1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đổi mới cơ chế giải quyết tố cáo hiện nay

138 451 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đổi mới cơ chế giải quyết tố cáo hiện nay
Trường học Học viện Thanh tra, Bộ Tư pháp
Chuyên ngành Pháp luật
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luật Khiếu nại, tố cáo quy định về phạm vi tố cáo thì rất rộng quy định công dân có quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về hành vi trái pháp luật của bất cứ cơ quan,

Trang 1

BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ ĐỀ TÀI CẤP BỘ

ĐỔI MỚI CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO HIỆN NAY

Chủ nhiệm đề tài:

Đỗ Gia Thư

7891

HÀ NỘI - 2009

Trang 2

MỞ ĐẦU

I TÍNH CẤP THIẾT, MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân được ghi nhận tại Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm

1992 Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm tới việc giải quyết có hiệu quả các tố cáo phát sinh trong các lĩnh vực của đời sống xã hội Nhiều chỉ thị, nghị quyết của Đảng được ban hành nhằm tăng cường trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc giải quyết tố cáo, bảo đảm việc giải quyết tố cáo chính xác, kịp thời

Để cụ thể hoá quyền tố cáo trong Hiến pháp, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khoá X đã thông qua Luật Khiếu nại, tố cáo, trong đó xác định rõ thẩm quyền và trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo Sau khi có Luật này, các cấp, các ngành đã nhận thức được tầm quan trọng của công tác giải quyết tố cáo, xác định rõ đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phần bảo đảm ổn định chính trị, phát triển kinh tế xã hội ở các bộ, ngành và địa phương Do vậy, nhiều vụ việc tố cáo phức tạp đã được giải quyết dứt điểm, nhiều hành vi vi phạm pháp luật đã được xử lý nghiêm minh Qua hoạt động giải quyết tố cáo đã kịp thời bảo vệ được lợi ích Nhà nước, lợi ích hợp pháp của tập thể và công dân Mặc dù vậy, thực tiễn cũng cho thấy công tác giải quyết tố cáo còn nhiều hạn chế, bất cập; hiệu quả giải quyết các vụ việc tố cáo chưa cao; nhiều vụ việc tố cáo và giải quyết tố cáo kéo dài, không dứt điểm; việc thực hiện pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo chưa nghiêm

Nguyên nhân của thực trạng trên là do các quy định pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo còn nhiều hạn chế, bất cập Luật Khiếu nại, tố cáo chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong quá trình thực hiện quyền tố cáo như yêu cầu phải tố cáo đến đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết, quy định trách nhiệm người tố cáo phải ghi rõ họ

Trang 3

tên chưa khuyến khích, động viên người dân báo cho các cơ quan nhà nước về hành vi vi phạm pháp luật Luật Khiếu nại, tố cáo quy định về phạm vi tố cáo thì rất rộng (quy định công dân có quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về hành vi trái pháp luật của bất cứ

cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức), nhưng lại chỉ tập trung điều chỉnh những quy định về giải quyết tố cáo hành chính

Các cơ quan giải quyết tố cáo bị phân tán; công tác quản lý nhà nước về tố cáo còn bị buông lỏng; hoạt động thanh tra, kiểm tra đôn đốc thiếu thường xuyên, liên tục Việc phân định thẩm quyền giải quyết tố cáo như hiện nay dẫn tới có quá nhiều đầu mối các cơ quan tiếp nhận và giải quyết tố cáo Những quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo và quy định của

Bộ luật tố tụng hình sự còn chồng chéo, không tách bạch giữa tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật với các tin báo tội phạm Hệ quả của vần đề này

là đơn tố cáo phát sinh tràn lan, các cơ quan tiếp nhận, giải quyết tố cáo còn đùn đẩy trách nhiệm, nhiều tố cáo vượt cấp, hiệu quả công tác giải quyết tố cáo chưa cao làm mất lòng tin của nhân dân vào cơ quan giải quyết tố cáo nói riêng và các cơ quan nhà nước nói chung

Ngoài ra, còn có một nguyên nhân khác là những quy định về tố cáo

và giải quyết tố cáo trong Luật Khiếu nại, tố cáo và các văn bản hướng dẫn thi hành còn rất chung chung, sơ sài Do đó, người tố cáo không nhận thức hết quyền và nghĩa vụ của mình trong việc thực hiện quyền tố cáo; các cơ quan nhà nước thiếu căn cứ pháp lý để giải quyết tố cáo theo thẩm quyền, việc thực hiện các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết

tố cáo của các cơ quan nhà nước không thống nhất Bên cạnh đó có không

ít trường hợp do các quy định pháp luật về tố cáo còn lỏng lẻo mà người giải quyết tố cáo bỏ lọt người có hành vi vi phạm pháp luật, thậm chí người có trách nhiệm giải quyết tố cáo còn lợi dụng những sơ hở của pháp luật thông đồng với người bị tố cáo để có biện pháp đối phó với người tố cáo…

Trang 4

Những tồn tại, bất cập trên không chỉ là vấn đề ý thức pháp luật của người tố cáo, trách nhiệm của người có thẩm quyền giải quyết tố cáo mà quan trọng và trước hết là phải xem xét lại cơ chế giải quyết tố cáo ở nước

ta trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế, từ đó kiến nghị sửa đổi pháp luật đáp ứng yêu cầu của tình hình mới

Từ những vấn đề đặt ra trên đây cho thấy, việc nghiên cứu “đổi mới

cơ chế giải quyết tố cáo hiện nay” là vấn đề hết sức cần thiết

2 Quá trình thực hiện Đề tài

Ngay sau khi có quyết định phê duyệt của Tổng Thanh tra, Ban Chủ nhiệm Đề tài đã khẩn trương xây dựng đề cương, triển khai kế hoạch nghiên cứu Trên cơ sở đó, Ban chủ nhiệm đã lựa chọn và ký hợp đồng nghiên cứu với các chuyên gia trong và ngoài cơ quan Thanh tra Chính phủ Sau một thời gian nghiên cứu khẩn trương và tích cực, toàn bộ 10 chuyên đề của Đề tài đã được hoàn thành để Ban chủ nhiệm tiến hành xây dựng đề cương và nội dung Báo cáo tổng thuật Vào tháng 3 và tháng 5 năm 2009, Ban chủ nhiệm đã tổ chức hai cuộc hội thảo về những nội dung quan trọng thuộc phạm vi nghiên cứu của Đề tài; đồng thời cũng đã bảo vệ

đề tài trước Hội đồng cơ sở Thanh tra Chính phủ vào đầu tháng 6/2009 Thông qua nhiều ý kiến đóng góp của các đại biểu là đại diện các Cục, Vụ của Thanh tra Chính phủ, đặc biệt là của những cán bộ có nhiều năm công tác thực tiễn về tiếp nhận đơn thư tố cáo, giải quyết tố cáo và một số chuyên gia của cơ quan nhà nước có liên quan và của Hội đồng khoa học

cơ sở, Ban chủ nhiệm đã tiến hành chỉnh sửa, hoàn thiện Báo cáo tổng thuật để đưa kết quả nghiên cứu ra báo cáo trước Hội đồng khoa học theo đúng tiến độ

3 Mục tiêu của đề tài

- Đánh giá thực trạng cơ chế giải quyết tố cáo hiện nay, từ đó tìm ra những nguyên nhân hạn chế, bất cập để khắc phục

- Đề xuất các giải pháp, xây dựng luận cứ khoa học cho việc đổi mới cơ chế giải quyết tố cáo, làm cơ sở xây dựng Luật tố cáo và giải quyết

tố cáo

Trang 5

4 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu về cơ chế giải quyết tố cáo của các cơ quan hành chính nhà nước, bao gồm việc giải quyết tố cáo đối với cán bộ, công chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ và giải quyết tố cáo đối với những người có hành vi vi phạm trật tự quản lý hành chính

5 Nội dung của đề tài

Trên cơ sở nội dung đăng ký đã được phê duyệt, đề tài tập trung nghiên cứu những nội dung sau :

- Một số vấn đề cơ bản về cơ chế giải quyết tố cáo; quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về tố cáo và công tác giải quyết tố cáo;

- Các quy định của pháp luật về cơ chế giải quyết tố cáo của các cơ quan hành chính nhà nước; thực trạng tình hình giải quyết tố cáo của các

cơ quan hành chính, những khó khăn, vướng mắc trong việc giải quyết tố cáo hiện nay; nguyên nhân làm cho hiệu quả công tác giải quyết tố cáo chưa cao;

- Những quan điểm, nguyên tắc và giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế giải quyết tố cáo hành chính ở nước ta hiện nay

II KẾT CẤU BÁO CÁO TỔNG THUẬT VÀ NHỮNG SẢN PHẨM CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI

1 Kết cấu báo cáo tổng thuật

Báo cáo tổng thuật gồm: phần mở đầu, phần kết luận và 3 chương nghiên cứu về những nội dung có tính lý luận, thực trạng và phương hướng hoàn thiện cơ chế giải quyết tố cáo ở nước ta hiện nay

* Phần mở đầu:

Đề cập đến tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu, nội dung, phạm vi nghiên cứu của đề tài; báo cáo quá trình thực hiện việc nghiên cứu và kết quả tổng quát của đề tài

Trang 6

* Chương 1: Một số vấn đề lý luận về cơ chế giải quyết tố cáo

Tập trung nghiên cứu làm rõ các khái niệm tố cáo, đặc điểm của tố cáo trong lĩnh vực hành chính; khái niệm giải quyết tố cáo và cơ chế giải quyết tố cáo; quan điểm của Đảng và Nhà nước về tố cáo và giải quyết tố cáo; kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về tiếp nhận và giải quyết

* Chương 3: Phương hướng đổi mới cơ chế giải quyết tố cáo

Ngoài việc nêu ra và phân tích các yêu cầu khách quan của việc đổi mới cơ chế giải quyết tố cáo và quán triệt các quan điểm, nguyên tắc cơ bản hoàn thiện cơ chế giải quyết tố cáo, chương này chú trọng đến các biện pháp cấp bách cần đổi mới và hoàn thiện của cơ chế giải quyết tố cáo hành chính, từ đó đưa ra các kiến nghị góp phần tích cực vào việc xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật nói chung, pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo nói riêng

2 Những sản phẩm chính của đề tài

- 10 chuyên đề với 200 trang của 10 tác giả

- Báo cáo tổng thuật kết quả nghiên cứu

- Báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu

- Những kết luận và kiến nghị khoa học của đề tài

Sau đây là những nội dung cụ thể của đề tài:

Trang 7

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO

1.1.1 Khái niệm về tố cáo, giải quyết tố cáo và cơ chế giải quyết

tố cáo

1.1.1.1 Khái niệm về tố cáo

Theo Từ điển tiếng Việt thì tố cáo là “báo cho mọi người hoặc cơ quan có thẩm quyền biết người hoặc hành động phạm pháp nào đó”, hay

“tố cáo là vạch rõ tội lỗi của kẻ khác trước cơ quan pháp luật hoặc trước

dư luận” [34, tr.1663] Từ “báo” hoặc “vạch rõ tội lỗi” là những động từ đều chỉ hành động nhưng khác nhau ở mức độ Khi nói tố cáo là báo cho

ai tức là khái niệm được sử dụng theo nghĩa thông thường, hiểu theo nghĩa chung nhất Khi nói tố cáo là vạch tội lỗi thì được hiểu việc tố cáo này là khá nghiêm trọng, theo đó người tố cáo cho rằng người bị tố cáo đã vi phạm pháp luật hình sự Nói chung, những khái niệm này đã phản ánh được bản chất của tố cáo, song chưa đầy đủ, chưa thể hiện hết sự phức tạp

và đa dạng của tố cáo phát sinh trong đời sống xã hội Với tư cách là đạo luật “gốc” về lĩnh vực khiếu nại và tố cáo, lần đầu tiên Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 đã quy định khái niệm tố cáo: “Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định, báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức ” (Khoản 2, Điều 2) Theo định nghĩa này, tố cáo là quyền của công dân; công dân có quyền

tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức cá nhân nào với cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Trang 8

Như vậy, tố cáo hiểu theo nghĩa chung nhất là báo cho người (hoặc

cơ quan) có thẩm quyền biết về hành vi được coi là vi phạm pháp luật của

cá nhân hoặc tổ chức nào đó và yêu cầu xử lý người có hành vi vi phạm

Tố cáo phát sinh khi một người cho rằng lợi ích của Nhà nước, quyền hoặc lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức đã bị xâm hại hoặc

có thể bị xâm hại và người đó báo với cơ quan nhà nước Tố cáo là hành động nhằm bảo vệ và ngăn chặn khả năng vi phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức Những việc làm trái pháp luật không phải chỉ của cán bộ, công chức nhà nước mà của cả các cơ quan, tổ chức Thông qua việc tố cáo vi phạm pháp luật, Nhà nước

có được một nguồn thông tin về những hành vi vi phạm pháp luật diễn ra trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, qua đó cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền kiểm tra, xem xét để có biện pháp xử lý phù hợp

Tố cáo khác với tin báo vi phạm pháp luật và kiến nghị, phản ánh ở yếu tố chủ thể Chủ thể của tố cáo là chủ thể được xác định cụ thể và phải chịu trách nhiệm về thông tin do mình đưa ra Mặt khác khi công dân thực hiện quyền tố cáo đã phát sinh một quan hệ pháp luật về tố cáo, trên cơ sở

đó, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có nghĩa vụ giải quyết và trả lời cho người tố cáo biết Còn tin báo vi phạm pháp luật và kiến nghị, phản ánh thì chủ thể có thể xác định hoặc không xác định, nội dung của tin báo, kiến nghị, phản ánh chỉ là thông tin tham khảo, nếu có căn cứ thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ xử lý theo quy định của pháp luật

Trong thực tế hiện nay có sự phân biệt tố cáo trong các lĩnh vực khác nhau như: tố cáo trong lĩnh vực tư pháp, hành chính, lao động…hoặc phân biệt theo đối tượng bị tố cáo như tố cáo người dân có hành vi vi phạm pháp luật, tố cáo cán bộ, công chức, tố cáo đảng viên…Theo pháp luật hiện hành, căn cứ vào đối tượng bị tố cáo, mức độ hành vi vi phạm pháp luật và sự phân cấp quản lý cán bộ, công chức mà mỗi loại hình tố cáo này được giải quyết theo các trình tự, thủ tục khác nhau

Từ những phân tích khái niệm tố cáo nói trên có thể đưa ra khái niệm về tố cáo lĩnh vực hành chính như sau:

Trang 9

Tố cáo trong lĩnh vực hành chính là việc công dân báo tin cho cơ quan, người có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật xảy ra trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan,

+ Hành vi bị tố cáo xảy ra trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước

+ Thẩm quyền giải quyết tố cáo trong lĩnh vực này thuộc người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước

Việc làm rõ khái niệm và những đặc điểm tố cáo trong lĩnh vực hành chính có ý nghĩa quan trọng, góp phần xác định được thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết và hình thức chế tài áp dụng đối với hành vi vi phạm Đây cũng là vấn đề trọng tâm mà đề tài tập trung nghiên cứu

1.1.1.2 Khái niệm về giải quyết tố cáo

Để phát huy được quyền tố cáo của công dân nhằm phát hiện và

xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức, góp phần làm trong sạch bộ máy nhà nước và ổn định tình hình trật tự xã hội thì các cơ quan nhà nước cần phải thực hiện tốt công tác giải quyết tố cáo Tuy nhiên, giải quyết tố cáo được tiến hành như thế nào, cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết, trách nhiệm đến đâu thì trước hết chúng ta phải làm rõ khái niệm giải quyết tố cáo Do tính phức tạp của công tác giải quyết tố cáo nên trên hiện nay còn có nhiều

ý kiến khác nhau về vấn đề này Có ý kiến cho rằng việc giải quyết tố cáo bao gồm nhiều vấn đề liên quan trong việc chỉ đạo, tổ chức, thực hiện, bao

Trang 10

gồm việc thẩm tra, xác minh nội dung tố cáo; việc kết luận, kiến nghị các biện pháp xử lý; việc quyết định xử lý của người có thẩm quyền; việc kiểm tra, đôn đốc thực hiện quyết định xử lý về tố cáo đó trên thực tế và

cả việc kiểm tra giám sát hoạt động giải quyết tố cáo, thi hành quyết định

xử lý tố cáo Bên cạnh đó cũng có ý kiến không hoàn toàn thống nhất như vậy, mà cho rằng việc thẩm tra, xác minh là công việc đương nhiên phải làm trong quá trình giải quyết vụ việc tố cáo và việc kiểm tra, đôn đốc thực hiện quyết định xử lý về tố cáo là các công việc của các cơ quan quản lý nhà nước; giám sát hoạt động giải quyết tố cáo, việc xử lý của cơ quan nhà nước đối với người có hành vi vi phạm không nằm trong chu trình của hoạt động giải quyết tố cáo Vì vậy, theo các ý kiến này, suy cho cùng giải quyết tố cáo là việc xử lý của nhà nước đối với người có hành vi

vi phạm

Theo Luật Khiếu nại, tố cáo thì giải quyết tố cáo “là việc xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và việc quyết định xử lý của người giải quyết tố cáo” Với khái niệm này thì việc giải quyết tố cáo là khá hẹp, chưa bao hàm giai đoạn đầu và giai đoạn cuối của quá trình giải quyết tố cáo, đó là việc tiếp nhận, thụ lý tố cáo và việc thi hành quyết định xử lý tố cáo, kiểm tra, giám sát hoạt động giải quyết tố cáo

Nghiên cứu những vấn đề liên quan tới nội dung giải quyết tố cáo nói trên, chúng tôi cho rằng giải quyết tố cáo là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét hành vi của đối tượng bị tố cáo (bị người tố cáo cho là có hành vi trái pháp luật), xử lý đối với người có hành vi vi phạm và đưa ra những biện pháp khắc phục hậu quả do hành vi sai trái đó gây ra nhằm giữ gìn kỷ cương, trật tự an toàn xã hội Như vậy, giải quyết

tố cáo phải bao hàm từ khâu tiếp nhận tố cáo cho đến khâu kiểm tra, giám sát việc giải quyết tố cáo, xử lý người có hành vi vi phạm

Giải quyết tố cáo là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước Tuy nhiên, do sự đa dạng, phức tạp của các hành vi bị tố cáo có thể là hành vi

vi phạm pháp luật hành chính, hình sự, kinh tế, lao động…nên việc giải quyết tố cáo thuộc thẩm quyền của nhiều cơ quan khác nhau và do rất

Trang 11

nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh Việc giải quyết tố cáo được

áp dụng theo những thủ tục nhất định tuỳ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm Những hành vi vi phạm ở mức độ nhẹ thì

bị xử lý bằng biện pháp hành chính và sẽ do cơ quan hành chính tiến hành, còn những hành vi vi phạm có tính chất nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự thì phải được các cơ quan tố tụng tiến hành theo trình tự, thủ tục chặt chẽ đã được pháp luật về tố tụng quy định Chính vì vậy Luật Khiếu nại, tố cáo hiện hành chỉ tập trung điều chỉnh về việc tố cáo và giải quyết tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan hành chính nhà nước (sau đây gọi tắt là tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính)

Giải quyết tố cáo hành chính là việc kiểm tra, xác minh, kết luận về tính hợp pháp của hành vi bị tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan hành chính nhà nước để có biện pháp giải quyết theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ lợi ích Nhà nước, xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và đặc điểm của hành vi bị tố cáo và đối tượng bị tố cáo mà pháp luật quy định thẩm quyền giải quyết tố cáo hành chính Luật Khiếu nại, tố cáo hiện hành đã phân định thẩm quyền giải quyết tố cáo của các cơ quan hành chính nhà nước như sau:

- Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm quy định về nhiệm vụ, công vụ của người thuộc cơ quan, tổ chức nào thì Thủ trưởng cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết Nếu người bị tố cáo là người đứng đầu

cơ quan, tổ chức thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết

- Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật mà nội dung liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của cơ quan nào thì cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết

Trang 12

Quy định thẩm quyền giải quyết tố cáo của cơ quan hành chính nhà nước xuất phát từ cơ sở: tố cáo phát sinh trong quá trình các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành, quản lý nhà nước, thực hiện quyền hành pháp Do đó, trước hết các cơ quan hành chính nhà nước phải có trách nhiệm giải quyết những vấn đề phát sinh do chính hoạt động quản lý của mình gây ra Hơn nữa, trách nhiệm này xuất phát từ chính yêu cầu tự thân của quản lý hành chính nhà nước và vai trò của hoạt động giải quyết tố cáo đối với hoạt động chấp hành và điều hành

1.1.1.3 Cơ chế giải quyết tố cáo

Theo Đại từ điển tiếng Việt thì “Cơ chế là cách thức sắp xếp tổ chức để làm đường hướng, cơ sở theo đó mà thực hiện” [34, tr 464] Có ý kiến cho rằng: Cơ chế là cách thức vận hành, là phương pháp hay quá trình để làm một việc gì đó; hoặc cơ chế là cách sắp xếp, bố trí các bộ phận cấu thành một tổ chức nào đó Có ý kiến khác lại cho rằng, cơ chế thực ra là toàn bộ các quy định của pháp luật điều chỉnh một vấn đề nào

đó

Từ những quan niệm khác nhau về cơ chế như trên dẫn đến có nhiều cách hiểu khác khác nhau về cơ chế giải quyết tố cáo

Có ý kiến cho rằng, cơ chế giải quyết tố cáo là cách thức nhà nước

tổ chức việc giải quyết tố cáo, bao gồm cách thức tiếp nhận tố cáo, bảo vệ người tố cáo; cách thức giải quyết tố cáo, thi hành quyết định xử lý về tố cáo; cách thức kiểm tra, giám sát việc giải quyết tố cáo, thi hành quyết định xử lý tố cáo Đồng thời cho rằng cơ chế giải quyết tố cáo chỉ được xác định trong những quy định của pháp luật hay nói cách khác cơ chế giải quyết tố cáo là các quy định của pháp luật về việc tổ chức giải quyết

tố cáo của nhà nước

Cách tiếp cận trên mới chỉ xác định nội dung cơ chế giải quyết tố cáo đã được ghi nhận trong các văn bản pháp luật thực định, song lại chưa

đề cập đến các bộ phận cấu thành và sự vận hành của các thành tố trong

cơ chế đó (xét trong chỉnh thể thống nhất) cũng như sự phối kết hợp giữa

Trang 13

các bộ phận, thành tố thuộc cơ chế trong quá trình giải quyết tố cáo, đồng thời cũng chưa đề cập đến những điều kiện cần thiết để các bộ phận, thành

tố vận hành trong cơ chế đó

Để phản ánh đầy đủ toàn diện các nội dung, khía cạnh của cơ chế, Chúng tôi cho rằng: Cơ chế giải quyết tố cáo là tổng thể những vấn đề về cách thức tổ chức việc giải quyết tố cáo; mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong quá trình giải quyết tố cáo và các biện pháp bảo đảm

để các cơ quan, tổ chức thực hiện việc giải quyết tố cáo

Như vậy, cơ chế giải quyết tố cáo hành chính tổng thể những vấn đề

về cách thức tổ chức việc giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm của cán bộ, công chức trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, công vụ và hành vi

vi phạm trật tự quản lý hành chính của công dân; mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan hành chính, giữa các cơ quan hành chính với các cơ quan

tư pháp và các cơ quan, tổ chức khác trong quá trình giải quyết tố cáo và các biện pháp bảo đảm để các cơ quan, tổ chức thực hiện việc giải quyết tố cáo

1.1.2 Nội dung của cơ chế giải quyết tố cáo

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về nội dung của cơ chế nói chung

và cơ chế giải quyết tố cáo nói riêng, chẳng hạn cách tiếp cận đi từ vấn đề

bộ máy đến con người và cách thức vận hành bộ máy đó Tuy nhiên, để đạt mục đích nghiên cứu mà đề tài đã đặt ra, chúng tôi tiếp cận nội dung

cơ chế giải quyết tố cáo với ba vấn đề cơ bản, đó là các quy định của pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo; việc tổ chức thực hiện các quy định pháp luật này trên thực tế và các điều kiện đảm bảo cho việc tổ chức và hoạt động giải quyết tố cáo

Nội dung của cơ chế giải quyết tố cáo nói chung đã được quy định trong nhiều văn bản pháp luật ở nước ta, trong đó phải kể đến những văn bản quan trọng như Luật Khiếu nại, tố cáo, Luật Phòng, chống tham nhũng, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật Lao động Các văn bản pháp luật điều chỉnh về tố cáo và giải quyết tố cáo trong từng lĩnh vực này có những

Trang 14

đặc thù riêng như Bộ luật Tố tụng hình sự tập trung quy định về tin báo, tố giác tội phạm, kiến nghị khởi tố và tố cáo về hành vi vi phạm của người

có thẩm quyền tiến hành tố tụng Luật Khiếu nại, tố cáo với tư cách là đạo luật gốc quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo, vì vậy ngoài những quy định chung về tố cáo, nguyên tắc xác định thẩm quyền, Luật này đi sâu quy định về giải quyết tố cáo thuộc trách nhiệm của các cơ quan hành chính Mặc dù có sự khác nhau về đối tượng, phạm vi điều chỉnh, nội dung của từng văn bản pháp luật cũng như cách thức tổ chức thực hiện việc giải quyết…nhưng xét trên bình diện chung thì nội dung của cơ chế giải quyết tố cáo bao gồm:

1.1.2.1 Hành lang pháp lý thực hiện quyền tố cáo và giải quyết tố cáo

- Việc tổ chức tiếp nhận tố cáo, việc bảo đảm an toàn cho người tố cáo, bao gồm:

+ Phân biệt các loại tố cáo trong các lĩnh vực hành chính, hình sự, lao động… để điều chỉnh, giải quyết theo các trình tự khác nhau;

+ Những hình thức để công dân thực hiện việc tố cáo với cơ quan nhà nước (tố cáo trực tiếp, bằng văn bản, bằng điện thoại, mạng thông tin điện tử …);

+ Xác định quyền và nghĩa vụ của người tố cáo;

+ Các biện pháp giữ bí mật và bảo vệ người tố cáo, nhất là khi họ bị

đe dọa trả thù, trù dập

- Quy định việc tổ chức giải quyết tố cáo:

+ Xác định thẩm quyền giải quyết của các cơ quan trong việc giải quyết tố cáo: nguyên tắc xác định thẩm quyền trong Luật khiếu nại, tố cáo,

Bộ luật hình sự, Bộ luật lao động, đặc biệt là trong Luật khiếu nại, tố cáo; thẩm quyền giải quyết tố cáo của các cơ quan hành chính trong đó có vai trò của các cơ quan Thanh tra trong việc giải quyết tố cáo;

Trang 15

+ Quy định trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo: việc thụ lý, xác minh, kết luận kiến nghị;

+ Việc xử lý của các cơ quan có thẩm quyền đối với người có hành

vi vi phạm: xử lý hành chính, hình sự, bồi thường dân sự;

+ Các biện pháp tổ chức thi hành quyết định xử lý của cơ quan có thẩm quyền;

1.1.2.2 Việc tổ chức thực hiện pháp luật về giải quyết tố cáo

- Trách nhiệm tổ chức thực hiện của các cơ quan, các ngành, các cấp; tổng kết, đánh giá việc thực hiện các quy định của pháp luật về tc và giải quyết tố cáo

- Mối quan hệ giữa cơ quan hành chính với cơ quan, tổ chức khác trong việc giải quyết tố cáo

+ Mối quan hệ giữa cơ quan hành chính với cơ quan tư pháp: Giữa

cơ quan Thanh tra với cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát; giữa cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính với cơ quan Công an, Viện kiểm sát

+ Mối quan hệ giữa cơ quan hành chính với cơ quan, tổ chức khác (Ủy ban kiểm tra đảng, của các tổ chức đoàn thể ), nhất là việc giải quyết

tố cáo đối với cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức là đảng viên

- Việc giám sát công tác giải quyết tố cáo: giám sát hoạt động giải quyết tố cáo, việc thi hành quyết định xử lý tố cáo của cơ quan nhà nước

có thẩm quyền - việc xử lý đối với hành vi vi phạm, người có hành vi vi phạm Đây là hoạt động hết sức quan trọng và cần thiết nhằm làm cho việc giải quyết tố cáo khách quan, hiệu quả Hiện nay, ở nước ta có các hình thức giám sát sau:

+ Giám sát của các cơ quan nhà nước (Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp)

Trang 16

+ Giám sát của các tổ chức đoàn thể (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

và các tổ chức thành viên của Mặt trận)

+ Giám sát của nhân dân thông qua Ban thanh tra nhân dân

1.1.2.2 các điều kiện đảm bảo cho sự vận hành của cơ chế giải quyết tố cáo

- Điều kiện về cơ sở vật chất; trang thiết bị và các điều kiện cần thiết khác để phục vụ việc giải quyết tố cáo, bảo vệ người tố cáo

- Điều kiện về con người: tiêu chuẩn, năng lực, phẩm chất, ý thức trách nhiệm của cán bộ làm công tác tiếp dân, giải quyết tố cáo; chế độ chính sách đãi ngộ đối với người làm nhiệm vụ giải quyết tố cáo

- Chế độ khen thưởng đối với những người có thành tích và các chế tài xử lý đối với những người vi phạm pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo

Như vậy, có thể thấy cơ chế giải quyết tố cáo đã được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật và việc thực Tuy nhiên, để phục vụ cho việc xây dựng Luật tố cáo và giải quyết tố cáo, trong phạm vi của đề tài, chúng tôi đi sâu nghiên cứu về cơ chế giải quyết tố cáo trong lĩnh vực hành chính, đồng thời có nghiên cứu về mối quan hệ và sự phối hợp giữa

cơ quan hành chính và cơ quan tư pháp trong việc xem xét, giải quyết tố cáo có dấu hiệu tội phạm; giữa cơ quan hành chính với các tổ chức chính trị trong việc xem xét, giải quyết tố cáo đối với cán bộ, công chức là đảng viên, thành viên của các tổ chức đoàn thể

1.2 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA VỀ TỐ CÁO

VÀ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO

1.2.1 Tố cáo là công cụ sắc bén và hiệu quả để chống tham nhũng, lãng phí và các hành vi vi phạm pháp luật khác

Ngay sau khi giành được chính quyền, Đảng và Nhà nước đã rất quan tâm tới việc giải quyết hiệu quả các khiếu nại, tố cáo nói chung và việc

Trang 17

giải quyết tố cáo nói riêng, coi việc thực hiện quyền tố cáo là phương thức thể hiện dân chủ trực tiếp để nhân dân tham gia quản lý Nhà nước, quản lý

xã hội và bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và các

vi phạm pháp luật khác Xuất phát từ quan điểm đó, ở mỗi giai đoạn phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước đều có các chỉ thị, nghị quyết, ban hành các văn bản pháp luật về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, trong đó quy định cụ thể về việc tố cáo và giải quyết tố cáo của công dân

Ngày 23 tháng 11 năm 1945, Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã ban hành Sắc lệnh số 64/SL về việc thành lập Ban Thanh tra đặc biệt: “Điều thứ nhất - Chính phủ sẽ lập ngay một Ban thanh tra đặc biệt,

có uỷ nhiệm là đi giám sát tất cả các công việc và các nhân viên của uỷ ban nhân dân và các cơ quan của Chính phủ cần thiết cho việc giám sát

Điều thứ hai - Ban thanh tra đặc biệt có toàn quyền:…Nhận các đơn khiếu nại của nhân dân…”

Đây là văn bản pháp lý đầu tiên quy định về giải quyết khiếu nại, trong văn bản này chưa thấy xuất hiện khái niệm tố cáo hoặc khái niệm tương tự như: tố giác, phản ánh, tin báo tội phạm… Nhưng vẫn có thể khẳng định quy định này liên quan đến việc giải quyết tố cáo, vì xuất phát từ sự phân tích bối cảnh và mục tiêu của việc ra đời Ban thanh tra đặc biệt cũng như các quyền hạn trao cho Ban này trong Sắc lệnh số 64

là “điều tra, hỏi chứng…đình chức, bắt giam bất cứ nhân viên nào … Tịch biên hoặc niêm phong những tang vật và dùng mọi cách điều tra…Truy tố tất cả các việc…” thì có thể thấy rằng Ban thanh tra được trao những quyền hạn hết sức rộng lớn với mục đích là giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước, nhân viên nhà nước và đương nhiên là có quyền tiếp nhận và giải quyết các tố giác của người dân đối với hành vi

vi phạm pháp luật của những người trong bộ máy chính quyền Điều này càng được khẳng định khi chúng ta xem xét hoạt động của Ban thanh tra đặc biệt: “Nhiệm vụ của Ban thanh tra đặc biệt là thường xuyên nghiên cứu và giải quyết các đơn thư khiếu nại, phản ánh của các tầng lớp nhân

Trang 18

dân từ khắp các địa phương gửi lên Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh…” Những hoạt động như vậy chính là việc giải quyết các vụ việc

tố cáo hiện nay mà các cơ quan nhà nước đang tiến hành

Năm 1946 Hiến pháp đầu tiên của nước ta được ban hành, trong

đó có khẳng định các quyền và tự do, dân chủ hoàn toàn của người Việt Nam Tuy chưa có điều khoản cụ thể nào quy định về quyền tố cáo của công dân song cơ chế dân chủ mà Hiến pháp tạo dựng đã là nền tảng cơ bản hình thành quyền tố cáo của công dân trên thực tế

Hiến pháp năm 1959 lần đầu tiên quy định quyền khiếu nại, tố cáo của công dân tại Điều 29: “Công dân nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà

có quyền khiếu nại, tố cáo với bất cứ cơ quan nào của nhà nước về những hành vi vi phạm của nhân viên cơ quan nhà nước Những việc khiếu nại

và tố cáo phải được xét và giải quyết nhanh chóng Người bị thiệt hại vì hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan nhà nước có quyền được bồi thường”

Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 quyền tố cáo của công dân tiếp tục được khẳng định và phát triển Điều 74 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Công dân có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào

Việc khiếu nại, tố cáo phải được xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định

Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền lợi chính đáng, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự

Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác.”

Trang 19

Quan niệm tố cáo là một công cụ sắc bén và hiệu quả để chống tham nhũng, lãng phí và các hành vi vi phạm pháp luật, từ sau cách mạng tháng Tám đến nay Đảng ta rất quan tâm đến vấn đề này Quan điểm của Đảng luôn thể hiện xuyên suốt trong các Nghị quyết, Văn kiện và trong thực tiễn chỉ đạo cách mạng Việt Nam Đặc biệt là kể từ khi đất nước phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, những biểu hiện tiêu cực thuộc mặt trái của cơ chế thị trường ngày càng phức tạp Bốn nguy cơ mà Đảng

ta đã từng chỉ rõ-tụt hậu xa hơn về kinh tế, chệch hướng xã hội chủ nghĩa, nạn tham nhũng và tệ quan liêu, “diễn biến hòa bình” do các thế lực thù địch gây ra vẫn tồn tại Điều cần nhấn mạnh là: tình trạng tham nhũng và

sự suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán

bộ, đảng viên đang cản trở việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, gây bất bình và làm giảm lòng tin trong nhân dân Bàn về phương hướng và các giải pháp hạn chế và đẩy lùi tình trạng trên, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX khẳng định: “phát huy dân chủ, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế… giải quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo của công dân” [9, tr 49]

Đấu tranh chống tham nhũng là một sự nghiệp to lớn, khó khăn, phức tạp và đầy cam go, quyết liệt của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, nhằm bảo vệ chế độ Sự nghiệp này không phải kết thúc một sớm, một chiều, để giành thắng lợi phải tiến hành bằng nhiều phương thức khác nhau: tăng cường tổ chức và cơ chế, tiếp tục cuộc đấu tranh chống tham nhũng trong bộ máy nhà nước và toàn bộ hệ thống chính trị ở các cấp, các ngành từ trung ương đến cơ sở; gắn chống tham nhũng với chống lãng phí, quan liêu, đặc biệt chống các hành vi lợi dụng chức quyền để làm giàu bất chính; tiếp tục xóa bỏ các thủ tục hành chính phiền hà, nhất là những lĩnh vực, những khâu dễ xảy ra tham nhũng, sách nhiễu; thanh tra, kiểm tra, kiểm kê, kiểm soát, bảo đảm tính minh bạch trong việc sử dụng ngân sách nhà nước, tài sản công, tài chính các doanh nghiệp nhà nước, các quỹ do nhân dân đóng góp và do nước ngoài tài trợ Coi trọng các hình thức giám

Trang 20

sát, kiểm tra, tố cáo những kẻ tham nhũng Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX khẳng định: “các đảng viên và chi bộ đảng, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các cơ quan thông tin đại chúng và toàn xã hội có trách nhiệm giám sát, kiểm tra cán bộ, công chức, phát hiện, tố cáo, lên án những kẻ tham nhũng Xử lý nghiêm minh theo pháp luật và theo Điều lệ Đảng những cán bộ, đảng viên, công chức ở bất cứ cấp nào, lĩnh vực nào lợi dụng chức quyền để tham nhũng.” [9, tr 136]

Như vậy, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân được khẳng định các Văn kiện của Đảng và được cụ thể hóa trong các Hiến pháp, các văn bản pháp luật- một quyền có tính chất chính trị, pháp

lý của công dân, là công cụ sắc bén và hiệu quả để chống tham nhũng, lãng phí và các hành vi vi phạm pháp luật

1.2.2 Giải quyết tố cáo góp phần đề cao vai trò làm chủ của nhân dân

Bản chất dân chủ của Nhà nước ta thể hiện một cách toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa và xã hội Đại hội Đảng lần thứ VII khẳng định: tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước theo phương hướng Nhà nước thực sự là của dân, do dân, và vì dân; Nhà nước quản lý

xã hội bằng pháp luật, dưới sự lãnh đạo của Đảng; tổ chức hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện thống nhất quyền lực nhưng phân công, phân cấp rành mạch; bộ máy tinh giản, gọn nhẹ và hoạt động có chất lượng cao trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật, quản lý [7, tr 91]

Quyền tố cáo của công dân là quyền Hiến định được ghi nhận tại các bản Hiến pháp của nước ta và được cụ thể hóa bằng nhiều văn bản pháp luật mà quan trọng nhất là Luật Khiếu nại, tố cáo, Luật Phòng chống tham nhũng, Bộ luật tố tụng hình sự Đó là bước tiến mới trong quan hệ bình đẳng hai chiều về quyền giữa cơ quan công quyền và người dân, phát huy quyền lực nhân dân, làm cho bộ máy nhà nước gần dân hơn, phục vụ nhân dân tốt hơn, đồng thời công dân cũng thật sự được thực hiện quyền

Trang 21

kiểm tra, giám sát các hoạt động của các cơ quan nhà nước, công chức nhà nước, góp phần đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, vi phạm pháp luật trong bộ máy nhà nước Thời gian gần đây việc tố cáo của công dân có nhiều diễn biến phức tạp, hàng năm, số người trực tiếp đến cơ quan nhà nước tố cáo tăng Nhân dân không còn thờ ơ với công việc của Nhà nước,

đã ý thức được trách nhiệm của mình và biết phải làm như thế nào để đấu tranh góp phần xây dựng Nhà nước ta thật sự trong sạch, vững mạnh Mặt khác người dân đã nhận thức rõ quyền và nghĩa vụ hợp pháp của mình, trong đó có quyền tố cáo Chủ động tích cực thực hiện các quyền tố cáo là phát huy vai trò làm chủ của mình trong đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật Như vậy, có thể khẳng định quyền tố cáo chính là một trong những quyền cơ bản của công dân, là một hình thức biểu hiện của dân chủ xã hội chủ nghĩa Đó là quyền dân chủ trực tiếp- một chế định của nền dân chủ để nhân dân thông qua đó thiết thực tham gia vào việc quản

lý nhà nước, quản lý xã hội

Nhân dân với tư cách là chủ thể tối cao của quyền lực Nhà nước, nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua việc kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước hoặc trực tiếp trình bày các yêu cầu,

kiến nghị của mình đối với Nhà nước Thông qua việc tố cáo nhân dân

thực hiện quyền giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức và đó chính là thực hiện quyền làm chủ của mình

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng đề cao vai trò giám sát của quần chúng đối với cơ quan nhà nước và công chức, viên chức nhà nước Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Người viết “Kiểm soát

có hai cách, một cách là trên xuống Tức là người lãnh đạo kiểm soát kết quả những công việc của cán bộ mình Một cách nữa là từ dưới lên Tức

là quần chúng và cán bộ kiểm soát sự sai lầm của người lãnh đạo và bày

tỏ cái cách sửa chữa sự sai lầm đó Cách này là cách tốt nhất để kiểm soát các nhân viên” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nước ta là một nước dân chủ Mọi công việc đều vì lợi ích của dân mà làm Khi ai

có điều gì oan ức thì có thể do các đoàn thể tố cáo lên cấp trên Đó là

Trang 22

quyền dân chủ của tất cả công dân Việt Nam Đồng bào cần hiểu rõ và khéo dùng quyền ấy” [29, tr 65-66] Người còn căn dặn: “Cán bộ cấp trên phải luôn luôn đôn đốc và kiểm tra công việc cán bộ cấp dưới Nhân dân thì giúp Chính phủ và đoàn thể kiểm tra công việc và hành vi của các cán bộ” Quan điểm này đã được thể hiện rõ nét trong các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước Trong tình hình hiện nay, tham nhũng đã và đang trở thành quốc nạn thì quyền dân chủ của công dân trong lĩnh vực tố cáo và trách nhiệm của nhà nước trong việc giải quyết

tố cáo càng được coi trọng Chính vì vậy, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã khẳng định: “phải kiên trì thực hiện tốt vừa xây, vừa chống trong phòng, chống tham nhũng

Xử lý nghiêm minh, kịp thời cán bộ, công chức tham nhũng, không phân biệt chức vụ và địa vị xã hội còn đương chức hay đã nghỉ việc Thiết lập cơ chế khuyến khích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người phát hiện và tố cáo; đồng thời xử lý nghiêm những người bao che tham nhũng, ngăn cản việc chống tham nhũng ” Để làm tốt các công việc trên, Văn kiện chỉ rõ: “khẩn trương triển khai đồng bộ Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Luật Khiếu nại và tố cáo.”[12, tr 257]

Thể chế hóa tư tưởng của Đảng ta về coi trọng đấu tranh, phát hiện, tố cáo những hành vi tiêu cực, tham nhũng từ bản Hiến pháp đầu tiên đến Hiến pháp 1959, 1980 và 1992 đều coi trọng vấn đề tố cáo và giải quyết tố cáo, xem đó là một điều kiện cơ bản bảo đảm quyền dân chủ của công dân Điều 8 Hiến pháp 1992 quy định: “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, viên chức nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục

vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí

và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch và cửa quyền.”

Tính chất giám sát trong công tác giải quyết tố cáo được biểu hiện

ở chỗ khi tố cáo, nhân dân đã chuyển đến cho Nhà nước những thông tin, phát hiện về những việc làm vi phạm pháp luật, xâm hại đến lợi ích của

Trang 23

Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân để trên cơ sở đó Nhà nước kiểm tra lại hành vi của các cơ quan và các viên chức của mình thông qua việc giải quyết tố cáo Qua đó, Nhà nước phát hiện được hành

vi tham nhũng, quan liêu, tiêu cực cũng như các biểu hiện vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức để kịp thời giáo dục, xử lý, làm cho bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh Trong tình hình hiện nay, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân là một trong những yêu cầu cấp bách và quan trọng, nhằm góp phần vào việc ngăn chặn, bài trừ tệ nạn tham nhũng, buôn lậu, tiêu pha lãng phí của cán bộ, công chức và công dân

Như vậy, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về trách nhiệm giải quyết tố cáo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền chính là phương thức, biện pháp đề cao vai trò làm chủ của nhân dân

1.2.3 Giải quyết tố cáo góp phần bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước

Theo quan điểm của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh, giải quyết tố cáo chính là một biện pháp quan trọng và thiết thực để củng

cố lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước Giải quyết tố cáo là một hình thức biểu hiện trực tiếp của mối quan hệ giữa nhân dân và Nhà nước Nếu như tố cáo được các cơ quan nhà nước giải quyết một cách chính xác, khách quan, kịp thời thì Nhà nước thực sự đã là của nhân dân, do nhân dân

và vì nhân dân, bởi lẽ Nhà nước đã tôn trọng, lắng nghe, quan tâm đến quyền lợi của người dân cũng như của Nhà nước Nhưng ngược lại, nếu những người có thẩm quyền không quan tâm đến ý kiến, phản ánh của họ thì sẽ tạo nên một tâm trạng "bất mãn", thiếu tin tưởng và dẫn đến xu hướng xa lánh, không tin vào Đảng và Nhà nước vì thái độ thờ ơ, vô trách nhiệm của những người đại diện cho Nhà nước Mặt khác, coi trọng việc

tố cáo đúng sự thật và giải quyết triệt để các tố cáo là điều kiện, cơ hội để đảng viên, Cán bộ, công chức nhà nước tự nhìn lại mình, tự khắc phục những tồn tại, yếu kém, phấn đấu vươn lên trở thành người cán bộ tin yêu của nhân dân Bản thân nhà nước cũng có cơ hội làm trong sạch đội ngũ,

Trang 24

trong sạch bộ máy, tiệm cận chân lý : “Nhà nước thực sự là của dân, do dân và vì dân"

Như vậy, để củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, làm cho mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước ngày càng gắn

bó bền chặt thì việc giải quyết tố cáo phải nhanh chóng, đúng pháp luật và việc khôi phục kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xử lý nghiêm minh những hành vi sai phạm Hồ Chủ tịch đã nói: "Giữ chặt mối liên hệ với dân chúng và luôn lắng tai nghe ý kiến của dân chúng, đó là nền tảng lực lượng của Đảng và nhờ đó mà Đảng thắng lợi" [29, tr.199] Người cũng đã nhiều lần chỉ rõ ý nghĩa của công tác giải quyết tố cáo Để củng cố mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước, cần phải làm tốt công tác giải quyết tố cáo Minh chứng là từ trước đến nay, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta luôn thống nhất trong việc tạo mọi điều kiện thuận lợi để người dân trình bày những ý kiến, tố cáo Luật Khiếu nại, tố cáo cũng quy định các cơ quan nhà nước phải có trách nhiệm bố trí nơi tiếp công dân thuận tiện, chu đáo, bố trí cán bộ có phẩm chất, năng lực làm công tác tiếp dân

Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về việc giải quyết tố cáo là nhằm bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước và bảo vệ chế độ còn được biểu hiện qua việc giải quyết tố cáo phải nhanh chóng, kịp thời để giúp cho nhân dân thấy rõ Đảng và Nhà nước đã quan tâm lo lắng đến quyền lợi của họ,

từ đó củng cố thêm mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước Trong Luật Khiếu nại, tố cáo hiện hành thì thẩm quyền giải quyết tố cáo thuộc thẩm quyền của Thủ trưởng các cơ quan hành chính Nhà nước

Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đối với việc tiếp dân, giải quyết tố cáo là trách nhiệm, nghĩa vụ thường xuyên của người lãnh đạo, người quản lý Qua đó góp phần bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước và bảo vệ chế độ

Các Hiến pháp 1959, 1980, 1992 đã quy định việc giải quyết tố cáo phải được cơ quan nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp

Trang 25

luật quy định Các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng khi đề cập đến công tác giải quyết tố cáo cũng xem việc giải quyết phải nhanh chóng, kịp thời Thông tri số 210/TT-TW ngày 22/12/1967 của Ban bí thư về việc tăng cường tổ chức Ủy ban kiểm tra của Đảng và đẩy mạnh công tác thanh tra của các cơ quan nhà nước khi đề cập đến tác hại của việc giải quyết không kịp thời các khiếu nại, tố cáo đã nhấn mạnh : “Nhiều việc khiếu nại, tố cáo trong Đảng và của nhân dân, nhất là những vụ đảng viên, cán bộ làm sai đường lối, chính sách, vi phạm đến quyền lợi chính trị và kinh tế của nhân dân chưa được giải quyết tốt hoặc để ứ đọng, bê trễ, gây ảnh hưởng không tốt đến lòng tin của đảng viên và nhân dân đối với cơ quan của Đảng và Nhà nước" Chỉ thị số 176/CT-TW ngày 18/4/1970 của Ban Bí thư về việc tăng cường công tác kiểm tra, kiểm sát, thanh tra và giải quyết các vụ khiếu nại, tố cáo đã yêu cầu các cấp, các ngành phải coi trọng việc xét và giải quyết nhanh, tốt các đơn khiếu nại, tố cáo của quần chúng, cố gắng khắc phục tình trạng để các khiếu tố ứ đọng lại nhiều và lâu ngày, hoặc chuyển đơn khiếu tố cho cấp dưới mà không theo dõi, kiểm tra cách giải quyết

Thể chế hóa quan điểm đó của Đảng và Nhà nước, Pháp lệnh Khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1991, cũng như Luật Khiếu nại, tố cáo năm

2004 đều quy định thủ tục giải quyết tố cáo phải nhanh chóng, kịp thời nhằm chống các hành vi vi phạm pháp luật Tuy nhiên, việc giải quyết phải đảm bảo chất lượng của quá trình giải quyết

Những quy định nêu trên thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc xác định giải quyết tố cáo, là trách nhiệm, nghĩa vụ thường xuyên của người lãnh đạo, người quản lý và yêu cầu phải giải quyết nhanh chóng, kịp thời các tố cáo góp phần củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, huy động tối đa sự tham gia xây dựng Nhà nước của nhân dân, bảo vệ Đảng và bảo vệ chế độ

Tóm lại, trong mỗi giai đoạn lịch sử Đảng và Nhà nước ta đều rất quan tâm đến vấn đề tố cáo và giải quyết tố cáo của công dân, xem đó là nhiệm vụ quan trọng để làm trong sạch bộ máy nhà nước và tôn trọng

Trang 26

quyền cơ bản của con người, đồng thời là một phương thức thể hiện quyền dân chủ, quyền giám sát của nhân dân đối với bộ máy nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước Do đó, việc giải quyết tốt các tố cáo là thể hiện bản chất dân chủ của Nhà nước ta, là biện pháp củng cố mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước, nhằm bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước và bảo vệ chế độ

1.3 GIẢI QUYẾT TỐ CÁO Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

VÀ VIỆC VẬN DỤNG VÀO VIỆT NAM

Việc ghi nhận quyền tố cáo của công dân và trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của các quốc gia trên thế giới rất đa dạng Tố cáo các hành vi vi phạm trên các lĩnh vực đời sống kinh tế xã hội rất khác nhau, việc xử lý các hành vi vi phạm cũng khác nhau về thẩm quyền giải quyết, trình tự giải quyết và hậu quả pháp lý…Do vậy, tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh của mỗi nước, các quốc gia xây dựng một đạo luật riêng về việc tố cáo và giải quyết tố cáo Nhưng nhìn chung, qua nghiên cứu các chế định liên quan đến tố cáo và giải quyết tố cáo thì có nhiều quốc gia xây dựng một trình tự, thủ tục và thẩm quyền giải quyết rõ ràng về một loại hình vi phạm pháp luật đó là các hành vi tham nhũng Vì vậy, để có thêm luận cứ khoa học đổi mới cơ chế giải quyết tố cáo hiện nay thì cần thiết phải nghiên cứu kinh nghiệm về tiếp nhận tố cáo và giải quyết tố cáo các hành vi tham nhũng của một số nước trên thế giới góp phần làm cơ sở nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo ở Việt Nam

1.3.1 Việc tiếp nhận đơn thư tố cáo

Tiếp nhận đơn thư tố cáo là một trong những nội dung quan trọng tác động đến hiệu quả của công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng nói chung và việc giải quyết tố cáo nói riêng Các quốc gia có những quy định thiết lập khung pháp lý tạo thuận lợi cho việc tiếp nhận, xử lý đơn thư tố cáo Hiệu quả xử lý các vụ việc tố cáo cho thấy vai trò quan trọng của việc thu thập và xử lý đơn thư tố cáo

Trang 27

1.3.1.1 Kinh nghiệm tiếp nhận tố cáo tham nhũng của Singapore

Cơ quan điều tra tham nhũng có chức năng tiếp nhận và điều tra các

tố giác về tham nhũng trong các cơ quan nhà nước và lĩnh vực tư nhân Các nguồn tin mà cơ quan chống tham nhũng của Singapore nhận được để điều tra được thu thập qua tố cáo của nhân dân, các loại tố cáo này được phân chia thành hai loại là tố cáo có danh và nặc danh Tố cáo có danh thường nhận được từ các tổ chức hay các cơ quan Tố cáo nặc danh thường nhận được từ bức thư không có tên gửi qua đường bưu điện hoặc

do điện thoại từ quần chúng nhân dân chuyển đến cho nhân viên trực ban Mặc dù ở Singapore nổi tiếng về hiệu quả của công tác đấu tranh chống tham nhũng nhưng các loại tố cáo tham nhũng thường là tố cáo nặc danh bởi vì người tố cáo vẫn lo sợ bị trả thù, trù dập hoặc bị liên luỵ Nhưng nhiều trường hợp người tố cáo đứng tên đến tố cáo trực tiếp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Tuy là tố cáo nặc danh nhưng những tố cáo thường cung cấp những thông tin chính xác về tham nhũng Riêng đối với tố cáo nặc danh các cơ quan điều tra cũng gặp khó khăn trong việc tìm hiểu, thu thập tài liệu, chứng cứ nhằm làm sáng tỏ nội dung tố cáo Do đó, việc điều tra đối với các trường hợp này thường rất phức tạp và mất thời gian Kết quả phụ thuộc chủ yếu vào năng lực của nhân viên và người điều tra cần phải có phương pháp thu thập thông tin, chứng cứ giải quyết vụ việc

Singapore có quy định cụ thể các hình thức tố cáo nhằm tạo thuận lợi cho người dân báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền các hành vi vi phạm pháp luật nói chung và tham nhũng nói riêng Theo đó, người dân có thể gửi đơn tố cáo bằng văn bản, tố cáo qua điện thoại… Hiệu quả công tác đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật nói chung và hành vi tham nhũng nói riêng có sự đóng góp rất lớn của bộ phận tiếp nhận và xử

lý thông tin, tố cáo Do vậy, cơ quan chống tham nhũng Singapore có bộ phận thường trực 24/24 giờ để tiếp nhận thông tin, phản ánh, tố cáo về tham nhũng Để ngăn chặn và xử lý nghiêm đối với những kẻ lợi dụng quyền tố cáo để vu khống, cố tình tố cáo sai sự thật pháp luật nước này

Trang 28

cũng có quy định người tố cáo hay cung cấp thông tin về người khác biết

rõ là không đúng sự thật thì coi như phạm tội và phải bị xử lý, có thể bị phạt tiền hoặc phạt tù tới một năm hoặc cả hai hình phạt [1, tr 223]

1.3.1.2 Kinh nghiệm tiếp nhận tố cáo tham nhũng của Malaixia

Trong đấu tranh chống tham nhũng, Malaixia cũng thành lập cơ quan chuyên trách chống tham nhũng Cơ quan này có nhiệm vụ tiếp nhận thông tin, xử lý thông tin tố cáo về tham nhũng thông qua đơn thư, tố giác nặc danh; đơn thư chính thức của công dân; thông tin do các nhân viên của

cơ quan chống tham nhũng thu thập; thông tin từ các cơ quan nhà nước khác…Một trong những nguồn thu thập thông tin chủ yếu là các đơn thư,

tố cáo nặc danh Cơ quan này có phòng thông tin tiến hành xác minh số liệu để xem xét có đủ cơ sở tiến hành điều tra, xem xét xử lý vụ việc hay không Như vậy, Malaixia rất coi trọng việc tiếp nhận và xử lý đơn thư tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật nói chung và hành vi tham nhũng nói riêng

1.3.1.3 Kinh nghiệm tiếp nhận tố cáo tham nhũng của HồngKông

Uỷ ban độc lập chống tham nhũng của Hồng Kông được tổ chức thành ba ban trực thuộc là Ban điều tra, Ban phòng ngừa và Ban liên kết cộng đồng Ban phòng ngừa có trách nhiệm kiểm tra hoạt động và thủ tục tiến hành của các cơ quan Chính phủ và các cơ quan công quyền khác để giảm thiểu cơ hội tham nhũng và cung cấp lời khuyên về phòng ngừa tham nhũng cho tổ chức, cá nhân theo yêu cầu Ban liên lạc cộng đồng có nhiệm vụ giáo dục cộng đồng chống lại tệ tham nhũng và tranh thủ sự ủng

hộ của cộng đồng trong đấu tranh chống tham nhũng Ba ban này hoạt động phụ thuộc vào nhau để đạt được hiệu quả cao nhất

Ban điều tra thực hiện nhiệm vụ điều tra của Uỷ ban với các nhiệm

vụ cụ thể là thụ lý và xem xét nguyên nhân tham nhũng; điều tra bất kỳ một vi phạm nào bị coi là tham nhũng theo quy định của Pháp lệnh thành lập Uỷ ban độc lập chống tham nhũng của Hồng Kông, pháp lệnh về phòng ngừa hối lộ và pháp lệnh về bầu cử; điều tra bất kỳ một vi phạm

Trang 29

nào bị coi là tham nhũng của cán bộ, công chức do lạm dụng chức vụ; điều tra bất kỳ biểu hiện nào của quan chức có liên quan đến hành vi tham nhũng Ban này có cách tiếp cận và thu thập thông tin thông qua việc mở rộng mạng lưới của Uỷ ban với khu vực công và các ngành công nghiệp then chốt trong khu vực tư để tạo điều kiện cho sự trao đổi thông tin và hợp tác; sử dụng công nghệ thông tin để thu lượm và phân tích các tin tức hình sự; triển khai sử dụng những người đưa tin và nhân viên tình báo trong điều tra theo cách phối hợp một cách cẩn trọng Ban này sử dụng kỷ thuật hiện đại gồm thiết bị chuyên dùng và hệ thống máy tính để hỗ trợ hiệu quả cho công tác điều tra như uỷ ban được trang bị máy ghi âm và ghi hình để ghi lại những cuộc trao đổi của kẻ bị tình nghi với sự trợ giúp của Toà án và Hội luật gia, việc ghi hình những cuộc trao đổi của kẻ bị tình nghi đã trở thành hoạt động thực tiễn được chấp nhận Ngoài những hoạt động trên, Ban điều tra còn tạo điều kiện cho công dân tham gia thông qua việc gửi đơn tố cáo Theo đó, công dân có thể trực tiếp hoặc thông qua điện thoại tìm hiểu thông tin hoặc đệ trình đơn tố cáo về tham nhũng tại điểm tập hợp báo cáo của Uỷ ban, công dân cũng có thể tìm hiểu thông tin hoặc gửi đơn tố cáo về tham nhũng bằng thư điện tử hoặc bằng thông qua nhân viên của Uỷ ban tại địa phương Tất cả những đơn tố cáo

về tham nhũng được tiếp nhận và sẽ được xem xét một cách cẩn trọng đúng quy trình về thủ tục Đối với các loại tố cáo không thuộc thẩm quyền thì cơ quan này chuyển đến cơ quan có thẩm quyền xem xét

1.3.2 Trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo

Trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo là một trong những nội dung quan trọng liên quan đến cơ chế giải quyết tố cáo, nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công tác giải quyết tố cáo của các cơ quan Đấu tranh chống tham nhũng có những nét đặc thù, người bị tố cáo thường có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan nhà nước Họ có thể sử dụng ảnh hưởng của mình

để gây khó khăn trong quá trình giải quyết, họ cũng có thể tác động, ảnh hưởng tiêu cực tới người tố cáo nếu người đó làm trong cơ quan nhà nước

và nhất là những nhân viên dưới quyền của người đó Ở các quốc gia

Trang 30

thường có những quy định rất chặt chẽ về trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo nhằm đảm bảo một quy trình giải quyết tố cáo có hiệu quả nhưng đồng thời có khả năng bảo mật thông tin hạn chế việc tiết lộ thông tin, danh tính của người tố cáo Những quy định này không chỉ giúp cho việc giải quyết được khách quan mà là một trong những biện pháp bảo vệ người tố cáo hiệu quả, ít tốn kém

Kinh nghiệm xây dựng quy trình giải quyết một vụ việc tố cáo liên quan đến tham nhũng của Hàn Quốc:

- Việc trình báo: Bất cứ ai phát hiện thấy có hành vi tham nhũng cũng có thể trình báo hành vi đó với Uỷ ban tham nhũng Người có ý định trình báo một hành vi tham nhũng thì nên trình báo bằng văn bản, trong đó

có ghi những thông tin về cá nhân mình, mục đích, ý nghĩa và lý do trình báo, nêu chủ đề của sự việc và bằng chứng để chứng minh đó là hành vi tham nhũng

- Trách nhiệm trình báo: công chức nhà nước có nghĩa vụ trình báo

về các hành vi tham nhũng, nếu một công chức nhà nước phát hiện một công chức nhà nước có hành vi tham nhũng hoặc một công chức bắt buộc hay gợi ý phải thực hiện hành vi tham nhũng thì công chức đó phải trình báo ngay cho cơ quan điều tra, viện kiểm toán và thanh tra hoặc Uỷ ban Chống tham nhũng

- Việc nhận các bản trình báo: Khi nhận được các bản trình báo, Uỷ chống tham nhũng phải khẳng định với người trình báo một số chi tiết sau:

+ Một số vấn đề cần thiết cho việc xác định cụ thể nội dung của bản trình báo như: họ tên, địa chỉ, nghề nghiệp của người trình báo, nội dung, mục đích của việc trình báo

+ Uỷ ban Chống tham nhũng có thể đề nghị người trình báo cung cấp một số tài liệu để xác minh tính chân thực của các vấn đề đã nêu

+ Nếu thấy cần phải điều tra về nội dung được trình báo, Uỷ ban Chống tham nhũng sẽ yêu cầu cơ quan có thẩm quyền thích hợp trong số

Trang 31

các cơ quan như Viện Kiểm toán và Thanh tra, một cơ quan điều tra nào

đó hoặc một cơ quan phụ trách về việc giám sát cơ quan nhà nước liên quan (gọi là cơ quan nhà nước có liên quan trong trường hợp cơ quan phụ trách này không tồn tại) điều tra vụ việc

Uỷ ban chống tham nhũng nhận được tố cáo về hành vi tham nhũng, nếu người đó là một trong những quan chức cấp cao được liệt kê dưới đây

và hành vi bị tình nghi của họ cần được điều tra để xử phạt về hình sự và khởi tố, thì Uỷ ban chống tham nhũng sẽ đưa ra lời buộc tội và nhân danh

Uỷ ban để khởi tố quan chức này gồm: công chức nhà nước hàm thứ trưởng trở lên; Thị trưởng của Thành phố là thủ đô, thị trưởng của thành phố là thủ phủ của một vùng hoặc thống đốc; sỹ quan cảnh sát có hàm cấp tướng; thẩm phán hoặc công tố viên; sỹ quan quân đội có hàm cấp tướng; đại biểu quốc hội

Khi nhận được lời buộc tội như đã nói trên, cơ quan công tố phải thông báo cho Uỷ ban chống tham nhũng về kết quả điều tra Cơ quan công tố cũng phải thông báo kết quả điều tra những vụ việc đã được điều tra từ trước hoặc có liên quan đến một vụ việc khác đã được điều tra, do

Uỷ ban chống tham nhũng buộc tội và chuyển cho cơ quan công tố

- Việc cung cấp kết quả điều tra: Cơ quan điều tra cần hoàn thành công tác điều tra trong vòng 60 ngày kể từ ngày nhận được bản trình báo

về hành vi tham nhũng Tuy nhiên, nếu cơ quan điều tra có lý do hợp lý, thời hạn này có thể được kéo dài thêm và cơ quan điều tra phải thông báo cho Uỷ ban chống tham nhũng về lý do này

Cơ quan điều tra được đề cập tới trong Điều 29 của đạo luật này sẽ thông báo kế quả điều tra cho Uỷ ban chống tham nhũng trong vòng mười ngày kể từ ngày có kết luận điều tra Uỷ ban chống tham nhũng sẽ gửi cho người trình báo bản tóm tắt điều tra

Nếu cần thiết, Uỷ ban chống tham nhũng có thể yêu cầu cơ quan điều tra giải thích về kết quả điều tra

Trang 32

Nếu Uỷ ban chống tham nhũng cho rằng kết quả điều tra do cơ quan điều tra cung cấp không thoả đáng thì Uỷ ban chống tham nhũng có thể yêu cầu cơ quan này điều tra lại bằng cách đưa ra những lý do hợp lý, chẳng hạn như cung cấp các bằng chứng mới trong vòng bốn mươi ngày

kể từ ngày kết qủa điều tra được công bố Người trình báo có thể phản đối kết quả điều tra với Uỷ ban chống tham nhũng

Cơ quan điều tra được yêu cầu tiến hành điều tra lại sẽ phải thông báo cho uỷ ban chống tham nhũng về kết quả điều tra lại trong vòng bảy ngày kể từ ngày có kết luận điều tra Uỷ ban sẽ gửi ngay cho người trình báo bản tóm tắt điều tra lại [1, tr 376]

1.3.3 Biện pháp bảo vệ người tố cáo

Bảo vệ người tố cáo là một trong những nội dung quan trọng trong các quy định về ảnh hưởng trực tiếp tới công tác phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm phạm phát luật nói chung và việc tố cáo của công dân nói riêng Đồng thời ảnh hưởng tới việc thực thi pháp luật của các cơ quan nhà nước Bảo vệ người tố cáo tốt có hiệu ứng tích cực, khuyến khích người dân tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về các hành vi vi phạm pháp luật, giúp các cơ quan bảo vệ pháp luật xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, tạo lòng tin của nhân dân vào đường lối chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước

Các quốc gia trên thế giới thường có các quy định pháp luật chặt chẽ để đảm bảo cho việc bảo vệ người tố cáo, nhân chứng và những người

có liên quan Nội dung bảo vệ gồm bảo vệ thân thể, sức khoẻ, tính mạng của người tố cáo và nhân thân của họ; Bảo vệ chỗ ở và nơi làm việc của người tố cáo

Công ước của liên hợp quốc về chống tham nhũng cũng yêu cầu mỗi quốc gia thành viên áp dụng các biện pháp thích hợp căn cứ vào pháp luật quốc gia và trong khả năng có thể, bảo vệ trước nguy cơ trả thù hoặc

đe doạ có thể xẩy ra đến với nhân chứng và chuyên gia, những người đã đưa ra bằng chứng hoặc chứng thực liên quan đến các tội phạm theo công

Trang 33

ước và nếu phù hợp bảo vệ cả thân nhân và những người gần gũi họ Công ước cũng yêu cầu thiết lập các quy trình bảo vệ an toàn thân thể những người này phạm vi cần thiết và khả thi, tái định cư họ và quy định nếu phù hợp thì không tiết lộ hoặc tiết lộ hạn chế thông tin liên quan đến nhận dạng hoặc nơi ở của những người này Đưa ra các quy định về chứng cứ cho phép nhân chứng và chuyên gia có thể làm chứng hoặc chứng thực theo cách đảm bảo an toàn cho họ, chẳng hạn có thể cho phép việc làm chứng hoặc chứng thực được thực hiện thông qua các phương tiện thông tin liên lạc như video hay các phương tiện thích hợp khác Các Quốc gia thành viên xem xét việc tham gia ký kết Hiệp định hoặc thoả thuận với quốc gia khác để tái định cư những người này Các quy định này cũng được áp dụng đối với các nạn nhân có vai trò như nhân chứng Mỗi quốc gia thành viên, phụ thuộc vào quy định của từng quốc gia cho phép những quan điểm và băn khoăn của nạn nhân được trình bày và được xem xét ở giai đoạn nhất định của quá trình tố tụng hình sự theo cách không phương hại đến các quyền bào chữa

Đặc biệt công ước còn yêu cầu mỗi quốc gia thành viên xem xét việc quy định các biện pháp thích hợp trong hệ thống pháp luật quốc gia

để bảo vệ trước những đối xử bất công đối với bất kỳ người nào tố giác, với thiện ý và sự trên những căn cứ hợp lý, với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về bất cứ sự thật nào có liên quan đến các tội phạm quy định theo công ước chống tham nhũng

1.3.4 Một số kinh nghiệm cần nghiên cứu để vận dụng vào Việt Nam

1.3.4.1 Kinh nghiệm bảo vệ người tố cáo

Bảo vệ người tố cáo là chế định quan trọng góp phần hiệu quả xử lý đơn thư tố cáo và khuyến khích người dân thực hiện quyền tố cáo Kinh nghiệm của các quốc gia cho thấy, việc bảo vệ người tố cáo có hiệu quả đòi hỏi nhiều yếu tố, cụ thể là:

Trang 34

- Xây dựng được một quy trình tiếp nhận và xử lý đơn tố cáo nhanh chóng, hiệu quả và bảo mật thông tin liên quan đến người tố cáo Giải quyết vấn đề này, pháp luật các quốc gia thường quy định một quy trình

xử lý đơn hợp lý, quy định rõ trách nhiệm pháp lý của các cơ quan, cán bộ

có trách nhiệm xử lý đơn khi để xẩy ra lộ thông tin về người tố cáo Thậm chí nhiều quốc gia còn quy định, đối với việc cung cấp thông tin liên quan đến nội dung tố cáo cơ quan tiếp nhận, xử lý tố cáo phải bôi đen những nội dung có thể làm bị tố cáo phát hiện ra người tố cáo Kinh nghiệm của Singapore, Hồng Kông và một số quốc gia chỉ ra rằng, việc bảo mật thông tin về người tố cáo tốt ngay ở giai đoạn đầu sẽ làm hạn chế những phát sinh tiêu cực, hạn chế những chi phí tốn kém khi để lộ thông tin về người

tố cáo

- Để bảo vệ người tố cáo có hiệu quả, các quốc gia có quy định cụ thể về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc bảo vệ người tố cáo, trách nhiệm bảo vệ thông tin liên quan đến người tố cáo Theo đó, trách nhiệm bảo vệ tính mạng của người tố cáo và người thân của người tố cáo là của cơ quan cảnh sát Trách nhiệm bảo vệ nghề nghiệp của người tố cáo là của thủ trưởng cơ quan sử dụng người tố cáo, thủ trưởng cơ quan cấp trên và trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về lao động trên hết là trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ Nội vụ

- Các quốc gia cũng xác định rõ đối tượng cần bảo vệ liên quan đến người tố cáo Những yếu tố đó bao gồm tính mạng; nghề nghiệp; danh dự nhân phẩm của người tố cáo và những người thân của người tố cáo

- Các quốc gia cũng xây dựng một trình tự, thủ tục đơn giản để người tố cáo có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ mình và người thân của mình Ví dụ, pháp luật của Hàn quốc quy định nếu một người vì lý do tố cáo hành vi vi phạm mà bị người sử dụng lao động phân biệt đối xử, thuyên chuyển công tác tới một vị trí công tác kém hơn thì người đó có quyền gửi đơn yêu cầu cơ quan có thẩm quyền can thiệp Trường hợp cần thiết thì yêu cầu Bộ trưởng Bộ Nội vụ thuyên

Trang 35

chuyển đến một vị trí công tác tương đương trước khi người đó thực hiện hành vi tố cáo

Ngoài ra, các quốc gia cũng quy định một loạt các biện pháp bảo đảm thực hiện có hiệu quả các quy định về bảo vệ người tố cáo Những quy định pháp luật về bảo vệ người tố cáo hiện nay còn nằm rải rác ở nhiều văn bản khác nhau và chưa có các quy định liên quan đến các biện pháp bảo vệ người tố cáo, thời gian tới cần tiếp thu kinh nghiệm nước ngoài góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ người tố cáo và khuyến khích người dân tham gia tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật

1.3.4.2 Về việc xử lý tố cáo không rõ họ tên, địa chỉ

Cũng giống như Việt Nam, các quốc gia cũng gặp phải việc tố cáo

mà người tố cáo không rõ họ tên, địa chỉ Đặc biệt là tố cáo những vấn đề nhạy cảm như nhân viên tố cáo đồng nghiệp tham nhũng Pháp luật các quốc gia xác định đây là nguồn thông tin quan trọng cung cấp cho các cơ quan nhà nước, nhưng thông tin rất khó tiến hành xác minh, kết luận và có thể gây ra tốn kém trong quá trình xem xét, điều tra Tuy nhiên, nhiều quốc gia vẫn trao cho các cơ quan nhà nước thẩm quyền giải quyết đối với các loại tố cáo này Kết quả cho thấy, đa số các tố cáo không có họ tên, địa chỉ là tố cáo đúng Vấn đề này cũng đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật về vấn đề này, theo đó nên chăng cần có quy định về việc xem xét đối với các loại tố cáo không rõ họ tên, địa chỉ nếu như nội dung tố cáo rõ ràng và có cơ sở để thẩm tra xác minh

1.3.4.3 Về các hình thức tố cáo và xử lý tố cáo sai sự thật

Các hình thức tố cáo hay phương pháp người dân, cơ quan, tổ chức báo cho cơ quan có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật là một trong những vấn đề quan trọng trong ảnh hưởng đến hiệu quả giải quyết tố cáo Các quốc gia thường đưa ra các phương pháp để các cơ quan nhà nước có thể có được những thông tin tốt nhất nhưng cũng tạo điều kiện cho người người tố cáo dễ ràng thực hiện việc tố cáo Theo đó, trước hết các quốc gia thường quy định cụ thể cơ quan có nhiệm vụ tiếp nhận thông

Trang 36

tin, xử lý thông tin tố cáo kể cả tố giác nặc danh Có nước còn quy định cơ quan thường trực 24/24 giờ đề tiếp nhận thông tin, phản ánh, tố cáo Các hình thức tố cáo gồm: đơn thư chính thức bằng văn bản của công dân; thông tin do các nhân viên của cơ quan thu thập được; thông tin từ các cơ quan nhà nước khác chuyển sang, thông tin qua điện thoại, qua email Việc đa dạng hoá các hình thức tố cáo đã tạo thuận lợi cho các cơ quan chức năng có thêm nguồn thông tin và thực hiện tốt nhiệm vụ của mình Hiện nay, pháp luật Việt Nam cũng đã đa dạng hoá các hình thức tố cáo, vấn đề này được thể hiện rất rõ ở Luật phòng, chống tham nhũng và nên tiếp tục được cụ thể hoá trong quá trình hoàn thiện pháp luật về tố cáo

Các quốc gia cũng đưa ra các biện pháp để ngăn chặn và xử lý nghiêm đối với những kẻ lợi dụng quyền tố cáo để vu khống, cố tình tố cáo sai sự thật Theo đó, người tố cáo hay cung cấp thông tin về người khác biết rõ là không đúng sự thật thì coi như phạm tội và tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, họ bị xử lý bằng hình thức phạt tiền hoặc phạt tù, thậm chí bị áp dụng cả hai hình phạt

Trang 37

Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO HÀNH CHÍNH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

2.1 TÌNH HÌNH TỐ CÁO VÀ KẾT QUẢ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO

Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Tình hình tố cáo được đánh giá theo đơn vị hàng năm, căn cứ vào

số lượng các vụ việc tố cáo, tình hình giải quyết tố cáo và tính chất các vụ việc tố cáo Theo các Báo cáo tổng kết của Thanh tra Chính phủ, từ năm

1999 đến cuối năm 2001 tình hình tố cáo diễn biến hết sức phức tạp Số lượng các vụ việc tố cáo năm sau nhiều hơn năm trước với tính chất rất gay gắt Số vụ tố cáo vượt cấp có đông người tham gia ngày càng tăng (mỗi năm số lượt người trực tiếp lên Trung ương tố cáo tăng hơn 20%), trong đó có một số vụ trở thành “điểm nóng” Nhiều đoàn đông người có

tổ chức đến trụ sở các cơ quan và nhà riêng lãnh đạo Đảng, Nhà nước để

tố cáo, nhất là trong thời gian Trung ương Đảng, Quốc hội họp hoặc vào dịp bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Từ năm 2002 đến 2005 số lượng các vụ tố cáo có nơi, có lúc tăng, giảm khác nhau nhưng nhìn chung có xu hướng giảm (năm 2001 có 13.385 vụ, năm 2002 có 12.128 vụ, năm 2003 có 11.496 vụ, năm 2004 có 11.153 vụ, năm 2005 có 8.841 vụ) đáng chú ý là các vụ tố cáo vượt cấp có đông người tham gia giảm hẳn (năm 2002 có 468 đoàn, năm 2003 có 352 đoàn, đến năm 2004 có 309 đoàn, năm 2005 có 256 đoàn) Mặc dù Luật Khiếu nại, tố cáo đã quy định không giải quyết các đơn tố cáo nặc danh, mạo danh nhưng loại đơn này vẫn còn nhiều, nhất là vào dịp chuẩn bị đại hội Đảng hoặc bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp Ở một số nơi đơn tố cáo nặc danh, mạo danh chiếm tỉ lệ khá cao (như

ở Bộ Công an, số đơn này chiếm từ 65% đến 70% tổng số đơn tố cáo gửi đến Bộ)

Trang 38

Từ năm 2006 đến nay, tình hình tố cáo của công dân tiếp tục diễn biến phức tạp thể hiện như:

Tố cáo vượt cấp lên Trung ương có chiều hướng gia tăng với nhiều đoàn đông, năm 2006 có 554 đoàn đông người, tăng 31% so với năm 2005; năm 2007 có 544 lượt đoàn Một số đoàn đông với thái độ cực đoan, căng khẩu hiệu, biểu ngữ, lưu lại nhiều ngày ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, có hành vi gây rối hoặc đi diễu hành trên đường phố gây sức

ép

Tính chất tố cáo rất phức tạp thể hiện có tổ chức chặt chẽ, không chỉ trong cùng một địa phương mà liên kết nhiều địa phương với nhau, có người cầm đầu, chỉ huy; có đoàn đã lợi dụng, lôi kéo, xúi giục, sắp xếp đưa các đối tượng chính sách, người già và trẻ em đi cùng

Các đoàn đông người thường gây sức ép, bao vây Trụ sở tiếp dân của Trung ương và các cơ quan công quyền, điển hình là việc tố cáo của các công dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên diễn ra vào ngày 2 tháng 9 năm 2006 tại Văn phòng Quốc hội số 35 Ngô Quyền, Hà Nội và công dân của 19 tỉnh phía Nam tập trung tại Văn phòng 2 Quốc hội số 194 Hoàng Văn Thụ, thành phố Hồ Chí Minh trong những ngày cuối tháng 7 năm

2007

Nội dung tố cáo chủ yếu về một số cán bộ Đảng viên lợi dụng chức

vụ quyền hạn để tham ô, nhận hối lộ, cố ý làm trái chính sách pháp luật trong quá trình quản lý, sử dụng đất đai; trong sản xuất, kinh doanh và cả trong quá trình xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo (chiếm khoảng 60% tổng số các vụ việc tố cáo); tiếp tay cho buôn lậu, làm ăn phi pháp; bao che, không xử lý vi phạm của cấp dưới (chiếm 10%) ngoài ra là các tố cáo

về mất dân chủ, không công bằng trong thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, nhất là trong công tác cán bộ,

về lối sống sa đọa, tham nhũng của một số cán bộ, đảng viên sa sút phẩm chất đạo đức

Trang 39

Trong những năm vừa qua, Chính phủ đã tăng cường hướng dẫn đôn đốc, chỉ đạo công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo; đã ban hành nhiều nghị định, chỉ thị và nhiều công điện về vấn đề này

Từ năm 1998 đến năm 2003 Thủ tướng Chính phủ đã thành lập tổ công tác 35 để giải quyết một số vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp Lãnh đạo một số Bộ, ngành và địa phương đã quan tâm hơn đến công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo Nhiều nơi đã duy trì thành

nề nếp việc tiếp dân; bổ sung, sửa đổi và thực hiện nghiêm túc Quy chế tiếp dân; kiện toàn lại tổ chức, cán bộ của bộ phận tiếp dân Thanh tra Chính phủ đã giúp Thủ tướng Chính phủ tổng kết công tác tiếp dân và đề

ra phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác này; đồng thời củng cố tổ chức, tăng cường cán bộ cho Trụ sở tiếp dân của Trung ương Đảng và Nhà nước tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên từ Trung ương đến cơ sở cũng quan tâm cử cán bộ có năng lực, trình độ pháp luật để tiếp dân

Trong 9 năm qua (từ năm 1999 đến năm 2007), các cơ quan hành chính có thẩm quyền đó thụ lý 120.009 vụ việc tố cáo đó giải quyết được 88.033 vụ việc (đạt tỉ lệ 73,35%) Trong đó: năm 1999 có 16.216 vụ thuộc thẩm quyền đó giải quyết được 13.434 vụ, đạt tỷ lệ 82,80%; năm 2000 có 25.132 vụ đó giải quyết được 12.056 vụ, đạt tỷ lệ 47,90%; năm 2001 có 13.385 vụ, đó giải quyết được 7.702 vụ, đạt tỷ lệ 57,50%; năm 2002 có 12.128 vụ, đó giải quyết được 10.771 vụ, đạt tỷ lệ 88,80%; năm 2003 có 11.496 vụ, đó giải quyết được 9.631 vụ, đạt tỷ lệ 83,80%; năm 2004 có 11.153 vụ, đó giải quyết được 10.194 vụ, đạt tỷ lệ 91,40%; năm 2005 có 8.841 vụ, đó giải quyết được 7.244 vụ, đạt tỷ lệ 81,93%; năm 2006 có 11.798 vụ, đó giải quyết được 9.701 vụ, đạt tỷ lệ 82,20%; năm 2007 có 9.860 vụ, đó giải quyết được 7.300 vụ, đạt tỷ lệ 84,20% [26]

Nhìn chung, so với khiếu nại thì tình hình tố cáo diễn biến ít phức tạp hơn, số lượng đơn tố cáo và các đoàn tố cáo đông người không nhiều Bên cạnh những đơn tố cáo có ý thức xây dựng, đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng thì số đơn tố cáo do tư thù cá nhân vẫn xảy ra; đơn tố cáo nặc danh,

Trang 40

mạo danh ở một số nơi có tỷ lệ khá lớn Tình hình tố cáo gay gắt, phức tạp thường xảy ra tại các thời điểm trước bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, Đại hội Đảng hoặc liên quan đến việc bổ nhiệm cán

bộ Theo báo cáo của Ủy ban nhân dân các tỉnh thì người bị tố cáo chủ yếu

là cán bộ cấp cơ sở

Nội dung tố cáo chủ yếu là tố cáo cán bộ không thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ được giao, mất dân chủ, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tham nhũng trong việc quản lý đất đai, bồi thường, giải toả khi Nhà nước thu hồi đất; tố cáo cán bộ có sai phạm trong quản lý, thu chi tài chính, ngân sách; trù dập người khiếu nại, tố cáo, bao che cho cán bộ dưới quyền; không giải quyết dứt điểm khiếu nại, tố cáo của công dân… Qua kết quả giải quyết đơn tố cáo của các cơ quan hành chính cho thấy, tố cáo của công dân có nội dung đúng và đúng một phần chiếm tỷ lệ khá cao Theo số liệu trong báo cáo của 48 tỉnh và 05 Bộ thì tỷ lệ này là 62,75%

[32]

Trong ba năm 2005-2008, các cơ quan hành chính nhà nước đã có nhiều cố gắng trong công tác giải quyết đơn tố cáo Về cơ bản đã chấp hành đúng các quy định về trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết tố cáo Một số địa phương đã xử lý nghiêm người bị tố cáo có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân

2.2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ VIỆC TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO CỦA CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

2.2.1 Thẩm quyền giải quyết tố cáo của các cơ quan hành chính

Việc xác định thẩm quyền giải quyết tố cáo có ý nghĩa quan trọng, làm cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận, thẩm tra, xác minh và

xử lý tố cáo đúng pháp luật Hành vi bị tố cáo rất đa dạng, thuộc nhiều lĩnh vực nên việc giải quyết thuộc thẩm quyền của nhiều cơ quan khác nhau, do vậy cần phải có những nguyên tắc chung nhất để xác định thẩm quyền của các cơ quan trong việc giải quyết tố cáo Theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo và Nghị định số 136/2006/NĐ-CP thì thẩm quyền

Ngày đăng: 15/04/2014, 14:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w