao gồm:

- Dat dai

- Nhacia

- Phuong tién di lai

- Phuong tién lam viéc

Những tài sản này được ghi vào sổ tài sản cơ quan Cơ quan có toàn quyền sử dụng để thực hiện nhiệm vụ được giao Bên cạnh tài sản được cấp, cơ quan có kế hoạch mua sắm tài sản lần đầu từ nguồn ngân sách cơ quan

Trang 22

Những tài sản trên được quản lý theo quy chế do cơ quan xây dựng trên cơ sở

chế độ nhà nước và đặc thù hoạt động của cơ quan Quy chế này được thảo

luận đân chủ, công khai

Từng loại tài sản được giao cho các đơn vị, cá nhân chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý, khai thác, sử dụng

Cân chú ý là quy chế quản lý sử dụng cũng như phân công cá nhân trực tiếp phụ trách quản lý, khai thác sử dụng cần công bố công khai cho tất cả công chức trong cơ quan biết để thực hiện

Hai là, việc mua sắm bổ sung tài sản

Tài sản cơ quan được mua sắm bổ sung sửa chữa hàng năm đều được thực hiện thông qua kế hoạch hàng năm

Theo quy trình kế hoạch, các đơn vị trong cơ quan lập dự trù đề nghị mua sắm, sửa chữa, thanh lý tài sản Cơ quan tập hợp dự trù của các đơn vị đưa vào kế hoạch ngân sách hàng năm

Căn cứ vào kế hoạch ngân sách để tổ chức mua sắm, sửa chữa, thanh

lý tài sản cơ quan

Trong công tác quản lý cần chú ý là chỉ có mua sắm, sửa chữa thanh lý tài sản đã được ghi vào kế hoạch Tuyệt đối không thực hiện các nhu cầu ngoài kế hoạch Trừ các trường hợp được cấp chủ quản cấp bổ sung, các tổ chức quốc tế tài trợ, hay quà biếu, tặng

Ba là, tài sản cần được sửa chữa, bảo dưỡng theo yêu cầu kỹ thuật và đặc điểm sử dụng Mọi sự sửa chữa bảo dưỡng phải có kế hoạch theo lịch trình

kỹ thuật sử dụng Tránh mọi sự tuỳ tiện trong sửa chữa bảo dưỡng tài sản Đồng thời cần tuân thủ quy định chặt chẽ về quản lý tài chính đối với hoạt động này

Thứ hai, quản lý quá trình khai thác, sử dụng, bảo quản tài sản

Đây là khâu có ý nghĩa quan trọng trong việc phát huy hết hiệu quả của tài sản công Quản lý ở khâu này cần tập trung xử lý một số vấn đề chủ yếu:

Trang 23

- Giao tài sản cho các đơn vị và cá nhân chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý, khai thác sử dụng bảo quản Mỗi tài sản đều có cá nhân trực tiếp chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng, bảo quản

- Xây dựng và ban hành nội quy, quy chế sử dụng tài sản công

- Có sự kiểm kê đột xuất và định kỳ đối với tài sản công trong cơ quan Qua kiểm kê đánh giá số lượng, chất lượng tài sản công

- Thường xuyên kiểm tra quá trình sử dụng, bảo quản tài sản công

- Xử lý các trường hợp rủi ro xảy ra có liên quan đến tài sản công của

cơ quan

Thứ ba, kết thúc quá trình sử dụng tài sản công

Tài sản công hết kỳ sử dụng, đã khấu hao hết hoặc đổi mới kỹ thuật được tiến hành thanh lý Quá trình thanh lý phải tuân thủ đúng quy định pháp luật

- Thanh lập ban thanh lý

- Căn cứ vào đặc điểm kỹ thuật, giá trị tài sản còn lại để lựa chọn phương thức thanh lý phù hợp

+ Thanh lý theo hình thức bán đấu giá Thường được áp dụng đối với

các tài sản có giá trị lớn như máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải được đổi

mới kỹ thuật

+ Thanh lý theo hình thức quy định giá Thường được áp dụng đối với các tài sản có giá trị thấp, đã khấu hao hết song còn sử dụng được Hình thức thanh lý này thường bán cho cán bộ công chức trong nội bộ cơ quan

Dù hình thức nào cũng phải được công bố và thực hiện công khai Đồng

thời phải tuân thủ nghiêm ngặt chế độ quản lý tài chính Ở đây tránh tình trạng

đặc quyền, đặc lợi của cán bộ lãnh đạo cơ quan khi thanh lý tài sản công

4 KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI VỀ QUẢN LÝ CÔNG SAN

Tất cả các nước đều nhận thức rằng công sản lâ tài sản quốc gia, có vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự phồn thịnh và phát triển đất nước Tuỳ theo điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội, mỗi quốc gia có phương thức quản lý công

Trang 24

sản riêng phù hợp với đặc điểm nước đó do Hiến pháp quy định Có thể rút ra những nét cơ bản trong quản lý công sản ở các nước

Thứ nhất, việc quản lý đất đai, tài nguyên khoáng sản có thể phân thành hai nhóm nước khác nhau

Một là, các nước Hiến pháp quy định tất cả đất đai, tài nguyên khoáng sản là tài sản quốc gia, thuộc sở hữu nhà nước Nhà nước giao cho các tổ chức, công dân quyền sử dụng theo quy định của pháp luật Mọi sự nhượng, bán, sang tên đều được thực hiện chỉ đối với quyền sử dụng Khi cần thiết nhà nước trưng dụng và bồi hoàn cho chủ sử đụng giá trị những tài sản mà họ đã tạo lập nên ở các quốc gia này về đất đai nhà nước cấp giấy phép quyền sử dụng đất hoặc cho thuê có thời hạn Đối với khoáng sản, tài nguyên nhà nước cấp phép khai thác theo kế hoạch của nhà nước và đánh thuế tài nguyên Như vậy, việc quản lý, khai thác, sử dụng đất đai, tài nguyên đều thuộc chủ quyền nhà nước và được quy định trong hệ thống pháp luật Thuộc nhóm nước này bao gồm các nước XHCN trước đây: Cu Ba, Cộng hoà dân chủ nhân đân Triều Tiên, Trung Quốc,

Hai là, các nước Hiến pháp quy định đất đai, tài nguyên, khoáng sản không chỉ thuộc sở hữu nhà nước mà còn thuộc sở hữu các tổ chức, các cá nhân Ở những nước này quy định phần đất đai mà các tổ chức hay cá nhân sử dụng được đăng ký với nhà nước và thuộc quyền sở hữu của họ Phần đất đai

đó họ được quyền nhượng, bán, cho thuê cả quyền sở hữu và quyền sử dụng trên thị trường như những hành hoá thông thường khác Đồng thời, mọi tài nguyên khoáng sản nằm trong lòng đất của tổ chức, cá nhân nào đều thuộc quyền sở hữu của cá nhân hay tổ chức đó

Tuy nhiên, Hiến pháp cũng quy định khi nhà nước có nhu cầu sử dụng,

khai thác phần đất của các tổ chức, tư nhân phục vụ mục đích quốc gia, nhà nước được quyền thu mua theo phương thức thoả thuận với chủ sở hữu trên cơ

sở cơ chế thị trường Luật pháp cấm sự áp đặt, tước đoạt của nhà nước song cũng cấm sự từ chối của chủ sở hữu

Trang 25

Về sử dụng nhà nước quy định chế độ thuế đối với đất dai, tài nguyên khoáng sản Đặc biệt các tổ chức, cá nhân được quyền quyết định khai thác sử dụng, song phải theo chiến lược, kế hoạch của nhà nước

Thứ hai, hầu hết ở các nước, cơ sở hạ tầng kỹ thuật đều đo nhà nước quản lý Quá trình đầu tư xây dựng, đầu tr duy ru, bảo dưỡng và khai thác sử dụng theo nhiều phương thức khác nhau trên cơ sở phân cấp quản lý

-_ Đối với các công trình cơ sở hạ tầng liên quốc gia, do nhà nước trung ương quản lý

- Đối với các công trình trong phạm vi địa phương đo chính quyền địa phương quản lý

Quá trình đâu tư xây dựng cũng như duy tu, bảo dưỡng, khai thác cơ sở

hạ tầng kỹ thuật được thực hiện qua các dự án trên cơ sở xã hội hoá với nhiều cách khác nhau:

Một là, ở các nước Bắc mỹ, Châu Âu thường thực hiện theo phương

thức:

-_ Nhà nước bỏ vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước theo các dự án

Việc xây dựng được thực hiện theo cơ chế đấu thầu

- Quản lý khai thác sử dụng, duy tu, bảo dưỡng được thực hiện trên

cơ sở đấu thầu

Theo đó việc quản lý, khai thác sử dụng các công sản thuộc cơ sở hạ tầng kỹ thuật tất cả các thành phần kinh tế đều có thể tham giá thực hiện nếu

họ thắng thầu Tuy nhiên việc khai thác, sử dụng, phải được tuân thủ theo quyết định của pháp luật và nhà nước thực hiện chức năng giám sát, kiểm tra

Hai là, ờ Trung Quốc những năm gần đây việc quản lý sử dụng các công trình giao thông vận tải (đường sá) theo cách:

- Nhà nước đầu tư xây dựng

- Bán cho các doanh nghiệp (kể cả trong và ngoài nước) quyền khai thác, duy tu, bảo dưỡng đoạn đường đó và thu phí theo quy định của nhà nước Thực tiễn cho thấy hình thức này của Trung Quốc đem lại hiệu quả cao hơn so với việc nhà nước đứng ra quản lý duy tu, bảo dưỡng, khai thác

Trang 26

Thứ ba, công sản thuộc cơ sở hạ tầng xã hội ở các nước có nhiều cách quản lý khác nhau

Một là, một số nước quy trình thực hiện :

- Nha nước đầu tư xây đựng theo các dự án

- _ Việc quản lý khai thác sử dụng được thực hiện :

+ Các tổ chức nhà nước quản lý khai thác, duy tu, sử dụng các

công sản này

+ Thực hiện đầu thầu đối với việc khai thác, bảo dưỡng, sử dụng Theo đó các thành phần kinh tế đều có khả năng sử dụng

- _ Chế độ thu phí theo quy định của nhà nước

Hai là, thực hiện xã hội hoá ngay từ khâu đầu tư xây dựng

- Trên cơ sở quy hoach phát triển kinh tế xã hội của đất nước, địa phương để hình thành các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội

-_ Nhà nước thực hiện xã hội hoá theo phương thức đấu thầu

- Những doanh nghiệp trúng thầu thực hiện việc đầu tư xây đựng, tổ chức khai thác, sử dụng

- Đối với những dự án đặc biệt quan trọng hoặc các thành phần khác không thực hiện được, nhà nước tổ chức đầu tư thực hiện

- _ Các chế độ tài chính liên quan đến công trình này (chế độ thu phí đối với người thụ hưởng) đều do nhà nước quy định thống nhất

Ba là, ở hầu hết các nước đang phát triển thường nhà nước đầu tư và giao cho các tổ chức kinh tế nhà nước (doanh nghiệp nhà nước) quản lý khai thác, sử dụng, thu phí

Thứ tư, quản lý tài sản công trong các cơ quan nhà nước (HCSN) điểm

khác nhau chủ yếu ở các quốc gia được thể hiện trong chế độ sử dụng tài sản đối với cán bộ công chức nhà nước, đặc biệt là cán bộ cao cấp

Ở các nước phát triển, cán bộ công chức chỉ sử đụng tài sản công khi trực tiếp thực thi công vụ ở công sở Luật pháp cấm cán bộ công chức sử dụng tài sản công khi làm việc tư, ngoài công sở, làm việc không thuộc phạm vi công vụ Ở các nước này, mọi chi phí đều được tiền tệ hoá qua lương

Trang 27

Ví dụ: một ông Thủ trưởng, việc di lại từ nhà đến công sở và ngược lại

do ông Thủ trưởng tự chí phí từ lương Xe công của cơ quan chỉ phục vụ khi ông Thủ trưởng thực thi công vụ

Ở các nước đang phát triển, thường lương của cán bộ công chức thấp

Song tài sản công của cơ quan được sử dụng tuỳ tiện

Ví dụ: Thủ trưởng một cơ quan có thể sử dụng xe cơ quan mọi lúc, mọi nơi, kể cả khi thực thi công vụ và khi không thực thi công vụ

Kinh nghiệm các nước trong quản lý công sản phụ thuộc vào điều kiện của mỗi nước Tuy nhiên trong quá trình cải cách nền hành chính quốc gia, ở nước ta những điều trên là cơ sở để phân tích tìm ra giải pháp thích hợp, hiệu quả nhất cho đổi mới quản lý công sản hiện nay ở nước ta

Trang 28

CHUONG 2

THUC TRANG CO CHE QUAN LY CONG SAN

Ở VIỆT NAM

(CHỦ YẾU TẬP TRUNG VAO CO CHE QUAN LY TAI SAN CONG TRONG

CƠ QUAN NHÀ NƯỚC)

1 TỔNG QUAN VỀ THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ CÔNG

SẢN HIỆN NAY

Nhằm khai thác có hiệu quả tiểm lực đất nước, mỗi loại hình công sản đều có hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh việc khai thác sử dụng, theo đó mỗi loại công sản có cơ chế quản lý cụ thể riêng Việc đi sâu nghiên cứu khảo sát thực trạng cơ chế quản lý đối với tất cả các loại công sản là vấn đề rất lớn Trong phạm vi cho phép ở đây chúng tôi xin nêu lên một số điểm khái quát

1.1 Nguyên tác chung của cơ chế quản lý công sản hiện nay là:

- Nhà nước là chủ sở hữu thống nhất quản lý theo luật pháp, theo kế

hoạch

- Nhà nước thực hiện phân công, phân cấp quản lý phù hợp với chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của mỗi ngành, mỗi cấp Tuyệt đối không có

sự phân chia tài sản quốc gia

- Nhà nước giao quyền sử dụng, khai thác công sản theo pháp luật phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân phục vụ cho việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế một cách hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm

- Mỗi loại công sản (đất đai, tài nguyên, biển, rừng ) đều có hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh riêng và có bộ máy cơ quan nhà nước trực tiếp

quản lý cụ thể

1.2 Khái quát cơ chế quản lý một số loại công sản chủ yếu

Thứ nhất, cơ chế quản lý đất đai

Trang 29

Đất đai là loại công sản đặc biệt ở Việt Nam Nhà nước là chủ sở hữu mọi đất đai Các chủ thể khai thác, sử dụng đất đai chỉ có quyền quản lý sử dụng theo giấy phép được Nhà nước cấp Cơ chế quản lý đất đai được thể hiện qua một số nội dung chủ yếu sau:

Một là, Nhà nước ban hành luật đất đai, được Quốc hội nước Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 4 Khoá XI năm 2003 và

các văn bản pháp quy liên quan đến đất đai Đây là những căn cứ, chuẩn mực pháp lý cho mọợi hoạt động liên quan đến đất đai

Hai là, quy định các điều kiện, tiêu chuẩn và thủ tục về đăng ký và cấp giấy phép quyền sử dụng đất đai Gắn liền với các điều kiện và thủ tục đó, nhà nước phân công, phân cấp cho các cơ quan, các cấp trực tiếp xử lý đối với từng đối tượng sử đụng và quy mô đất được sử dụng cụ thể

Ba ià, quy định chế độ bồi thường khi nhà nước thu hồi đất để sử dụng

vào mục đích của đất nước Chẳng hạn thu hồi đất để làm đường, làm các

công trình thuỷ điện, thuỷ lợi, làm khu công nghiệp

Bốn là, kiểm tra, giám sát về việc thực hiện các công việc liên quan

đến đất đai

Năm là, xử lý tranh chấp về đất đai

Hệ thống cơ quan địa chính các cấp trực tiếp làm nhiệm vụ quản lý đất đai Thứ hai, cơ chế quản lý tài nguyên, khoáng sản

Tài nguyên khoáng sản ở nước ta phong phú vẻ chủng loại, nhưng không nhiều về trữ lượng lại nằm rải rác ở khắp các nơi trong cả nước Những năm qua, việc khai thác và sử đụng tài nguyên khoáng sản còn nhiều mặt hạn chế

- Chưa có chiến lược dài hạn ổn định cho việc khai thác và sử đụng tài nguyên quốc gia Nói chung, việc khai thác và sử dụng tài nguyên còn tuỳ tiện

- Nhà nước không kiểm soát được chặt chẽ toàn bộ hoạt động khai thác

và sử dụng tài nguyên quốc gia Hiện tại, tài nguyên bị khai thác lộn xộn, xảy

ra tranh chấp cả trong các thành phần kinh tế và cả trong dân cư

- Khai thác ẩu, bừa, gây lãng phí lớn: bỏ lại nhiều, rơi rụng nhiều, hư hỏng nhiều, sử dụng không đúng mục đích

Trang 30

Thực trạng cơ chế quản lý tài nguyên khoáng sản được thực hiện theo nguyên tắc nhà nước thống nhất quản lý tất cả tài nguyên khoáng sản với tư cách là chủ sở hữu Các tổ chức, cá nhân chỉ được quyền khai thác, sử dụng theo kế hoạch nhà nước trong từng thời kỳ Trên cơ sở đó, nội dung chủ yếu

cơ chế quản lý tài nguyên khoáng sản bao gồm:

Một là, tổ chức điêu tra nguồn tài nguyên quốc gia, xây dựng chiến

lược, quy hoạch, kế hoạch về việc huy động các nguồn tài nguyên khai thác

Qua đó, xây dựng được bản đồ về tài nguyên khoáng sản đất nước làm cơ sở cho việc lập kế hoạch khai thác sử dụng tài nguyên phục vụ công nghiệp hoá,

hiện đại hoá đất nước

Hới lò, xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật về quản lý tài nguyên khoáng sản Đó là các văn bản nhằm hướng dẫn và điểu chỉnh các loại tài nguyên được phép khai thác, cất giữ, chế biến hạn chế lãng phí vật

tư, nguyên liệu trong sản xuất, định mức tiêu dùng hợp lý, tiết kiệm cũng như hướng dẫn, quy định về đăng ký xin thăm dò, khai thác Sau đó được hưởng các quyền về lợi ích, chuyển nhượng, thừa kế và nghĩa vụ đóng góp của người thăm dò, khai thác và sử dụng tài nguyên mà không tác động xấu đến môi trường sinh thái

Ba là, điều chỉnh, hỗ trợ, giám sát sự hoạt động của các đơn vị thăm

đò, khảo sát hoặc khai thác tài nguyên Đồng thời, nhà nước thực hiện các hoạt động khuyến khích các thành tích tốt, cấp bằng phát hiện tài nguyên quý hiếm, cấp giấy chứng nhận công lao hay kỷ luật các hành vi vị phạm pháp luật

về tài nguyên và môi trường, sinh thái

Bốn là, quản lý toàn bộ đữ liệu thông tin về tài nguyên nguyên quốc gia, chịu trách nhiệm đối với hậu thế và tính chính xác, bí mật quốc gia về kho tài nguyên đất nước

Năm là, Chính phủ thống nhất quản lý các nguồn tài nguyên, đồng thời thực hiện phân công, phân cấp:

- Các Bộ, Ngành thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên theo sự phân công của Chính phủ

Trang 31

- UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm quản

lý nhà nước về tài nguyên trong phạm vi địa phương theo quy định của pháp

luật và sự phân cấp của Chính phủ

Hệ thống tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan quản lý tài nguyên thuộc các bộ, ngành và UBND các cấp do Chính phủ quy định

Sáu là, việc khai thác, sử dụng tài nguyên khoáng sản được thực hiện theo phương thức nhà nước giao quyền khai thác, sử dụng được quy định qua các văn bản pháp luật liên quan đến quản lý, sử dụng tài nguyên khoáng sản

Thứ ba, cơ chế quản lý rừng, biển

Nguyên tắc chung, các rừng, biển, sông ngòi là tài sản quốc gia, thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước là đại diện chủ sở hữu Nhà nước cho phép các chủ thể kinh tế tổ chức khai thác các nguồn lợi từ rừng, biển, sông ngòi theo quy định của pháp luật Theo đó, cơ chế quản lý gồm:

Một là, đối với rừng Về đất đai, được quản lý theo luật đất đai Các nguồn lợi từ rừng được nhà nước giao cho các chủ thể kinh tế (các doanh nghiệp, công dân ) quản lý khai thác, trồng tái sinh rừng theo phương thức: Giao đất, giao rừng Các chủ thể kinh tế trồng rừng, bảo quản chăm sóc rừng

và khai thác các nguồn lợi theo kế hoạch kinh tế quốc dân Nhà nước tổ chức ngành kiểm lâm là cơ quan chuyên trách quản lý các nguồn lợi từ rừng Thực hiện giám sát, kiểm tra việc khai thác các nguồn lợi từ rừng, phát hiện, ngăn chặn và xử lý các vi phạm theo pháp luật

Hai là, các nguồn lợi từ sông, biển, nhà nước giao cho các chủ thể kinh

tế được phép khai thác Quyên lợi, nghĩa vụ của các chủ thể này được quy định theo pháp luật

Ba là, nhà nước thực hiện phân cấp quản lý đối với rừng, biển, sông ngòi phù hợp với địa giới các địa phương cũng như chức năng, nhiệm vụ quản

lý nhà nước của chính quyền các cấp

Bốn là, rừng và biển gắn liên với biên giới quốc gia, nhằm bảo đảm

độc lập chủ quyền quốc gia, bên cạnh các lực lượng kiểm lâm bảo vệ rừng,

Trang 32

còn có lực lượng vũ trang Biên phòng, Hải quân cũng trực tiếp làm nhiệm vụ bảo vệ, quản lý các loại tài sản quốc gia này

Thứ tư, cơ chế quản ]ý công sản là cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng kỹ thuật có vai trò quan trọng trong sự phát triển của đất nước, của cộng đồng Nó phản ánh trình độ hiện đại hoá, đô thị hoá của đất nước, của từng địa phương, từng vùng Hàng năm, nhà nước đầu tư hàng ngàn

tỷ đồng cho xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật Loại công sản này được hình thành từ nguồn vốn là tài chính công và phục vụ nhu cầu của cộng đồng, của

xã hội Quản lý loại công sản là cơ sở hạ tầng kỹ thuật được thực hiện qua hai giai đoạn:

- _ Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật

- Tổ chức khai thác, duy tu, bảo dưỡng cơ sở hạ tầng kỹ thuật

Mot ld, cơ chế quản lý trong giai đoạn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng -_ Cơ sở hạ tầng kỹ thuật được đầu tư theo các đự án với các loại hình đầu tư khác nhau Tất cả vốn cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật với bất kỳ hình thức nào (vốn từ ngân sách, vốn vay, BOT, BTO, BT ) đều là nguồn vốn từ phần chỉ của ngân sách nhà nước Các dự án đầu tư đều nằm trong

kế hoạch kinh tế quốc đân hàng năm Do vậy nó được quản lý theo kế hoạch

- Các đự án đầu tư được thẩm định và phê duyệt theo quy định của nhà nước về phân công, phân cấp thẩm định, xét đuyệt dự án đầu tư

-_ Việc giao cho đơn vị thi công được thực hiện theo phương thức đấu thầu,

loại trừ các công trình, dự án liên quan đến an ninh quốc gia có cơ chế riêng

-_ Cơ quan chủ đầu tư (nhà nước) thực hiện kiểm tra, giám sát quá trình thi công Kho bạc nhà nước cấp vốn cho đơn vị thi công theo tiến độ hoàn thành khối lượng công việc trên cơ sở xác nhận của cơ quan chủ đầu tư

Khi công trình thi công xong, tổ chức thanh quyết toán giữa chủ đầu

tư, đơn vị thi công và Kho bạc nhà nước Đồng thời giao cho đơn vị trực tiếp quản lý, khai thác, sử đụng, duy tu, bảo đưỡng

Hai la, co chế quân lý trong quá trình tổ chức khai thác sử dụng cơ sở

hạ tầng

Trang 33

Nguyên tắc chung là nhà nước thống nhất quản lý cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo pháp luật trên cơ sở phân công phân cấp phù hợp với chức năng nhiệm vụ quản lý của các ngành, các cấp Các ngành, các cấp tổ chức giao cho các chủ thể kinh tế trực tiếp quản lý , khai thác, sử dụng, bảo quản, duy tu, sửa chữa theo kế hoạch và chế độ nhà nước quy định

- Với đường sá, cầu, phà (các công trình giao thông)

+ Đối với các công trình giao thông liên tỉnh do trung ương mà trực tiếp

là Bộ Giao thông vận tải quản lý Bộ Giao thông vận tải tổ chức các

đơn vị trực tiếp khai thác, sử dụng, sửa chữa theo hình thức các doanh nghiệp (chẳng hạn Tổng công ty đường sắt Việt Nam; các Hạt quản lý đường bộ )

+_ Đối với các công trình giao thông nội tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, do địa phương quản lý Chính quyển địa phương (trực tiếp là ngành giao thông công chính tại tỉnh) thành lập các Ban quản lý theo vùng liên huyện phù hợp với đặc điểm của các công trình giao thông hoạt động theo hình thức doanh nghiệp

+_ Các doanh nghiệp quan lý công trình giao thông tổ chức khai thác, sử dụng, duy tu, sửa chữa lòng đường Còn vỉa hè, cây xanh trên vỉa hè

do địa phương quản lý

+ Nhà nước tổ chức thu phí cầu phà, đường theo chế độ thống nhất + Cơ quan thanh tra giao thông, bên cạnh thanh tra hoạt động giao thông

còn thanh tra kiểm tra việc khai thác, sử dụng các công trình giao thông bảo đảm an toàn cho đi lại

- Các công trình thuỷ lợi được nhà nước giao cho ngành thuỷ lợi trực

tiếp khai thác, bảo dưỡng

+ Những công trình lớn liên quan đến nhiều địa phương do trung ương quan ly

+ Các công trình phục vụ trong một địa phương đo địa phương quản lý + Phí thuỷ lợi được nhà nước quy định thống nhất trong cả nước

Trang 34

- Các công trình thuỷ điện sau khi xây dựng được nhà nước giao cho ngành Điện lực quản lý khai thác đáp ứng nhu cầu quốc tế dân sinh

+ Tất cả các công trình điện đều được hoà chung vào mạng lưới điện quốc gia và phân phối trong sử dụng theo kế hoạch phục vụ quốc kế dân sinh + Các doanh nghiệp điện lực tổ chức quản lý vận hành, khai thác theo kế hoạch kinh tế quốc dân

+ Điện được bán cho các nhu cầu quốc kế dân sinh theo giá nhà nước quy định

Ba là, việc quân lý, bảo quản, khai thác các công trình cơ sở hạ tầng xã hội do ngành văn hoá thể thao, y tế, du lịch trực tiếp quản lý trên cơ sở chế

độ phân công phân cấp của Nhà Nước

- Các ngành văn hoá, y tế, du lịch, thể thao Theo lĩnh vực phụ trách thành lập các cơ quan quản lý trực tiếp đối với từng công trình Những cơ quan này hoạt động quản lý, khai thác theo cơ chế doanh nghiệp công ích (ví

dụ như quản lý công viên) hoặc đơn vị sự nghiệp có thu (các khu thể thao, bệnh viện, trường học )

- Tuỳ vào vai trò, vị trí tầm quan trọng và qui mô của từng công trình để phân cấp quản lý khai thác phục vụ nhu cầu quốc kế dân sinh Những công trình tầm cỡ quốc gia có vị trí quan trọng đặc biệt do trung ương quản lý Còn

lại các công trình nằm trên địa bàn thuộc địa phương nào do địa phương đó

quản lý theo ngành, lĩnh vực phù hợp

- Các khoản phí, lệ phí đối với các công trình văn hoá, thể thao, giáo dục, y tế được nhà nước quy định thống nhất không có sự phân biệt đối xử giữa các tầng lớp dân cư

- Tổ chức thanh tra, kiểm tra, xử lý các trường hợp vi phạm đến công trình văn hoá, thể thao, y tế, giáo dục

1.3 Đánh giá chung về cơ chế quản lý công sản

Qua khảo sát, nghiên cứu có thể rút ra những mặt hạn chế chủ yếu đối

với cơ chế quản lý công sản so với yêu cầu cải cách nền hành chính quốc gia

Trang 35

Thứ nhất, hệ thống pháp luật công sản còn thiếu sự đồng bộ, cụ thể,

hiệu lực chưa cao, chưa phù hợp với điều kiện đổi mới của đất nước

Những năm qua, trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhà nước đã quan tâm ban hành nhiều luật, các văn bản pháp quy quản

lý công sản (luật đất đai, luật tài nguyên, luật hàng bải ) Đây là cơ sở cho việc

quản lý công sản Tuy nhiên, những văn bản pháp luật này còn một số bất cập:

Một là, luật còn chung chung chưa cụ thể Do vậy, còn quá nhiều văn

bản pháp quy dưới luật hướng dẫn thực hiện luật Các văn bản hướng dẫn này nhiều khi không phù hợp với luật, mâu thuẫn lẫn nhau Đo là nguồn gốc cho việc vận dụng luật không phù hợp Đây cũng là một trong những nguyên nhân

dẫn đến tham những, làm thất thoát tài sản nhà nước Chẳng hạn, đất đai được

quản lý theo luật đất đai Khi nhà nước lấy đất để làm các công trình quốc gia, làm khu công nghiệp, việc quy định giá đền bù ở mỗi địa phương khác nhau, vận dụng khác nhau Hiện tượng khiếu kiện về đất đai, đền bù xảy ra thường xuyên ở các địa phương

Hai là, hiệu lực pháp lý của các văn bản chưa cao, tính răn đe về vật chất chưa mạnh, chưa làm rõ trách nhiệm cá nhân cán bộ công chức trong quản lý công sản

Luật về công sản như trên đã nêu, được thực hiện chủ yếu thông qua nhiều thông tư hướng dẫn Tính pháp lý của các Thông tư chưa cao Tính răn

đe trong các điều luật, Thông tư khi vi phạm, làm thất thoát công sản chưa mạnh Các điều luật về bồi thường, thu hồi vật chất chưa đủ bù đắp thiệt hại Trách nhiệm cá nhân chưa cụ thể, rõ ràng Tạo điều kiện cho cán bộ, công chức né tránh trách nhiệm, tham nhũng Chẳng hạn, các cán bộ khi làm việc ở địa phương được nhà nước cấp nhà, đất khi chuyển về TW công tác lại được cấp đất, nhà Thực tế, nhiều cán bộ công chức có nhà, đất ở nhiều nơi trong cả nước

Ba là, hiện tượng chiếm dụng, buôn bán, chuyển nhượng công sản đặc

biệt là đất, rừng còn phổ biến ở các nơi Tài sản quốc gia bị thất thoát Nguyên nhân chủ yếu là do sự không đồng bộ của luật pháp Các cơ quan, cá

Trang 36

nhân cán bộ công chức lợi dụng để chuyển đất công thành đất tư, sang nhượng, bán đất công hầu như xảy ra ở tất cả các địa phương trong cả nước

Thứ hai, quản lý sử dụng khai thác công sản còn bất cập trên nhiều khía cạnh làm ảnh hưởng đến trật tự an ninh và thất thoát tài sản quốc gia

Một là, hiện tượng khai thác, buôn bán tài sản nhà nước bất hợp pháp xảy ra thường xuyên Tài nguyên khoáng sản bị khai thác bừa bãi Hiện tượng các bãi đào vàng tự đo, khai thác “than thổ phi”, khai thác gỗ, lâm sản tuỳ tiện còn thường xuyên xảy ra làm thất thoạt tài sản nhà nước

Hai là, chế độ chính sách về quyền hạn, trách nhiệm và chế độ đãi ngộ cho công chức quản lý công sản còn bất cập Chế độ tiền lương, khen thưởng bằng vật chất còn rất thấp, chưa phù hợp với điều kiện thị trường Trang bị cho công tác bảo vệ còn hạn chế, mang tính chất bình quân Một số ngành hoạt

động đặc biệt như kiểm lâm quyền hạn chưa đủ mạnh để thực thi nhiệm vụ

Ba là, cán bộ, công chức quản lý công sản còn hạn chế cả về số lượng lẫn trình độ chuyên môn Trong đó, đặc biệt quan trọng là ngành kiểm lâm quản lý đất đai, quản lý tài nguyên khoáng sản

Thứ ba, công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội còn nhiều sơ hở, gây thất thoát, lãng phí Nguyên nhân có thể khái quát một số điều chủ yếu sau đây:

Mot là, việc lập, phê duyệt các dự án còn mang tính “xim-cho”; phân phối đồng đều, bình quân chưa xuất phát từ nhu cầu thị trường

Hai là, quản lý quá trình đầu thầu xây dựng chưa hợp lý Nhiều công trình bị kéo dài gây lãng phí

Ba là, quản lý đầu tư xây đựng không phù hợp với khả năng vốn Nhiều công trình thi công đang đở vì không có vốn, thiếu vốn Nợ đọng trong đầu tư lớn

Bốn là, công tác quy hoạch chưa hợp lý dẫn đến nhiều dự án, công trình không mang lại hiệu quả

Năm là, cơ chế quản lý thi công chưa tốt, chất lượng công trình kém, nhiều công trình chưa nghiệm thu đã phải đại tu

Trang 37

Thứ tư, việc phân công, phân cấp quản lý công sản còn nhiều bất cập Một là, chế độ phân cấp quản lý công sản của nhà nước chưa cụ thể, chi tiết Các địa phương, đặc biệt là chính quyền cấp xã, vận dụng tuỳ tiện về quản lý đất, rừng, tài nguyên

Hai là, quy định của nhà nước nhiều nội dung chưa rõ ràng, gây trở ngại trong quản lý

Chẳng hạn, đối với công sản là đường giao thông, việc phân cấp quản lý chưa đồng bộ Lòng đường, vỉa hè, hành lang do các cơ quan thuộc các cấp khác nhau quản lý gây hiện tượng lãng phí trong duy tu, bảo dưỡng, khai thác

Ba là, quan niệm về một số tài sản công chưa rõ ràng gây khó khăn cho công tác quản lý Ví dụ, động, thực vật trong rừng là tài sản quốc gia thuộc công sản Nhưng quản lý việc săn bắt, buôn bán chủ yếu nhấn mạnh khía cạnh động thực vật quý hiếm, môi trường sinh thái mà coi nhẹ đó là tài sản quốc

gia Quy chế quản lý theo khía cạnh này chưa rõ, chẳng hạn, khi kiểm lâm bắt

giữ người săn bắn lợn rừng, hươu nai, thường chỉ xử lý khía cạnh xâm phạm động vật hoang đã Còn khía cạnh giá trị kinh tế của tài sản đó bị xem nhẹ Điều này chưa được thể hiện trong các văn bản pháp luật

2 THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUAN LY TAI SAN CONG TRONG

CO QUAN NHA NUGC

Tài sản công trong cơ quan nhà nước (đơn vị HCSN) da dang, phong

phú về chủng loại và nhu cầu sử dụng Do vậy, cơ chế quản lý tài sản công trong cơ quan HCSN được thực hiện theo từng loại tài sản phù hợp với đặc điểm tự nhiên cũng như giá trị sử dụng ,

2.1 Thực trạng cơ chế quản lý đất đai thuộc trụ sở làm việc

Thứ nhái, Tình hình sử dụng đất, nhà thuộc trụ sở làm việc của cơ

quan HCSN

Đất đai thuộc trụ sở làm việc là tài sản có vai trò quan trọng đặc biệt của cơ quan HCSN Đất đai được nhà nước cấp khi thành lập cơ quan và được cấp bổ sung phù hợp với quy mô phát triển của cơ quan

Trang 38

Theo Bộ tài chính đến nay tổng điện tích nhà đất thuộc trụ sở làm việc của các cơ quan HCSN đang quản lý, sử dụng:

+ Tổng giá trị theo sổ sách kế toán:

Nguyên giá:81.482.709 triệu đồng

Trung ương quản lý: 31.665.893 triệu đồng Địa phương quản lý: 49.816.816 triệu đồng Giá trị còn lại:48.809.251 triệu đồng

Trung ương quản lý: 15.936.092 triệu đồng Địa phương quản lý: 32.872.259 triệu đồng Quỹ nhà thuộc trụ sở làm việc của cơ quan HCSN là tài sản lớn sau đất đai chiếm 25% tổng giá trị trái sản cố định trong cơ quan HCSN và 72,3% tổng giá trị các tài sản cố định không kể đất

Trong hơn 15 năm đổi mới vừa qua nhà nước đã đầu tư xây dựng mới khoảng 1.957.000m2 nhà làm việc với trị giá hơn 13 tỷ đồng Trong quá trình tổ chức lại các cơ quan HCSN, thực hiện cải cách nền HCQG, nhằm sử dụng hợp lý tài sản này nhà nước thực hiện xắp xếp, bố trí lại cơ sở nhà đất, điều chuyển từ nơi thừa sang nơi thiếu, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà, đất, thanh lý nhà, đất

Trang 39

Đến nay theo số liệu của cục Quản lý công sản bộ Tài chính:

- Mỗi năm NSNN chỉ hơn 500 tỷ đồng cho sửa chữa nâng cấp trụ sở

- Điều chuyển từ nơi thừa sang nơi thiếu 7.286.172m?2 đất; 187.094m? nhà làm việc

- Bán đấu giá 500.000m? nhà doi dư theo Quyết định số

8082001/QĐ-TTg ngày 24/5/2001

- Đến ngày 30/4/2005 cấp 34.884 giấy chứng nhận quyền sử dụng

nhà 251.115mŸ với điện tích đất là 304.525m?

- “Thực hiện thanh lý 932.284mˆ nhà làm việc

Việc quản lý sử đụng còn nhiều bất cập làm thất thoát, lãng phí tài sản công:

- Qua kiểm kê phát hiện 14.430ha đất chưa được theo dõi trên sổ kế toán, chiếm 6,3% quỹ đất Số quỹ đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ở

cơ quan HCSN là 173.822ha chiếm xấp xỉ 75% tổng quỹ đất được giao

-_ Đất đai được sử dụng sai mục đích:

+ 6 Bộ ngành sử dụng sai mục đích với diện tích 15.353m?

+ 14 Tỉnh cho thuê 3.482m? dat tru sé + 9 Tỉnh, Thành phố sử dụng vào việc khác 142.227m1

-_ Việc xây dựng trụ sở, cơ quan làm việc chưa được thẩm định, quản

lý chặt chẽ còn nhiều thất thoát

+ Năm 2001 theo Bộ Tài chính : e_ Có 40 Tỉnh, Thành phố dự toán xây dựng vượt chế độ 47.177nŸ trị

- giá 83,321tỷ đồng

e 8 Bộ có dự toán vượt tiêu chuẩn 23,983mẺ giá trị 51,493ty đồng

e 23 Tỉnh, Thành phố xây dựng trụ sở vượt định mức 36.781 m? giá trị 47,463 tỷ đồng

+ Năm 2002-2003 qua kiểm tra 1.187 đơn vị thuộc 62 địa phương và

29 cơ quan trung ương phát hiện xây dựng vượt tiêu chuẩn 75.874 m? với trị gid 57,5 ty đồng

Ngày đăng: 14/05/2014, 13:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w