1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất cơ chế quản lý hoạt động tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen ở việt nam

355 738 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất cơ chế quản lý hoạt động tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen ở Việt Nam
Tác giả
Người hướng dẫn
Trường học Viện Chiến lược, Chính sách Tài nguyên và Môi trường
Chuyên ngành Quản lý tài nguyên và môi trường
Thể loại Báo cáo khoa học
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 355
Dung lượng 4,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ABS Tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích Access to genetic resources and benefit sharing ARA Thỏa thuận nghiên cứu học thuật Academic research CITES Công ước về

Trang 1

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

VIỆN CHIẾN LƯỢC, CHÍNH SÁCH TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

Năm 2009 - 2010

Chủ nhiệm đề tài: ThS Huỳnh Thị Mai

8619

Hà Nội, tháng 12/2010

Trang 2

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

VIỆN CHIẾN LƯỢC, CHÍNH SÁCH TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

BÁO CÁO TỔNG KẾT KHOA HỌC

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC HÌNH vi

DANH MỤC HỘP vi

DANH MỤC ẢNH vii

TÓM TẮT 1

PHẦN I: THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI 6

I TÊN ĐỀ TÀI 6

II CƠ QUAN QUẢN LÝ ĐỀ TÀI 6

III CƠ QUAN CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI 6

IV CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI 6

V THỜI GIAN THỰC HIỆN 6

VI KINH PHÍ THỰC HIỆN 6

VII CÁC ĐƠN VỊ PHỐI HỢP 6

VIII CÁC CÁN BỘ THỰC HIỆN 7

IX SẢN PHẨM 7

PHẦN II: NỘI DUNG CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI 8

I MỞ ĐẦU 8

II TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ABS TRONG NƯỚC VÀ QUỐC TẾ 10

2.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ABS TRÊN THẾ GIỚI 10

2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ABS Ở VIỆT NAM 12

III MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 16

IV ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 16

4.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 16

4.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 16

V NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 16

VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

VII KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 17

7.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIẾP CẬN NGUỒN GEN VÀ CHIA SẺ LỢI ÍCH 17

7.1.1 Một số khái niệm, phạm trù liên quan đến ABS 17

7.1.2 Vai trò và tầm quan trọng của ABS 21

7.1.3 Các quá trình liên quan tới ABS 22

7.1.4 Vai trò của các bên liên quan trong quá trình ABS 28

7.1.5 Các vấn đề cơ bản liên quan đến ABS 31

7.1.6 Cách tiếp cận trong việc chia sẻ lợi ích từ nguồn gen 33

7.1.7 Các cơ chế điều chỉnh hoạt động ABS từ nguồn gen 35

7.1.8 Định hướng về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích 38

7.2 TỔNG QUAN THỰC TRẠNG ABS Ở VIỆT NAM 41

7.2.1 Thực trạng các nguồn gen ở Việt Nam 41

Trang 4

7.2.2 Tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích ở Việt Nam 70

7.2.3 Sự thất thoát các nguồn gen và những tri thức truyền thống 76

7.2.4 Thách thức trong quản lý ABS ở Việt Nam 79

7.3 TỔNG QUAN CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VỀ ABS 94

7.3.1 Công ước Đa dạng sinh học 95

7.3.2 Hướng dẫn Bonn về ABS 102

7.3.3 Công ước quốc tế về Bảo hộ giống cây trồng mới 111

7.3.4 Hiệp ước ITPGRFA 116

7.3.5 Các quy tắc TMQT về tiếp cận nguồn gen: GATT 1994 và TRIPs 120

7.4 KINH NGHIỆM VỀ ABS VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM 127

7.4.1 Kinh nghiệm về ABS của một số nước 127

7.4.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 177

7.5 ĐIỀU TRA, ĐÁNH GIÁ ĐIỂM VỀ ABS TẠI VQG BA VÌ VÀ CÔN ĐẢO 187

7.5.1 Vườn Quốc gia Ba Vì 187

7.5.2 Vườn Quốc gia Côn Đảo 199

7.5.3 Thực trạng thất thoát nguồn gen tại VQG Ba Vì và Côn Đảo 216

7.6 ĐỀ XUẤT CƠ CHẾ QUẢN LÝ ABS PHÙ HỢP VỚI ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM 228

7.6.1 Quyền sở hữu và quản lý nguồn gen 229

7.6.2 Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân được giao quản lý nguồn gen 231

7.6.3 Trình tự, thủ tục tiếp cận nguồn gen 232

7.6.4 Thỏa thuận về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích 235

7.6.5 Giấy phép tiếp cận nguồn gen 237

7.6.6 Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép tiếp cận nguồn gen 238

7.6.7 Chia sẻ lợi ích từ việc tiếp cận nguồn gen 239

7.6.8 Đăng ký bản quyền tri thức truyền thống về nguồn gen 241

VIII KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 244

8.1 KẾT LUẬN 244

8.2 KIẾN NGHỊ 245

TÀI LIỆU THAM KHẢO 247

PHỤ LỤC 251

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ABS Tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích (Access to genetic

resources and benefit sharing)

ARA Thỏa thuận nghiên cứu học thuật (Academic research

CITES Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật bị đe dọa

tuyệt chủng (Convention on International Trade in Endangered

Species of Wild Fauna and Flora)

CONAMA Ủy ban Quốc gia về môi trường (National Commission of the

Environment)

COP Hội nghị các Bên tham gia (Conference of Parties)

CRA Thỏa thuận nghiên cứu thương mại (C ommercial research

agreement)

DENR Bộ Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên (Department of

Environment and Natural Resources)

ĐDSH Đa dạng sinh học (Biodiversity)

EEEPGA Luật Cân bằng sinh thái và bảo vệ môi trường (Ecological

Equilibrium and Environmental Protection General Act)

EO Chỉ thị của Tổng thống (Presidential Executive Order)

EPBCA Luật Bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học (Environment

Protection and Biodiversity Conservation Act)

FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (Food and

Agriculture Organization of the United Nations)

GATT Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (General

Agreement on Tariffs and Trade)

INBIo Viện Đa dạng sinh học quốc gia Costa Rica (National

Biodiversity Institute)

INIA Viện nghiên cứu nông nghiệp quốc gia (National Institute for

Trang 6

Agriculture Research)

ITPGRFA Hiệp ước quốc tế về nguồn gen thực vật phục vụ lương thực và

nông nghiệp (International Treaty on Plant Genetic Resources

for Food and Agriculture)

MAT Điều khoản thỏa thuận giữa các bên (Mutually Agreed Terms) NBA Cơ quan quản lý đa dạng sinh học quốc gia (National

Biodiversity Authority)

NBSAP Chiến lược ĐDSH Quốc gia và kế hoạch hành động (National

Biodiversity Strategy and Action Plan)

NCI Viện Ung thư quốc gia (National Cancer Institute)

NGO Tổ chức phi chính phủ (Non-Government Organization)

NTG Nhà tạo giống (Breeder)

PIC Chấp thuận thông báo trước (Prior informed consent)

PVP Hệ thống bảo vệ cây trồng (Plant protection system)

SFDGA Luật Phát triển Lâm nghiệp bền vững (Sustainable Forestry

Development General Act)

SHTT Sở hữu trí tuệ (Intellectual Property)

TNDTTVLN Tài nguyên di truyền thực vật vì mục tiêu lương thực và nông

nghiệp (Plant genetic resources for food and agriculture)

TRIPs Các khía cạnh thương mại của sở hữu trí tuệ (Trade related

aspects of intellectual property rights)

UBND Ủy ban nhân dân (People Committee)

UNEP Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc (United Nations

Environment Programme)

UPOV Công ước Quốc tế về Bảo hộ giống cây trồng mới

(International Convention for the Protection of New Varieties

of Plants)

VQG Vườn quốc gia (National Park)

WGA Luật Động vật hoang dã (Wildlife General Act)

WIPO Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (World Intellectual Property

Organization)

WTO Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization)

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Mối liên hệ giữa xuất xứ nguồn gen – đối tượng hưởng lợi và đối tượng cần

được chia sẻ lợi ích từ nguồn gen 25

Bảng 2: Tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích 71

Bảng 3: Phục hồi và phát triển giống gà thuốc Sơn La 72

Bảng 4: Các giống xoài mới GL 72

Bảng 5: Sự chia sẻ lợi ích không đều khi phát hiện ra cây Ba gạc 72

Bảng 6: Nội dung Pháp lệnh về Giống cây trồng và Giống vật nuôi 83

Bảng 7: Danh lục các dự án ưu tiên đầu tư bảo tồn trực tiếp của Kế hoạch hành động đa dạng sinh học quốc gia 1995 liên quan đến mục tiêu “tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích” và thực tế triển khai 93

Bảng 8: Các luật và quy định của Philippines liên quan đến tiếp cận các nguồn gen và các quyền của cộng đồng bản địa 127

Bảng 9: Tổng quan về pháp luật hiện hành và các quy định có liên quan đến vấn đề tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích 174

Bảng 10: Các yếu tố gợi ý cho pháp luật quốc gia tiếp cận nguồn gen 181

Bảng 11: Một số nguồn gen điển hình đang lưu trữ tại VQG Ba Vì 193

Bảng 12: Kết quả tổng hợp điều tra về hoạt động ABS tại VQG Ba Vì 197

Bảng 13: Một số nguồn gen điển hình đang lưu trữ, bảo vệ tại VQG Côn Đảo 208

Bảng 14: Kết quả tổng hợp điều tra về hoạt động ABS tại VQG Côn Đảo 215

Bảng 15: Một số nguồn gen điển hình bị thất thoát tại VQG Ba Vì 217

Bảng 16: Một số nguồn gen điển hình bị thất thoát tại VQG Côn Đảo 223

Bảng 17: Trình tự các bước tiếp cận nguồn gen 233

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 1 : Tác động của người dân vào tài nguyên thiên nhiên 74

Hình 2 : Sự can thiệp của nhà khoa học và nhà sản xuất 75

Hình 3: Mối quan hệ giữa CBD và các điều ước quốc tế liên quan đến ABS 96

Hình 4: Sơ đồ kinh nghiệm về ABS 186

Hình 5: Bản đồ quy hoạch phân vùng biển Vườn Quốc Gia Côn đảo có sự tham gia của cộng đồng 207

DANH MỤC HỘP Hộp 1 Mục tiêu của Công ước đa dạng sinh học 95

Hộp 2 Thuật ngữ “nguyên liệu gen” 98

Hộp 3 Các quy định liên quan đến ABS trong CBD 99

Hộp 4 So sánh các quy định chính của UPOV 1978 và UPOV 1991 113

Trang 9

DANH MỤC ẢNH

Ảnh 1: Gà lôi trắng tại VQG Ba Vì 190

Ảnh 2: Cu li lớn tại VQG Ba Vì 190

Ảnh 3: Vườn xương rồng tại VQG Ba Vì 192

Ảnh 4: Thu hải đường Ba Vì 194

Ảnh 5: Kỳ đà hoa 194

Ảnh 6: Dó đất – tác dụng an thần, giảm stress 194

Ảnh 7: Một loài cây thuốc quý chữa bệnh đường tiêu hóa, dạ dày ( họ Ô rô – Acanthaceae) 194

Ảnh 8: Cây lá khôi trồng trong vườn thuốc của người Dao ở xã Yên Sơn 194

Ảnh 9: Cây lát hoa trưởng thành và cây 2 năm tuổi trong vườn ươm Côn Đảo 200

Ảnh 10: Sóc đen Côn Đảo 201

Ảnh 11: Đồi mồi và Trai tai tượng tại Côn Đảo 203

Ảnh 12: Cua xe tăng và cây cóc đỏ chỉ có ở Côn Đảo 209

Ảnh 13: Công tác cứu hộ và thả rùa con về biển ở Côn Đảo 209

Ảnh 14: Dugong Côn Đảo 210

Ảnh 15: Cây củ dòm chữa bệnh dạ dày ở VQG Ba Vì 217

Ảnh 16: Dó đất - cây thuốc quý trong sách Đỏ ở VQG Ba Vì 217

Ảnh 17: Gà lôi và Cầy mực ở VQG Ba Vì 218

Ảnh 18: Đa số người Dao ở Ba Vì đều có nghề làm thuốc cổ 219

Ảnh 19: Nấu cao lá thuốc của dân tộc Dao ở Ba Vì 220

Ảnh 20: Lát hoa - cây gỗ quý Côn Đảo 223

Ảnh 21: Cây xạ đen chữa bệnh xơ gan cổ chướng ở Côn Đảo 223

Ảnh 22: Ốc vú nàng ở Côn Đảo 224

Ảnh 23: Trai tai tượng và Sóc bay ở Côn Đảo 224

Ảnh 24: Rùa xanh Côn Đảo lên bờ đẻ trứng (trái) - Nàng tiên cá (Dugong) Côn Đảo tắm nắng (phải) 225

Ảnh 25: Công tác bảo tồn loài rùa xanh và nuôi trồng phục hồi các rạn san hô 226

Trang 10

TÓM TẮT

Việt Nam là một trong các quốc gia được thừa nhận có nguồn tài nguyên

đa dạng sinh học (ĐDSH) cao trên thế giới với nhiều hệ sinh thái đặc thù, nhiều giống, loài đặc hữu có giá trị khoa học và kinh tế cao, trong đó rất nhiều nguồn gen quý hiếm

Các hoạt động nông nghiệp truyền thống đã giúp giữ được các giống bản địa Trong lịch sử canh tác lâu dài, người nông dân Việt Nam đã tích lũy được nhiều kiến thức về sử dụng và quản lý các giống lúa Nhân dân Việt Nam, nhất

là các dân tộc ít người, đã sống hàng nghìn năm với thiên nhiên cũng đã tích lũy được nhiều kiến thức về sử dụng các loài sinh vật để làm thực phẩm, làm thuốc Tất cả những kiến thức truyền thống đó là tài sản vô giá của đất nước

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, ĐDSH ở Việt Nam đang bị suy giảm mạnh Các nguồn gen và những tri thức truyền thống liên quan đến nguồn gen đang bị mất dần do việc quản lý chưa chặt chẽ cũng như cộng đồng không hoặc chưa ý thức được giá trị của chúng

Đề tài “Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất cơ chế quản lý hoạt động tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen ở Việt Nam”

được thực hiện nhằm cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc đề xuất xây dựng cơ chế, chính sách tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích (ABS) từ

nguồn gen ở Việt Nam

Để đạt được mục tiêu trên, đề tài tập trung nghiên cứu 6 nội dung cơ bản

đã được phê duyệt trong thuyết minh đề tài: (i) Nghiên cứu cơ sở lý luận về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen; (ii) Tổng quan thực trạng tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen ở Việt Nam; (iii) Nghiên cứu, đánh

giá tổng quan các điều ước quốc tế về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích; (iv) Nghiên cứu, đánh giá kinh nghiệm quốc tế về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi

ích và những bài học cho Việt Nam; (v) Điều tra, đánh giá điểm về hoạt động tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen tại Vườn quốc gia Ba Vì và Vườn quốc gia Côn Đảo; và (vi) Đề xuất cơ chế quản lý hoạt động tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen phù hợp với điều kiện Việt Nam

Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm hoạt động ABS đối với vật nuôi, cây trồng, vi sinh vật, nguồn gen hoang dã và cây thuốc; các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam, quốc tế và các điều ước quốc tế về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích

Nhóm nghiên cứu đã dùng các phương pháp nghiên cứu tài liệu: thu thập,

kế thừa các thông tin, kết quả nghiên cứu; phân tích, so sánh; khảo sát, phỏng vấn; chuyên gia và hội thảo tham vấn để thực hiện Đề tài: thu thập các thông tin, kinh nghiệm quốc tế về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích có được qua các tài

Trang 11

liệu, các bản hướng dẫn của Công ước Đa dạng sinh học (CBD), của các tổ chức quốc tế có liên quan, các hội thảo quốc tế và một số nước điển hình trên thế giới

đã có kinh nghiệm trong các hoạt động liên quan đến vấn đề này Từ những thông tin thu thập được, nhóm nghiên cứu đã so sánh, phân tích, để tìm phương hướng, cách thức phù hợp với điều kiện của Việt Nam để xây dựng cơ chế hoạt động về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích Nhóm nghiên cứu cũng đã tìm hiểu những vấn đề có liên quan tại 2 vùng đại diện của Việt Nam để có được những tình hình cụ thể của nước ta, những khó khăn và thuận lợi để đề xuất được những kiến nghị phù hợp và thực thi Ngoài ra, nhóm nghiên cứu còn mời các chuyên gia xây dựng các chuyên đề, tổ chức hội thảo để lấy ý kiến bổ sung cho các chuyên đề và đề xuất cơ chế quốc gia về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích Đội ngũ chuyên gia tham gia thực hiện Đề tài là những cán bộ đầu ngành, có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực ĐDSH nói chung và ABS nói riêng

Đề tài nghiên cứu 6 nội dung cơ bản và đã đạt được một số kết quả sau:

1 Cơ sở lý luận về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen:

Vấn đề ABS là vấn đề khá phức tạp và cũng rất mới đối với nước ta Để hiểu được những nét cơ bản của vấn đề, nhóm nghiên cứu đã tổng hợp một cách ngắn gọn và đầy đủ các khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề ABS; vai trò và tầm quan trọng của vấn đề; cách thức thực hiện; vai trò của các bên có liên quan như các nhà quản lý nguồn gen, người tiếp cận nguồn gen; cách và các hình thức chia sẻ lợi ích như hình thức tiền tệ, hình thức phi tiền tệ đối với các loại nguồn gen: nguồn gen đã có chủ sở hữu và nguồn gen hoang dã, chưa có người sở hữu Trong phần này cũng đề cập đến những vấn đề cơ bản liên quan đến cơ chế quản

lý các hoạt động ABS từ nguồn gen; điều chỉnh bằng công cụ pháp luật; thỏa thuận giữa các bên, kể cả chủ sở hữu của các tri thức truyền thống có liên quan;

và định hướng về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích trong nước và quốc tế Nội dung của phần này tổng quát những điều cơ bản liên quan đến vấn đề tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích

2 Tổng quan thực trạng tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích ở Việt Nam:

Nhóm nghiên cứu đã xây dựng bức tranh về tổng quan thực trạng quản lý ABS ở Việt Nam đối với nguồn gen động vật, thực vật và vi sinh vật; phân tích, đánh giá các hoạt động ABS; sự thất thoát các nguồn gen và những tri thức truyền thống; những thách thức trong quản lý ABS ở Việt Nam liên quan đến chính sách và pháp luật liên quan đến ABS, thể chế trong quản lý ĐDSH nói chung và ABS nói riêng và nhận thức về ABS

Nội dung phần hiện trạng các nguồn gen đã điểm hầu hết các loại nguồn gen ở Việt Nam như nguồn gen vật nuôi, động vật hoang dã, cây trồng, cây thuốc, cây rừng và vi sinh vật, nhưng tập trung phân tích sâu nhóm nguồn gen

Trang 12

cây trồng nông nghiệp, cây thuốc và vi sinh vật là những nguồn gen có giá trị cao về kinh tế và cũng đang có nhiều vần đề cần phải giải quyết sớm

Trong phần ABS ở Việt Nam, nhóm nghiên cứu đã tìm cách trả lời câu

hỏi được đặt ra là chia sẻ cho ai và chia sẻ như thế nào? Đây chính là điểm mấu

chốt cần được làm sáng tỏ, khi giải quyết vấn đề đang nghiên cứu này Kết quả khảo sát đã cho rằng việc chia sẻ lợi ích giữa các bên có liên quan ở Việt Nam, thường không được công bằng vì chưa có các hợp đồng giữa các bên mà nguyên nhân chính là chưa có khung pháp lý quốc gia về chia sẻ lợi ích trong việc sử dụng nguồn gen Tuy nhiên một vấn đề quan trọng nữa là chính những bên có liên quan chưa nhận thức được vấn đề, chưa hiểu rõ trách nhiệm khi sử dụng tài nguyên và cũng chưa biết quyền lợi chính đáng mà họ được hưởng Nhóm nghiên cứu cũng đã nêu lên tầm quan trọng của sự tham gia của cộng đồng khoa học, kỹ thuật trong việc nâng cao giá trị kinh tế của sản phẩm, với lợi nhuận cao hơn, vì thế mà các nhà khoa học cũng xứng đáng được chia sẻ lợi ích một cách công bằng và phù hợp

Do thiếu hiểu biết và chưa có khung pháp lý phù hợp mà ở nước ta chưa phát huy được tiềm lực của nguồn gen rất phong phú và sự thất thoát nguồn gen

và những tri thức truyền thống, đang diễn ra ngày một rõ ràng và nguy cấp

Về mặt quản lý, mặc dù Việt Nam đã có một số luật và chính sách liên quan, tuy nhiên việc phân định chức năng và nhiệm vụ quản lý đa dạng sinh học nói chung và quản lý nguồn gen nói riêng vẫn còn nhiều chồng chéo, chưa rõ ràng, còn thiếu cơ chế liên bộ để điều phối hoạt động của các ngành Cũng đã có một số dự án liên quan đến tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích, nhưng chủ yếu nhằm vào mục tiêu bảo tồn và sử dụng các nguồn gen cây trồng, vật nuôi, vi sinh vật, cây con làm thuốc mà chưa chú ý đến vấn đề nâng cao nhận thức, xây dựng chính sách, pháp luật về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ công bằng lợi ích thu được từ việc tiếp cận các nguồn gen

3 Tổng quan các điều ước quốc tế về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi

ích: Nghiên cứu phân tích, đánh giá tổng quan các điều ước quốc tế về tiếp cận

nguồn gen và chia sẻ lợi ích và so sánh các nội dung liên quan đến ABS được đề cập trong một số điều ước quốc tế, cụ thể: Công ước Đa dạng sinh học; Hướng dẫn Bonn về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích; Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới; Hiệp ước quốc tế về tài nguyên di truyền thực vật phục vụ lương thực và nông nghiệp; và các quy tắc thương mại quốc tế về tiếp cận các nguồn gen: Những ngoại lệ môi trường của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) 1994 và các khía cạnh thương mại của sở hữu trí tuệ (TRIPs) để phân tích trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên liên quan trong hoạt động ABS, từ đó đề xuất cơ chế ABS phù hợp với điều kiện Việt Nam và cũng phù hợp với các cam kết quốc tế

Trang 13

4 Kinh nghiệm về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích và bài học cho Việt Nam: Xây dựng cơ chế quản lý hoạt động tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi

ích là công việc khó khăn và phức tạp Để giảm bớt những bỡ ngỡ, thiếu sót trong công việc nói trên, những kinh nghiệm thành công và thất bại của những nước đã đi trước sẽ rất bổ ích cho chúng ta Nhóm nghiên cứu Đề tài đã thu thập các tài liệu có liên quan đến việc thực hiện tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích của và đánh giá các hoạt động ABS của 11 nước phát triển tiên phong ABS đã được phê duyệt tại thuyết minh đề tài, bao gồm: Phillipines, Malaysia, Trung Quốc, Ấn Độ, Ôxtrâylia, Fiji, Chilê, Colombia, Costa Rica, Mỹ và Mexico và rút ra những bài học kinh nghiệm để áp dụng trong việc hoạch định chính sách

và thực hiện các hoạt động liên quan đến ABS ở Việt Nam

Những kinh nghiệm rút ra được từ các nước trên là rất phong phú, bao gồm nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh có liên quan, những thành công, những thiếu sót hay chưa thành công, các cách bổ sung, sửa chữa những thiếu sót của họ là những bài học rất quý báu cho chúng ta trong quá trình nghiên cứu xây dựng cơ chế quản lý hoạt động tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích một cách tốt nhất, theo một lộ trình phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta

5 Điều tra đánh giá điểm về hoạt động tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi

ích nguồn gen tại Vườn quốc gia Ba Vì và Vườn quốc gia Côn Đảo: Việc điều

tra, đánh giá điểm hoạt động tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen được tiến hành bằng các cuộc khảo sát thực tế và phỏng vấn các đơn vị liên quan

về hiện trạng ABS từ nguồn gen ở hai VQG Ba Vì và Côn Đảo Phân tích một

số thuận lợi và khó khăn đối với hoạt động ABS và thực trạng thất thoát nguồn gen tại VQG Ba Vì và VQG Côn Đảo Đề xuất một số ý kiến nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn các nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ các nguồn gen tại hai vườn quốc gia

Kết quả điều tra về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích tại Vườn quốc

gia Ba Vì và Vườn quốc gia Côn Đảo là hai địa điểm có nguồn tài nguyên sinh học phong phú và cũng được xem là 2 địa phương có nhiều hoạt động về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích Ở Ba Vì có nguồn cây thuốc phong phú với những kiến thức truyền thống về cây thuốc Nam của các dân tộc ít người, nhất là cộng đồng người Dao Ở Côn Đảo có nguồn tài nguyên sinh vật biển có giá trị cao Cả hai vườn quốc gia này đã có một số dự án nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên sinh vật ở đây và đã có một số kết quả khả quan, nhưng vẫn còn nhiều điều bất cập do sự hiểu biết của người dân về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích còn rất sơ sài, việc hiểu biết về luật pháp lại rất hạn chế, không được hướng dẫn đầy đủ, chưa có chương trình, dự án cụ thể được thực hiện theo đúng tinh thần của công tác tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích Cũng vì thế mà tuy có một số hoạt động tiếp cận nguồn gen nhưng không phát huy được lợi thế có

Trang 14

được của địa phương mà trái ngược lại các nguồn gen đó đang có nguy cơ bị suy thoái nhanh chóng do nhiều nguyên nhân khác nhau Đây cũng là tình hình chung của cả nước Vì thế việc sớm xây dựng cơ chế quản lý hoạt động tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích theo đúng tinh thần của mục tiêu thứ 3 của Công ước Đa dạng sinh học và phù hợp với Luật Đa dạng sinh học hiện hành của nước

ta là công việc cấp bách

6 Đề xuất cơ chế quản lý hoạt động tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích

từ nguồn gen phù hợp với điều kiện Việt Nam: Trên cơ sở phân tích, đánh giá,

tổng hợp tình hình thực hiện các nghiên cứu, thực thi các cam kết quốc tế, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan về ABS trong nước và quốc tế Từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm để áp dụng và xây dựng chi tiết cơ chế nhằm phục vụ thực thi ABS hiệu quả ở Việt Nam Cơ chế quản lý hoạt động ABS từ nguồn gen phù hợp với điều kiện Việt Nam được đề xuất với 8 nội dung chính dựa theo các quy định của Luật Đa dạng sinh học 2008, bao gồm: Quyền sở hữu và quản lý nguồn gen; Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân được giao quản lý nguồn gen; Trình tự, thủ tục tiếp cận nguồn gen; Thỏa thuận về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích; Giấy phép tiếp cận nguồn gen; Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép tiếp cận nguồn gen; Chia sẻ lợi ích từ việc tiếp cận nguồn gen; và Đăng ký bản quyền tri thức truyền thống về nguồn gen

Để các ý kiến đề xuất trên có cơ hội đi vào thực tiễn, nhóm nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị về việc hoàn thiện khung pháp lý, thể chế và xây dựng một số mô hình thí điểm về ABS

Trang 15

PHẦN I: THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI

I TÊN ĐỀ TÀI

Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất cơ chế quản lý hoạt động tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen ở Việt Nam

II CƠ QUAN QUẢN LÝ ĐỀ TÀI

Bộ Tài nguyên và Môi trường

III CƠ QUAN CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI

Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường

IV CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI

Ths Huỳnh Thị Mai, Phó trưởng Ban Quản lý Tài nguyên và Đa dạng sinh học, Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường, Bộ Tài nguyên

và Môi trường

V THỜI GIAN THỰC HIỆN

24 tháng, từ tháng 01/ 2009 đến tháng 12/ 2010

VI KINH PHÍ THỰC HIỆN

Tổng kinh phí 2 năm: 572 triệu đồng

Năm 2009: 110 triệu đồng

Năm 2010: 462 triệu đồng

VII CÁC ĐƠN VỊ PHỐI HỢP

Đề tài được chủ trì bởi Ths Huỳnh Thị Mai, Phó trưởng Ban Quản lý Tài nguyên và Đa dạng sinh học, Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường với sự tư vấn, hỗ trợ kỹ thuật và phối hợp chặt chẽ của các chuyên gia đầu ngành về đa dạng sinh học thuộc các cơ quan, đơn vị sau:

- Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam;

- Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật;

- Đại học Quốc gia Hà Nội;

- Viện Chăn nuôi - Bộ Nông nghiệp và PTNT;

- Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển cây thuốc dân tộc;

- Cục Bảo tồn Đa dạng sinh học - Tổng cục Môi trường;

- Đại học Luật Hà Nội;

- Vườn quốc gia Ba Vì và Vườn quốc gia Côn Đảo

Trang 16

VIII CÁC CÁN BỘ THỰC HIỆN

1 Ths Huỳnh Thị Mai Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và

môi trường

2 TS Nguyễn Văn Tài Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và

môi trường

3 TS Nguyễn Ngọc Sinh Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường VN

4 GSTSKH Đặng Huy Huỳnh Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật

5 PGSTS Phạm Bình Quyền Đại học Quốc gia Hà Nội

6 PGSTS Lê Thị Thúy Viện Chăn nuôi - Bộ Nông nghiệp và

9 TS Vũ Thu Hạnh ĐH Luật Hà Nội

10 CN Lưu Lê Hường Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và

Căn cứ theo Hợp đồng số 08-MT-09/HĐKHCN ngày 18 tháng 5 năm

2009 giữa Vụ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài nguyên và Môi trường và Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường, danh mục các sản phẩm của

Đề tài như sau:

- Bài báo được đăng ở tạp chí chuyên ngành;

- Các báo cáo chuyên đề;

- Báo cáo điều tra, đánh giá điểm về ABS tại Vườn quốc gia Ba Vì và Vườn quốc gia Côn Đảo;

- Báo cáo tổng kết đề tài

Trang 17

PHẦN II: NỘI DUNG CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI

I MỞ ĐẦU

Việt Nam được xem là một trong những nước thuộc vùng Đông Nam Á giàu về đa dạng sinh học và là một trong các nước có mức độ ĐDSH cao trên toàn thế giới Mặc dù có những tổn thất quan trọng về diện tích rừng và các hệ sinh thái trong một thời kỳ kéo dài nhiều thế kỷ, tuy nhiên tài nguyên sinh vật Việt Nam (thực vật, động vật, nấm, vi sinh vật ) vẫn còn rất phong phú về chủng loại Nguồn tài nguyên sinh vật này, không những là cơ sở vững chắc của sự tồn tại của nhân dân Việt Nam thuộc nhiều thế hệ đã qua mà còn là cơ sở cho sự phát triển của dân tộc Việt Nam trong những năm sắp tới

Tuy nhiên, thay vì phải bảo tồn và sử dụng một cách hợp lý nguồn tài nguyên quý giá này, ở nhiều nơi, dưới danh nghĩa phát triển kinh tế, một số người/tổ chức/địa phương đã và đang khai thác quá mức và vô ý thức Việc làm suy thoái các hệ sinh thái như mất rừng, đất ngập nước đã làm mất nơi sinh sống,

vì thế nhiều loài động vật, thực vật quý, hiếm cũng đang bị suy thoái, một số loài đang bị đe dọa tuyệt chủng

Trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học, việc lưu giữ và phát triển các nguồn gen quý, hiếm nhằm tạo ra nhiều giống mới và các sản phẩm thương mại, đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước Việc nghiên cứu, phát hiện, khai thác các giống cây trồng, vật nuôi cùng với những tri thức truyền thống liên quan đến việc sử dụng chúng được thu thập, nghiên cứu và phát triển thành sản phẩm hàng hoá lưu thông trên thị trường, thì lợi nhuận thu được từ việc thương mại các sản phẩm đó phải được chia sẻ công bằng với những người sở hữu nguồn gen và tri thức sử dụng nguồn gen đó Bên cạnh đó, cũng cần bảo đảm tôn trọng quyền sở hữu của những người có các nguồn gen và những tri thức sử dụng chúng Hơn nữa, trong xu hướng hội nhập toàn cầu, việc trao đổi tài nguyên, nguồn lực và tri thức giữa các quốc gia và các nền kinh tế là xu thế tất yếu Vấn đề đặt ra là việc trao đổi này cần được thực hiện trên nguyên tắc công bằng, minh bạch và hai bên cùng có lợi Đây chính là

mục tiêu thứ 3 của Công ước Đa dạng sinh học, mục tiêu “Chia sẻ một cách

công bằng và hợp lý những lợi ích thu đuợc từ việc sử dụng nguồn gen” Nội

dung cơ bản của mục tiêu này là bảo đảm quản lý việc điều tra, thu thập, nghiên cứu và phát triển nguồn gen và chia sẻ công bằng và hợp lý những lợi ích thu được từ những hoạt động đó

Ở Việt Nam, mặc dù đã có một số nghiên cứu về ABS, tuy nhiên các nghiên cứu này mới chỉ dừng lại việc đánh giá thực trạng ABS qua các hoạt động sau đây:

Trang 18

- Tìm hiểu bản chất của vấn đề tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích trong Công ước Đa dạng sinh học và mối quan hệ của nó với Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), các khía cạnh thương mại của sở hữu trí tuệ (TRIPS);

- Rà soát, đánh giá hệ thống pháp lý và tổ chức quản lý tài nguyên đa dạng sinh học cũng như các nguồn gen;

- Những thách thức liên quan trong việc thực hiện Công ước Đa dạng sinh học ở Việt Nam;

- Vấn đề tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích đối với tài nguyên cây trồng

và cây thuốc;

- Các biện pháp tăng cường năng lực nhằm khuyến khích và tạo điều kiện

để cộng đồng tham gia vào quá trình tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích;

- Bài học kinh nghiệm về quá trình xây dựng và thực hiện cơ chế pháp lý của các nước trong vấn đề tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích

Như vậy, một số hoạt động về ABS đã được quan tâm nghiên cứu để đề xuất một số quy định liên quan Tuy nhiên cho đến nay, chưa có một đề tài nào nghiên cứu nhằm đề xuất cơ chế, chính sách quản lý hiệu quả các hoạt động ABS ở Việt Nam mặc dù các nội dung này đã được quy định trong Luật Đa dạng sinh học 2008 Tuy nhiên, những quy định này chưa được cụ thể hóa ở mức cần thiết nhằm bảo đảm cơ chế chia sẻ lợi ích từ việc tiếp cận nguồn gen và cơ chế

hỗ trợ bảo vệ, phát triển nguồn gen, v.v Bên cạnh đó, trước xu thế hội nhập toàn cầu và chủ trương của đất nước thúc đẩy giao lưu hợp tác khoa học, thương mại với khu vực và quốc tế, chúng ta không thể hạn chế ngặt nghèo sự tiếp cận nguồn gen Vì vậy, cần có những nghiên cứu sâu hơn nhằm đề xuất xây dựng

một “Cơ chế, chính sách quản lý hoạt động tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích

từ nguồn gen ở Việt Nam”

Đặc biệt gần đây, tại phiên họp lần thứ 14 năm 2010 của nhóm Công tác ASEAN về bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học đã thông qua Hiệp định khung ASEAN về tiếp cận và chia sẻ công bằng, hợp lý lợi ích có được từ việc

sử dụng nguồn gen và tài nguyên sinh học

Đồng thời, liên quan đến thực thi Công ước Đa dạng sinh học, sau gần 20 năm nỗ lực, các quốc gia thành viên Công ước đã nhất trí với dự thảo Cơ chế quốc tế về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích Sự kiện quan trọng này diễn ra ngày 1/4/2010 tại thành phố Cali Colombia trong phiên họp của Hội nghị Liên hợp quốc Hội nghị các Bên tham gia Công ước Đa dạng sinh học lần thứ 10 (COP10), đã diễn ra từ ngày 18-29/10/2010 tại Nagoya, Nhật Bản

Trang 19

Mục tiêu của COP10 là hoàn tất đàm phán về Kế hoạch Chiến lược mới

về đa dạng sinh học trong 10 năm tới và tầm nhìn đa dạng sinh học đến năm 2050; Cơ chế quốc tế về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích

Sau 2 tuần làm việc, Hội nghị đã đạt được 47 quyết định, trong đó có quyết định quan trọng đó là Nghị định thư Nagoya về Tiếp cận nguồn gen và chia sẻ công bằng và hợp lý lợi ích thu được từ việc sử dụng chúng

Các sự kiện trên cho thấy tính cấp thiết phải xây dựng đề xuất về cơ chế, chính sách quản lý hoạt động về ABS phù hợp với điều kiện Việt Nam và thực hiện các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia

Đề tài “Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất cơ chế quản lý hoạt động tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen ở Việt Nam” là

nhằm đáp ứng một phần yêu cầu cấp bách đó

Báo cáo tổng kết Đề tài được trình bày trong 2 phần với 6 kết quả nghiên cứu chính:

1 Cơ sở lý luận về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen

2 Tổng quan thực trạng ABS từ nguồn gen ở Việt Nam

3 Tổng quan các điều ước quốc tế về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích

4 Kinh nghiệm quốc tế về ABS và những bài học cho Việt Nam

5 Điều tra, đánh giá điểm về hoạt động ABS từ nguồn gen tại Vườn quốc gia Ba Vì và Vườn quốc gia Côn Đảo

6 Đề xuất cơ chế quản lý hoạt động tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích

từ nguồn gen phù hợp với điều kiện Việt Nam

Báo cáo tổng kết Đề tài này là sản phẩm khoa học và là kết quả đóng góp của nhóm nghiên cứu, nhiều chuyên gia thuộc các lĩnh vực về đa dạng sinh học

ở Việt Nam Tuy nhiên, do thời gian và nguồn lực hạn chế, nên việc thu thập và tổng hợp thông tin chắc chắn còn chưa đầy đủ Vì vậy, chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp xây dựng để kết quả Đề tài được hoàn thiện hơn, góp phần phục vụ việc nghiên cứu và xây dựng chính sách, pháp luật về ABS ở Việt Nam bảo đảm tính khả thi và phù hợp với thực tiễn nước nhà

II TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ABS TRONG NƯỚC

VÀ QUỐC TẾ

2.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ABS TRÊN THẾ GIỚI

Sau Hội nghị thượng đỉnh về môi trường toàn cầu tại Rio de Janero năm

1992, Liên Hợp Quốc đã thông qua Công ước Đa dạng sinh học, trong đó việc

sử dụng bền vững nguồn gen, bảo vệ những tri thức liên quan và chia sẻ hợp lý

Trang 20

những lợi ích từ việc sử dụng các nguồn gen là một trong những nội dung quan trọng Từ đó các nước có tài nguyên đa dạng sinh học cao như Trung Quốc, Ấn

Độ, Costa Rica, Philippin, Malaixia và một số nước châu Phi, v.v đã xây dựng các quy định hướng dẫn về ABS, đặc biệt một số nước khác đã và đang xây dựng Luật Tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích như Seychelles, Ethiopia, Nam Phi, Nêpal, Bănglađét, Pakistan, Braxin, Bolivia, Chilê, Costa Rica, v.v… Trên

cơ sở hệ thống pháp lý về ABS, các nước đã nỗ lực nghiên cứu về ABS nhằm xây dựng cơ chế chia sẻ công bằng và hợp lý lợi ích từ việc sử dụng tài nguyên

đa dạng sinh học (Ths Huỳnh Thị Mai, 2006) Dưới đây, giới thiệu khái quát

một số hoạt động có liên quan đến ABS tại một số quốc gia:

Ở Philippin, việc xác định phạm vi và nội dung của tiếp cận nguồn gen và quy tắc chia sẻ lợi ích là mối quan tâm hàng đầu đối với các nghiên cứu Các hoạt động nghiên cứu và thu thập gắn với công việc bảo tồn thuần tuý, điều tra thống kê đa dạng sinh học Nghiên cứu cụ thể những tác động tiềm tàng lên các hoạt động nghiên cứu khoa học trong việc thiết kế và thực hiện các biện pháp ABS Nghiên cứu và phát triển các phương pháp sáng tạo để nhận được sự đồng thuận và chia sẻ lợi ích với cộng đồng, bao gồm các dân tộc bản địa Chuyển giao công nghệ thích hợp với địa phương và xây dựng năng lực địa phương để cộng đồng có thể đưa giá trị gia tăng vào các nguồn gen của họ Những vấn đề liên quan đến thăm dò sinh học có tính đa ngành, việc thực hiện một cơ chế tiếp cận nguồn gen đòi hỏi phải có cách tiếp cận liên cơ quan để tận dụng tri thức và kinh nghiệm của từng cơ quan và thu hút các nguồn tài chính, nhân lực, tri thức

và các nhu cầu hỗ trợ hậu cần khác (Ths Huỳnh Thị Mai, 2007)

Mặc dù đã có một số quy định quốc gia về tiếp cận nguồn gen đối với các nhà nghiên cứu nước ngoài nhằm quản lý việc xuất khẩu các nguồn tài nguyên sinh học, để đáp ứng được tầm quan trọng của vấn đề này ở cấp độ quốc gia và quốc tế, năm 1994, Malaixia đã thành lập Nhóm đặc nhiệm về tiếp cận nguồn gen - một trong các nhóm công tác chủ yếu của Uỷ ban Quốc gia về Đa dạng sinh học, gồm cả các nhà nghiên cứu Các nghiên cứu đã đề xuất cách tiếp cận khung quốc gia, khuyến nghị đưa vào áp dụng một sơ đồ cấp phép về tiếp cận nguồn gen Vấn đề chia sẻ lợi ích và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ được đặc biệt chú trọng

Cuối năm 1999, Ấn Độ đã thành lập Hội đồng Phát triển nguồn tài nguyên sinh học Quốc gia có nhiệm vụ quyết định khung chính sách để áp dụng hiệu quả các phương pháp tiếp cận công nghệ sinh học và các ngành khoa học liên quan khác nhằm phục vụ nghiên cứu, phát triển và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên sinh học, đặc biệt cho việc phát triển các sản phẩm và quá trình mới

Hiện nay, Cục Công nghệ Sinh học thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nhiệm vụ giám sát các hoạt động thăm dò sinh học ở Ấn Độ Cục này

Trang 21

đã xây dựng một chương trình hợp tác với sự tham gia của 15 viện nghiên cứu

về "Khai thác sự phong phú sinh học bằng việc sử dụng các công cụ sinh học", bao gồm kiểm kê phân loại, vẽ bản đồ phân bố các nguồn gen ở Đông và Tây bắc Hymalaya và Tây Nam dãy núi Ghats

Cũng như một số nước châu Á, Ấn Độ rất chú trọng việc chia sẻ lợi ích và các hoạt động quản lý ABS, đặc biệt là bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, tri thức truyền thống của các cộng đồng bản địa

Viện Đa dạng sinh học Quốc gia (INBio) được Bộ Môi trường và Năng lượng Costa Rica giao nhiệm vụ kiểm kê đa dạng sinh học, kiểm soát việc tiếp cận nguồn gen của Costa Rica, bảo đảm lợi ích thoả đáng của Costa Rica trong việc cho đối tác nước ngoài khai thác nguồn gen Theo quy định của Bộ Môi trường và Năng lượng, khi ký các thoả thuận hay hợp đồng khai thác nguồn gen với đối tác nước ngoài, thì lợi nhuận mà INBio thu được, ít nhất 10% là để chi cho các khu bảo tồn quốc gia và 50% cho Bộ Môi trường và Năng lượng để chi cho các hoạt động quản lý, bảo tồn sinh vật hoang dã Việc nghiên cứu và đề xuất các quy định về ABS nhằm bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến đa

dạng sinh học và cơ chế quản lý hoạt động ABS ở Costa Rica (Ths Huỳnh Thị

Mai, 2007)

Ở quốc đảo Fiji, thể hiện rõ hơn việc chia sẻ lợi ích cho cộng đồng địa phương Tại đây, trường đại học Nam Thái Bình Dương của Fiji phối hợp với Viện nghiên cứu Strathclyde của Anh để điều tra, nghiên cứu, nâng cao nhận thức cộng đồng về quản lý tài nguyên và phát triển cộng đồng, đồng thời xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích từ các hoạt động ABS cho cộng đồng

Trung Quốc là một trong các nước có nguồn gen dồi dào phong phú nhất trên thế giới và cũng là nơi có các trung tâm đầu tiên về giống cây trồng và vật nuôi với lịch sử nông nghiệp lâu dài hơn 5000 năm

Đầu năm 1993, chiến lược về môi trường và phát triển bền vững của Trung Quốc đã được Hội đồng nhà nước thông qua với 10 điểm chính Theo đó, Trung Quốc tập trung nghiên cứu để bảo vệ và chăn nuôi các loài vật nuôi, cây trồng và các loài hoang dã đang bị đe doạ, bảo vệ và sử dụng các loài và nguồn gen di truyền và quản lý tốt hơn việc xuất khẩu với mục tiêu hoàn thành nghĩa

vụ của các cam kết quốc tế

2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ABS Ở VIỆT NAM

Sau khi tham gia CBD năm 1994, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về đa dạng sinh học cùng với nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến bảo vệ môi trường, đặc biệt đến bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học Trong bối cảnh đó, vấn đề tiếp cận nguồn gen và chia

sẻ lợi ích cùng nhiều vấn đề mới mẻ nhưng phức tạp, cấp thiết khác cũng từng

Trang 22

bước được các cơ quan, cán bộ quản lý, nhà nghiên cứu tiến hành tìm hiểu và nghiên cứu triển khai

Hội thảo khoa học “Tạo thu nhập từ đa dạng sinh học để bảo tồn đa dạng

sinh học” đã được Cục Bảo vệ môi trường (thuộc Bộ Khoa học, Công nghệ và

Môi trường trước đây) và Dự án do Chính phủ Đan Mạch tài trợ được tổ chức vào tháng 11 năm 1996 là bước đi đầu tiên đối với hoạt động tiếp cận nguồn gen

và chia sẻ lợi ích Một số chuyên gia từ Ấn Độ và Costa Rica đã được mời đến tham dự hội thảo để chia sẻ kinh nghiệm và nâng cao nhận thức về lĩnh vực này Hội thảo này là tiếng chuông báo hiệu sự xuất hiện của một lĩnh vực mới cùng

với hàng loạt vấn đề mới khác trong quản lý môi trường của Việt Nam (TS

Đoàn Năng, 2004)

Để có một cơ sở pháp lý chung trong khu vực nhằm hướng dẫn xây dựng các văn bản pháp luật riêng của từng quốc gia với mục tiêu khai thác hợp lý và chia sẻ công bằng những lợi ích từ nguồn gen, năm 1998, Trung tâm Đa dạng sinh học ASEAN đã điều phối các thành viên xây dựng “Hiệp định khung ASEAN về tiếp cận và chia sẻ công bằng, hợp lý lợi ích có được từ việc sử dụng nguồn gen và tài nguyên sinh học”

Năm 1999, Cục Bảo vệ Môi trường tổ chức Hội thảo “Các vấn đề luật

pháp và chính sách đối với đa dạng sinh học ở Việt Nam”, cách đặt vấn đề có

rộng hơn năm 1996, hội thảo đã đề cập tới vấn đề pháp lý, về các đối tượng cụ thể hơn của đa dạng sinh học và một cách nhìn tổng thể về chiến lược và chính sách đối với vấn đề tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích Tại hội thảo, nhiều nhà tài trợ nước ngoài đã có những cam kết giúp Việt Nam tiếp cận vấn đề mới này

Tháng 6 năm 2000, Trung tâm Nghiên cứu Phát triển quốc tế Canada tài trợ cho Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam và Bộ Khoa học, Công

nghệ và Môi trường thực hiện Dự án “Xây dựng các văn bản pháp luật về tiếp cận

nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ việc tiếp cận nguồn gen thực vật ở Việt Nam”

Rõ ràng đây là một bước tiến quan trọng trong việc cụ thể hoá vấn đề tiếp cận nguồn gen đối với các đối tượng cụ thể Các báo cáo của Dự án đã phản ánh kết quả nghiên cứu về các nội dung thiết thực như cần xây dựng khung pháp lý

về tiếp cận nguồn gen thực vật, tiếp cận đến tài nguyên di truyền cây thuốc, đến nguồn gen bản địa, tính giá trị kinh tế, v.v… Nội dung đang làm nhức nhối nhiều công luận trên phạm vi quốc tế là những bất cập trong việc bảo hộ quyền

sở hữu trí tuệ của người tạo giống mới Ngay sau đó, hội thảo “Pháp luật về tiếp

cận tài nguyên di truyền thực vật tại Việt Nam” lần thứ ba đã được tổ chức

(28/8/2001) tiếp tục đi sâu hơn vào tiếp cận nguồn gen thực vật Tiếp đó, một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan đã được xây dựng, hoàn thiện và trình các cấp có thẩm quyền ban hành

Trang 23

Tháng 8 năm 2001, PGS,TS Lưu Ngọc Trình, Giám đốc Trung tâm Tài nguyên Di truyền thực vật đã nghiên cứu đề tài “Đề xuất một số nguyên tắc về xây dựng pháp luật tiếp cận tài nguyên di truyền thực vật” Đề tài tập trung nghiên cứu các đối tượng cây trồng cụ thể trong nông nghiệp và đề xuất các nguyên tắc tiếp cận nguồn gen của chúng

Năm 2003, Được tài trợ của Bộ Hợp tác và Phát triển Đức (BMZ/GTZ), Cục Bảo vệ Môi trường phối hợp với Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) thực hiện Dự án “Nâng cao năng lực của Việt Nam về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích” Dự án tập trung tăng cường nhận thức cho các nhóm đối tượng từ trung ương đến địa phương về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích thông qua các lớp tập huấn

Năm 2004-2007, Viện Nghiên cứu Bảo tồn nguồn Tài nguyên Di truyền Quốc tế Italy tài trợ Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam thực hiện

Dự án “Đề xuất chính sách tài nguyên di truyền ở Việt Nam ”

Nhằm đánh giá sơ bộ việc giải quyết các vấn đề liên quan, tháng 6 năm

2004, Cục Bảo vệ Môi trường, thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức

Hội thảo quốc gia “Tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích” Sau Hội thảo, 2 lớp

tập huấn cho các bộ ngành và địa phương về lĩnh vực này đã được tiến hành, một ở phía Bắc và một ở phía Nam Như vậy, vấn đề tiếp cận nguồn gen và chia

sẻ lợi ích ở Việt Nam đến thời điểm này đã được quan tâm đáng kể và đang thực

sự đi vào cuộc sống ở mọi miền đất nước, với các đối tượng khác nhau

Năm 2005, TS Nguyễn Ngọc Sinh và PGS,TSKH Trần Công Khánh đã

xuất bản ấn phẩm “Tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích - Những bài học từ

thực tiễn Việt Nam” và năm 2006 “Đường dài tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích ở Việt Nam” đã đề cập trực tiếp đến các nội dung của tiếp cận nguồn và chia

sẻ lợi ích ở Việt Nam

Năm 2007, Cục Bảo vệ Môi trường đã nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu thực trạng tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích” phục vụ xây dựng Khung Chiến lược quốc gia về hiện trạng tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích cho Việt Nam

Đề tài đã nghiên cứu, đánh giá về khung pháp lý và tổ chức quản lý đa dạng sinh học ở Việt Nam; những thành tựu và thách thức đối với việc tiếp cận nguồn gen

và chia sẻ lợi ích từ nguồn tài nguyên đa dạng sinh học

Năm 2007, Ths Huỳnh Thị Mai, Vụ Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi

trường đã tiến hành nghiên cứu Dự án “Điều tra, nghiên cứu về tiếp cận nguồn

gen và chia sẻ lợi ích từ tài nguyên đa dạng sinh học và an toàn sinh học hỗ trợ xây dựng Luật Đa dạng sinh học” Dự án nghiên cứu, đánh giá các cam kết quốc

tế về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích; các quy định hiện hành và các

Trang 24

khoảng trống chưa được nội luật hoá từ các cam kết quốc tế, từ đó đề xuất các quy định về lĩnh vực này cho Luật Đa dạng sinh học

Như vậy, từ năm 1996 đến nay, tuy chưa nhiều nhưng đã có một số đề tài,

dự án nghiên cứu về tiếp cận nguồn gen chia sẻ lợi ích Mục tiêu của các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào phân tích, đánh giá về khung pháp lý và tổ chức quản lý tài nguyên đa dạng sinh học; những cơ hội và thách thức đối với vấn đề tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ tài nguyên đa dạng sinh học

Như đã trình bày ở phân trên, một số nghiên cứu về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích đã được thực hiện ở Việt Nam:

1 Hiệp định khung của ASEAN về tiếp cận và chia sẻ công bằng và hợp

lý các lợi ích thu được từ việc sử dụng các tài nguyên sinh vật và di truyền: Cục Bảo vệ Môi trường, 1997

2 Đề xuất một số nguyên tắc về xây dựng pháp luật tiếp cận tài nguyên di truyền thực vật: PGS,TS Lưu Ngọc Trình, tháng 8/2001

3 Xây dựng các văn bản pháp luật về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi

ích từ việc tiếp cận nguồn gen thực vật ở Việt Nam: Hội

Tất cả các nghiên cứu nêu trên tuy là bước đầu nhưng đã để lại cơ sở khoa học, thực tiễn ban đầu rất có ý nghĩa, giúp cho nhóm nghiên cứu Đề tài có thêm những tư liệu cần thiết, phục vụ việc triển khai Đề tài này

Trang 25

III MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc đề xuất xây dựng cơ chế,

chính sách tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen ở Việt Nam

IV ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

4.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen đối với vật nuôi, cây trồng, vi sinh vật, nguồn gen hoang dã và cây thuốc; các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam, quốc tế và các điều ước quốc tế về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích

V NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Đề tài thực hiện 6 nội dung chính sau:

1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen;

2 Tổng quan thực trạng tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen ở Việt Nam;

3 Nghiên cứu, đánh giá tổng quan các điều ước quốc tế về tiếp cận nguồn

gen và chia sẻ lợi ích;

4 Nghiên cứu, đánh giá kinh nghiệm quốc tế về tiếp cận nguồn gen và

chia sẻ lợi ích và những bài học cho Việt Nam;

5 Điều tra, đánh giá điểm về hoạt động tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen tại Vườn quốc gia Ba Vì và Vườn quốc gia Côn Đảo;

6 Đề xuất cơ chế quản lý hoạt động tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích

từ nguồn gen phù hợp với điều kiện Việt Nam

VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đề tài tiến hành nghiên cứu dựa vào các phương pháp sau:

1 Nghiên cứu tài liệu: thu thập, kế thừa các thông tin, kết quả nghiên cứu của các chương trình, đề tài khoa học, kinh nghiệm quốc tế có liên quan đến đề tài: Tổ chức thu thập các kết quả nghiên cứu trước, cập nhật, đánh giá và chọn lọc thông tin, số liệu từ năm 1994 đến nay (sau khi Việt Nam tham gia Công ước Đa dạng sinh học); Thu thập

Trang 26

thông tin kinh nghiệm quốc tế về ABS từ các trang web đăng tải các luật của các nước trên thế giới liên quan đến đa dạng sinh học của Tổ chức GRAIN và trang web của CBD của Liên hiệp quốc Một số thông tin cũng được thu thập qua các hội thảo, hội nghị quốc tế

2 Phương pháp phân tích, so sánh: Thu thập thông tin số liệu, đánh giá, so sánh các kết quả và phân tích tình hình thực tiễn cũng như các nguyên nhân tác động của chúng

3 Phương pháp khảo sát, phỏng vấn: Tổ chức 3 chuyến khảo sát đến Vườn quốc gia Ba Vì và Vườn quốc gia Côn Đảo, tổ chức hội thảo giới thiệu mục tiêu đề tài và phỏng vấn trực tiếp cán bộ, cộng đồng liên quan về các vấn đề ABS

4 Phương pháp chuyên gia và hội thảo tham vấn: Mời các chuyên gia đầu ngành về đa dạng sinh học và ABS tư vấn cụ thể định hướng các chuyên đề và tham gia xây dựng một số chuyên đề; tham gia hội thảo, họp chuyên gia góp ý kiến cụ thể cho các chuyên đề và đặc biệt tham gia xây dựng, tham vấn và đề xuất cơ chế quốc gia về ABS

VII KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

7.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIẾP CẬN NGUỒN GEN VÀ CHIA SẺ LỢI ÍCH

7.1.1 Một số khái niệm, phạm trù liên quan đến ABS

(1) Đa dạng sinh học (Biodiversity)

Theo Công ước Đa dạng sinh học của Liên hợp quốc “Đa dạng sinh học là

sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các nguồn trong các hệ sinh thái trên cạn, dưới nước, ở biển và mọi phức hệ sinh thái mà chúng là bộ phận cấu thành Đa dạng sinh học bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng di truyền hay còn gọi là đa dạng nguồn gen), giữa các loài (đa dạng loài) và các hệ sinh thái (đa dạng hệ sinh thái) Trong đó, các khái niệm liên quan được mô tả như sau:

- Đa dạng di truyền là sự phong phú những biến dị trong cấu trúc di truyền của các cá thể trong loài hoặc giữa các loài; những biến dị di truyền bên trong hoặc giữa các quần thể

- Đa dạng loài là sự phong phú về các loài được tìm thấy trong các hệ sinh thái tại một vùng lãnh thổ xác định thông qua việc điều tra, kiểm kê

- Đa dạng hệ sinh thái là sự phong phú về các kiểu hệ sinh thái khác nhau

ở cạn cũng như ở nước tại một vùng lãnh thổ nào đó

Thực tế hiện tại, nhiều nước đã sử dụng định nghĩa về ĐDSH theo Công ước Các nước ký và phê chuẩn Công ước đã sử dụng định nghĩa về ĐDSH theo Công ước trong các văn bản pháp luật Một số nước chưa phê chuẩn Công ước như Mỹ cũng sử dụng định nghĩa về ĐDSH theo Công ước

Trang 27

Cho đến nay, thuật ngữ ĐDSH được định nghĩa theo nhiều cách diễn tả khác nhau và hoàn toàn chưa thống nhất Tuy nhiên, ĐDSH đều được hiểu bao gồm 3 thành phần chính, đó là nguồn gen, loài và hệ sinh thái

Như vậy, có thể thấy ĐDSH là tổng hợp các dạng sống và các biểu hiện

về thành phần, cấu trúc và các hoạt động của sinh vật trên Trái đất ĐDSH còn được coi là sản phẩm của sự tương tác giữa hai hệ thống tự nhiên và xã hội

Cũng như một số nước, khái niệm ĐDSH được đưa vào các luật liên quan đến ĐDSH Khái niệm này cần được giải thích chính xác, đơn giản, dễ hiểu, dễ tiếp cận, không phải một định nghĩa mang tính chất hàn lâm, nhằm thống nhất

về cách hiểu để có các biện pháp quản lý phù hợp

Ở Việt Nam, khái niệm ĐDSH đã được đưa vào Luật Đa dạng sinh học Theo đó, khái niệm này được hiểu như sau:

Đa dạng sinh học là sự phong phú về nguồn gen, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên

(2) Tiếp cận nguồn gen (Access to genetic resources)

Nguồn gen (tài nguyên di truyền) là vật liệu di truyền chứa trong sinh vật sống hoặc bộ phận của chúng, có giá trị hiện tại hoặc tiềm năng

Tiếp cận nguồn gen là hoạt động điều tra, thu thập nguồn gen phục vụ nghiên cứu phát triển và sản xuất các sản phẩm thương mại

Đến nay, thuật ngữ tiếp cận đã trở nên quen thuộc đối với các nhà nghiên cứu và quản lý tài nguyên và môi trường ở nước ta Đã hơn 10 năm nay vấn đề này trở nên nóng bỏng, bức thiết không phải chỉ trong lĩnh vực quản lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường, mà còn cả trong các lĩnh vực như sở hữu trí tuệ, thương mại, nghiên cứu khoa học, v.v , trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội

Trong thực tế, việc tiếp cận nguồn gen không gắn liền với công việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên thông thường như đốn gỗ, các hoạt động đánh

cá hay trồng trọt và thậm chí hoạt động du lịch Theo Công ước Đa dạng sinh học, việc tiếp cận này nên được xem xét trên cơ sở mục đích sử dụng của các nguồn gen đó do mục tiêu của việc tiếp cận thường là tìm kiếm những hợp chất mới, quý trong nguồn gen hơn là sử dụng nguồn gen dưới dạng thô

Việc "tiếp cận" không chỉ đơn thuần đối với các nguồn gen mà còn bao hàm cả các tri thức truyền thống và những kinh nghiệm truyền thống liên quan tới việc sử dụng, nhân giống, nuôi trồng nguồn gen đó Thực chất, đây là hai

vế không thể tách rời nhau Vì thông thường người ta có xu hướng nghiên cứu nguồn gen để tìm ra những ưu điểm có thể sử dụng thông qua kinh nghiệm và tri

Trang 28

thức truyền thống bản địa Ví dụ như việc tìm kiếm các hoạt chất chống lại HIV, bệnh ung thư trong cây cỏ ở Việt Nam dựa vào kinh nghiệm sử dụng cây thuốc

và các bài thuốc dân tộc Như vậy, "tiếp cận nguồn gen" nên được hiểu rộng ra

là "tiếp cận nguồn gen và các tri thức truyền thống liên quan đến nguồn gen đó"

Nếu kết quả sự tác động vào nguồn gen, kể cả tri thức sử dụng nguồn gen,

có mang lại lợi ích kinh tế thì lợi ích đó phải được chia sẻ cho các bên liên quan một cách công bằng và hợp lý

(3) Chia sẻ lợi ích (Benefit sharing)

Là chia sẻ công bằng và hợp lý các lợi ích thu được từ việc sử dụng tài nguyên sinh vật và tri thức truyền thống liên quan

"Chia sẻ lợi ích" có thể tự lý giải được, nhưng thực sự đây là một cụm từ được nêu ngắn gọn trong phần mục tiêu thứ 3 của Công ước Đa dạng sinh học

“phân phối bình đẳng lợi ích thu được từ việc sử dụng nguồn gen”, bao gồm cả việc “tiếp cận hợp lý nguồn gen” và “chuyển giao hợp lý các công nghệ có liên quan đến nguồn gen”

(4) Gen (Gene)

Là một đơn vị di truyền, là vật chất di truyền quy định từng tính trạng cụ thể của sinh vật

(5) Nguồn gen (Genetic resource)

Bao gồm các loài sinh vật, các gen,các mẫu vật di truyền trong tự nhiên, trong khu bảo tồn, trong các cơ quan, cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học, cơ sở nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ và trong tự nhiên

(6) Mẫu vật di truyền (Genetic specimen)

Là mẫu vật thực vật, động vật, vi sinh vật và nấm mang các đơn vị chức năng di truyền còn khả năng tái sinh

(7) Tài nguyên sinh vật (Biological resource)

Tài nguyên sinh vật bao gồm các sinh vật hoặc bộ phận của chúng có giá trị sử dụng hiện tại hoặc tiềm năng

(8) Thăm dò sinh học (Bioprospecting)

Thăm dò sinh học là quá trình điều tra, thu thập các tài nguyên sinh vật và tri thức truyền thống liên quan có giá trị thực tiễn và tiềm năng kinh tế để nghiên cứu và triển khai ứng dụng thương mại

Đó là sự tìm kiếm các nguồn tài nguyên di truyền từ thiên nhiên có khả năng mang lại lợi ích kinh tế Thăm dò sinh học bao gồm cả sự tìm kiếm tri thức truyền thống liên quan đến sử dụng nguồn tài nguyên này từ cộng đồng Khi tài

Trang 29

nguyên sinh học hoặc tri thức về sử dụng nguồn tài nguyên này bị thu thập mà không được phép bởi chủ sở hữu của nó để sinh lợi hoặc để sau đó được người khác mang đi đăng ký bản quyền, thì người ta gọi hành động này là “ăn cắp sinh học” (biopiracy)

(9) Sử dụng bền vững (Sustainable use)

Sử dụng bền vững là sử dụng các thành phần đa dạng sinh học mà không làm suy giảm nguồn tài nguyên sinh vật; duy trì tiềm năng của chúng để đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại và tương lai

Sử dụng bền vững được xem là nền tảng cho công tác bảo tồn và sự phát triển bền vững Sử dụng có nhiều mục đích: (i) cho tiêu dùng các loài (như thu hái, săn bắn các loài động, thực vật để ăn, làm thuốc; lấy nguyên liệu làm nhà, chất đốt, v.v…); (ii) cho sử dụng các hệ sinh thái (như chuyển đổi mục đích sử dụng đất, khai phá rừng lấy đất sản xuất nông nghiệp, lấp ao hồ làm đường giao thông, phá hủy các rạn san hô lấy vật liệu xây dựng, v.v…); (iii) hoặc cho các mục đích khác (như tôn giáo, văn hóa, v.v…)

(10) Cây thuốc dân tộc

Từ bao đời nay, do phải đấu tranh sinh tồn nên các dân tộc thiểu số nói chung, đặc biệt những cộng đồng dân tộc sống ở các vùng sâu, vùng xa, cách biệt với miền xuôi, nơi có sự phát triển xã hội và kinh tế còn thấp, nhưng lại có nguồn tài nguyên sinh học đa dạng và phong phú, đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống, đặc biệt trong chăm sóc sức khỏe từ những cây cỏ bản địa Thường mỗi dân tộc thiểu số có những cây thuốc riêng mà chỉ họ mới biết dùng, được gọi là ‘cây thuốc dân tộc’ Nhờ có những cây thuốc này và những kinh nghiệm gia truyền quý giá mà họ có thể chữa được nhiều bệnh thông thường, đôi khi chữa được cả những bệnh hiểm nghèo Ngoài hàng ngàn cây thuốc đã được thống kê, ở Việt Nam còn rất nhiều cây thuốc dân tộc mà các nhà khoa học chưa biết Đây thực sự là một kho tàng quý giá mà không phải quốc gia nào cũng có

(11) Tri thức truyền thống về nguồn gen (Traditional knowledge of genetic

resources)

Tri thức truyền thống hoặc tri thức bản địa là hệ thống tri thức, sự hiểu biết, kinh nghiệm, sáng kiến của các dân tộc bản địa, hoặc của một cộng đồng dân tộc tại một khu vực cụ thể nào đó Nó tồn tại và phát triển trong những hoàn cảnh nhất định, với sự đóng góp của các thành viên trong cộng đồng, ở một vùng địa lý xác định Nó được lưu truyền chủ yếu theo cách truyền khẩu, chưa được ghi chép hoặc tư liệu hoá Rất nhiều tri thức truyền thống của các cộng

Trang 30

đồng dân tộc thiểu số ở nước ta rất quý, đặc biệt trong lĩnh vực y học dân tộc Nếu để nó mất đi khi chưa được thừa kế, hoặc chưa được tư liệu hoá thì nó sẽ mất đi vĩnh viễn Sự tổn thất do mất tri thức truyền thống rất lớn, cho dù có tiền cũng không thể mua lại được Khác với tri thức hàn lâm là những tri thức được hình thành chủ yếu bởi các nhà khoa học, được hệ thống hoá, ghi chép và truyền lại qua sách vở

Theo Luật Đa dạng sinh học 2008, tri thức truyền thống về nguồn gen là

sự hiểu biết, kinh nghiệm, sáng kiến của người dân địa phương về bảo tồn và sử dụng nguồn gen

7.1.2 Vai trò và tầm quan trọng của ABS

Nhờ sự đa dạng các hệ sinh thái, sự phong phú các nguồn gen, sự đa dạng

về loài cũng như sự giàu có về các kinh nghiệm truyền thống trong việc khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên sinh học của các cộng đồng đã giúp cho Việt Nam có tiềm năng lớn để đa dạng hóa các sản phẩm nông nghiệp

Thực tiễn đã chứng minh giá trị to lớn của đa dạng sinh học trong việc phát triển kinh tế, góp phần làm tăng các sản phẩm nông nghiệp, thủy sản, lâm sản ngoài gỗ, dược liệu; bảo vệ và làm giàu các lớp thổ nhưỡng, bảo vệ nguồn sinh thủy phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống, bảo vệ môi trường Đa dạng nguồn gen sẽ giúp cho chúng ta có điều kiện chọn tạo ra các loài cây trồng thích hợp để phát triển sản xuất trên những vùng đất trống, đồi trọc, những dải cát ven biển, những vùng đất ngập nước ở nước ta

Sự phong phú về nguồn gen là nguồn cung cấp thực liệu cho sự phát triển các giống mới có thể mang lại những kết quả to lớn cho nền kinh tế Việt Nam trong tương lai

Sự phong phú về nguồn gen cũng là cơ sở để phát triển một nền nông nghiệp bền vững, bảo đảm an ninh lương thực cho đất nước Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã xác định vấn đề bảo tồn nguồn gen cây trồng, vật nuôi là một nhiệm vụ cấp bách và lâu dài của toàn xã hội Việt Nam

Cùng với sự đa dạng về địa lý, điều kiện tự nhiên, Việt Nam còn có sự đa dạng về tập tục, văn hoá của các tộc người Chính vì vậy, tri thức truyền thống ở nước ta rất phong phú Trong đó, có sự đa dạng về tri thức sử dụng các nguồn tài nguyên bản địa để làm thuốc phòng bệnh, chữa bệnh và nhiều ứng dụng khác Nhiều khi cùng một cây thuốc nhưng mỗi cộng đồng dân tộc lại có cách dùng khác nhau Tri thức truyền thống đã được thừa nhận như một nguồn tài nguyên quan trọng không kém các nguồn tài nguyên hữu hình khác

Để bảo tồn tri thức truyền thống cần có sự phối hợp giữa người dân, nhà nước và các nhà khoa học Về phía người dân, cần có ý thức bảo tồn, sử dụng

Trang 31

bền vững và phát triển nguồn cây thuốc bản địa Một khi không còn cây thuốc

để dùng thì những kinh nghiệm sử dụng cây cỏ để chữa bệnh cũng sẽ mất theo Đồng thời những người biết chữa bệnh trong cộng đồng cần nhận thức được ý nghĩa và giá trị của những bài thuốc mà họ đang sử dụng, để truyền lại cho thế

hệ trẻ Về phía Nhà nước, cần có kế hoạch và kinh phí giúp người dân giữ được nguồn tài nguyên cây thuốc còn lại mà họ đang sử dụng; khuyến khích, phát triển việc dùng cây/con vật làm thuốc trong chăm sóc sức khoẻ ban đầu tại cộng đồng; tuyên truyền, động viên và giúp đỡ người dân (đặc biệt ở miền núi) đăng

ký tri thức truyền thống Về phía các nhà khoa học, khi lập kế hoạch hoặc tham gia vào các dự án bảo tồn tài nguyên sinh học nói chung, cần chú ý phải bảo tồn tri thức truyền thống

7.1.3 Các quá trình liên quan tới ABS

7.1.3.1 Tổng quan về các quá trình liên quan đến ABS

Về bản chất, tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích là một quá trình thương thảo đẩy mạnh thỏa thuận và hợp đồng về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích Hợp đồng này sẽ bao gồm tất cả những điều khoản đã được các bên thảo luận và nhất trí Các bên hợp đồng gồm đối tượng cung cấp và đối tượng sử dụng nguồn tài nguyên

Ngụ ý ở đây là những gì thu được từ quá trình thương thảo hợp đồng sẽ phụ thuộc vào từng trường hợp do hoàn cảnh cụ thể đem lại Mọi người có thể

hy vọng quá nhiều vào tính thống nhất của các điều khoản tiếp cận nhưng cũng

có thể xảy ra chừng nào có được sự nhất trí của các bên

Có thể chia quá trình tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích này nhằm mục đích áp dụng đến tất cả các giai đoạn trong việc sử dụng nguồn tài nguyên di truyền, bao gồm: Tiền tiếp cận; Tiếp cận (phát hiện và thu thập); Nghiên cứu; Phát triển;

và Thương mại hóa

Bảy yếu tố chính đối với quá trình tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích bao gồm: Chấp thuận thông báo trước; Điều khoản thỏa thuận giữa các bên; Chia sẻ lợi ích; Bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn gen; Tri thức truyền thống liên quan đến nguồn tài nguyên di truyền; Sự tham gia của cộng đồng và của người bản địa; và Thông tin và tính minh bạch

Tùy theo qui định luật pháp của từng quốc gia, việc thu thập mẫu vật có thể được tiến hành song song hoặc tiến hành sau khi được sự đồng ý có thông báo trước

Sau khi nguồn gen được gửi về cho đối tượng sử dụng ở trong hoặc ngoài nước có nguồn gen, các mẫu gen sẽ được nghiên cứu và các thành phần cấu tạo được phân tích Sau đó là quá trình tạo sản phẩm

Trang 32

Quá trình thương mại hóa sản phẩm diễn ra sau đó có thể thành công hay không thành công phụ thuộc và sự chấp nhận của thị trường đối với sản phẩm đó

Trong suốt quá trình này, việc chia sẻ lợi ích có thể diễn ra phụ thuộc vào thỏa thuận chung giữa các bên thống nhất về hợp đồng ABS Việc chia sẻ lợi ích

có thể diễn ra ở mỗi giai đoạn tạo sản phẩm hay các giai đoạn thử nghiệm lâm sàng đối với dược phẩm Các bên tham gia thỏa thuận xác định các giai đoạn này là những điểm mốc quan trọng và làm cơ sở để các bên thống nhất về loại lợi ích nào được tạo ra khi đạt đến một điểm mốc Sau đây sẽ làm rõ hơn về một

số yếu tố chính trong quá trình thực hiện ABS

7.1.3.2 Chấp nhận thông báo trước

Tổ chức, cá nhân chỉ được tiếp cận nguồn gen sau khi có sự chấp thuận được thông báo trước bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các cộng đồng có liên quan

Người vi phạm các quy định về tiếp cận nguồn gen thì tuỳ tính chất, mức

độ vi phạm mà bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây suy giảm về đa dạng sinh học; gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân khác thì còn phải phục hồi đa dạng sinh học, bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật có liên quan Cộng đồng hoặc các cộng đồng địa phương cần được hỏi ý kiến và chính thức chấp thuận đối với bất kỳ sự tiếp cận nguồn gen nào theo quy định của pháp luật Để bảo đảm có được sự chấp thuận được thông báo trước, cần tuân thủ các nguyên tắc dưới đây:

- Minh bạch, rõ ràng, được bảo đảm về mặt pháp lý;

- Giảm thiểu chi phí tiếp cận;

- Được sự chấp thuận bằng văn bản theo quy định;

- Bảo đảm đầy đủ quy trình, thủ tục tiếp cận

Nội dung của bản thoả thuận bao gồm các cam kết của người tiếp cận nguồn gen như sau:

- Đồng ý với những giới hạn về khối lượng và chất lượng cụ thể của nguồn gen được phép tiếp cận do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ấn định

- Đảm bảo có bản sao lưu đầy đủ những thông tin thu thập được ở hiện trường; thông báo ngay với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và những cộng đồng địa phương liên quan về tất cả những phát hiện có được

- Không được chuyển giao các sản phẩm có được từ việc tiếp cận nguồn gen cho các bên thứ ba, trừ pháp luật có quy định khác

- Không được phép đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến việc tiếp cận nguồn gen, trừ pháp luật có quy định khác

Trang 33

- Phải thực hiện chia sẻ lợi ích thu được từ tiếp cận nguồn gen trên cơ sở

- Bảo đảm quá trình đàm phán để có thể ký kết chấp thuận được thông báo trước về việc tiếp cận nguồn gen

- Giám sát và đánh giá việc thực hiện các thoả thuận

- Áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo đảm cho việc thi hành các thoả thuận về ABS

- Cấp giấy phép tiếp cận nguồn gen

- Bảo tồn và sử dụng bền vững các nguồn gen được cấp phép tiếp cận

- Thu hút sự tham gia có hiệu quả của các bên, đặc biệt là của cộng đồng bản địa vào việc ABS

7.1.3.3 Các điều khoản thỏa thuận giữa các bên

Cần có sự đồng ý có thông báo trước của Bên cung cấp nguồn gen và tài nguyên sinh học trước khi tiến hành hoạt động khai thác, sử dụng nguồn gen Cơ quan có thẩm quyền do bên cung cấp cử ra sẽ xây dựng thủ tục xin phép có thông báo trước đó

Tất cả các bên sẽ đưa ra quy định về tiếp cận hoặc các thủ tục xin cấp phép sẽ phải thông báo đầy đủ các mục tối thiểu sau:

- Tư cách pháp nhân của đối tác xin phép tiếp cận nguồn gen, nhà sưu tầm

và cán bộ liên hệ khi bên xin phép là một tổ chức;

- Loại và số lượng nguồn gen và tài nguyên sinh học được khai thác;

- Ngày khởi công và thời hạn hoạt động;

- Khu vực khai thác về mặt địa lý;

- Đánh giá hoạt động tiếp cận có thể tác động như thế nào đối với việc bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học;

- Thông tin liên quan tới mục đích sử dụng (phân loại, sưu tầm, nghiên cứu, thương mại hóa) và các kết quả mong muốn;

Trang 34

- Mô tả phương pháp nghiên cứu và sản xuất; và

- Hình thức/loại lợi ích và kế hoạch chia sẻ lợi ích thu được từ việc tiếp cận nguồn gen và tài nguyên sinh học kể cả lợi ích từ các dẫn xuất và sản phẩm

từ việc thương mại hóa và sử dụng các nguồn gen trên

7.1.3.4 Chia sẻ lợi ích

Khi nói đến chia sẻ lợi ích, có 2 câu hỏi cơ bản cần được đặt ra là chia

cho ai? và chia như thế nào?

Chia cho ai? Để có câu trả lời này, trước hết cần xác định xuất xứ của

nguồn gen và các bên liên quan đến việc tiếp cận nguồn gen Từ đó cho thấy ai

là người được hưởng lợi, nhờ đâu mà nguồn gen này sinh lợi, và phải chia sẻ lợi ích phát sinh từ việc sử dụng nguồn gen cho ai Bảng sau đây cho thấy khi xuất

xứ nguồn gen khác nhau và đối tượng hưởng lợi khác nhau, thì đối tượng chính cần được chia sẻ lợi ích cũng khác nhau

Bảng 1: Mối liên hệ giữa xuất xứ nguồn gen - đối tượng hưởng lợi và đối

tượng cần được chia sẻ lợi ích từ nguồn gen Xuất xứ nguồn

gen

Đối tượng hưởng lợi

Đối tượng chính cần được chia sẻ

lợi ích

Cây trồng, vật

nuôi

Người sở hữu nguồn gen

Nhà khoa học/tổ chức khoa học có liên quan

Sinh vật hoang dã

trong tự nhiên

Người khai thác/sử dụng tài nguyên

Địa phương có tài nguyên hoặc người

sở hữu tri thức sử dụng tài nguyên có liên quan

Nếu xuất xứ của nguồn gen (đối tượng bị tác động) là cây trồng và vật nuôi của người dân; đối tượng hưởng lợi trực tiếp là người sở hữu các nguồn gen đó; khoa học, kỹ thuật là yếu tố tác động; thì đối tượng chính cần được chia

sẻ lợi ích là nhà khoa học hay một tổ chức khoa học có liên quan trực tiếp

Nếu xuất xứ của nguồn gen là sinh vật hoang dã trong tự nhiên; người đi khai thác để bán hoặc người sử dụng làm ra sản phẩm nhằm mục đích kinh tế là người hưởng lợi; vậy địa phương quản lý nguồn tài nguyên hoặc người sở hữu tri thức sử dụng tài nguyên có liên quan phải được chia sẻ lợi ích

Thời gian qua, rất nhiều giống cây trồng mới do các nhà khoa học tạo ra được đưa vào sản xuất, đã mang lại hiệu quả kinh tế cao Đã có hàng trăm giống lúa lai được trồng rộng rãi trong cả nước Với các tính ưu việt của chúng như năng suất cao, chất lượng hạt gạo tốt, thời gian sinh trưởng ngắn, có khả năng chống chịu sâu bệnh, v.v…, nên đã tăng thêm mùa vụ, nâng cao đáng kể thu

Trang 35

nhập cho người dân Những giống lúa mới này đã góp phần đáng kể vào công cuộc xóa đói giảm nghèo ở nhiều vùng nông thôn và vùng núi nước ta và đã góp phần đưa Việt Nam đứng hàng thứ hai về xuất khẩu gạo trên thế giới (năm 2009

ta xuất 6 triệu tấn gạo) Ngoài ra còn rất nhiều giống cây ăn quả mới như xoài, bưởi, sầu riêng, v.v…

Đối với giống vật nuôi cũng vậy Việc phục hồi và phát triển giống gà đen

ở Sơn La, đàn gà Đông Tảo, gà Hồ ở Bắc Ninh, giống Cừu ở Phan Rang, Lợn Móng Cái, v.v Từ chỗ chúng chỉ được nuôi nhỏ lẻ, theo cách truyền thống, đang bị lai tạp, mất giống thuần chủng, hiệu quả kinh tế thấp v.v , đến nay nhờ

có các nhà khoa học, với nguồn kinh phí của Nhà nước mà các giống vật nuôi này đã mang lại nguồn lợi đáng kể cho những người chăn nuôi

Qua các trường hợp trên, ta thấy có vai trò của bốn nhà là: nhà nông, nhà khoa học, nhà nước và cả nhà doanh nghiệp đã góp phần làm cho cây trồng vật nuôi tăng năng xuất, đưa lại hiệu quả kinh tế cao so với trước khi có các tác động này Nếu theo nguyên tắc chia sẻ lợi ích một cách công bằng và hợp lý thì không phải chỉ có người trực tiếp trồng trọt, chăn nuôi và người tham gia kinh doanh các nông sản được hưởng lợi, mà các nhà khoa học - những người có công đầu trong việc phát hiện và trực tiếp tác động vào nguồn gen và Nhà nước

là cơ quan chủ trì nghiên cứu và đầu tư cũng phải được chia sẻ lợi ích (theo sự thỏa thuận) một cách công bằng và hợp lý

Đối với nhà khoa học, những lời động viên và khen thưởng là cần thiết

Vì đó là sự ghi nhận những đóng góp của họ cho khoa học Nhưng nhà khoa học cũng cần được chia sẻ lợi ích vật chất để ít nhất là phục hồi sức lao động sáng tạo Còn Nhà nước cũng cần được bù lại một phần kinh phí đã phải “bao cấp” bỏ

ra ban đầu Về mặt đạo lý, cũng như quan điểm của nền kinh tế thị trường thì điều đó là hoàn toàn hợp lý và dễ hiểu

Một việc quan trọng liên quan đến “chia cho ai”, đó là vấn đề xác định

được chủ sở hữu đích thực của nguồn tài nguyên (vật thể và phi vật thể) để chia

sẻ Đối với cây trồng, vật nuôi thì chủ sở hữu đã rõ ràng Đối với sinh vật hoang

dã trong tự nhiên thì chủ sở hữu là chính quyền địa phương, nơi quản lý trực tiếp nguồn tài nguyên hoang dã Nhưng việc xác định chủ sở hữu tri thức truyền thống của người dân hoặc cộng đồng thì phải dựa trên “giấy chứng nhận đăng ký tri thức truyền thống” do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Việc này hoàn toàn không đơn giản, vì khi đụng đến quyền lợi vật chất thì sự tranh chấp trong cộng đồng sẽ xuất hiện

Theo lẽ thường, muốn được bảo vệ quyền lợi hợp pháp trong lĩnh vực

sở hữu trí tuệ thì người có công trình sáng tạo, cải tiến, phát minh, hoặc tri thức truyền thống phải đến cơ quan chức năng của Nhà nước để đăng ký và

Trang 36

làm các thủ tục cần thiết xin bảo vệ bản quyền Nếu không đăng ký bản quyền thì cơ quan chức năng của Nhà nước không thể bảo vệ quyền lợi hợp pháp về sở hữu trí tuệ cho người dân/cộng đồng Thời gian qua, đã có những tác phẩm văn học bị sao chép, một số thương hiệu hàng hóa ở Việt Nam đã bị nước ngoài chiếm đoạt, vì không đăng ký bản quyền (nước mắm Phú Quốc, cà phê Trung Nguyên, v.v ) Nói đến đăng ký bản quyền thì đối với người dân ở đồng bằng và thành phố nhiều khi còn chưa nhận thức được tầm quan trọng của nó, mà nếu có biết và muốn làm thì thủ tục đăng

ký cũng không đơn giản

Trường hợp các ông lang, bà lang người dân tộc thiểu số, những

người đang sống ở các vùng sâu, vùng xa thì việc muốn đăng ký bản quyền

đối với tri thức truyền thống của họ theo cách trên là điều không thể thực hiện được Từ các bản làng vùng cao, người dân tộc phải đi bộ hàng nửa ngày đường mới xuống đến chợ hoặc một thị trấn gần nhất; ngôn ngữ phổ thông và trình độ nhận thức về vấn đề này có hạn, tiền thu nhập của gia đình chỉ trông cậy vào những nông, lâm sản ít giá trị ở địa phương… thì cho dù họ có cây thuốc hay, có bài thuốc quý, cũng không biết làm cách

nào để đăng ký quyền sở hữu trí tuệ của mình, hoặc của cộng đồng mình

Tri thức truyền thống là một tài sản rất có giá trị, nếu biết cách gìn giữ và khai thác thì nguồn tài nguyên tri thức này sẽ mang lại đời sống no

ấm cho những người sở hữu nó Nhưng nếu làm theo cách thông thường nói trên thì sẽ không bao giờ người dân ở miền núi được hưởng quyền lợi

này Nên chăng, cách làm của chúng ta là phải dựa vào cộng đồng, phải kết

hợp giữa người dân và Nhà nước, hai bên cùng tìm đến nhau để thực hiện

Nhà nước phối hợp với các cơ quan có liên quan tiến hành các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về sở hữu trí tuệ, cấp kinh phí (trong những trường hợp đặc biệt), tổ chức việc đăng ký tri thức truyền thống ngay tại từng địa phương Sau đó, Nhà nước phải tổ chức thẩm tra, giám định pháp lý, giải quyết các tranh chấp vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ, tư liệu hóa, lưu giữ và cấp giấy xác nhận quyền sở hữu trí tuệ cho người dân hoặc cộng đồng

Để đảm bảo lợi ích cho người dân và đất nước, để bảo tồn nguồn tài nguyên tri thức truyền thống nói chung, đặc biệt tri thức y học gia truyền quý giá mà không phải dân tộc nào cũng có và phong phú như ở Việt Nam, chúng ta cần triển khai sớm vấn đề này để rút kinh nghiệm và từng bước áp dụng rộng rãi trong thời gian tới

Trang 37

Chia như thế nào?

Đây là việc mới và rất khó, vì cho đến nay chúng ta chưa có kinh nghiệm và cũng không có một khuôn mẫu nào ở Việt Nam Theo lẽ thường, việc chia sẻ phải dựa trên cơ sở pháp luật của Nhà nước và sự thoả thuận giữa các bên Điều 15 của Công ước Đa dạng sinh học nói về “tiếp cận các nguồn tài nguyên di truyền” có đề cập đến quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan đến các nguồn gen Khoản 15.7 có đề cập đến việc “chia sẻ lợi ích một cách công bằng và hợp lý trong việc sử dụng tài nguyên di

truyền” phải dựa trên các “thỏa thuận chung” giữa bên cung cấp tài

nguyên và bên sử dụng tài nguyên, mà bên sử dụng thường là các doanh nghiệp kinh tế

Phần lớn những thách thức, khó khăn mà các nước thường gặp trong giải quyết vấn đề tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích cũng là những thách thức, khó khăn ở ta, có khác là ở nước ta mức độ phức tạp hơn và khả năng thực hiện thấp hơn Có thể kể ra những thách thức chính như sau:

- Chưa xác định được các thuộc tính của nguồn gen (nhân tố hữu

hình) và tri thức liên quan đến chúng (nhân tố vô hình) Mặt khác, sự phân

bố của tài nguyên này hoàn toàn không phụ thuộc vào các ranh giới hành chính các cấp, chúng lại là nguồn tài nguyên di truyền trong tự nhiên, cùng với thời gian, đã được sử dụng, được biến đổi và đang tồn tại như những của quý của thiên nhiên

- Rất khó xác định chủ quyền, quyền sở hữu đối với nguồn gen và tri thức

có liên quan trong những trường hợp cụ thể, ở góc độ địa phương, vùng, quốc gia hay liên quốc gia Do vậy, mâu thuẫn về quyền lợi của các chủ thể luôn luôn xảy ra, việc chia sẻ lợi ích, nếu có, thường vô cùng phức tạp

- Tính bảo thủ của nhiều phong tục tập quán địa phương, những yếu kém trong hệ thống quản lý Nhà nước, nhận thức liên quan đến tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích của cộng đồng còn thấp đều là những trở ngại không dễ vượt qua và sẽ còn là những thách thức lâu dài về vấn đề này

7.1.4 Vai trò của các bên liên quan trong quá trình ABS

7.1.4.1 Các bên liên quan trong quá trình ABS

Các bên liên quan trong quá trình tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích bao gồm hai bộ phận chính: nhà quản lý nguồn gen (người cung cấp nguồn gen)

và người tiếp cận (người khai thác nguồn gen)

Cơ quan quản lý nguồn gen có thẩm quyền cấp phép tiếp cận nguồn gen Thỏa thuận tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích phải đảm bảo sự tham gia của đầy đủ các chủ thể có liên quan tới nguồn gen, tùy theo từng trường hợp có thể

Trang 38

là các cá nhân, đoàn thể địa phương, hay cả các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn

Người tiếp cận nguồn gen có thể là tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trong

và ngoài nước Khi tiếp cận nguồn gen, người tiếp cận phải thông báo trước và

rõ ràng về cách thức, phạm vi khai thác, phương thức và mục đích sử dụng nguồn gen Nhận được thông báo, cơ quan thẩm quyền trong nước phải xác nhận

và thông báo thời gian xét duyệt tối đa Đối tác khai thác nguồn gen phải cam kết khai thác bền vững, có biện pháp giảm thiểu hoặc phục hồi tác động đối với

hệ sinh thái Khi nguồn gen được lấy ở các vườn quốc gia, khu bảo tồn, lợi ích không chỉ chia cho khu bảo tồn mà còn các cộng đồng ở vùng đệm cũng cần được hưởng

Lợi ích thu được từ tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích được ưu tiên dành cho việc quản lý tài nguyên, nghiên cứu khoa học nhằm mục đích bảo tồn

và sử dụng bền vững đa dạng sinh học (đối tượng hưởng lợi là người bản địa, cộng đồng địa phương, tổ chức phi chính phủ, cơ quan nghiên cứu, cơ quan Chính phủ, v.v ) Cơ chế chia sẻ lợi ích linh hoạt và do các chủ thể tham gia lựa chọn, tùy theo từng trường hợp Tuy nhiên, việc chia sẻ phải dựa trên nguyên tắc đảm bảo công bằng và khuyến khích nghiên cứu khoa học

7.1.4.2 Vai trò của nhà quản lý nguồn gen

Với trách nhiệm quản lý nhà nước về các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các nhà hoạch định chính sách cũng đang từng bước hoàn thiện khung pháp lý

và các văn bản dưới luật liên quan để bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên di truyền của Việt Nam, đồng thời bảo tồn và khuyến khích sử dụng tri thức truyền thống trong cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam

Luật Đa dạng sinh học 2008 quy định, Nhà nước thống nhất quản lý toàn

bộ nguồn gen trên lãnh thổ Việt Nam; Nhà nước giao cho tổ chức, cá nhân quản

lý nguồn gen, trong đó:

- Ban quản lý khu bảo tồn, tổ chức được giao quản lý khu bảo tồn quản lý nguồn gen trong khu bảo tồn;

- Chủ cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học, cơ sở nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, cơ sở lưu giữ, bảo quản nguồn gen quản lý nguồn gen thuộc cơ

Trang 39

Nhà Nước cung cấp hỗ trợ các cộng đồng để xác định và mô tả đặc trưng

về khả năng và các mối liên quan của họ trong hệ sinh thái cũng như những đổi mới, thành tựu và các hoạt động khác; Nhà Nước bảo đảm các cộng đồng có quyền không cho phép thu thập các nguồn tài nguyên sinh vật và nguồn gen và tiếp cận tri thức truyền thống và công nghệ do họ quản lý, cũng như yêu cầu hạn chế các hoạt động này; Nhà nước công nhận, xây dựng và bảo vệ quyền của cộng đồng đối với lợi ích tập thể thông qua các thế hệ (quá khứ, hiện tại và tương lai) và nhận được bồi thường về việc bảo tồn các nguồn tài nguyên sinh vật và nguồn gen theo các quy định của Luật Đa dạng sinh học 2008 cũng như các quy định về các quyền và trách nhiệm trong Công ước Đa dạng sinh học; Tiếp cận và sử dụng các tài nguyên sinh vật và nguồn gen sẽ được chỉ dẫn bằng việc cân nhắc để bảo vệ và duy trì giá trị thực trái với giá trị trong giao dịch kinh

tế và thương mại; Các cộng đồng có quyền tiếp cận và sử dụng mẫu vật đặt trong bất cứ ngân hàng gen quốc gia hoặc quốc tế nào hoặc các trung tâm khác

7.1.4.3 Vai trò của người tiếp cận nguồn gen

Người tiếp cận nguồn gen là các tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép tiếp cận nguồn gen Vai trò của người tiếp cận thể hiện thông qua các quyền như sau:

- Điều tra, thu thập nguồn gen và các hoạt động khác theo quy định của giấy phép tiếp cận nguồn gen;

- Đưa nguồn gen thuộc danh mục nguồn gen được phép xuất khẩu ra khỏi lãnh thổ Việt Nam theo quy định của pháp luật;

- Kinh doanh sản phẩm sản xuất từ nguồn gen được phép tiếp cận;

- Quyền khác theo quy định của giấy phép tiếp cận nguồn gen, hợp đồng tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích

Nghị định số 65 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đa dạng sinh học quy định vấn đề chia sẻ lợi ích nguồn gen cụ thể và rõ ràng hơn Cụ thể vai trò và quyền lợi của các bên liên quan, trong đó vai trò của người tiếp cận nguồn gen được thể hiện: lợi ích thu được từ việc tiếp cận nguồn gen có thể chia sẻ cho các bên có liên quan thông qua các hình thức sau đây:

- Chia sẻ kết quả nghiên cứu phát triển, sản xuất các sản phẩm thương mại

và lợi nhuận thu được từ việc kinh doanh các sản phẩm thương mại của nguồn gen;

- Hợp tác nghiên cứu và phát triển nguồn gen; thông tin khoa học, kỹ thuật liên quan đến nguồn gen;

- Chuyển giao công nghệ phát triển nguồn gen cho bên cung cấp nguồn gen;

- Đào tạo, nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển nguồn gen;

- Đóng góp phát triển kinh tế địa phương, phát triển các công trình công cộng, hỗ trợ xóa đói, giảm nghèo;

- Các hình thức chia sẻ trực tiếp bằng tiền hoặc hiện vật;

Trang 40

- Các hình thức khác theo văn bản thỏa thuận và quy định trong giấy phép tiếp cận nguồn gen;

- Quyền sở hữu trí tuệ đối với kết quả sáng tạo trên cơ sở tiếp cận nguồn gen theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ

Tổng lợi ích thu được từ việc tiếp cận nguồn gen chia sẻ cho các bên có liên quan được xác định thông qua quá trình cấp giấy phép, thoả thuận giữa các bên nhưng không thấp hơn 30% tổng lợi ích thu được quy đổi thành tiền

Việc quy định rõ vai trò của các bên liên quan đến tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích là việc làm cần thiết Trong đó cần chú ý quy định rõ các cơ quan

có thẩm quyền, các quy trình và thủ tục có liên quan; lợi ích thu được từ sự chia

sẻ nên sử dụng cho mục đích quản lý tài nguyên, nghiên cứu khoa học và hỗ trợ cải thiện cuộc sống cộng đồng

7.1.5 Các vấn đề cơ bản liên quan đến ABS

7.1.5.1 Tiếp cận tài nguyên di truyền

Tiếp cận tài nguyên di truyền (tiếp cận nguồn gen) là hoạt động điều tra, thu thập nguồn gen phục vụ nghiên cứu phát triển và sản xuất các sản phẩm thương mại

Đến nay, thuật ngữ tiếp cận đã trở nên quen thuộc đối với các nhà nghiên cứu và quản lý tài nguyên và môi trường ở nước ta Đã hơn 10 năm nay vấn đề này trở nên nóng bỏng, bức thiết không phải chỉ trong lĩnh vực quản lý tài nguyên và môi trường, mà còn cả trong các lĩnh vực như sở hữu trí tuệ, thương mại, nghiên cứu khoa học, v.v , trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội

Trong thực tế, việc tiếp cận nguồn gen không gắn liền với công việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên thông thường như đốn gỗ, các hoạt động đánh

cá hay trồng trọt và thậm chí hoạt động du lịch Theo Công ước Đa dạng sinh học, việc tiếp cận này nên được xem xét trên cơ sở mục đích sử dụng của các nguồn gen đó do mục tiêu của việc tiếp cận thường là tìm kiếm những hợp chất mới, quý trong nguồn gen hơn là sử dụng nguồn gen dưới dạng thô

Việc tiếp cận không chỉ đơn thuần đối với các nguồn gen mà còn bao hàm

cả các tri thức truyền thống và những kinh nghiệm truyền thống liên quan tới việc sử dụng, nhân giống, nuôi trồng nguồn gen đó Thực chất, đây là hai vế không thể tách rời nhau Vì thông thường người ta có xu hướng nghiên cứu nguồn gen để tìm ra những ưu điểm có thể sử dụng thông qua kinh nghiệm và tri thức truyền thống Ví dụ như việc tìm kiếm các hoạt chất chống lại HIV, bệnh ung thư trong cây cỏ ở Việt Nam dựa vào kinh nghiệm sử dụng cây thuốc và các bài thuốc dân tộc Như vậy, tiếp cận nguồn gen nên được hiểu rộng ra là tiếp cận nguồn gen và các tri thức truyền thống liên quan đến nguồn gen đó

Ngày đăng: 16/04/2014, 11:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Bộ Tài nguyên và Môi trường: Báo cáo tổng quan về hiện trạng tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích của Việt Nam (Tài liệu phục vụ xây dựng Khung chiến lược Quốc gia về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích cho Việt Nam), tháng 3/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng quan về hiện trạng tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích của Việt Nam
8. Lê Xuân Cảnh, (2010): Hiện trạng và diễn biến suy thoái đa dạng sinh học của Việt Nam, Báo cáo tại Hội nghị Môi trường toàn quốc lần thứ 3:Chuyên đề đa dạng sinh học, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng và diễn biến suy thoái đa dạng sinh học của Việt Nam
Tác giả: Lê Xuân Cảnh
Năm: 2010
16. Đặng Huy Huỳnh, (2010): Các loài nguy cấp quý, hiếm: thực trạng và giải pháp, Báo cáo tại Hội nghị Môi trường toàn quốc lần thứ 3: Chuyên đề đa dạng sinh học, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các loài nguy cấp quý, hiếm: thực trạng và giải pháp
Tác giả: Đặng Huy Huỳnh
Năm: 2010
18. Hướng dẫn Bonn về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn Bonn về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích
Năm: 2002
21. Trần Công Khánh, Nguyễn Ngọc Sinh, (2005): Tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích - Những bài học từ thực tiễn Việt Nam, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích - Những bài học từ thực tiễn Việt Nam
Tác giả: Trần Công Khánh, Nguyễn Ngọc Sinh
Năm: 2005
22. Trần Thế Liên, (2010): Đánh giá hệ thống quy hoạch rừng đặc dụng Việt Nam 2010, Báo cáo tại Hội nghị Môi trường toàn quốc lần thứ 3: Chuyên đề đa dạng sinh học, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hệ thống quy hoạch rừng đặc dụng Việt Nam 2010
Tác giả: Trần Thế Liên
Năm: 2010
23. Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam: Chia sẻ các lợi ích từ nguồn gen, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chia sẻ các lợi ích từ nguồn gen
Tác giả: Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Năm: 2010
27. Một số văn bản pháp luật liên quan đến an toàn sinh học và tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích của Việt Nam và thế giới.28. Một số website (http://www.condaopark.com vàhttp://www.vuonquocgiabavi.com, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số văn bản pháp luật liên quan đến an toàn sinh học và tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích của Việt Nam và thế giới
Năm: 2010
30. Nghị định Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đa dạng sinh học, 06/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đa dạng sinh học
Năm: 2010
32. Quyết định 120/QĐ-TTg ngày 21 tháng 01 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Dự án Quy hoạch tổng thể đầu tư phát triển Vườn quốc gia Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giai đoạn đến năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 120/QĐ-TTg
Nhà XB: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2009
1. Andrew G. J. (2009), Báo cáo kết thúc Dự án bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học biển và ven biển Côn Đảo (2006 - 2009) (tài liệu chưa được in ấn, tại phòng Khoa học, Vườn quốc gia Côn Đảo), 2009 Khác
2. Bộ Nông nghiệp và PTNT: Quy định về trao đổi quốc tế nguồn gen vật nuôi quí hiếm, 2006; Quy định về trao đổi quốc tế nguồn gen cây trồng quí hiếm, 2005 Khác
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường: Báo cáo hiện trạng môi trường Quốc gia - Chuyên đề đa dạng sinh học; 2005 Khác
5. Bộ Tài nguyên và Môi trường: Các báo cáo chuyên đề phục vụ xây dựng Luật Đa dạng sinh học; 2004-2006 Khác
6. Bộ Tài nguyên và Môi trường: Chiến lược Bảo vệ Môi trường quốc gia đến 2010 và định hướng đến 2020; 2003 Khác
7. Các quy tắc thương mại quốc tế về tiếp cận các nguồn gen: Những ngoại lệ môi trường GATT 1994 và TRIPS Khác
10. Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới (UPOV), 1998 Khác
11. Nguyễn Lân Dũng, Báo cáo chuyên đề về vi sinh vật phục vụ xây dựng Luật Đa dạng sinh học, 2004 Khác
12. Nguyễn Trường Giang, Trần Đình Huệ, (2010): Tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen (bài viết chưa công bố), 2010 Khác
14. Hiệp ước quốc tế về tài nguyên di truyền thực vật phục vụ lương thực và nông nghiệp (ITPGRFA), 2001 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3: Phục hồi và phát triển giống gà thuốc Sơn La - Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất cơ chế quản lý hoạt động tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen ở việt nam
Bảng 3 Phục hồi và phát triển giống gà thuốc Sơn La (Trang 81)
Hình 1 : Tác động của người dân vào tài nguyên thiên nhiên - Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất cơ chế quản lý hoạt động tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen ở việt nam
Hình 1 Tác động của người dân vào tài nguyên thiên nhiên (Trang 83)
Hình 2 : Sự can thiệp của nhà khoa học và nhà sản xuất - Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất cơ chế quản lý hoạt động tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen ở việt nam
Hình 2 Sự can thiệp của nhà khoa học và nhà sản xuất (Trang 84)
Hình 3: Mối quan hệ giữa CBD và các điều ước quốc tế liên quan đến ABS - Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất cơ chế quản lý hoạt động tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen ở việt nam
Hình 3 Mối quan hệ giữa CBD và các điều ước quốc tế liên quan đến ABS (Trang 105)
Bảng 10: Các yếu tố gợi ý cho pháp luật quốc gia tiếp cận nguồn gen  Yếu tố Thực hiện - Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất cơ chế quản lý hoạt động tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen ở việt nam
Bảng 10 Các yếu tố gợi ý cho pháp luật quốc gia tiếp cận nguồn gen Yếu tố Thực hiện (Trang 190)
Hình 4: Sơ đồ kinh nghiệm về ABS - Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất cơ chế quản lý hoạt động tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen ở việt nam
Hình 4 Sơ đồ kinh nghiệm về ABS (Trang 195)
Bảng 11: Một số nguồn gen điển hình đang lưu trữ tại VQG Ba Vì - Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất cơ chế quản lý hoạt động tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen ở việt nam
Bảng 11 Một số nguồn gen điển hình đang lưu trữ tại VQG Ba Vì (Trang 202)
Hình 5: Bản đồ quy hoạch phân vùng biển VQG Côn đảo có sự tham gia của cộng đồng - Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất cơ chế quản lý hoạt động tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen ở việt nam
Hình 5 Bản đồ quy hoạch phân vùng biển VQG Côn đảo có sự tham gia của cộng đồng (Trang 216)
Bảng 13: Một số nguồn gen điển hình đang lư u trữ, b ảo vệ t ại VQG Côn Đảo   (Nhóm điều tra năm 2010 và tham khảo tại condaopark.com) - Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất cơ chế quản lý hoạt động tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen ở việt nam
Bảng 13 Một số nguồn gen điển hình đang lư u trữ, b ảo vệ t ại VQG Côn Đảo (Nhóm điều tra năm 2010 và tham khảo tại condaopark.com) (Trang 217)
Bảng 15:  Một số nguồn gen điển hình bị thất thoát tại VQG Ba Vì - Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất cơ chế quản lý hoạt động tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen ở việt nam
Bảng 15 Một số nguồn gen điển hình bị thất thoát tại VQG Ba Vì (Trang 226)
Bảng 16: Một số nguồn gen điển hình bị thất thoát tại VQG Côn Đảo - Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất cơ chế quản lý hoạt động tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen ở việt nam
Bảng 16 Một số nguồn gen điển hình bị thất thoát tại VQG Côn Đảo (Trang 232)
Bảng 17: Trình tự các bước tiếp cận nguồn gen - Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất cơ chế quản lý hoạt động tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen ở việt nam
Bảng 17 Trình tự các bước tiếp cận nguồn gen (Trang 242)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w