1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hoá lãnh đạo, quản lý vấn đề và giải pháp

198 791 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn hóa lãnh đạo, quản lý vấn đề và giải pháp
Tác giả PGS,TS. Lê Quý Đức
Trường học Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 198
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt khác, việc xây dựng văn hoá lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay ngày càng trở nên cấp bách khi thực trạng hoạt động lãnh đạo, quản lý đang bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém và bất cập m

Trang 1

Học viện chính trị - Hành chính quốc gia hồ chí minh

Báo cáo Tổng kết khoa học

đề tài cấp bộ tuyển thầu năm 2006

Mã số: B.06-52

Văn hóa lãnh đạo, quản lý

vấn đề và giải pháp

Cơ quan chủ trì: Viện Văn hóa và phát triển

Chủ nhiệm đề tài: PGS,TS Lê Quý Đức

Th− ký đề tài: ThS Bùi Thị Kim Chi

6972

28/8/2008

Hà Nội – 2008

Trang 2

Danh sách cộng tác viên tham gia nghiên cứu đề tài

1 ThS Đoàn Tuấn Anh – Học viện Chính trị – Hành chính Khu vực III

2 GS,TS Hoàng Chí Bảo – Học viện CT - HC quốc gia Hồ Chí Minh

3 PGS,TS Nguyễn Duy Bắc – Học viện CT - HC quốc gia Hồ Chí Minh

5 ThS Bùi Kim Chi – Học viện CT - HC quốc gia Hồ Chí Minh

6 ThS Trần Kim Cúc – Học viện CT - HC quốc gia Hồ Chí Minh

7 PGS,TS Phạm Duy Đức – Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

8 PGS, TS Lê Quý Đức – Học viện CT - HC quốc gia Hồ Chí Minh

9 ThS Vũ Phương Hậu – Học viện CT - HC quốc gia Hồ Chí Minh

10 GS,TS Trần Ngọc Hiên – Hội Liên hiệp Khoa học kỹ thuật Việt Nam

11 TS Nguyễn Ngọc Hoà – Học viện Chính trị – Hành chính Khu vực III

12 CN Tô Thị Hoà – Học viện CT - HC quốc gia Hồ Chí Minh

13 ThS Nguyễn Dương Hùng - Học viện CT - HC quốc gia Hồ Chí Minh

14 PGS,TS Lê Ngọc Hùng – Học viện CT - HC quốc gia Hồ Chí Minh

15 GS,TS Nguyễn Văn Huyên – Học viện CT - HC quốc gia Hồ Chí Minh

16 TS Phan Công Khanh – Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực II

17 GS Vũ Khiêu – Hà Nội

18 PGS,TS Trần Ngọc Khuê – Học viện CT - HC quốc gia Hồ Chí Minh

19 ThS Lê Trung Kiên –Học viện CT - HC quốc gia Hồ Chí Minh

20 ThS Lê Xuân Kiêu – Học viện CT - HC quốc gia Hồ Chí Minh

21 ThS Lê Văn Liêm – Học viện Chính trị – Hành chính Khu vực III

22 TS Nguyễn Thị Tuyết Mai – Học viện CT - HC quốc gia Hồ Chí Minh

23 PGS,TS Bùi Đình Phong – Học viện CT - HC quốc gia Hồ Chí Minh

24 PGS, TS Vũ Văn Phúc – Học viện CT - HC quốc gia Hồ Chí Minh

Trang 3

25 Nhµ nghiªn cøu ViÖt Ph−¬ng – Hµ Néi

26 GS,TS Ph¹m Ngäc Quang – Häc viÖn CT - HC quèc gia Hå ChÝ Minh

27 TS NguyÔn Hång S¬n – Häc viÖn ChÝnh trÞ – Hµnh chÝnh Khu vùc III

28 GS,TS M¹ch Quang Th¾ng – Häc viÖn CT - HC quèc gia Hå ChÝ Minh

29 ThS NguyÔn V¨n Th¾ng – Häc viÖn CT - HC quèc gia Hå ChÝ Minh

30 TS §Æng Quang Thµnh - Häc viÖn ChÝnh trÞ – Hµnh chÝnh Khu vùc II

31 PGS,TS Lª Ngäc Tßng – Häc viÖn CT - HC quèc gia Hå ChÝ Minh

32 TS L©m Quèc TuÊn – Häc viÖn CT - HC quèc gia Hå ChÝ Minh

33 GS,TS Hoµng Vinh – Hµ Néi

34 PGS,TS NguyÔn V¨n VÜnh – Häc viÖn CT - HC quèc gia Hå ChÝ Minh.

Trang 4

Mục lục

Trang

1.3 Những nhân tố tác động đến văn hoá lãnh đạo, quản lý hiện nay 42

lý ở nước ta hiện nay

53 2.1 Vấn đề định hướng giá trị trong văn hoá lãnh đạo, quản lý hiện nay 54 2.2 Vấn đề thể chế hoá vai trò/chức năng và mối quan hệ giữa chủ thể

lãnh đạo, chủ thể quản lý trong văn hoá lãnh đạo, quản lý hiện nay

64

2.3 Vấn đề trình độ, năng lực của chủ thể lãnh đạo, quản lý hiện nay 74 2.4 Phẩm chất chính trị và đạo đức của chủ thể lãnh đạo, quản lý hiện nay 85

nước ta trong giai đoạn hiện nay

3.6 Về giải pháp chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu và các biểu hiện

tiêu cực khác trong bộ máy Đảng và Nhà nước

Trang 5

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh vai trò to lớn của văn hoá đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta: “Bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt với phát triển văn hoá - nền tảng tinh thần của xã

hội Đặc biệt coi trọng nâng cao văn hoá lãnh đạo và quản lý”1

Văn hoá hiện diện và thẩm thấu vào mọi khía cạnh của cuộc sống con người như một yếu tố không thể thiếu của xã hội tổng thể Tuy vậy, điều đó không có nghĩa là chúng ta nhận thức được rõ ràng cấu trúc của văn hoá trong mỗi hoạt động, hoặc có thể định liệu được những liên hệ mật thiết có tính chất văn hoá trước khi đi đến những quyết định Nhưng ngày nay, sẽ là không thực tế nếu nghĩ có một hoạt động nào đó của con người và xã hội không cần tới văn hoá, hoặc đứng ngoài nền cảnh văn hoá Trong nhận thức, vấn đề ngày càng trở nên rõ ràng: văn hoá là phương thức tồn tại và phát triển lịch sử nhân loại Trên các phương diện của đời sống, văn hoá là yếu tố nội sinh tạo nên động lực và cũng chính là mục tiêu của sự phát triển

Chúng ta đang sống trong một thời đại, mà trước đó lịch sử chưa bao giờ

được chứng kiến một không gian năng động và phức tạp của các quốc gia, các tổ chức xã hội Để lãnh đạo, quản lý các quốc gia cũng như các tổ chức đó, con người đang dựa vào những phương tiện khoa học kỹ thuật hiện đại, nhưng chính yếu tố con người vẫn là quan trọng hàng đầu và không thể nào thay thế được Vì các thành viên xã hội trong các cơ cấu tổ chức đều là những cá nhân, nhân cách

cụ thể khác biệt với nhau bởi trí tuệ, tình cảm, mục đích và nhu cầu Trong bối cảnh đó, văn hoá đang được kỳ vọng là chìa khoá cho sự khám phá và giải đáp những vấn đề nan giải của công việc lãnh đạo và quản lý

tr.213

Trang 6

Lãnh đạo, quản lý là làm việc với con người, với những tầng lớp và tổ chức xã hội, có quyền lợi, nguyện vọng, tâm lý, tình cảm, nhu cầu khác nhau,

đôi khi đối lập nhau Điều đó đòi hỏi các chủ thể lãnh đạo, quản lý phải hiểu biết tinh tế về con người và từng cộng đồng người, phải có năng lực giao tiếp, truyền thông và đối thoại công cộng, có sáng kiến và khả năng đưa ra những quyết định chính xác đáp ứng đúng với mỗi tình thế xã hội Văn hoá lãnh đạo, quản lý là yếu tố góp phần hình thành nên những chủ thể có phẩm chất như thế

C.Mác và Ph.Ăngghen quan niệm: "Lãnh đạo là thường xuyên khám phá

và giải thích cho quần chúng hiểu được ý nghĩa của quy luật tự nhiên", "Lãnh

đạo phải là những người cao quý, sáng suốt và hiểu biết" Để trở thành những nhà lãnh đạo, quản lý đúng nghĩa như vậy, tất yếu đòi hỏi phải có nguồn lực văn hoá thật dồi dào

V.I.Lênin quan niệm: “Chính trị bắt đầu ở nơi nào có hàng triệu người”

và “chính trị vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật” Chính lĩnh vực chính trị (lĩnh vực đặc trưng của hoạt động lãnh đạo, quản lý) đòi hỏi sự huy động rất cao các năng lực bản chất của con người Không ở đâu khác, mà chính ở trong lĩnh vực chính trị, đời sống, thân phận, diện mạo của cá nhân và cộng đồng được

được quyết định hết sức sâu sắc và trực tiếp Do vậy, hoạt động lãnh đạo và quản

lý trong lĩnh vực chính trị đòi hỏi phải luôn được đặt trên một nền tảng vững chắc là văn hoá; nếu không, chính trị sẽ trở thành một công cụ cưỡng bức và làm tha hoá con người

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Văn hoá phải soi đường cho quốc dân

đi”, “Phải đem văn hoá lãnh đạo quốc dân để thực hiện độc lập, tự cường, tự chủ”, “phải xúc tiến công tác văn hoá để đào tạo con người mới và cán bộ mới cho công cuộc kháng chiến, kiến quốc” Văn hoá phải có tác dụng “sửa đổi tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ, sửa xã hội cũ, xây xã hội mới”; “văn hoá nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh

tế và chính trị” Văn hoá phải tạo ra sức mạnh vật chất và khả năng chiến thắng giặc ngoại xâm theo tinh thần “văn minh thắng bạo tàn” Điều đó cho thấy văn

Trang 7

hoá đã được lồng ghép, thấm sâu vào hoạt động lãnh đạo chính trị của Hồ Chí Minh Và chính Người, với tầm viễn kiến, đã thực sự khẳng định tư tưởng văn hoá vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng

Đất nước ta đang tiến vào thế kỷ XXI, thế kỷ được nhận định là sẽ tiếp tục

có nhiều biến đổi: khoa học và công nghệ có bước tiến nhảy vọt; kinh tế tri thức

có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất; toàn cầu hoá là một xu thế khách quan… Trước mắt, chúng ta có cả cơ hội lớn và những thách thức lớn Thuận lợi và thách thức đều đòi hỏi Đảng Cộng sản phải luôn có quan điểm, đường lối đúng đắn, sáng suốt Trong đó, vấn đề cốt lõi liên quan đến

sự thành bại của cách mạng là việc xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn, gắn bó với nhân dân

Do vậy, việc nghiên cứu, học tập và vận dụng những thành quả của khoa học, văn hoá lãnh đạo, quản lý là một nhu cầu cấp thiết đối với đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị nước ta hiện nay

Mặt khác, việc xây dựng văn hoá lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay ngày càng trở nên cấp bách khi thực trạng hoạt động lãnh đạo, quản lý đang bộc

lộ nhiều hạn chế, yếu kém và bất cập mà các văn kiện của Đảng trong thời gian qua đã chỉ ra như:

- Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng còn lúng túng, chưa đi sâu làm rõ đặc điểm và yêu cầu về sự lãnh đạo của Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền, chưa phát huy đầy đủ hiệu lực quản lý của các cơ quan nhà nước, tính tích cực của các cơ quan đoàn thể và quyền làm chủ của nhân dân Tổ chức chỉ

đạo thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết của Đảng và pháp luật của nhà nước còn yếu

- Cán bộ lãnh đạo nước ta xét về văn hoá chính trị, văn hoá lãnh đạo, quản

lý có nhiều mặt chưa ngang tầm với đòi hỏi của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Thậm chí ở một bộ phận không nhỏ đã xuất hiện sự suy thoái làm biến dạng hệ thống giá trị và những tiêu chuẩn đích thực của người

Trang 8

cán bộ Tình trạng đó có thể tìm thấy ở cả trong phẩm chất chính trị, trình độ, năng lực và đạo đức, lối sống

Biểu hiện của sự yếu kém về năng lực, trình độ của cán bộ lãnh đạo là sự lúng túng trong việc hoạch định các chủ trương, các chương trình hành động, trong việc tổ chức thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết của Đảng và chính sách Nhà nước Năng lực tổ chức để đảng viên và quần chúng hoạt động thực tiễn còn hạn chế Rất nhiều sự kiện, tình huống xảy ra không được xử lý dẫn đến tình trạng đùn

đẩy, chậm trễ Trong chuyển đổi cơ chế kinh tế, đặc biệt là mở rộng hợp tác với nước ngoài, đội ngũ cán bộ lãnh đạo thể hiện sự thiếu hụt trầm trọng những kiến thức về quản lý kinh tế, quản lý Nhà nước Đội ngũ cán bộ lãnh đạo thiếu người có kiến thức quản lý kinh doanh giỏi, thông thạo về kinh tế đối ngoại, luật pháp quốc gia và quốc tế; thiếu các chuyên gia đầu đàn, nhất là về khoa học, lý luận Hơn nữa, rất nhiều cán bộ thờ ơ, lười học tập lý luận chính trị, kiến thức văn hoá và khoa học chuyên môn, từ đó làm giảm vai trò lãnh đạo, quản lý Đảng Cộng sản Việt Nam ta đã khẳng định: “Lười học, lười suy nghĩ, không thường xuyên tiếp nhận những thông tin mới, những hiểu biết mới cũng là biểu hiện của suy thoái”

Về đạo đức, lối sống hiện nay, có thể nói không ít cán bộ lãnh đạo, quản

lý không đủ uy tín trước quần chúng Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung

ương khoá VIII của Đảng cộng sản Việt Nam đã kết luận: Một bộ phận cán bộ

thoái hoá, biến chất về đạo đức, lối sống, lợi dụng chức quyền để tham nhũng, buôn lậu, làm giàu bất chính, lãng phí của công, quan liêu, ức hiếp dân, gia trưởng độc đoán, có tham vọng cá nhân, cục bộ, kèn cựa địa vị, cơ hội, kém ý thức tổ chức kỷ luật, phát ngôn bừa bãi và làm việc tuỳ tiện, gây mất đoàn kết nội bộ nghiêm trọng

- Công tác tổ chức cán bộ của Đảng tuy đã có những chuyển biến tích cực nhưng vẫn chưa có một chiến lược cơ bản và lâu dài trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ phục vụ cho nhiệm vụ cách mạng thời kỳ mới Quan điểm, chính sách, phương thức, qui trình vẫn chưa có nhiều thay đổi lớn và còn nhiều lạc hậu trước

sự chuyển biến của tình hình Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ hiệu quả còn thấp,

Trang 9

chất lượng chưa cao, đào tạo chưa gắn với qui hoạch sử dụng Tiêu chuẩn quy hoạch cán bộ còn chung chung dẫn đến việc đánh giá không cụ thể, thiếu chuẩn xác và công bằng Việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ, đặc biệt trong công tác bố trí, sử dụng mang tính dân chủ hình thức; luân chuyển cán bộ chưa thành nền nếp và có qui trình chặt chẽ Bộ máy chức năng

về công tác cán bộ còn chồng chéo, trùng lắp, năng lực còn yếu kém Chính sách cán bộ thiếu nhất quán, chưa khuyến khích được người tài, chưa thể hiện được vai trò là động lực, đòn bẩy phát triển

Những tồn tại nêu trên đang gây tác hại không nhỏ cho việc thực hiện sự lãnh đạo của Đảng; quản lý của Nhà nước và quyền làm chủ của nhân dân lao

động Trong bối cảnh đó, thiết nghĩ việc triển khai đề tài nghiên cứu khoa học:

“Văn hoá lãnh đạo, quản lý - Vấn đề và giải pháp” thực sự có ý nghĩa to lớn cả

về phương diện lý luận và thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Văn hoá lãnh đạo, quản lý là một vấn đề mới mẻ Nhưng từ khi ra đời, nó

đã thu hút được mối quan tâm mạnh mẽ của các học giả, các nhà hoạt động lãnh

đạo, quản lý thực tiễn ở nhiều nước trên thế giới và ngày càng trở thành một chủ

đề được tranh luận sôi nổi

2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Hoạt động lãnh đạo, quản lý với tư cách là một dạng hoạt động đặc thù của văn hoá; hoạt động lãnh đạo, quản lý với tư cách là một khoa học và nghệ thuật đã được các học giả nước ngoài quan tâm từ những năm 70 của thế kỷ XX

- Đầu tiên phải kể đến trường phái Đông âu Các công trình của họ tập trung nghiên cứu những vận động của mâu thuẫn nội tại trong hoạt động lãnh

đạo và chỉ ra tính quy luật chung trong nó, tổng hợp những kinh nghiệm lãnh đạo thành những nguyên tắc lãnh đạo, giúp cho các nhà lãnh đạo, quản lý có những kiến thức và phẩm chất cần thiết trong hoạt động lãnh đạo, quản lý có hiệu suất cao Mục đích cuối cùng của lãnh đạo, quản lý là làm thế nào để phân phối, điều

Trang 10

tiết và sử dụng có hiệu quả các nguồn nhân lực, tài lực Tiêu biểu là các công

trình: E.X Cudơmin, J.P.Vôncốp (1978), Người lãnh đạo và tập thể, Nxb Sự thật; V.G.Aphanaxép, Đ.M.Gvisiani (1980), Lao động của người lãnh đạo: giáo trình dành cho các cán bộ lãnh đạo, Nxb Lao động; X.Kôvalépxki (1983), Người lãnh đạo và cấp dưới, Nxb Lao động…

- ở Thuỵ Điển, các công trình nghiên cứu về lãnh đạo và quản lý luôn luôn

được xem xét trong mối tương quan với quá trình dân chủ hoá xã hội Nổi tiếng nhất phải kể đến công trình của nhóm tác giả; O.Petersson, J.Hermansson,

M.Micheletti, A.Westholm (1995), Dân chủ và lãnh đạo: Báo cáo của tổ chức

đánh giá dân chủ Thụy Điển 1996, Nxb Chính trị quốc gia Nội dung sách tập

trung trình bày những ý tưởng khác nhau ở Thuỵ Điển về dân chủ và lãnh đạo, quản lý; mối quan hệ giữa hiến pháp và lãnh đạo; vai trò và trách nhiệm của các nhà lãnh đạo Thuỵ Điển… Trên cơ sở đó, các tác giả đề xuất các biện pháp nhằm giải quyết tình trạng thất nghiệp, tạo điều kiện cho khu vực tài chính công phát triển, xã hội hoàn thiện, hướng tới sự lãnh đạo dân chủ hơn ở Thuỵ Điển

- ở các nước Phương Tây, vấn đề này được quan tâm chủ yếu dưới khía cạnh xây dựng hình tượng về các thủ lĩnh trong hoạt động lãnh đạo, quản lý cùng với những vấn đề về tâm lý, phong cách, nghệ thuật và kỹ năng chỉ đạo, điều hành của

họ Thủ lĩnh là người vừa có tài, có uy, có sức thuyết phục để ra lệnh cho người khác Họ là người có tầm nhìn và sự thu phục cá nhân, năng động để tạo nên sự

thay đổi toàn diện về tổ chức Các công trình tiêu biểu là: D.Chalvin (1993), Các phong cách quản lý, Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật; A.Uris (1996), Nghệ thuật lãnh đạo, Nxb Hà Nội; F.Hesselbein, M.Goldsmith (1997), Nhà lãnh đạo tương lai, Nxb Thống kê; G.Courtois (2000), Lãnh đạo và quản lý, một nghệ thuật, Nxb Lao động; Th.Gordon (2001), Đào tạo người lãnh đạo hiệu quả, Nxb Trẻ; R.Gibson (chủ biên)(2002), Tư duy lại tương lai, Nxb Trẻ…

- Theo hướng tiếp cận này, gần đây ở Trung Quốc xuất hiện các công trình

đáng quan tâm như: Vương Lạc Phu, Tưởng Nguyệt Thần (2000), Khoa học lãnh

Trang 11

đạo hiện đại, Nxb Chính trị quốc gia; Trần Thành (2003), Để trở thành người lãnh đạo giỏi, Nxb Văn hoá - Thông tin Các tác giả khẳng định sự nghiệp cách

mạng thành công hay thất bại chủ yếu do con người quyết định Vì vậy, bất cứ người lãnh đạo hoặc quản lý nào muốn trở thành nhà lãnh đạo giỏi, quản lý đều cần tìm hiểu phương pháp và nghệ thuật lãnh đạo Đồng thời, các nhà lãnh đạo Trung Quốc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc, đặc biệt quan tâm tổng kết, tìm kiếm phương pháp lãnh đạo, thể chế lãnh đạo, khảo sát và đánh giá hiệu quả lãnh đạo, giải quyết công tác chính trị tư tưởng trong lãnh đạo để đưa đất nước đổi mới và phát triển

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Tình hình nghiên cứu ở trong nước về vấn đề này có thể nói là khá mới

mẻ, nội dung tri thức chưa mang tính hệ thống và thường đan xen trong hệ các vấn đề nghiên cứu khác Có thể nêu ra ở đây một số công trình có liên quan:

+ Nguyễn Hồng Phong (1998), Văn hoá chính trị Việt Nam - Truyền thống và hiện đại, Nxb Văn hoá - Thông tin Phần cuối tác phẩm, tác giả có đề

xuất một số giải pháp về một sự kết hợp mới giữa truyền thống với hiện đại hoá

và chủ nghĩa xã hội để phục vụ cho công cuộc hiện đại hoá ở nước ta hiện nay Tác giả khẳng định, trong những di sản văn hoá cha ông ta để lại, có những di sản quan trọng về điều hành nhà nước và quản lý xã hội Những di sản đó cần phải được tiếp thu để xây dựng một nhà nước Việt Nam mới đủ mạnh Đó là nhân tố mang tính quyết định cho sự mở cửa và phát triển hiện nay

+ Phạm Ngọc Quang (chủ biên) (1995), Văn hoá chính trị và việc bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia

Trong đó, các tác giả tập trung làm sáng tỏ nội dung khoa học của phạm trù văn hoá chính trị và vai trò của nó trong hoạt động chính trị, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong việc nâng cao năng lực và bản lĩnh lãnh đạo của đội ngũ cán bộ; từ đó, đề ra phương hướng bồi dưỡng văn hoá chính trị cho các chủ thể này

Trang 12

+ Trần Văn Bính (chủ biên) (2000), Vai trò văn hoá trong hoạt động chính trị của Đảng ta hiện nay, Nxb Lao động Các tác giả khẳng định việc giải

phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của con người, vươn lên theo mục tiêu Chân, Thiện, Mỹ phụ thuộc vào trình độ phát triển của văn hoá Đặc biệt, văn hoá trong hoạt động chính trị của Đảng cầm quyền giữ vai trò to lớn và có ý nghĩa quyết định

+ Chu Văn Thành, Lê Thanh Bình (2004), Bàn về khoa học và nghệ thuật lãnh đạo, Nxb Chính trị quốc gia Nội dung cuốn sách tập trung giới thiệu những

tri thức cơ bản ban đầu về khoa họ và nghệ thuật lãnh đạo như: các khái niệm cơ bản của khoa học lãnh đạo; sự hình thành và phát triển khoa học lãnh đạo trong lịch sử loài người; quyết sách lãnh đạo, môi trường lãnh đạo là gì, nó có tác dụng như thế nào đối với hoạt động lãnh đạo; các phương pháp và nghệ thuật lãnh đạo; rèn luyện phẩm chất, tác phong của đội ngũ cán bộ lãnh đạo; bình xét, đánh giá hiệu quả lãnh đạo…

+ Ngày 29/11/2004, Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương và Học viện Chính

trị quốc gia Hồ Chí Minh đã tổ chức cuộc Toạ đàm về “Văn hoá Đảng và xây dựng văn hoá trong Đảng” với sự tham dự của nhiều nhà khoa học và các nhà lãnh đạo, quản lý Nội dung của cuộc Toạ đàm đã được lược thuật và công bố trên Tạp chí Tư tưởng - Văn hoá các số (12-2004; 1,2-2005) Các ý kiến trong buổi Toạ đàm đã

nhấn mạnh văn hoá Đảng là một bộ phận, đồng thời là bộ phận cao nhất trong văn hoá chính trị Văn hoá Đảng thuộc về phạm trù văn hoá lãnh đạo, đã và đang là nhân tố mang tính quyết định đến sự thành bại của cách mạng Việt Nam Xây dựng Văn hoá Đảng thực chất là giữ gìn và phát huy vai trò, tác dụng gương mẫu của

Đảng và cán bộ, đảng viên trước toàn dân về tư tưởng, đạo đức và lối sống

+ Liên quan đến vấn đề này, có nhiều tài liệu nghiên cứu, nhất là các công trình trực tiếp hướng đến việc xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh

đạo, quản lý (dù rằng trong đó có những công trình tiếp cận vấn đề dưới giác

độ văn hoá lãnh đạo, quản lý chưa thật rõ nét và nhất quán): Đức Vượng

Trang 13

(1995), Hồ Chí Minh với vấn đề đào tạo cán bộ, Nxb Chính trị quốc gia; Nguyễn Xuân Đáng, Vũ Xuân Hưng (1996), Văn hoá và nguyên lý quản trị; Nguyễn Trọng Bảo (chủ biên) (1998), Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo và

đội ngũ cán bộ quản lý kinh doanh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nxb Giáo dục; Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm (đồng chủ biên) (2001), Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,

Nxb Chính trị quốc gia; Tô Huy Rứa, Trần Khắc Việt (đồng chủ biên) (2003),

Làm người cộng sản trong giai đoạn hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia; Ban Tổ chức Trung ương (2004), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về đánh giá, luân chuyển cán bộ ở nước ta hiện nay;…

Các công trình khoa học trên là những tài liệu tham khảo quý giá cho việc nghiên cứu những vấn đề của văn hoá lãnh đạo, quản lý Tuy nhiên, đến nay vẫn thiếu một công trình chuyên sâu nghiên cứu toàn diện và nhất quán những vấn đề

về văn hoá lãnh đạo, quản lý nhằm nâng cao hiệu quả của sự lãnh đạo, quản lý, cũng như nâng cao phẩm chất, năng lực và vai trò của các chủ thể lãnh đạo, quản

lý Đề tài này được lựa chọn để thực hiện với mong muốn đóng góp một phần công sức vào hướng nghiên cứu đó

3 Mục tiêu của đề tài

- Khẳng định tầm quan trọng, ý nghĩa to lớn của hoạt động lãnh đạo, quản

lý và văn hoá lãnh đạo, quản lý

- Đưa ra cái nhìn tương đối chính xác về thực trạng và nguyên nhân của văn hoá lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao văn hoá lãnh đạo, quản lý ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đề tài tập trung khảo sát, đánh giá thực trạng văn hoá lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam từ 1986 đến nay

Trang 14

Đối tượng nghiên cứu là sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước,

sự vận hành của hệ thống chính trị và quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn của

đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng và chính quyền

- Kết hợp chặt chẽ việc nghiên cứu tư tưởng kinh điển, văn kiện, nghị quyết của Đảng, các công trình chuyên khảo liên quan đến đề tài với việc điều tra, khảo sát thực tiễn, hội thảo khoa học nhằm làm rõ thực trạng văn hoá lãnh

đạo, quản lý ở nước ta hiện nay, trên cơ sở đó đề ra phương hướng và các giải pháp khả thi

6 Đóng góp khoa học của đề tài

- Làm rõ khái niệm văn hoá lãnh đạo, văn hoá quản lý từ các cách tiếp cận khác nhau

- Chỉ rõ những vấn đề đặt ra trong văn hoá lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay Đó là những hạn chế, yếu kém, bất cập trước yêu cầu phát triển của đất nước và xã hội

- Đưa ra các giải pháp để nâng cao văn hoá lãnh đạo, quản lý, các giải pháp của giải pháp đã được Đảng và Nhà nước nêu ra

7 Nội dung nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Đề tài được thể hiện ở 3 chương và 13 tiết

Trang 15

Chương 1

Một số vấn đề lý luận về văn hoá l∙nh đạo, quản lý

Để nhận diện những vấn đề đặt ra và tìm các giải pháp nâng cao văn hoá lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay, trước hết cần làm rõ quan niệm về văn hoá lãnh đạo, văn hóa quản lý Nghĩa là phải trả lời câu hỏi: văn hoá lãnh đạo là gì? văn hoá quản lý là gì? vai trò của chúng trong đời sống xã hội ra sao?

Khái niệm văn hoá lãnh đạo, văn hoá quản lý được tạo ra bởi sự kết hợp giữa khái niệm “văn hoá” với các khái niệm “lãnh đạo”, “quản lý” Do vậy, để hiểu rõ khái niệm văn hoá lãnh đạo, văn hoá quản lý, ngoài việc làm rõ khái niệm “văn hoá”, cần phải làm rõ khái niệm “lãnh đạo”, “quản lý” và mối liên hệ giữa chúng

1.1 Quan niệm về lãnh đạo, quản lý

1.1.1 Quan niệm về l∙nh đạo

Khi nhân loại bước vào đời sống xã hội người thì cũng xuất hiện sự tổ chức, chỉ huy các nhóm, các cộng đồng người Xã hội phát triển lên một trình độ cao hơn cần đến sự lãnh đạo, người lãnh đạo ý niệm về sự lãnh đạo, người lãnh

đạo đã xuất hiện từ lâu trong đời sống nhân loại

ở phương Đông, ý niệm đó được thể hiện trong các khái niệm “tu, tề, trị, bình” (tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ) từ thời nhà Chu (thế kỷ XI - IV trước công nguyên) tại Trung Quốc Nhưng khái niệm lãnh đạo (sự lãnh đạo, người lãnh đạo) mới chỉ xuất hiện một hai thế kỷ gần đây

ở phương Tây, cụ thể là ở nước Anh, từ “leader” (người lãnh đạo) xuất hiện vào khoảng những năm 1.300 (theo từ điển Oxford) Từ “leadership” (sự lãnh đạo) ra đời vào nửa sau thế kỷ XIX, đến nay đã trở thành thuật ngữ chính trị

- xã hội mang tính quốc tế

Song, hiểu về khái niệm lãnh đạo lại rất khác nhau Trên trang Google có 1.240.000 tài liệu nói về lãnh đạo Do vậy, có rất nhiều định nghĩa về khái niệm

này Năm 1974, học giả Strogodill có viết: “Có bao nhiêu người đưa ra cách

Trang 16

hiểu về sự lãnh đạo, thì có bấy nhiêu định nghĩa về sự lãnh đạo” Chúng tôi tập

hợp được mấy chục định nghĩa về lãnh đạo (xem hộp 1 ở cuối chương 1)

Không thể thống kê hết được các định nghĩa về lãnh đạo, căn cứ vào các

định nghĩa đã được tập hợp, chúng tôi phân loại và giới thiệu các định nghĩa tiêu biểu thành các nhóm Trong mỗi nhóm gồm những định nghĩa có nội dung gần giống với nhau, nhấn mạnh vào một nghĩa nào đó

1- Định nghĩa nhấn mạnh vào quá trình tác động x∙ hội:

“Lãnh đạo là một quá trình tác động xã hội, theo đó cá nhân dẫn dắt các thành viên của nhóm hướng đến một mục tiêu nào đó”

(Brymen, Leadership anh Organization, London: Routledge, 1986, P.2)

“Lãnh đạo là quan hệ tác động giữa những người lãnh đạo và người được lãnh đạo - những người thực sự muốn thay đổi vì mục đích chung”

(Rost, Leadership for the 21th century Westport, CT: Praeger, 1994, P.102)

2- Định nghĩa nhấn mạnh vào chức năng x∙ hội:

“Người lãnh đạo phải “lãnh đạo” chứ không chỉ quản lý điều hành Có nghĩa là người lãnh đạo giữ vai trò hướng dẫn lựa chọn mục tiêu, xác định tầm nhìn, dẫn dắt, tạo động lực cho tổ chức phát triển”

( Theo Unicom/ B.Wportal)

“Lãnh đạo là đề ra chủ trương, đường lối chiến lược và sách lược để phát triển đơn vị, một ngành, một địa phương, một đất nước và dẫn dắt, cổ vũ đơn vị, ngành, địa phương… thực hiện đúng đường lối chủ trương đã vạch ra”

(Đại Từ điển tiếng Việt, Nguyễn Như ý chủ biên)

3- Định nghĩa nhấn mạnh vào năng lực người l∙nh đạo:

“Lãnh đạo là khả năng và ý chí để tập hợp mọi người nhằm tiến tới một mục đích chung và là tìm cách truyền sự tin tưởng cho người khác”

(Field Marshall Montgomery)

“Lãnh đạo là người nhìn xa trông rộng, tiếp sức mạnh cho người khác

Định nghĩa này về lãnh đạo có hai khía cạnh quan trọng: a, tạo ra một tầm nhìn

Trang 17

về tương lai và b, truyền cảm hứng để mọi người có thể biến viễn cảnh thành hiện thực”

(Peter - Senge, Tác giả cuốn sách Phương pháp rèn luyện thứ năm)

4- Định nghĩa nhấn mạnh vào nghệ thuật của người l∙nh đạo:

“Lãnh đạo là nghệ thuật huy động người khác khiến họ muốn đấu tranh vì những khát vọng chung”

(Kouyess& Poswer, The leadership Challonge, Sanfransisco: Jossey - Bass, P.30)

“Lãnh đạo dường như là nghệ thuật khiến người khác muốn làm được những điều thực sự nên làm”

(Hiệp hội Lãnh đạo quốc tế - Internationnal Leadership Associates)

5- Định nghĩa nhấn mạnh vào phẩm chất người l∙nh đạo:

“Sự lãnh đạo và sự học tập đi đôi gắn bó với nhau, không thể thiếu được nhau”

(Jonh Kennedy - Tổng thống Mỹ)

“Quá trình trở thành lãnh đạo cũng giống như quá trình trở thành một con người hoàn thiện Sự phát triển lãnh đạo là sự phát triển cá nhân Cho dù cuối cùng lãnh đạo là những hoạt động “bên ngoài” nhưng nó phải được bắt đầu từ “bên trong””

(Theo Jim Clemmer - Leadership Developement)

6- Định nghĩa mang tính mô tả:

“Nhà lãnh đạo có thể được so sánh với chất xúc tác, chất tạo ra phản ứng hoá học khi được trộn với hỗn hợp khác Lãnh đạo cũng được ví như người chỉ huy dàn nhạc, người khiến cho các nhạc công của mình thể hiện tốt nhất và tạo

ra một bản giao hưởng hay Thiếu đi nhạc trưởng, dàn nhạc sẽ chơi không đồng

đều và không kết hợp được với nhau”

“Lãnh đạo là hướng dẫn hoặc chỉ đạo một quá trình hoạt động Lãnh đạo

là gây ảnh hưởng đến hành vi hoặc quan điểm của người khác Tất cả chúng ta cần trở thành lãnh đạo mà không cần quan tâm đến chức danh hay vai trò của chúng ta Điều này sẽ bắt đầu bằng việc tự lãnh đạo chính mình và dần dần gây

ảnh hưởng, hướng dẫn, hỗ trợ và dẫn dắt người khác”

(Theo Jim Clemmer - Leadership Developement)

Trang 18

Qua các định nghĩa (nhóm định nghĩa) trên, chúng tôi thấy nội hàm của các khái niệm lãnh đạo gồm các nội dung sau đây:

1/ Lãnh đạo (leader) là khái niệm chỉ một chủ thể (cá nhân hay nhóm) có vai trò dẫn dắt, lựa chọn mục tiêu, tập hợp, động viên một nhóm, cộng động (tổ chức) nhất định phấn đấu cho mục đích chung

2/ Lãnh đạo (leadership) là khái niệm chỉ sự lãnh đạo của một chủ thể lựa chọn mục tiêu, tập hợp, động viên một nhóm, cộng đồng (tổ chức) nhất định phấn đấu cho mục đích chung

3/ Lãnh đạo xuất hiện khi xã hội hay nhóm xã hội đạt đến một trình độ phát triển nhất định, vượt qua trình độ tổ chức bầy đàn, hay đám đông ô hợp, tức

là xã hội đã bước vào giai đoạn văn minh

4/ Lãnh đạo xuất hiện do nhu cầu của xã hội, như trình độ, phẩm chất người của con người được thể hiện ở một chủ thể nhất định (đó là năng lực, kỹ năng, nghệ thuật, khoa học, đạo đức của một cá nhân hay nhóm) có vai trò dẫn dắt người khác

Từ đó có thể đưa ra một quan niệm về “lãnh đạo” như sau:

Lãnh đạo (sự lãnh đạo) là khái niệm chỉ việc xác định mục tiêu chiến lược, sách lược và tác động, thúc đẩy, tạo động lực cho người khác phấn đấu

đạt mục đích chung của nhóm, cộng đồng (tổ chức) xã hội

Hay như V.I.Lênin khái quát “lãnh đạo là chỉ dẫn, là điều khiển, là ra lệnh

1 V.I.Lênin: Toàn tập, Tập 4, Nxb Tiến bộ, M.1974, tr.596

Trang 19

Đạo: nghĩa gốc chỉ con đường, cùng với nghĩa cụ thể là đường đi, nó còn

có nghĩa là đường lối, nguyên tắc (trừu tượng) mà người ta có bổn phận giữ gìn

và tuân theo trong cuộc sống xã hội

Vậy, lãnh đạo theo nghĩa Hán - Việt cũng là vạch ra đường lối, chủ trương

và tổ chức, động viên thực hiện đường lối, chủ trương đó

1.1.2 Quan niệm về quản lý

Cũng giống như khái niệm lãnh đạo, khái niệm quản lý mới xuất hiện trong những thế kỷ gần đây, tuy ý niệm về quản lý đã ra đời từ khi nhân loại bước vào trạng thái xã hội người

Hiện nay trên trang Google, tài liệu nói về “quản lý’ rất phong phú:

1- Mục “Menager” - “management” có trên 1.340.000 tài liệu

2- Mục “Director” có 46.000.000 tài liệu

3- Mục “Administration” có 21.500.000 tài liệu

4- Mục “Governance” có 1.180.000 tài liệu

Khái niệm “Menager” - “management” quản lý có mặt trong rất nhiều nhóm, cộng đồng (tổ chức): chính quyền, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trung tâm tư vấn, tôn giáo, xã hội, dịch vụ… tóm lại là trong các tổ chức chính trị, kinh

tế, xã hội của nhà nước và xã hội dân sự Do vậy, cũng có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý Chúng tôi đã thống kê được hàng chục quan niệm khác nhau ấy Sau đây, chúng tôi cũng phân loại các định nghĩa quản lý theo nhóm với các nội dung chính mà các định nghĩa đó nhấn mạnh:

1- Định nghĩa nhấn mạnh đến chức năng:

Quản lý là “việc thực hiện các mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả và hiệu suất tốt, thông qua lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo (động từ) và kiểm soát nguồn lực của tổ chức (danh từ)”

(Daft, 2000, tr.7) Quản lý “nói đến quá trình phối hợp các hoạt động làm việc để chúng được triển khai một cách có hiệu quả và hiệu suất tốt với và thông qua những người khác”

(Pobbins và cộng sự, 2003, tr.8)

Trang 20

Quản lý được “định nghĩa là quá trình hợp tác và sử dụng các nhóm nguồn lực theo định hướng mục tiêu để thực hiện các nhiệm vụ trong bối cảnh tổ chức”

(Hitt và cộng sự, 2007, tr.8)

2- Định nghĩa nhấn mạnh vào sự tác động:

“Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới

đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra”

(Viện Quản lý kinh tế - Học viện CTQG Hồ Chí Minh)

“Quản lý là dựa trên chủ trương, đường lối để đề ra sự tác động có kế hoạch, có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm

đạt mục tiêu đề ra.”

(Đại Từ điển tiếng Việt, Nguyễn Như ý chủ biên)

3- Định nghĩa nhấn mạnh quản lý như một nghề nghiệp:

Người quản lý “suy cho cùng là người có trách nhiệm và chịu trách nhiệm

về thành quả/kết quả làm việc của người khác”

“Việc người quản lý làm là cái tạo nên người quản lý”

4- Định nghĩa nhấn mạnh khía cạnh l∙nh đạo:

Người quản lý là “người làm việc với con người và thông qua con người bằng cách điều phối hoạt động công việc của họ nhằm đạt tới mục tiêu của tổ chức”

(Pobbins và cộng sự, 2003, tr.8)

“Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu

vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có một nhạc trưởng”

(C.Mác - Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb CTQG, H.1993, Tập 23, tr.480)

5- Định nghĩa nhấn mạnh quyền lực chỉ huy:

“Không một hoạt động chung nào có thể có được nếu không áp đặt cho một số người ý chí của người khác, nghĩa là nếu không có uy quyền Dù đó là

Trang 21

của một người - thì đó luôn luôn sẽ là của một uỷ ban lãnh đạo, hay của một người - thì đó luôn luôn sẽ là ý chí áp đặt cho những người có tư tưởng khác, nhưng nếu không có ý chí, thống nhất và chỉ đạo đó thì sẽ không có bất cứ lao

động chung nào Thử bắt một công xưởng ở Bác-xê-lô-na làm việc mà không có

sự chỉ huy, nghĩa là không có quyền uy xem sao”

(C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Tập 33, Nxb CTQG, H 1997, tr.446)

Qua các định nghĩa (nhóm định nghĩa) trên, nội hàm của khái niệm “quản lý” gồm những nội dung sau:

1/ Quản lý “Manager” là khái niệm chỉ một chủ thể (cá nhân hay nhóm)

có vai trò tổ chức, điều hành một nhóm, cộng đồng (tổ chức) thực hiện mục tiêu,

kế hoạch được giao phó

2/ Quản lý “Managerment” là khái niệm chỉ sự quản lý của một chủ thể có vai trò tổ chức, điều hành một nhóm, cộng đồng (tổ chức) thực hiện mục tiêu, kế hoạch được giao phó

3/ Quản lý xuất hiện khi xã hội đạt đến một trình độ nhất định và các tổ chức (chính trị, xã hội, kinh tế, tôn giáo…) xã hội ra đời

4/ Quản lý xuất hiện do nhu cầu xã hội và là một biểu hiện của năng lực, phẩm chất người của con người

Từ sự phân tích trên có thể đưa ra một quan niệm về quản lý như sau:

Quản lý (sự quản lý) là khái niệm chỉ việc tổ chức, điều hành một nhóm, cộng đồng (tổ chức) thực hiện mục tiêu, kế hoạch được đề ra

• Để hiểu rõ khái niệm “quản lý” theo tư duy phương Đông, cũng cần phải giải nghĩa Hán - Việt của từ “quản lý”:

Quản: là hoạt động trông coi, điều khiển để duy trì trạng thái vận động và phát triển của một sự vật, hiện tượng, nhóm, cộng đồng (tổ chức) xã hội

Lý: chỉ quy luật tự nhiên của một sự vật, hiện tượng; là quan niệm, nguyên tắc, quy phạm của luân lý Bên cạnh đó, “lý” còn là điều được coi là hợp lẽ phải,

là pháp luật, là quy định chung mà mọi người phải tuân theo

Trang 22

Vậy, quản lý là hoạt động trông coi, điều khiển để sự vật, hiện tượng vận

động và phát triển theo đúng quy luật của nó Cũng có thể hiểu quản lý là hoạt

động trông coi, điều khiển và tổ chức hoạt động của một nhóm, cộng đồng (tổ chức) thực hiện đúng quy định (mục tiêu, kế hoạch, pháp luật) đã đề ra

Nhìn chung, quản lý có tầm quan trọng như sau:

“- Quản lý giúp xác định mục tiêu, hoạch định kế hoạch hành động và tổ chức thực hiện

- Quản lý giúp cá nhân, nhóm, tổ chức đạt được mục đích đã xác định

- Quản lý giúp các thành viên của tổ chức thoả mãn được nhu cầu phát triển cá nhân và xã hội

- Quản lý giúp xây dựng, phát triển và thể hiện hệ giá trị, niềm tin, động cơ, chuẩn mực văn hoá của tổ chức và của các thành viên

- Quản lý giúp các thành viên của tổ chức này tiếp xúc và quan hệ với các

1.1.3 Mối quan hệ giữa l∙nh đạo với quản lý

Phân tích nội hàm khái niệm “lãnh đạo” và “quản lý”, chúng ta thấy có những nội dung trùng nhau, nên đôi khi, người ta không phân biệt rõ hai khái niệm này trong nhận thức và cả trong đời sống thực tiễn Do vậy, cần phải làm rõ mối quan hệ giữa hai khái niệm “lãnh đạo” và “quản lý”

1.1.3.1 Sự gắn kết giữa lãnh đạo và quản lý (sự tương liên)

1 Lê Ngọc Hùng: Xã hội học kinh tế Nxb Lý luận chính trị H 2004

Trang 23

- Như phần trên đã trình bày, lãnh đạo, quản lý đều xuất hiện khi xã hội

đạt đến một trình độ nhất định (thời đại văn minh) Khi đó, hoạt động sống của con người và nhóm, cộng đồng người trở nên phức tạp hơn nên cần có sự tổ chức,

điều khiển hướng tới và đạt đến một mục đích nhất định

- Giai đoạn đầu của thời đại văn minh, người lãnh đạo đồng thời là người quản lý và hoạt động lãnh đạo đồng thời là hoạt động quản lý Chủ nghĩa tư bản

ra đời, trước cuộc cách mạng công nghiệp ở châu Âu thế kỷ XVIII, một ông chủ tư bản (chủ doanh nghiệp) là người lãnh đạo doanh nghiệp cũng đồng thời là nhà quản lý doanh nghiệp Có thể nói, tại những thời điểm đó chưa có sự phân biệt lãnh đạo với quản lý

- Trong xã hội hiện đại, do sự phát triển của kinh tế, chính trị, xã hội, tuy

có sự tách biệt giữa vai trò/chức năng lãnh đạo với quản lý (người lãnh đạo với người quản lý), song giữa hai vai trò/chức năng và hai con người (lãnh đạo và quản lý) vẫn ít nhiều có những hoạt động giống nhau Trong hoạt động lãnh đạo

có hoạt động quản lý, trong hoạt động quản lý có hoạt động lãnh đạo, tất nhiên mức độ khác nhau

- ở một số nhóm, cộng đồng (tổ chức) xã hội đặc thù, do cơ cấu tổ chức của nó mà hai vai trò/chức năng lãnh đạo, quản lý không hoàn toàn tách bạch một cách rõ ràng Chẳng hạn, trong hệ thống chính trị, hành chính của chúng ta,

về mặt hữu thức, chúng ta phân biệt “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý”, song

Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất “cầm quyền”, nên trong thực tế hai vai trò/chức năng đó có sự lẫn lộn Trong hệ thống hành chính quốc gia, ở cấp cơ

sở, chức năng quản lý rất rõ; nhưng các cấp trên, từ huyện, quận đến tỉnh và Trung ương, ngoài chức năng quản lý còn thực hiện chức năng lãnh đạo Hệ thống các doanh nghiệp, các công ty sản xuất kinh doanh cũng có tình hình như

hệ thống hành chính Người đứng đầu các doanh nghiệp nhỏ trực thuộc hoặc các công ty con, chức năng quản lý rất rõ; còn người đứng đầu tập đoàn, công ty mẹ vừa có chức năng quản lý vừa có chức năng lãnh đạo

Trang 24

- Sự giống nhau giữa lãnh đạo và quản lý còn ở chỗ đều tác động đến con người, đều làm việc với con người và phát huy năng lực của con người để đạt đến một mục tiêu chung Như trên đã trình bày, trong những nhóm cộng đồng (tổ chức) xã hội và trong những quan hệ nhất định, sự lãnh đạo bao gồm sự quản lý và

sự quản lý bao gồm cả sự lãnh đạo; người lãnh đạo đồng thời là người quản lý và ngược lại, hay người quản lý làm cả công việc, một phần công việc quản lý và người quản lý cũng phải làm công việc lãnh đạo hay một phần công việc lãnh đạo

Lãnh đạo và quản lý là hai phương diện hoạt động gắn kết và thống nhất chặt chẽ với nhau, nhưng không đồng nhất với nhau Việc vạch ra ranh giới rạch ròi giữa hai phương diện này là không hề đơn giản Nhưng về tổng thể, có thể coi lãnh đạo là lĩnh vực liên quan đến vĩ mô, đến bức tranh toàn cảnh, đến tầm nhìn

và những câu hỏi chiến lược, liên quan đến những vấn đề chủ chốt, những giá trị lâu bền và nhất quán Lãnh đạo thiên về tầm nhìn chiến lược, còn quản lý thiên

về tác nghiệp Lãnh đạo là xác định vấn đề đâu là mục tiêu và sứ mệnh của nhóm, cộng đồng (tổ chức), còn quản lý có trách nhiệm vận hành các bước theo những chu trình nhất định để đạt được các mục tiêu đó Khi nói lãnh đạo là nhấn mạnh quá trình định hướng cho khách thể, còn khi nói quản lý là nhấn mạnh đến việc điều hành hoạt động, là quá trình tổ chức, sắp xếp, bố trí để thực hiện định hướng của lãnh đạo Quá trình lãnh đạo là quá trình làm thức tỉnh nhận thức, hành vi của con người, định hướng hoạt động cho con người và xã hội thông qua

hệ thống cơ chế, đường lối, chủ trương, chính sách Trong lãnh đạo, con người vừa là khách thể, vừa là chủ thể của mọi tác động Nhưng đối tượng tác động của quản lý vừa có thể là con người, vừa có thể là công cụ Trong quản lý, người quản lý tác động mang tính điều khiển, vận hành thông qua những thiết chế mang tính pháp quy đã được định sẵn Với ý nghĩa đó, vai trò/chức năng quản lý

là sự tiếp tục của vai trò/chức năng lãnh đạo, là bước đi kế tiếp của lãnh đạo, là yếu tố, là khâu tất yếu để mục tiêu do sự lãnh đạo đề ra được hiện thực hoá

Tất nhiên, sự phân biệt giữa chủ thể lãnh đạo và chủ thể quản lý chỉ mang tính tương đối Trong thực tế, lãnh đạo không tách rời quản lý Người lãnh đạo

Trang 25

nào cũng vậy, khi thực hiện vai trò/chức năng của mình đồng thời cũng phải thực hiện các thao tác quản lý như: bố trí công việc, giao nhiệm vụ cho người dưới quyền và thường xuyên đôn đốc kiểm tra việc thực hiện Và ngược lại, người có năng lực quản lý giỏi phải là người có tầm lãnh đạo, chỉ đạo, chứ không phải chỉ thuần tuý tác nghiệp, sự vụ

Nhưng dù sao lãnh đạo, quản lý cũng là hai vai trò/chức năng khác nhau, chúng đòi hỏi người lãnh đạo, người quản lý có những năng lực, phẩm chất khác nhau và cách thức tác động đến đối tượng cũng khác nhau Dưới đây, chúng tôi

đưa ra một bảng so sánh giữa lãnh đạo với quản lý để làm rõ điều đó:

Bảng so sánh sự khác nhau giữa lãnh đạo với quản lý

Lãnh đạo (người lãnh đạo) Quản lý (người quản lý)

1 Vai trò khơi nguồn - thuyết phục, nêu

gương, động viên người khác làm việc

1 Vai trò chỉ huy - ra lệnh, bắt buộc, kiểm soát cấp dưới làm việc

2 Quan hệ dẫn dắt để người khác nguyện

theo là vị trí xuất phát từ ý tưởng, phục vụ

mọi người (đầy tớ của nhân dân) - ai

cũng có thể trở thành lãnh đạo

2 Quan hệ chỉ huy, cấp trên có cấp dưới phục tùng, là vị trí được đặt ra,

được sắp xếp để quản lý, điều hành

3 Truyền cảm hứng dựa vào ảnh hưởng

và quan hệ giữa con người với con người

3 Sử dụng quyền lực yêu cầu cấp dưới hoàn thành nhiệm vụ

4 Khuyến khích con người thay đổi,

sáng tạo cái mới

4 Đòi hỏi cấp dưới tuân thủ quy

6 Sáng tạo ý tưởng mới - người sáng tạo

thứ nhất, làm cho đúng công việc (phát

triển tầm nhìn, xây dựng chiến lược)

6 Quản trị và duy trì hoạt động - người sáng tạo thứ hai, làm các việc cho đúng (lập kế hoạch chi tiết, thực hiện theo tiến độ)

7 Đưa ra ý tưởng và định hướng chiến 7 Đưa ra kế hoạch thực hiện mang

Trang 26

lược, quan tâm tới tương lai, tập trung

11 Quan tâm tới hiệu quả, kết quả của

sự lãnh đạo (con người - xã hội)

11 Quan tâm tới năng suất, hiệu suất (tối đa hoá năng suất)

12 Kết nối ý tưởng, giải quyết các quan

hệ lợi ích của nhiều bên

12 áp đặt ý tưởng của mình, đáp ứng lợi ích của từng cá nhân

1.2 Văn hoá và văn hoá lãnh đạo, quản lý

1.2.1 Quan niệm về văn hoá

Để làm rõ khái niệm văn hoá lãnh đạo, văn hoá quản lý, không chỉ làm rõ khái niệm lãnh đạo, quản lý mà còn phải làm rõ khái niệm văn hoá Văn hoá là một khái niệm đa nghĩa, rất khó xác định Nhà nghiên cứu người Pháp J Derrida

đã nói: “Văn hoá là cái tên mà chúng ta đặt cho điều bí ẩn không cùng đối với những ai ngày nay đang tìm cách suy nghĩ về nó”1 Đến nay, trên thế giới đã có khoảng năm trăm định nghĩa về văn hoá (trên trang Google có 9.390.000 tài liệu

về văn hoá) Chính vì vậy, chúng tôi thấy cần phải đưa ra một quan niệm về văn hoá làm cơ sở cho việc triển khai đề tài Nếu không giới hạn nội dung của khái niệm văn hoá thì rất khó xác định khái niệm văn hoá lãnh đạo, văn hoá quản lý

Trong mấy trăm định nghĩa về văn hoá, chúng tôi chọn định nghĩa ngắn gọn của Tổ chức Văn hoá - khoa học - giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) nêu ra

trong lễ phát động Thập kỷ thế giới văn hoá vì phát triển, ngày 21/1/1998 tại New

1 Dẫn theo Hồ Sĩ Quý: Tìm hiểu về văn hoá và văn minh, Nxb Chính trị quốc gia, H.1999, tr.28

Trang 27

York: “Văn hoá là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của các cá nhân và cộng đồng, trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy

đã hình thành tạo nên hệ thống giá trị, các truyền thống, thị hiếu - đặc trưng riêng của mỗi dân tộc” Chúng tôi chọn định nghĩa này bởi mấy lẽ sau:

- UNESCO tập hợp được hầu hết các quốc gia trên thế giới và tập trung

được ý kiến của nhiều nhà khoa học và hoạt động chính trị - xã hội nổi tiếng của nhiều nước, nên quan niệm của nó mang tính đại diện và tính khoa học cao

- Quan niệm về văn hoá này (UNESCO còn có định nghĩa dài hơn về văn hoá nhưng không có tính khái quát cao, chúng tôi không sử dụng) của UNESCO

có những nội dung cơ bản phù hợp với tư tưởng của C.Mác và Hồ Chí Minh về văn hoá Chẳng hạn, về nguồn gốc và bản chất của văn hoá C.Mác cho rằng:

“Căn cứ vào mức độ tự nhiên được con người biến thành bản chất người, tức là mức độ tự nhiên được con người khai thác, cải tạo thì có thể xét được trình độ văn hoá chung của con người” (Bản thảo kinh tế - triết học 1844) Văn hoá do

con người sáng tạo ra, là kết quả hoạt động người của con người Văn hoá chính

là năng lực bản chất người của con người Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu và đòi hỏi của sự sinh tồn”1

Định nghĩa văn hoá trên của UNESCO không những chỉ rõ nguồn gốc, bản chất mà còn bao quát đầy đủ các đặc trưng của văn hoá: Văn hoá mang tính nhân sinh, tính lịch sử, tính hệ thống, tính giá trị và mang tính dân tộc

Văn hoá là kết quả của sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội “Văn hoá là tất cả những gì không phải là tự nhiên,

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, H.1995, tr.431

Trang 28

nghĩa là tất cả những gì do con người, ở con người và liên quan trực tiếp đến con

người” (Phạm Văn Đồng: Văn hoá và đổi mới) Văn hoá là đặc trưng bản chất

của con người, của loài người Liên quan đến văn hoá, xin lưu ý câu nói nổi tiếng

của C.Mác trong Luận cương về Phoiơbắc: “Trong tính hiện thực của nó, bản

chất của con người là tổng hoà các quan hệ xã hội” Nghiên cứu văn hoá là nghiên cứu các mối quan hệ xã hội của con người - đây là vấn đề có tính phương pháp luận nghiên cứu về văn hoá và văn hoá lãnh đạo, văn hoá quản lý

Văn hoá chính là con người, là sức mạnh bản chất của con người, thể hiện trong hoạt động sống và phương thức sống của con người, thể hiện trong bản thân sự phát triển và tầm vóc của con người Thực chất văn hoá là một phạm trù

đa diện, có biểu hiện bề ngoài và chiều sâu bên trong, vừa là hiện tượng vừa là bản chất, vừa là giá trị vừa là sức mạnh của con người Cần phải tiếp cận nội hàm của khái niệm văn hoá như một chỉnh thể với ba chiều cạnh cơ bản sau:

- Văn hoá là trình độ phát triển con người, phát triển xã hội - tiếp cận từ góc độ lịch sử

- Văn hoá là toàn bộ giá trị tinh thần, giá trị vật chất (cái tinh thần được vật hoá trong vật thể vật chất) do con người sáng tạo ra - tiếp cận từ góc độ giá trị

- Văn hoá là những năng lực, phẩm chất người - tiếp cận từ góc độ nhân cách

Tiếp cận toàn diện như vậy, chúng ta thấy văn hoá thực sự là bản chất, đặc trưng, sức mạnh của con người - chủ thể xã hội Đồng thời con người vừa là chủ thể vừa là sản phẩm của văn hoá Các hoạt động xã hội của con người, trong đó có hoạt động lãnh đạo, quản lý, vừa biểu hiện trình độ văn hoá vừa biểu hiện phẩm chất văn hoá của con người Hiểu theo nghĩa rộng, “văn hoá là trình độ phát triển lịch sử nhất định của một xã hội, sự sáng tạo và năng lực của con người trong xã hội ấy biểu hiện ở các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hoạt động, cũng như trong các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra”1 Từ đó ta mới có

1 Viện Chính trị học - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Tập bài giảng Chính trị học, Nxb Chính trị quốc

Trang 29

văn hoá lao động, văn hoá giao tiếp, văn hoá tư duy, văn hoá đạo đức, văn hoá thẩm mỹ, văn hoá chính trị, văn hoá lãnh đạo, văn hoá quản lý v.v

1.2.2 Văn hoá l∙nh đạo, quản lý

1.2.2.1 Mối quan hệ giữa văn hoá với lãnh đạo, quản lý

Như phân tích ở phần trên, văn hoá và lãnh đạo, quản lý có quan hệ hữu cơ với nhau trong đời sống xã hội của con người

Con người khi hình thành về mặt giống loài thì không còn là con người sinh vật thuần tuý, mà trở thành con người xã hội - con người văn hoá Nói khác

đi, bắt đầu từ đây quy luật sinh học chỉ giữ vai trò thứ yếu, thay vào đó là quy luật xã hội chi phối sự phát triển của loài người

Hoạt động sống của con người bao gồm ba dạng chính: hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động tinh thần và hoạt động tổ chức, quản lý xã hội (phân chia một cách trừu tượng hoá, còn trong đời sống hiện thực chúng thâm nhập vào nhau) Sống bao giờ cũng là sống với người khác, sống với cộng đồng, cho nên,

về bản chất, các hoạt động đều mang tính xã hội Điều đó có nghĩa là hoạt động xã hội của con người cần đến sự hợp tác của nhiều người và phải được tổ chức, quản lý, phải có người chỉ huy Xã hội cần cử ra người tổ chức, chỉ huy, phân công trách nhiệm cho từng người (từng nhóm), sau đó phải đôn đốc thực hiện, có chế độ thưởng phạt nghiêm minh, có quy định về phân phối, hưởng thụ các kết quả hoạt động của cộng đồng Xã hội phát triển đến trình độ đó tức là xã hội đã

đạt đến trình độ văn minh và có văn hoá

Chính vì vậy, ở Trung Quốc, ngay từ thời cổ đại, người ta coi văn hoá vừa là trình độ tổ chức, quản lý xã hội vừa là phương thức tổ chức, cai trị xã hội tốt nhất Theo Từ Hồng Hưng, nhà nghiên cứu văn hoá Trung Quốc: “Văn hoá thời xưa được coi là “văn trị giáo hoá”, chế độ, điển chương, lễ nhạc”1 Tức là lấy văn hoá để giáo hoá, cải hoá con người, đưa họ vào trật tự, kỷ cương, phép tắc, lễ nghĩa mà tổ chức, cai trị họ Một xã hội đạt được trình độ có thể chế (chế độ), có quy chế (điển lễ) là

Trang 30

một xã hội văn minh Văn trị giáo hoá là một trình độ tổ chức đời sống xã hội Từ

đó xuất hiện khái niệm “Văn hoá thể chế’, “Văn hoá chế độ” (Xem hộp 2) Không những thế, “văn trị giáo hoá” còn là một phương thức tổ chức, quản lý xã hội mang tính nhân văn như Lưu Hướng, nhà tư tưởng thời Tây Hán (thế kỷ II trước công

nguyên), trong sách Thuyết uyển chỉ vũ đã viết: Thánh nhân cai trị thiên hạ, trước

hết dùng văn đức (văn hoá), sau mới dùng vũ lực Dùng vũ lực chỉ để đối phó với kẻ bất phục tùng Dùng văn đức không thay đổi được thì sẽ chinh phạt Như vậy, theo

ông, văn đức là cái đối lập với vũ lực, văn trị đối lập với vũ trị, dùng văn trị là phương thức lãnh đạo, quản lý xã hội tốt đẹp nhất

Cách giải thích này ở Trung Quốc vẫn được bảo tồn cho đến ngày nay,

đương nhiên nó không hoàn toàn giống nghĩa từ “cultura” của phương Tây cổ

đại Song, nếu tiếp cận khái niệm văn hoá “cultura” từ góc độ lịch sử, văn hoá là trình độ phát triển lịch sử của con người, của xã hội thì quan niệm trên là một sự

bổ sung cho nội hàm của nó Từ đó cho thấy, văn hoá và lãnh đạo, quản lý đều là kết quả của quá trình phát triển lịch sử của con người và do nhu cầu xã hội sản sinh ra Chúng gắn bó với nhau, biểu hiện lẫn nhau: văn hoá sinh ra do nhu cầu

tổ chức, quản lý đời sống xã hội và ngược lại xã hội được tổ chức, quản lý là xã hội đạt đến một trình độ văn hoá nhất định

Hộp 2: Văn hoá thể chế - bộ phận cấu thành của một văn hoá tổng thể

Trong quá trình tiến hoá lâu dài của giới tự nhiên, đến một lúc nào đó thì xuất hiện con người Khi con người hình thành về mặt giống loài, thì nó trở thành con người hoạt động Nói con người hoạt động là chỉ hành động hữu thức chỉ có ở con người, vận hành theo quy chế xã hội, khác hoàn toàn với tập tính hành vi động vật, di truyền theo cơ chế bản năng của loài ấy

Hoạt động kiếm sống là hoạt động tinh thần đầu tiên mà con người đạt được nhờ tiến hoá lịch sử

Xưa nay chúng ta thường quen gọi hoạt động kiếm sống là hoạt động vật chất Theo tôi, đấy là cách nói tắt của báo chí, chỉ những hoạt động tạo ra vật thể (lương thực, thực phẩm…) đáp ứng nhu cầu tồn tại về mặt vật chất của con người

Thực ra, hoạt động kiếm sống của loài người là một dạng lao động sáng tạo, C.Marx gọi đó là hoạt động lịch

sử đầu tiên của con người Mà hoạt động sáng tạo nào cũng phải trải qua hai giai đoạn:

1/ Sản xuất ra biểu tượng (hình thành trong đầu óc người, tựa như bản thiết kế của nhà kiến trúc);

2/ Tiến hành khách thể hoá biểu tượng đó thành vật thể, giúp cho nó tồn tại trong ký ức xã hội

Cả hai giai đoạn trên đều nằm trong quá trình hoạt động sản xuất tinh thần của con người Trong giáo trình

“Văn hoá học xã hội”, giáo sư B.X.Ê-ra-xốp, người Nga, gọi quá trình đó là văn hoá - cái làm phân biệt giữa xã hội người và quần thể động vật

Qua phân tích ở trên, có thể nêu nhận xét: “Mọi hoạt động xã hội hữu thức của con người đều có thể xem như là hoạt động sản xuất tinh thần, tức hoạt động văn hoá” [Bởi bất cứ hoạt động sản xuất nào cũng cho ra

đời một dạng sản phẩm nào đó, thậm chí nếu ngồi thiền được xem là một hoạt động tinh thần, thì sản phẩm của nó là sự thanh thản] C.Marx gọi phẩm chất đặc biệt này là “các lực lượng bản chất người” - tức là những năng lực lao động sáng tạo mang tính chất xã hội

Khi nhìn nhận xã hội như một hệ thống sản xuất xã hội, có thể hình dung ra 4 loại hình sản xuất như sau:

Trang 31

1, Sản xuất ra con người đáp ứng nhu cầu phát triển nòi giống, tái sản sinh ra loài ngày càng có phẩm chất cao hơn;

2, Sản xuất vật chất là việc tổ chức khai thác và sử dụng các đối tượng vật thể, đáp ứng các nhu cầu tồn tại vật thể của con người như: ăn, mặc, ở, đi lại, sản xuất, chiến đấu, tự vệ… nhằm duy trì và nâng cao đời sống vật chất theo hướng ngày càng thêm hoàn thiện;

3, Sản xuất tinh thần là việc tổ chức quá trình sản xuất, bảo quản, phân phối và tiêu dùng các sản phẩm tinh thần, nhằm tái sản sinh ra nhân cách người ngày càng nhân bản hơn;

4, Sản xuất ra những quy phạm xã hội (social normes) liên quan đến việc tổ chức quản lý các mối quan hệ người, nhằm tối ưu hoá 3 loại hình sản xuất bên trên là: sản xuất con người, sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần

Để đáp ứng các nhu cầu cơ bản của con người, xã hội đã thiết lập nên các thể chế tương ứng Nhà xã hội học Hoa Kỳ J.H.Fichter cho rằng trong khuôn khổ của một xã hội truyền thống thường phải có đủ 6 loại thể chế là:

TT Nhu cầu Thể chế Loại hình sản xuất Các phạm trù văn hoá

3 Giao tiếp với thần linh

lọc và thăng hoa tình cảm

5 Giải trí - sáng tạo nghệ thuật

Trong cuốn sách Triết học văn hoá xuất bản ở Việt Nam năm 2005, tác giả Y Tuấn Huông chỉ phân chia văn

hoá thành 3 thành tố, trong đó ông ghép văn hoá thể chất với văn hoá vật chất làm một và gọi chung là Văn hoá vật chất, còn thuật ngữ Institutional Culture thì được dịch là “Văn hoá chế độ”

Điều cần nhấn mạnh là: mọi ý đồ sáng tạo của con người phải được khách thể hoá thành một dạng sản phẩm nào

đó, thì quá trình sáng tạo mới được coi là hoàn tất Các quan hệ giao tiếp của con người cũng như vậy Việc chào hỏi, nói năng… nếu không được khuôn mẫu hoá, rồi trở thành tập quán thì hoạt động giao tiếp không thể nào vận thông được Sự khách thể hoá các ý đồ sáng tạo trong lĩnh vực quản lý xã hội được gọi là thể chế hoá Nước ta hiện nay thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý Khi mối quan hệ này chưa được thể chế hoá thì các hoạt

động lãnh đạo và quản lý thường không rành mạch, khi thì giẫm chân lên nhau, khi thì bỏ khoáng công việc, không

rõ ai chịu trách nhiệm

Xuất phát từ nhu cầu an sinh xã hội của loài người, văn hoá thể chế ra đời cùng với sự hình thành đời sống xã hội, nó không phải là hiện tượng lịch sử, mà tồn tại vĩnh viễn cùng với lịch sử xã hội loài người

Trong xã hội có mâu thuẫn đối kháng, văn hoá thể chế thường bị các giai cấp thống trị chiếm đoạt, nó giữ vai trò chi phối đối với các thành tố văn hoá còn lại, biến các thành tố ấy trở thành thân phận “người thị tỳ” phục vụ cho giai cấp thống trị Nói khác đi là, trong xã hội truyền thống, các thành tố trong một nền văn hoá không được coi là ngang bằng nhau, hoạt động tổ chức - quản lý xã hội được “thiêng hoá” theo “thiên mệnh”, nó như một cái gì ở trên trời áp xuống đè nặng lên xã hội loài người, làm cho người lao động cảm thấy thân phận mình chỉ như

“con sâu”, “cái kiến”

Vì thế, ngàn đời nay, người nông dân thường mơ ước tới một xã hội “đại đồng”, tức một xã hội trong đó các thành tố của kết cấu văn hoá không còn xây dựng trên nguyên tắc khinh/trọng, mà trên một sự bình đẳng theo quan hệ chức năng của một xã hội hoà đồng - một xã hội không còn có sự đối lập giữa kẻ thống trị với đa số người bị cai trị.

Trang 32

Tiếp cận văn hoá từ bình diện giá trị, lãnh đạo, quản lý là những phương thức, cách thức, công nghệ tổ chức đời sống xã hội của con người, do con người chọn lựa nhằm giúp các nhóm, cộng đồng người tồn tại và phát triển, nên chúng mang ý nghĩa văn hoá Theo quan điểm giá trị học, giá trị có thể là hữu hình hoặc vô hình, tĩnh hoặc động, không chỉ các sản phẩm vật chất mới là giá trị mà truyền thống, nếp sống, tư tưởng, thiết chế xã hội, thông tin, các hoạt động, công nghệ, quy trình, phương thức, quan hệ… đều có thể là giá trị Vì vậy, mọi sản phẩm hoạt động của con người đều có thể là giá trị khi chúng có ý nghĩa với con người, mang lại lợi ích cho con người và con người cần đến chúng như một nhu cầu Tất nhiên, giá trị còn tuỳ thuộc vào thời gian, không gian, tiêu chí và chủ thể đánh giá

Tiếp cận văn hoá từ góc độ lý luận nhân cách thì lãnh đạo, quản lý là những phẩm chất của con người Đặc biệt đối với chủ thể lãnh đạo, chủ thể quản

lý thì năng lực lãnh đạo, năng lực quản lý là những năng lực đặc thù của năng lực bản chất người Chính các quan hệ xã hội của con người đã sản sinh ra năng lực lãnh đạo, quản lý Chính các quan hệ xã hội của con người đã sản sinh ra nhu cầu về lãnh đạo, quản lý và tạo tiền đề thực hiện nhu cầu đó, giúp cho năng lực của chủ thể lãnh đạo, quản lý ngày càng phát triển, càng được nâng cao Quan hệ xã hội của con người ngày càng phong phú, đa dạng và ngày càng tinh tế, phức tạp, đòi hỏi phẩm chất, năng lực lãnh đạo, quản lý cũng phải phát triển phong phú, đa dạng, tinh tế hơn

Như vậy, văn hoá và lãnh đạo, quản lý có quan hệ hữu cơ với nhau từ trong bản chất xã hội sâu xa của con người, của xã hội Nói đến chức năng xã hội của văn hoá là nói đến vai trò của nó trong tổ chức, quản lý xã hội và ngược lại, nói đến việc tổ chức, quản lý xã hội không thể không gắn với văn hoá, một năng lực đặc biệt của con người

1.2.2.2 Xác định một quan niệm về văn hoá lãnh đạo, văn hoá quản lý

Từ mối quan hệ giữa văn hoá với lãnh đạo, quản lý như đã phân tích ở trên, chúng ta tìm đến một quan niệm về văn hoá lãnh đạo, văn hoá quản lý và mối quan hệ giữa văn hoá lãnh đạo với văn hoá quản lý

Trang 33

• Khái niệm văn hoá l∙nh đạo

Yêu cầu đặt ra với việc xác định một khái niệm là chỉ ra những đặc trưng cần và đủ của đối tượng mà khái niệm đó bao quát Cũng như khái niệm văn hoá, khái niệm văn hoá lãnh đạo có rất nhiều quan niệm khác nhau Nhưng bất kỳ khái niệm nào cũng phải giải quyết được những vấn đề thực tiễn đặt ra thì mới có

ý nghĩa khoa học

Khái niệm văn hoá lãnh đạo được tạo ra bởi sự kết hợp khái niệm “văn hoá” với khái niệm “lãnh đạo”, vấn đề đặt ra là phải trả lời câu hỏi: yếu tố nào của “lãnh đạo” thuộc về văn hoá? Để trả lời câu hỏi đó, chúng ta dựa vào cách tiếp cận văn hoá từ các phương diện sau để xem xét:

- Tiếp cận văn hoá từ góc độ lịch sử: Văn hoá là trình độ phát triển

người, phát triển xã hội, do vậy văn hoá lãnh đạo chính là sự lãnh đạo (hoạt động lãnh đạo, chủ thể lãnh đạo) đã đạt đến trình độ được thể chế hoá Tức là phải đạt

đến trình độ tạo ra các quy định về vai trò, chức năng, trách nhiệm, quyền hạn của chủ thể lãnh đạo trong quan hệ với khách thể được (bị) lãnh đạo Trong xã hội nô lệ, người ta đưa ra các thể chế về vai trò của quý tộc, chủ nô trong quan

hệ với tầng lớp chiến binh và nô lệ Trong xã hội phong kiến phương Đông, các nhà tư tưởng Nho giáo xây dựng “chế độ, điển chương, lễ nhạc” gắn với vị thế của “thiên tử” và vai trò của quan liêu, quân tử (người làm quan hay chữ) với

“tiểu nhân” (người dân thường) Trong xã hội tư bản, các nhà tư tưởng tư sản đưa

ra tư tưởng xây dựng thể chế nhà nước pháp quyền, xã hội công dân, thể chế chọn lựa người lãnh đạo, thể chế kiểm soát quyền lực… Đó là sự biểu hiện của văn hoá lãnh đạo gắn với trình độ tổ chức, điều hành xã hội bằng các thể chế khác nhau Nếu một xã hội, một nhóm, một cộng đồng (tổ chức) được điều hành, chỉ huy một cách tuỳ tiện, hay bằng “quyền lực” của người đứng đầu thì không thể có văn hoá lãnh đạo, quản lý

- Tiếp cận văn hoá từ phương diện giá trị: Văn hoá là những giá trị mà

con người, xã hội chọn lựa; lãnh đạo là phương thức tổ chức, điều hành xã hội có

ý nghĩa tích cực đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội Đồng thời các giá trị

Trang 34

văn hoá đóng vai trò định hướng giá trị cho hoạt động lãnh đạo, chỉ huy của chủ thể lãnh đạo Có nghĩa là sự lãnh đạo phải hướng tới giá trị xã hội tốt đẹp như: tự

do, dân chủ, ổn định, phát triển, hạnh phúc, an sinh cho các cá nhân và xã hội Khi đó lãnh đạo mới mang ý nghĩa văn hoá và văn hoá lãnh đạo mới có một nội hàm đúng nghĩa của nó Tất nhiên, qua từng giai đoạn phát triển của lịch sử nhân loại, trong thời đại văn minh (theo cách phân chia lịch sử của Ph.Ăngghen), văn hoá lãnh đạo ngày càng phát triển phong phú và hoàn thiện hơn

- Tiếp cận văn hoá từ góc độ nhân cách: Văn hoá là sự biểu hiện phẩm

chất người của mỗi cá nhân, thì văn hoá lãnh đạo chính là trình độ, năng lực, kỹ năng, phẩm hạnh của chủ thể giữ vai trò lãnh đạo, dẫn dắt, chỉ huy xã hội Tiếp cận văn hoá lãnh đạo từ góc độ nhân cách, không đơn thuần là văn hoá cộng lãnh

đạo, không phải là văn hoá với lãnh đạo, hay sử dụng văn hoá để lãnh đạo Văn hoá lãnh đạo là thuộc tính văn hoá, phẩm chất văn hoá thẩm thấu vào sự lãnh

đạo, chi phối sự lãnh đạo tạo nên một loại hình văn hoá đặc thù

Văn hoá lãnh đạo hiểu như trên, đúng nghĩa của nó, khi mỗi con người với tư cách là chủ thể văn hoá, thực hiện hoạt động lãnh đạo, thực hiện quá trình lãnh đạo; từ mục tiêu cho đến nội dung, phương thức lãnh đạo đều thể hiện văn hoá; tức thể hiện trình độ, năng lực, tài năng của chủ thể văn hoá Trình độ, năng lực, phẩm chất, kỹ năng chính là năng lượng văn hoá của chủ thể văn hoá Năng lượng ấy cao đến mức nào thì kết quả lãnh đạo cao đến mức đó

Bằng cách tiếp cận này, chúng ta có thể thấy được biểu hiện của văn hoá lãnh đạo ở:

+ Trình độ, năng lực hoạch định mục tiêu, xây dựng chiến lược, sách lược phát triển nhóm, cộng đồng (tổ chức) xã hội, đất nước v.v ;

+ Phương thức, cách thức đưa ra quyết định, tổ chức thực hiện mục tiêu,

đường lối, chủ trương… để đạt kết quả;

+ Thái độ, hành vi, tác phong, đạo đức, lối sống của chủ thể lãnh đạo, uy tín của nó trong đời sống xã hội v.v

Trang 35

Cách tiếp cận văn hoá lãnh đạo từ góc độ nhân cách là cách tiếp cận chủ

đạo vì nó bao hàm được cả hai cách tiếp cận trên (tiếp cận từ góc độ lịch sử và giá trị) và cũng chỉ ra các đặc trưng cơ bản của đối tượng nghiên cứu

Từ đó, chúng tôi đưa ra một quan niệm về văn hoá lãnh đạo như sau:

Văn hoá l∙nh đạo là sự l∙nh đạo thể hiện trình độ, năng lực và phẩm chất văn hoá của chủ thể l∙nh đạo, có tác động tích cực đến đối tượng l∙nh

đạo, nhằm đạt đến mục đích mà nhóm, cộng đồng (tổ chức) mong muốn

Để làm rõ hơn về văn hoá lãnh đạo cần làm rõ mối quan hệ giữa văn hoá lãnh đạo với khoa học lãnh đạo, nghệ thuật lãnh đạo và với văn hoá quản lý

- Khoa học lãnh đạo: nếu coi “khoa học lãnh đạo là một ngành khoa học

nghiên cứu những vận động của mâu thuẫn nội tại trong hoạt động lãnh đạo và quy luật của nó”1, và hoạt động lãnh đạo là “quá trình kết hợp và tác động lẫn nhau giữa người lãnh đạo, người bị lãnh đạo và đối tượng khách quan” thì văn hoá lãnh đạo là một phần trong đối tượng của khoa học lãnh đạo

Nếu quan niệm “khoa học lãnh đạo” là lãnh đạo một cách khoa học hay lãnh đạo một cách có khoa học thì đó là biểu hiện trình độ, năng lực của chủ thể lãnh đạo, một yếu tố của văn hoá lãnh đạo

- Nghệ thuật lãnh đạo: là “ kỹ năng của người lãnh đạo vận dụng tri thức

khoa học lãnh đạo và các phương pháp lãnh đạo để giải quyết các vấn đề khách quan”

Quan niệm đó đã chỉ ra rằng, nghệ thuật lãnh đạo là một bộ phận của văn hoá lãnh đạo, bởi nó là một phần năng lực, kỹ năng của chủ thể lãnh đạo

Văn hoá lãnh đạo bao gồm cả nghệ thuật lãnh đạo và khoa học lãnh đạo (lãnh đạo một cách khoa học) Văn hoá lãnh đạo là sự kết hợp hài hoà và ở trình

độ cao giữa trình độ, năng lực (thuộc về phạm trù cái Chân) với nghệ thuật, kỹ năng (thuộc về phạm trù cái Mỹ) và phẩm chất đạo đức (thuộc về phạm trù cái Thiện) của chủ thể lãnh đạo

H.2004, tr.11-12

Trang 36

• Khái niệm văn hoá quản lý

Từ mối quan hệ giữa văn hoá với lãnh đạo, quản lý và từ quan hệ giữa lãnh

đạo với quản lý, chúng ta có thể chỉ ra các đặc trưng thộc về nội hàm khái niệm văn hoá quản lý Giống với cách tiếp cận văn hoá lãnh đạo, chúng ta cũng tiếp cận văn hoá quản lý từ ba bình diện: lịch sử, giá trị và nhân cách trong khái niệm văn hoá Do vậy, khái niệm văn hoá quản lý được quan niệm như sau:

Văn hoá quản lý là sự quản lý thể hiện trình độ, năng lực và phẩm chất văn hoá của chủ thể quản lý, có tác động tích cực đến đối tượng quản lý, nhằm thực hiện được mục tiêu của nhóm, cộng đồng (tổ chức) đ∙ đề ra theo

đúng những quy định, quy chế nhất định

Mối quan hệ giữa văn hoá quản lý với khoa học quản lý và nghệ thuật quản lý:

- Khoa học quản lý phản ánh năng lực nhận thức và tác động của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý, tìm ra các nguyên lý, các quy tắc tác động vào

đối tượng quản lý để thực hiện được mục tiêu đã vạch ra

- Nghệ thuật quản lý là kỹ năng của chủ thể quản lý vận dụng tri thức khoa học quản lý và các phương pháp quản lý để giải quyết các vấn đề của thực tiễn quản lý

Như vậy, khoa học quản lý và nghệ thuật quản lý cũng chính là năng lực, trình

độ, kỹ năng của chủ thể quản lý, chúng là một bộ phận của văn hoá quản lý mà thôi

• Mối quan hệ giữa văn hoá l∙nh đạo và văn hoá quản lý

Hai kiểu loại văn hoá này có sự khác nhau, do sự khác nhau của sự lãnh

đạo và quản lý quy định (chủ yếu ở vai trò/chức năng, mục đích của chúng) Song, văn hoá lãnh đạo và văn hoá quản lý có sự giống nhau cơ bản ở đối tượng tác động là con người và ở năng lực, phẩm chất văn hoá của chủ thể lãnh đạo và chủ thể quản lý

Văn hoá lãnh đạo, văn hoá quản lý là toàn bộ những giá trị kết tinh trong quá trình thực hiện các hoạt động lãnh đạo, quản lý và trong những kết quả do những hoạt động đó mang lại; trong hệ thống quan điểm, đường lối, chính sách,

Trang 37

quyết định lãnh đạo, quản lý đúng đắn và sáng tạo; trong những biểu tượng, những giá trị và khuôn mẫu hành vi đặc trưng… góp phần quan trọng vào việc thực hiện

những mục tiêu cơ bản của con người và xã hội trong hoạt động thực tiễn Văn hoá lãnh đạo, văn hoá quản lý thực chất là hàm lượng văn hoá được thấm sâu vào nhận thức và hành động của các chủ thể, các quá trình lãnh đạo, quản lý

• Mối quan hệ giữa văn hoá l∙nh đạo, văn hoá quản lý với văn hoá

Theo quan niệm của Viện Chính trị học, “Văn hoá chính trị là một phương diện của văn hoá trong xã hội có giai cấp, nói lên tri thức, năng lực sáng tạo trong hoạt động chính trị dựa trên nhận thức sâu sắc các quan hệ chính trị hiện thực cùng những thể chế chính trị được lập ra để thực hiện lợi ích chính trị cơ bản của giai cấp hay của nhân dân phù hợp với sự phát triển lịch sử Văn hoá chính trị nói lên phẩm chất và hình thức hoạt động chính trị của con người cùng những thiết chế chính trị mà họ lập ra để thực hiện lợi ích giai cấp cơ bản của chủ thể tương xứng”1

Với quan niệm như trên, văn hoá chính trị và văn hoá lãnh đạo, văn hoá quản

lý vừa có sự giống nhau, vừa có sự khác nhau, nhưng gắn bó với nhau

Sự giống nhau ở chỗ chúng đều biểu hiện trình độ phát triển của con người

và xã hội, đều tác động đến các mối quan hệ của con người hướng đến lợi ích (mục tiêu) của nhóm, cộng đồng xã hội nhất định

1 Viện Chính trị học -Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Tập bài giảng Chính trị học, Nxb Chính trị quốc

gia, H.2000, tr.278-279

Trang 38

Sự khác nhau ở phạm vi không gian, thời gian và đối tượng tác động Trong khi văn hoá lãnh đạo, văn hoá quản lý có mặt trong nhiều lĩnh vực (chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá) thì văn hoá chính trị chủ yếu có mặt trong lĩnh vực chính trị Trong khi văn hoá lãnh đạo, văn hoá quản lý bao trùm hoạt động của tất cả các nhóm, cộng đồng xã hội (chính trị, kinh tế, xã hội, tôn giáo, phi chính trị…) thì văn hoá chính trị chỉ bao trùm hoạt động của các tổ chức chính trị, hệ thống chính trị Văn hoá lãnh đạo, văn hoá quản lý sẽ tồn tại mãi mãi trong đời sống nhân loại, còn văn hoá chính trị chỉ tồn tại trong những xã hội có giai cấp, còn giai cấp

Nhưng nếu xét trong đời sống chính trị của một xã hội cụ thể thì văn hoá chính trị rộng hơn văn hoá lãnh đạo, văn hoá quản lý Văn hoá chính trị biểu hiện

ở các chủ thể chính trị: chủ thể lãnh đạo, chủ thể quản lý và chủ thể được (bị) lãnh

đạo, quản lý; còn văn hoá lãnh đạo, văn hoá quản lý chủ yếu biểu hiện trong chủ thể lãnh đạo, quản lý và như là một bộ phận, một trình độ văn hoá chính trị của chủ thể giữ vai trò lãnh đạo, quản lý Do vậy, văn hoá lãnh đạo, văn hoá quản lý

có mối liên hệ mật thiết với văn hoá chính trị Và trong đề tài này, chúng tôi chủ yếu nghiên cứu văn hoá lãnh đạo, văn hoá quản lý của chủ thể lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay là Đảng và Nhà nước

1.2.3 Vai trò của văn hoá l∙nh đạo, văn hoá quản lý trong đời sống x∙ hội

Vai trò của văn hoá lãnh đạo, văn hoá quản lý trong đời sống xã hội không chỉ được xem xét từ vai trò của sự lãnh đạo, quản lý đối với đời sống xã hội

Điều này đã được chỉ ra trong hầu hết các quan niệm về lãnh đạo, quản lý của các nhà nghiên cứu, các nhà lãnh đạo, quản lý mà chúng tôi đã trình bày ở phần trên Các ý kiến của họ về vai trò của lãnh đạo, quản lý có thể tóm lược trong một câu hỏi phản đề sau: Nếu xã hội không được lãnh đạo, quản lý thì liệu có tồn tại và phát triển bền vững hay không?

Vấn đề là xã hội được lãnh đạo, quản lý như thế nào? xã hội sẽ tồn tại và phát triển ra sao? Là tuỳ thuộc vào văn hoá lãnh đạo, văn hoá quản lý của các chủ thể lãnh đạo, quản lý; vai trò của văn hoá lãnh đạo, văn hoá quản lý là ở chỗ

Trang 39

đó Cần nói thêm rằng, văn hoá lãnh đạo, văn hoá quản lý không chỉ tác động

đến xã hội (đối tượng lãnh đạo, quản lý) mà còn tác động đến cả chủ thể lãnh

Văn hoá lãnh đạo, văn hoá quản lý biểu hiện trước hết trong mục đích mà

nó đã lựa chọn và theo đuổi Văn hoá lãnh đạo, văn hoá quản lý chính là văn hoá của những quyết định đúng đắn, phù hợp với cuộc sống khách quan và nguyện vọng chân chính của cộng đồng xã hội, là văn hoá cống hiến và nêu gương của những chủ thể lãnh đạo, quản lý…

Văn hoá lãnh đạo, văn hoá quản lý đảm bảo cho mục đích của hoạt động lãnh đạo, quản lý hướng mạnh đến xã hội, đến con người, đến sự phát triển bền vững, đạt được hiệu quả thiết thực và hài hoà về các mặt của đời sống Nó đảm bảo sự thống nhất giữa tính khách quan khoa học và khía cạnh đạo đức học của quá trình lãnh đạo và quản lý xã hội

Lãnh đạo, quản lý thúc đẩy xã hội, cộng đồng (tổ chức) phát triển, luôn luôn

đổi mới hay lãnh đạo, quản lý làm kìm hãm sự phát triển, ngăn cản sự đổi mới của xã hội, cộng đồng (tổ chức)? Lãnh đạo, quản lý khuyến khích, cổ vũ sự sáng tạo, tự

do, dân chủ của con người (các thành viên xã hội, cộng đồng), phát huy sức mạnh tập thể hay độc đoán, chuyên quyền, áp đặt ý chí chủ quan của người lãnh đạo,

Trang 40

quản lý? Lãnh đạo, quản lý xã hội, cộng đồng (tổ chức) nhằm phát huy, làm phong phú và nâng cao năng lực nhân tính của con người hay đè nén con người, tiêu diệt năng lực nhân tính của con người, biến con người thành công cụ, vật hy sinh cho những tín điều, cho tham vọng, ý muốn của cá nhân người lãnh đạo, quản lý? Tất cả

điều đó được quy định bởi văn hoá lãnh đạo, văn hoá quản lý của các chủ thể lãnh

đạo, quản lý, trên một nền cảnh văn hoá nhất định

Văn hoá lãnh đạo, văn hoá quản lý giữ vai trò chế định các mối quan hệ giữa chủ thể lãnh đạo với đối tượng được (bị) lãnh đạo, giữa chủ thể quản lý với

đối tượng được (bị) quản lý; giữa chủ thể lãnh đạo với chủ thể quản lý Đây chính là sự thể chế hoá các vai trò, các vị thế và các quyền lực xã hội, cộng đồng (tổ chức) để cho bộ máy xã hội, cộng đồng (tổ chức) vận hành thống nhất, tồn tại bền vững Chúng ta thử tưởng tượng, trong một xã hội vai trò của người lãnh đạo (cầm quyền) không được quy định rõ ràng, quyền lực của người lãnh đạo không

được kiểm soát thì sẽ ra sao? Các hôn quân, bạo chúa trong xã hội nô lệ, phong kiến cổ trung đại, các “thống soái vĩ đại” trong xã hội đương đại đã hoành hành, chà đạp lên đời sống xã hội và con người hết sức bạo ngược như lịch sử đã từng chứng kiến

Trong xã hội đương đại có những khu vực, những cộng đồng (tổ chức) khi người nào đó giành được quyền lãnh đạo xã hội thì nghiễm nhiên thống trị xã hội vĩnh viễn không ai có thể thay đổi được Có những tổ chức, người lãnh đạo của

nó áp đặt ý chí chủ quan, trái với giá trị định hướng của tổ chức, với nguyện vọng của nhân dân nhưng cũng không ai dám lật đổ, dẫn tới tình trạng xã hội khủng hoảng, trì trệ Điều đó chỉ có thể cắt nghĩa rằng, các xã hội đó chưa vươn tới trình độ văn minh, chưa có văn hoá lãnh đạo, văn hoá quản lý

Văn hoá lãnh đạo, văn hoá quản lý góp phần đảm bảo cho các quá trình lãnh đạo, quản lý thấm nhuần tinh thần dân chủ Dân chủ trong việc tôn trọng quyền lực cộng đồng, trong việc ra các quyết định chung ảnh hưởng đến lợi ích của nhiều người Dân chủ trong việc phát huy các nguồn lực lãnh đạo, quản lý, trong việc hình thành đội ngũ chuyên gia và bộ máy chuyên môn của hoạt động

Ngày đăng: 14/05/2014, 09:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Nguyễn Phú Ân: Tâm lý lãnh đạo và quản lý, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý lãnh đạo và quản lý
Tác giả: Nguyễn Phú Ân
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2002
5. Ban Tuyên giáo Trung −ơng: Tài liệu nghiên cứu các Nghị quyết Hội nghị Trung −ơng năm khoá X, Nxb Chính trị quốc gia, H.2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu các Nghị quyết Hội nghị Trung −ơng năm khoá X
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
6. Ban T− tởng - Văn hóa Trung −ơng: Đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, H.2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy mạnh học tập và làm theo tấm g−ơng đạo đức Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
7. Báo nhân dân, Số ra ngày 11/1/2000; 4/3/2004; 13/6/2004; 21/3/2007 8. Báo Nhân dân cuối tuần, Số ra ngày 12/6/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo nhân dân", Số ra ngày 11/1/2000; 4/3/2004; 13/6/2004; 21/3/2007 8. "Báo Nhân dân cuối tuần
9. Báo Thanh niên, Số ra ngày 16/8/2005; 20/5/2006; 17/6/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Thanh niên
10. Hoàng Chí Bảo: Đảng Cộng sản cầm quyền trong sự nghiệp đổi mới - một số vấn đề đặt ra, Thông tin t− liệu chuyên đề (Viện Thông tin khoa học - Học viện CTQG Hồ Chí Minh), Số 4/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản cầm quyền trong sự nghiệp đổi mới - một số vấn đề đặt ra
11. Hoàng Chí Bảo (chủ biên): Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn n−ớc ta hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: thống chính trị ở cơ sở nông thôn n−ớc ta hiện nay
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
12. Nguyễn Trọng Bảo (chủ biên): Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo và đội ngũ cán bộ quản lý kinh doanh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Giáo dục, H.1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo và đội ngũ cán bộ quản lý kinh doanh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất n−ớc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
13. Trần Văn Bính (chủ biên): Vai trò văn hóa trong hoạt động chính trị của Đảng ta hiện nay, Nxb Lao động, H.2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò văn hóa trong hoạt động chính trị của "Đảng ta hiện nay
Nhà XB: Nxb Lao động
14. Yeow Boon: Phong cách lãnh đạo: Các xu hướng của quá khứ, hiện nay và t−ơng lai, Bài giảng tại Học viện CTQG Hồ Chí Minh ngày 31/1/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách lãnh đạo: Các xu h−ớng của quá khứ, hiện nay và t−ơng lai
15. Yeow Boon: Quan niệm của ph−ơng Đông và ph−ơng Tây về khoa học lãnh đạo nhìn từ góc độ văn hoá, Bài giảng tại Học viện CTQG Hồ Chí Minh ngày 31/1/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm của ph−ơng Đông và ph−ơng Tây về khoa học lãnh "đạo nhìn từ góc độ văn hoá
16. D. Chalvin: Các phong cách quản lý, Nxb Khoa học và kỹ thuật, H.1993 17. Robert Chambers: Phát triển nông thôn: Hãy bắt đầu từ những ng−ời nghèokhổ, Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, H.1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phong cách quản lý," Nxb Khoa học và kỹ thuật, H.1993 17. Robert Chambers: "Phát triển nông thôn: Hãy bắt đầu từ những ng−ời nghèo "khổ
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
18. Trường Chinh: Đổi mới là đòi hỏi bức thiết của đất nước và của thời đại, Nxb Sù thËt, H.1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới là đòi hỏi bức thiết của đất nước và của thời đại
Nhà XB: Nxb Sù thËt
19. Trường Chinh: Mấy vấn đề về Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Sù thËt, H.1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sù thËt
20. G. Courtois: Lãnh đạo và quản lý, một nghệ thuật, Nxb Lao động, H.2000 21. Gaston Courtois: Nghệ thuật làm lãnh đạo và quản lý, Nxb Tp. Hồ ChíMinh, Tp. Hồ Chí Minh 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lãnh đạo và quản lý, một nghệ thuật," Nxb Lao động, H.2000 21. Gaston Courtois: "Nghệ thuật làm lãnh đạo và quản lý
Nhà XB: Nxb Lao động
22. Công ty Statrskonsult (Na Uy): Đào tạo lãnh đạo chính trị và lãnh đạo khu vực công - kinh nghiệm của Na Uy, Hệ bài giảng cho đoàn cán bộ Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Tháng 10/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo lãnh đạo chính trị và lãnh đạo khu vực công - kinh nghiệm của Na Uy
Tác giả: Công ty Statrskonsult (Na Uy)
Nhà XB: Hệ bài giảng cho đoàn cán bộ Học viện CTQG Hồ Chí Minh
Năm: 2006
23. E.X Cudơmin, J.P.Vôncốp: Người lãnh đạo và tập thể, Nxb Sự thật, H.1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ng−ời lãnh đạo và tập thể
Nhà XB: Nxb Sự thật
24. Lê Duẩn: Mấy vấn đề về Đảng cầm quyền, Nxb Sự thật, H.1981 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về Đảng cầm quyền
Nhà XB: Nxb Sự thật
25. Thân Thị Ph−ơng Dung: Giáo trình khoa học quản lý: Hệ sử nhân chính trị, Nxb Lý luận chính trị, H.2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình khoa học quản lý: Hệ sử nhân chính trị
Tác giả: Thân Thị Ph−ơng Dung
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2004
26. Thành Duy, Lê Quý Đức: Học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh xây dựng nền văn hoá đạo đức ở nước ta hiện nay, Nxb Lý luận chính trị, H.2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh xây dựng nền văn hoá đạo đức ở nước ta hiện nay
Tác giả: Thành Duy, Lê Quý Đức
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 5: Những nội dung cần đặc biệt chú ý để nâng cao văn hoá l∙nh - Văn hoá lãnh đạo, quản lý   vấn đề và giải pháp
Bảng 5 Những nội dung cần đặc biệt chú ý để nâng cao văn hoá l∙nh (Trang 60)
Bảng kết quả trên cho chúng ta thấy, người trả lời khẳng định hiện nay đang - Văn hoá lãnh đạo, quản lý   vấn đề và giải pháp
Bảng k ết quả trên cho chúng ta thấy, người trả lời khẳng định hiện nay đang (Trang 91)
Bảng 21: Những nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái về phẩm chất đạo - Văn hoá lãnh đạo, quản lý   vấn đề và giải pháp
Bảng 21 Những nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái về phẩm chất đạo (Trang 97)
Bảng trả lời trên cho thấy, người trả lời đánh giá cao các nguyên nhân dẫn - Văn hoá lãnh đạo, quản lý   vấn đề và giải pháp
Bảng tr ả lời trên cho thấy, người trả lời đánh giá cao các nguyên nhân dẫn (Trang 98)
Bảng 18: Về những hiện t−ợng tiêu cực cần phải xóa bỏ để nâng cao - Văn hoá lãnh đạo, quản lý   vấn đề và giải pháp
Bảng 18 Về những hiện t−ợng tiêu cực cần phải xóa bỏ để nâng cao (Trang 122)
Bảng khảo sát này, chúng tôi nhận thấy tỷ lệ ng−ời trả lời thừa nhận còn tồn tại - Văn hoá lãnh đạo, quản lý   vấn đề và giải pháp
Bảng kh ảo sát này, chúng tôi nhận thấy tỷ lệ ng−ời trả lời thừa nhận còn tồn tại (Trang 123)
Bảng 1: Đánh giá về vai trò của văn hoá trong hoạt động l∙nh đạo, quản lý - Văn hoá lãnh đạo, quản lý   vấn đề và giải pháp
Bảng 1 Đánh giá về vai trò của văn hoá trong hoạt động l∙nh đạo, quản lý (Trang 129)
Bảng 2:  Đánh giá về vai trò của văn hoá trong hoạt động l∙nh đạo,  quản lý. (Xét theo các khối công tác khác nhau) - Văn hoá lãnh đạo, quản lý   vấn đề và giải pháp
Bảng 2 Đánh giá về vai trò của văn hoá trong hoạt động l∙nh đạo, quản lý. (Xét theo các khối công tác khác nhau) (Trang 130)
Bảng 9: Đánh giá về vai trò văn hoá l∙nh đạo, quản lý của các cá nhân - Văn hoá lãnh đạo, quản lý   vấn đề và giải pháp
Bảng 9 Đánh giá về vai trò văn hoá l∙nh đạo, quản lý của các cá nhân (Trang 139)
Bảng kết quả trên cho thấy ng−ời trả lời thuộc các khối Đảng và khối - Văn hoá lãnh đạo, quản lý   vấn đề và giải pháp
Bảng k ết quả trên cho thấy ng−ời trả lời thuộc các khối Đảng và khối (Trang 139)
Bảng 18: Về những biểu hiện cần phải xóa bỏ để nâng cao đạo đức - Văn hoá lãnh đạo, quản lý   vấn đề và giải pháp
Bảng 18 Về những biểu hiện cần phải xóa bỏ để nâng cao đạo đức (Trang 150)
Bảng kết quả điều tra cho thấy các giải pháp quan trọng đ−ợc ng−ời trả  lời đánh giá với mức độ cao nh−: giải pháp Xây dựng và chỉnh đốn Đảng có 248  ng−ời lựa chọn (chiếm 80,3%), xếp ở vị trí thứ nhất; giải pháp Học tập và làm - Văn hoá lãnh đạo, quản lý   vấn đề và giải pháp
Bảng k ết quả điều tra cho thấy các giải pháp quan trọng đ−ợc ng−ời trả lời đánh giá với mức độ cao nh−: giải pháp Xây dựng và chỉnh đốn Đảng có 248 ng−ời lựa chọn (chiếm 80,3%), xếp ở vị trí thứ nhất; giải pháp Học tập và làm (Trang 156)
Bảng 25: Những kỹ năng phù hợp với các nhà l∙nh đạo, quản lý của  Việt Nam - Văn hoá lãnh đạo, quản lý   vấn đề và giải pháp
Bảng 25 Những kỹ năng phù hợp với các nhà l∙nh đạo, quản lý của Việt Nam (Trang 159)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w