Để tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW 5 về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, một trong những nhiệm vụ đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục làm rõ về m
Trang 1DE TAI CAP BỘ NĂM 2005
MA SO: 8 05 -14
BAO CAO TONG QUAN KHOA HOC
THI TRUONG VAN HOA PHAM 6 NUGC TA
HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
CƠ QUAN CHỦ TRÌ: VIỆN VĂN HÚA VÀ PHÁT TRIEN
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: 7S Nguyên Thị Hương
Hà Nội, tháng 2 — 2006
6Ö AVP /06
Trang 2DANH SACH ‹ CỘNG TÁC VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Chủ nhiệm đẻ tài: 7S Nguyễn Thị Hương
Thư ký để tài: CN Đặng Mỹ Dung
1 Cán bộ nghiên cứu giảng dạy của Viện Văn hoá và phát triển - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
- PGS,TS Phạm Duy Đức - Viện trưởng Viện Văn hóa và phát triển,
- TS Nguyễn Thị Hương - Giảng viên chính
- TS Nguyễn Toàn Thắng - Giảng viên chính
- Th§ Lê Trung Kiên - Giảng viên chính, Nghiên cứu sinh khóa 2003
- 2006, Viện Văn hóa và phát triển - HVCTQG Hồ Chí Minh
- ThS Hồ Tuyết Dung - Giảng viên chính
- ThS Vũ Thị Phương Hậu - Giảng viên
- Th§ Lê Xuân Kiêu - Giảng viên
- CN Bùi Thị Kim Chỉ - Cao học khóa 2003- 2006, Viện Văn hóa và
phát triển - HVCTQG Hồ Chí Minh
2 Các cộng tác viên khác:
1.GS, TS Hoàng Vinh - Hà Nội
2 PGS, TS Lê Ngọc Tòng - Vụ phó Vụ Quản lý khoa học, Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
3 PGS, TS Đường Vinh Sường - Nhà xuất bản Lý luận chính trị
3 Báo cáo thực tế của các đơn vị cơ sử
Trang 31/ Các số liệu 2005 của Sở Văn hoá- Thông tin Hà Nội
2/ Trung tâm Phát hành phim và chiếu bóng Tỉnh Phú Thọ
3/ Phòng An ninh văn hoá công an TP Hải Phòng
4/ Phong an ninh văn hoá Tỉnh Hà Tĩnh
5/ Nhà hát Tỉnh Khánh Hoà
Trang 41.1 Quan niệm về thị tường văn hoá phẩm
1.2 Thị tường văn hoá phẩm ở nước ta Hiện trạng một số thị trường văn hoá phẩm
ở nước ta
2.1 Thị trường băng đĩa
2.2 Thị trường điện ảnh
2.3 Thị trường mỹ thuật 2.4 Thị trường âm nhạc
2.5 Thị trường sân khấu
Dự báo xu thế vận động và một số giải pháp
định hướng phát triển thị trường văn hoá phẩm nước ta từ nay đến năm 2010
3.1 Dự báo xu thế vận động của thị trường
văn hoá phẩm nước ía
3.2 Một số giải pháp định hướng phát triển
thị tường văn hoá phẩm nước ta từ nay đến
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đẻ tài
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước của chúng ta hiện nay, vấn để quan
hệ giữa văn hoá và kinh tế là vấn đề cơ bản và bức thiết
Sự vận động của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã tác động,
làm biến đổi rất nhanh, rất sâu sắc đến lĩnh vực văn hoá tinh thần, đã và đang
đặt ra nhiều vấn đề bức xúc Môi trường văn hoá còn bị ô nhiễm bởi các tệ nạn
xã hội, sự lan tràn của các sản phẩm và dịch vụ văn hoá mê tín đị đoan, độc hại, thấp kém, lai căng Tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết TW 5 khoá VIH, Kết luận của Hội nghị TW 10 - khoá IX, chỉ rõ:
“Sản phẩm văn hoá và dịch vụ văn hoá ngày càng phong phú nhưng
vẫn thiếu những tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng và
nghệ thuật, có ảnh hưởng tích cực, sâu sắc trong đời sống Xu hướng thương mại hoá, chạy theo thị hiếu thấp kém trong một bộ phận báo chí, xuất bản, hoạt động văn hoá nghệ thuật, chưa được ngăn chặn có hiệu quả, đã làm giảm sút, hạ thấp các chức năng nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ của văn hoá” (Ð Trong khi đó, chúng ta còn chậm xây dựng hoàn thiện các thể chế văn hoá, đặc biệt là chưa đổi mới và thiếu đồng bộ trong chính sách kinh tế trong văn hóa Điều này đã làm hạn chế rất lớn tác đụng của văn hoá đối với các lĩnh vực quan trọng của đời sống đất nước
Để tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW 5 về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, một trong những nhiệm
vụ đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục làm rõ về mặt lý luận và thực tiễn sự vận
động của văn hoá trong kinh tế trường định hướng XHCN, trong đó có vấn đề thị trường văn hoá phẩm Nếu như ở Việt Nam, cách đây một thời gian không lâu, những quan niệm như: hàng hoá văn hoá, chợ âm nhạc, chợ thơ, thị trường tranh, thị trường điện ảnh, hội chợ phim, phiên chợ mua bán phim, hội chợ điện
1 Viện Văn hóa và phát triển — HV CTQG HCM, Văn hoá và phát triển ở VN — Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn, Nxb LLCT, H 2004, tr 9
Trang 6ảnh, ngành công nghiệp điện ảnh, thị trường băng đĩa, thị trường sách, hội chợ sách, siêu thị sách, thị trường ca khúc, ca sĩ thị trường, ca khúc thị trường, nhạc thị trường, khán giả thị trường, doanh nghiệp kinh doanh các sản phẩm văn hoá thông tin, kinh doanh xuất bản phẩm trong cơ chế thị trường còn khá xa lạ,
thậm chí khó chấp nhận trong đời sống tỉnh thần của rất nhiều tầng lớp công chúng - thì bây giờ, điều đó khá trở nên quen thuộc Quen thuộc đến mức không những chúng ta hiển nhiên xem văn hoá phẩm là đối tượng tiêu dùng như
những hàng hoá khác, mà còn về phương diện xã hội, những hoạt động kinh
doanh các sản phẩm văn hoá đang là vấn đề được quan tâm nhiều nhất trong
quá trình xã hội hoá các hoạt động văn hoá hiện nay
Thực tế, chúng ta không phủ nhận sự tác động tích cực của thị trường
văn hoá phẩm đến đời sống xã hội Chính thị trường văn hoá phẩm đã tạo ra
động lực thúc đẩy các hoạt động văn hoá phát triển Các sản phẩm văn hoá ngày càng đa dạng, đáp ứng được nhu cầu văn hoá của nhiều tầng lớp nhân dân Nhưng chúng ta cũng thấy rằng, xét về bản chất, thị trường văn hoá
không phải là thị trường thuần tuý, hàng hoá văn hoá là thương phẩm đặc biệt, nên biểu hiện và sự tác động của nó trong đời sống xã hội cũng có sự khác biệt so với các thị trường hàng hoá khác Bên cạnh mặt tích cực, thị trường văn hoá phẩm cũng có mặt tiêu cực, nhất là xu hướng thương mại
hoá Gần đây, biểu hiện của xu hướng này trong thị trường các sản phẩm văn hoá tinh thần đã phát triển dưới nhiều dạng tỉnh vi, phức tạp, ảnh hưởng rất
xấu đến trật tự xã hội, đến nếp sống văn hoá, đang làm xói mòn lớp văn hoá nhân bản vốn có trong nền văn hoá dân tộc Đặc biệt, những ảnh hưởng tiêu
cực đang có nguy cơ làm lung lạc, chệch hướng đời sống văn hoá tỉnh thần
của nhân dân ta
Nghiên cứu sự vận động của thị trường văn hoá phẩm ở Việt Nam là vấn đề khá mới mẻ Trước đổi mới, các hoạt động văn hoá của chúng ta hầu
như không có sự hạch toán kinh tế Bởi về mặt nhận thức, nhiều người vẫn cho rằng văn hoá là hoạt động phi sản xuất, nghĩa là trong lĩnh vực này, các quá
trình lao động không tạo ra giá trị và giá trị thăng dư Kinh tế là kinh tế, văn hoá là văn hoá, đây là hai lĩnh vực khác biệt, không có quan hệ hoặc có thì
Trang 7cũng chỉ rất ít, không đáng kể Khi chuyển sang kinh tế thị trường, thị trường
văn hoá phẩm xuất hiện và vận động một cách khách quan, bộc lộ bản chất vốn có của nó Trong khi trên thực tế hiện nay, các hoạt động văn hoá chủ yếu vẫn còn được bao cấp từ ngân sách Nhà nước, nhưng lại hoạt động kém hiệu
quả Chính những điều đó đã làm cho chúng ta không khỏi lúng túng trước sự
biến động rất nhanh, cả tích cực lẫn tiêu cực của lĩnh vực văn hoá tỉnh thần trong đời sống xã hội
Vì những lý do trên đây, khi được Hội đồng khoa học của Học viện
CTQG Hồ Chí Minh đồng ý cho phép triển khai việc thực hiện để tài: “THỊ TRƯỜNG VĂN HOÁ PHẨM Ở NƯỚC TA - HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP” - chúng
tôi hy vọng những kết quả đạt được khi nghiên cứu về lý luận cũng như thực
tiễn của vấn đề thị trường văn hoá phẩm sẽ góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ
giữa phát triển văn hoá và kinh tế thị trường trong điều kiện hiện nay của nước
ta Những kết quả đó sẽ là cơ sở khoa học cho công tác nghiên cứu, giảng dạy
và việc triển khai các hoạt động cụ thể trong lĩnh vực văn hoá
2 Tình hình nghiên cứu
Ngoài nước
Những biểu hiện tiêu cực trên thị trường văn hóa phẩm vẫn đang ngày
càng gia tăng cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin Cuộc đấu tranh
nhằm lập lại trật tự thị trường văn hoá phẩm cho đến nay, ở nhiều quốc gia vẫn là cuộc chiến gay cấn, chưa có hiệu quả mấy Tuy vậy, theo thống kê của
một công trình nghiên cứu gần đây, khẳng định trong thư mục của Thư viện Quốc gia và Thư viện Khoa học xã hội ở nước ta, chưa có tài liệu về những
công trình nghiên cứu vấn đề này (J)
Trong nước
Phát triển văn hoá, phát triển kinh tế trong cơ chế thị trường định hướng
XHCN đang đứng trước những thách thức và cơ hội mới Đây không những là vấn đề được Đảng và Nhà nước đặt ra trong đường lối lãnh đạo quản lý, mà còn
1Dinh Thi Van Chi - Quản lý Nhà nước đối với thị trường băng đĩa trong giai đoạn hiện
nay, Dé tài cấp Bộ, năm 2009
Trang 8thu hút được sự quan tâm của đội ngũ các nhà nghiên cứu trong nhiều năm qua
Có thể khái quát tình hình nghiên cứu theo các nhóm vấn đề sau:
Nhóm thứ nhất
Những quan điểm có tính chất chỉ đạo trong đường lối chính sách của
Đảng và Nhà nước về phát triển văn hoá trong cơ chế thị trường định hướng
XHCN (Nghị quyết Hội nghị TW 4 khoá VII, Văn kiện Dai hội Dang lần thứ VII, IX, Nghị quyết TW 5 khoá VII, Kết luận Hội nghị TW 10 khoá IX)
Từ Nghị quyết Hội nghị lân thứ tư BCHTW khoá VII đã bàn đến những
khía cạnh kinh tế trong hoạt động và kinh doanh văn hoá phẩm ở nước ta Ví
dụ những vấn dé duoc nêu ra: bằng mọi cách phải đưa những giá trị văn hoá
của dân tộc và thế giới đến với nhân dân, mở rộng giao lưu văn hoá với nước
ngoài dưới nhiều bình thức như mở rộng xuất nhập khẩu văn hoá phẩm, khuyến khích việc trao đổi với nước ngoài các đoàn nghệ thuật; đầu tư có trọng điểm và tài trợ cho các hoạt động văn hoá, văn nghệ phục vụ đại chúng hoặc những tác phẩm, công trình có giá trị cao nhưng ít có khả năng đem lại
doanh thu; cấm sản xuất và phổ biến những tác phẩm, phím ảnh, băng hình có
nội dung độc hại, phản động đổi truy; tiếp tục bổ sung và hoàn chỉnh các thể chế văn hoá Tháng 12 năm 1995, Bộ Văn hoá Thông tin đã ra triển khai thực
hiện văn bản của Chính phủ về việc tăng cường quản lý các hoạt động văn hoá
và dịch vụ văn hoá, đẩy mạnh bài trừ một số tệ nạn xã hội nghiêm trọng v.v
Đặc biệt Nghị quyết TW 5 khoá VIH vẻ xây đựng phát triển nền văn hoá Việt
Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, đã đánh giá những mặt tích cực và tiêu cực của tác động văn hoá đến đời sống tỉnh thân xã hội, và chỉ ra: khuynh
hướng “thương mại hoá” đang có ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển văn hoá
nghệ thuật, chiều theo những thị hiếu thấp kém, làm cho chức năng giáo dục
tư tưởng và thẩm mỹ của văn học nghệ thuật bị suy giảm .(])
Có thể nói đó là những quan điểm chỉ đạo có ý nghĩa định hướng không
những cho công tác nghiên cứu trên lĩnh vực này, mà còn là cơ sở cho các hoạt
động văn hoá nói chung và quản lý thị trường văn hoá phẩm nói riêng
1 Nghị quyết Hội nghị lân thứ năm BCH TW Đảng khóa VIII, năm 1998, tr 48
Trang 9Nhóm thứ hai
Nghiên cứu vấn đề trên bình diện rộng về lý luận và thực tiễn, như:
Kinh tế thị trường và kinh tế thị trường định hướng XHCN; vai trò của văn
hoá trong quá trình phát triển, phát triển văn hoá trong kinh tế thị trường
định hướng XHCN ở Việt Nam; sự tác động của toàn cầu hoá đối với phát
triển văn hoá hiện nay; phát triển văn hoá phát triển con người và nguồn
nhân lực trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Ví dụ,
những công trình nghiên cứu và các đề tài cấp Bộ, cấp Nhà nước:
- Văn hoá vì phát triển - GS Phạm Xuân Nam, Nxb CTQG, Hà Nội 1998
- Kinh tế thị trường định hướng xã hội giai đoạn 2001 - 2004 (Đề tài
cấp Nhà nước - KX.03.05, đã nghiệm thu)
- Phát triển văn hoá, con người và nguồn lực trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá (Đề tài Chương trình KX 05, giai đoạn 2001 - 2004,
đã nghiệm thu)
- Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong lĩnh vực vui chơi
giải trí ở khu vực đô thị nước ta - thực trạng và giải pháp (Đề tài cấp Bộ do
PGS, TS Phạm Duy Đức chủ nhiệm, đã nghiệm thu năm 2003)
- Văn hoá Việt Nam trước thách thức toàn cầu hoá về kinh tế - (Đề tài cấp Bộ đấu thầu - Học viện CTQG Hồ Chí Minh, do PGS, TS Phạm Duy Đức chủ nhiệm, đã nghiệm thu năm 2005)
Nhóm thứ ba
Bước đầu nghiên cứu về lý luận của thị trường văn hoá phẩm trên các mặt chủ yếu, như: vấn đề kinh tế trong văn hoá, bản chất của hàng hoá văn hoá tỉnh thân và thị trường hàng hoá văn hoá tỉnh thần; quản lý thị trường văn hoá và cơ chế quản lý thị trường văn hoá Có các công trình:
Các bài tiểu luận: Chống những biểu hiện của văn hoá, văn nghệ thương mại; Xã hội hoá các hoạt động văn hoá và xã hội hoá kinh doanh văn hoá
-_23 năm cuối của 300 năm văn hoá nghệ thuật Sài gòn - Thành phố Hồ Chí Minh) - của tác giả Trần Trọng Đăng Đàn, Nxb Văn nghệ Sở Văn hoá Thông tin TP Hồ Chí Minh, 1998
Trang 10~ May vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hoá ở nước ta - của GS,
TS Hoàng Vinh (Nxb Văn hoá Thông tin - Hà Nội 1999)
- Một số nghiên cứu bước đầu về kinh tế học văn hoá - của PGS, 1S Lê
Ngọc Tòng (NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2004)
Nhóm thứ tư
Một số công trình và đề tài nghiên cứu về quản lý các hoạt động văn hoá và cơ chế quản lý văn hoá trong điều kiện hiện nay ở nước ta, như:
- Đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp công ích ngành văn hoá thông
tin trong nên kinh tế thị trường ở Việt Nam (Nguyễn Danh Ngà - NXB Văn
hod thong tin, Ha Noi, 1997)
- Lược sử quản lý văn hoá ở Việt Nam (Tập bài giảng của Trường Đại
học Văn hoá Hà Nội - của tác giả Hoàng Sơn Cường (Nxb Văn hoá Thông tin,
Hà Nội 1998)
- Quản lý hoạt động văn hoá - của các tác giả Nguyễn Văn Hy, Phan Văn Tú, Hoàng Sơn Cường, Lê Thị Hiền, Trần Thị Diên (Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội 1998)
- Thể chế xã hội trong lĩnh vực văn hoá, văn nghệ ở nước ta (Đề tài cấp
Bộ - Học viện CTQG Hồ Chí Minh - do GS, TS Hoàng Vinh chủ nhiệm, nghiệm thu năm 2000)
- Xây dựng thể chế quản lý kinh doanh văn hoá phẩm hiện thời ở nước
ta (Đề tài cấp Bộ - Học viện CTQG Hồ Chí Minh - do GS, TS Hoàng Vinh
chủ nhiệm, nghiệm thu năm 2005)
Qua khảo sát, chúng tôi thấy chỉ có rất ít một số công trình nghiên cứu khoa học gần nhất với đề tài là:
- Kinh doanh Xuất bản phẩm trong cơ chế thị trường ở Việt Nam (Luận
án PTS Pham Thi Nhu Tâm - ĐH Kinh tế quốc dân, năm 1994)
- Quản lý văn hoá đô thị trong điều kiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước - Lê Như Hoa, Viện Văn hoá, năm 2000
- Quản lý nhà nước đối với thị trường băng đĩa trong giai đoạn hiện nay, do TS Định Thị Văn Chi làm chủ nhiệm (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp
Trang 11Bộ, năm 2005) Day là công trình đầu tiên nghiên cứu vấn dé quan lý nha nước về thị trường văn hóa phẩm thể hiện trong một lĩnh vực cụ thể của thị trường văn hóa tương đối có hệ thống Để tài đã bước đầu làm rõ về mặt lý
luận của thị trường băng đĩa, từ khái niệm đến các yếu tố cấu thành thị trường băng đĩa, và khảo sát hiện trạng thị trường đó ở các phương diện: cung, cầu, những tác động tích cực và tiêu cực đến đời sống xã hội, bước đầu khảo sát hiện trạng tình hình quản lý Nhà nước đối với thị trường băng đĩa ở nước ta
Có thể nói đây là một hướng đi đúng, rất cần tham khảo để tiếp tục nghiên cứu
về thị trường văn hoá phẩm ở nước ta
- Mỹ thuật đương đại Việt Nam liên ứng với thể giới (nhìn từ Hà Nội)- Đào Mai Trang, (Đề tài khoa học cấp cơ sở, Bộ Văn hoá Thông tin - Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật), năm 2005
- Âm nhạc Việt Nam thời kỳ đổi mới thực trạng và giải pháp - Nguyễn
Đăng Nghị (Đề tài cấp cơ sở - Bộ Văn hoá Thông tin - Tạp chí Văn hoá nghệ
thuật), năm 2005
Ngoài ra còn có khá nhiều bài viết của nhiều tác giả đăng trên các báo và
tạp chí, phản ánh khá rõ những mặt tích cực và tiêu cực của hiện trạng thị trường văn hoá phẩm ở nước ta Những mặt tiêu cực và khuynh hướng thương mại hoá văn hóa phẩm, được các bài viết tập trung phản ánh ở nhiều lĩnh vực như: sân khấu, điện ảnh, mỹ thuật, âm nhạc, thị trường băng đĩa, xuất bản v.v
Như vậy về tình hình nghiên cứu theo chúng tôi, ngoài sự định hướng
khái quát chung trong chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát
triển văn hoá, phát triển kinh tế trong cơ chế thị trường định hướng XHCN, một số công trình nghiên cứu đã quan tâm đến vấn đề thị trường văn hoá phẩm
ở nhiều phương diện, như: văn hoá trước sự tác động của kinh tế thị trường và
toàn cầu hoá; bản chất của sản phẩm hàng hoá văn hoá, bước đầu bàn về lý luận của thị trường văn hoá phẩm, về quản lý văn hoá và cơ chế quản lý văn hoá nói chung, thể chế quản lý văn hoá ở nước ta hiện nay
Có thể nói cho đến nay, chưa có một công trình, bài viết nào nghiên cứu một cách toàn điện về lý luận và thực tiễn tính khách quan, đặc điểm cũng như
những biểu hiện tích cực và tiêu cực của thị trường văn hoá phẩm ở nước ta
Trang 12hiện nay Dù vậy, những kết quả nghiên cứu ở trên là cơ sở rất quan trọng cho việc nghiên cứu đề tài
3 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn quá trình hình thành, phát
triển thị trường văn hoá phẩm nước ta trong quá trình đổi mới, phát triển kinh
tế thị trường định hướng XHCN, góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm
đà bản sắc dân tộc, chủ động hội nhập quốc tế trong tình hình hiện nay
4 Nội dung và phạm vi nghiên cứu
Từ mục tiêu trên, đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung sau:
Chương 1: Quá rrình hình thành và những đặc điểm của thị trường văn hóa
phẩm nước ta
Chương 2: Hiện trạng một số thị trường văn hoá phẩm ở nước ta
Chương 3: Dự báo xu thế vận động và một số giải pháp định hướng phát triển thị trường văn hoá phẩm nước ta từ nay đến năm 2010
Đề tài chỉ nghiên cứu một số thị trường: thị trường băng đĩa, thị trường điện ảnh, thị trường âm nhạc, thị trường mỹ thuật, thị trường biểu điễn nghệ thuật
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp biện chứng của
chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và kinh tế
trong quá trình phát triển, phương pháp phân tích tổng hợp, tổng kết thực tiễn
để nghiên cứu các hoạt động của thị trường văn hoá phẩm dưới góc độ kinh tế
học văn hoá, trong quá trình sáng tạo, trao đổi, lưu thông phân phối và tiêu dùng các giá trị tinh thần
6 Lực lượng nghiên cứu
Tham gia thực hiện đề tài, gồm có các cán bộ giảng dạy và nghiên cứu
Viện Văn hoá và phát triển, các nhà khoa học trong và ngoài Học viện, các cơ quản lý văn hoá, các đơn vị cơ sở trên lĩnh vực sáng tác, biểu diễn nghệ thuật
Trang 13CHUONG 1
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA
THỊ TRƯỜNG VĂN HOÁ PHẨM Ở NƯỚC TA
1.1 QUAN NIEM VE THI TRUONG VAN HOA PHAM
1.1.1 KHÁI NỆM “TH RUONGHANGHD® VA “THI RUNG VAN HX PHAM”
Lịch sử xã hội loài người đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển kinh tế
khác nhau Kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của nền kinh tế hàng hoá Khi cơ chế thị trường xuất hiện, nó biến mọi vật phẩm của hoạt động sản
xuất trở thành hàng hoá Những vật phẩm thuộc lĩnh vực tinh thần cũng chịu
sự tác động đó Thị trường văn hoá phẩm ra đời là tất yếu khách quan
a Khái niệm
Thị trường là gì? Thị trường là phạm trù riêng của nền sản xuất hàng
hoá, nó gắn với sự phân công lao động xã hội và lao động quốc tế Thị trường hàng hoá xuất hiện khi các sản phẩm lao động được sản xuất không nhằm đáp
ứng nhu cầu riêng của nhà sản xuất, mà để trao đổi
Theo quan niệm của nhiều tác giả, thị trường hàng hoá là nơi diễn ra
các quá trình trao đổi, mua bán hàng hoá, là quá trình mà thông qua đó
người tiêu dùng quyết định mua các mặt hàng nào, và người sản xuất quyết định sản xuất cáí gì? Sản xuất cho ai, sản xuất như thế nào? Nói cách khác, thị trường là nơi thực hiện giá trị của hàng hoá, là tấm gương soi để xác định
đúng mục tiêu sản xuất và đánh giá hiệu quả kinh doanh Cho nên, thị trường
là căn cứ, là đối tượng của công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế, thông qua đó
kiểm nghiệm, đánh giá hiệu quả của các chủ trương, chính sách, biện pháp kinh tế - văn hoá - xã hội của một quốc gia
Thị trường hàng hoá có một số đặc điểm sau: là nơi thể hiện vai trò mua
và bán, tại đây người tiêu dùng có thể thoả mãn nhu cầu, người sản xuất có thể tối đa hoá lợi nhuận; quyền sở hữu quan hệ thị trường tạo ra cho các chủ sở hữu kinh tế quyền định đoạt đối với các tài sản, vì thế khuyến khích tối đa hoá lợi
nhuận từ những nổ lực của họ Người sản xuất thông qua những lựa chọn các lợi ích kinh tế để quyết định phương án kinh doanh Sự canh tranh trên thị trường
Trang 14phải được đảm bảo để các nhà sản xuất phân bổ các nguồn lực một cách có hiệu
quả hơn
Trong nền kinh tế thị trường, khâu quan trọng nhất trong quá trình tái
sản xuất mở rộng là lưu thông hàng hoá Sản xuất chỉ có thể phát triển được khi được thị trường kiểm nghiệm và chấp nhận các sản phẩm của nó Các hàng
hoá không được người tiêu dùng chấp nhận, thì sản xuất sẽ bị đình đốn và
người sản xuất có thể bị phá sản Chức năng trước hết của thị trường trước hết
chỉ thừa nhận những hàng hoá nào đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng,
và thứ hai là thực hiện giá trị và giá trị trao đổi của người bán và người mua
Đây là nơi thông tin chính xác nhất cho cả người sản xuất và tiêu dùng biết
mình phải làm gì, có ảnh hưởng điều tiết đối với cơ cấu kinh tế - xã hội rất hữu hiệu
Thị trường hàng hóa văn hóa xuất hiện là tất yếu khách quan, nó mang
những đặc điểm chung của thị trường hàng hóa Có thể hiểu khái niệm “thi trường văn hoá phẩm” như sau:
Thị trường văn hoá phẩm là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi mua bán, lưu thông các sản phẩm hàng hoá văn hoá, là quá trình trong đó người mua và người bán những loại hàng hoá văn hoá nào đó tác động qua
lại lẫn nhau bằng những phương thức khác nhau để xác định giá cả, số lượng hàng hoá mua bán và những phương thức giao nhận cũng như
thanh toán
b Thị trường văn hoá phẩm được hình thành như thế nào?
Thị trường văn hoá phẩm được hình thành bởi nhu cầu trao đổi, lưu thông
trên thị trường của một loại hàng hoá đặc biệt, đó là hàng hóa văn hóa (sản
phẩm tỉnh thần)
Thế nào là sản phẩm tỉnh thần?
Trong quá trình sáng tạo các giá trị vật chất, con người đã sáng tạo ra
các giá trị tỉnh thần, nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thần của mình Ở công trình Một số nghiên cứu bước đầu về kinh tế học văn hoá, tác giả Lê Ngọc Tòng đã quan niệm: “Sản phẩm văn hoá tỉnh thần là hình thái quan niệm về văn hoá
nghệ thuật, tư tưởng chính trị, pháp luật, tôn giáo, đạo đức thẩm mỹ do con
Trang 15người sáng tạo ra trong thực tiễn, sdn phdm tinh thdn trong do tdp trung cdc
giá trị tỉnh thân có khả năng thoả mãn như câu tỉnh thân của con người, hướng con người tới những giá trị Chân - Thiện - Mỹ - Ích ” (] Các cụm từ
như “sản phẩm van boá”, “sản phẩm văn hoá tính thần”, hay “sản phẩm tính
thần” đều có nội hàm nêu trên Sản phẩm văn hoá tỉnh thần tồn tại dưới nhiều
dạng? Có thể tôn tại dưới dạng các sản phẩm tri thức, hoặc các sản phẩm văn
nghệ, hay dưới dạng văn hoá vật thể và phi vật thể
Sản phẩm tính thần được sáng tạo trong quá trình hoạt động thực tiễn
của con người Nhưng ở giai đoạn khởi nguyên của nó, hoạt động sáng tạo này không chịu ràng buộc của lợi ích vật chất Người nghệ sĩ làm ra tác phẩm hoàn toàn xuất phát từ sự thôi thúc của nội tâm, từ những rung cảm thẩm mỹ
tự do Ban đầu các tác phẩm ấy chưa tách khỏi môi trường và nghệ nhân sáng
tạo ra chúng Hơn nữa do chưa có kỹ thuật ín ấn, chưa có những mục đích
kinh tế, nên nó trải qua một quá trình cộng đồng hoá lâu đài, thấm đẫm tính cộng đồng, tính tập thể Điều đáng lưu ý là sản phẩm văn hoá có sự khác nhau rất cơ bản ở fính độc đáo, tính đơn nhất của nó, so với tính chất sản xuất hàng
loạt của sản xuất vật chất Do vậy, nó có những đặc thù cơ bản:
- Sản phẩm văn hoá tinh thần lúc đầu gắn với kinh nghiệm và cảm xúc
thẩm mỹ của người nghệ sĩ là chủ yếu, nó có tính công hữu và phi hàng hoá Giá
trị của nó thường được tính theo lao động cá biệt, chứ không phải là lao động
bình quân
- Sản phẩm văn hoá tỉnh thần không chịu giới hạn về thời gian và không
gian, có thể truyền bá rộng khắp, với số lượng không hạn chế
- Vì nó được sáng tạo theo một nguyên tắc thẫm mỹ nhất định, do vậy
để hưởng thụ giá trị đó, có khi cần phải có thời gian và trình độ nhất định Trong quá trình vận động, các sản phẩm tỉnh thần đã bị hàng hoá hóa (thương mại hoá) Quá trình này diễn ra như sau:
1Lê Ngọc Tong (2004), Mbt số nghiên cứu bước đâu về kinh tế học văn hóa, Nxb CTQG,
Hà Nội, tr 63
Trang 16Su phân công lao động xã hội trong quá trình vận động phát triển đã làm cho hoạt động sáng tạo (sản xuất) văn hoá có sự thay đổi quan trọng Theo các nhà nghiên cứu, thì thứ nhất, nó làm cho hoạt động sáng tạo của người nghệ sĩ trở thành hoạt động nghề nghiệp Lúc này người nghệ sĩ làm ra tác phẩm của mình không chỉ vì nhu cầu nội tâm, mà còn đáp ứng nhu cầu xã
hội Không những thế, anh ta chỉ có thể thoả mãn những nhu cầu của cá nhân bằng cách thông qua sự đáp ứng nhu cầu của đời sống xã hội Như vậy, dù muốn hay không, ngay từ bước khởi đầu của hoạt động sáng tạo - khi mới chỉ
là hoạt động thầm lặng bên trong của chủ thể - thì nó đã bị các quy luật cung
cầu, cạnh tranh và vai trò của người mua trong cơ chế thị trường chỉ phối rồi (Mác và Ăng-ghen Bàn về văn học nghệ thuật)
Thứ hai, do nhu cầu của xã hội, các sản phẩm của hoạt động sáng tạo
văn hoá đã được vật chất hoá và được nhân bản hàng loạt để lưu thông rộng rãi
thị trường Tức là tất yếu phải có những chỉ phí cần thiết để đầu tư cho các
hoạt động in ấn, xuất bản, trình diễn Kinh doanh văn hoá phẩm ra đời và cơ
chế thị trường lúc này đóng một vai trò rất quan trọng
Khi phân tích bản chất của hoạt động tỉnh thần trong cơ chế thị trường, C.Mác và Ph.Ăng-phen đã viết: “Những người làm nghề triết học cho đến nay
vẫn sống nhờ vào việc kinh doanh tỉnh thần tuyệt đối bây giờ lại lao vào những hoà hợp mới đó Và mỗi người đều dốc lòng hãng hái phi thường để bán phần họ đã nhận được Nhưng sự việc không thể tiến hành không có cạnh tranh Ban đầu, cuộc cạnh tranh đó còn tiến hành một cách khá đứng đắn và
theo lối tư sản Về sau, khi mà thị trường Đức đã ứ hàng, và mặc dầu mọi cố
gắng cũng không thể bán ra thị trường thế giới, thì theo lối thông thường ở Đức mọi việc đều xấu đi vì việc sản xuất hàng hoá xấu, việc làm giảm phẩm chất, làm giả nguyên vật liệu, làm giả nhãn hiệu, bán khống, dùng phiếu khống và một hệ thống tín dụng không có cơ sở hiện thực nào cả” ())
!_ Dẫn theo GS Hoàng Vinh, Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta,
Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội 1999, tr 303-304
Trang 17Nhu vay, trong cơ chế thị trường, hoạt động sản xuất văn hoá đã mang thuộc tính của sản xuất hàng hoá và sản phẩm của nó trở thành đối tượng của
hoạt động kinh doanh, là tất yếu khách quan Trong một thời gian dài, các nước
XHCN không chấp nhận cơ chế thị trường, mặc dù sản xuất văn hoá vẫn diễn ra
là một hoạt động sản xuất hàng hoá, có người bán, người mua hàng hoá văn
hoá
Quá trình thương mại hoá các sản phẩm vật chat va tinh thân trong lịch
sử xã hội là một tất yếu khách quan Tuy nhiên, là loại sản phẩm đặc biệt, nên quá trình thương mại hoá các sản phẩm văn hoá tinh thần diễn ra chậm chạp hơn, phức tạp hơn so với các loại sản phẩm vật chất Ban đầu, những sản phẩm văn hoá nào được được vật chất hoá, sẽ là sản phẩm được thương mại hoá đầu
tiên, tức là chúng được sản xuất để trao đổi trên thị trường Điều đáng lưu ý, ở giai đoạn này việc thương mại hoá về cơ bản đã xảy ra, song chưa đầy đủ và
trọn vẹn Ví dụ giá trị những bức tranh được bán ra, mới chủ yếu theo cái vỏ
vật chất của nó, còn giá tri tinh thần - phần sáng tạo đầu tiên và duy nhất - tức bản quyền của tác phẩm, thì chưa hề được đề cập và định giá Các sản phẩm
văn hoá tỉnh thần mang tính cộng đồng cao, không vật chất hoá như: :hø ca,
truyện kể, trì thức dân gian, diễn xướng cho đến tận ngày nay mới dần dần
tham dự vào quá trình thương mại hoá
Cũng trong quá trình đó, do bản chất của sáng tạo văn hóa - văn hoá bác
học, đã dần dần xuất hiện sở hữu cá nhân trên lĩnh vực văn hóa Chính đặc
trưng này đã làm cho dòng sản phẩm văn hoá này nhanh chóng tham gia vào quá trình thương mại hoá Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào từng giai đoạn phát triển của nên kinh tế, vào môi trường văn hoá, xã hội và thể chế chính trị của mỗi quốc gia, mà quá trình này xảy ra khác nhau Trong thời đại ngày nay, những
phát minh sáng chế, sáng tạo các phần mềm vi tính, tiểu thuyết, thơ ca đều
có thể trở thành hàng hoá
Xét về trình độ phát triển, thì hình thức xế hội hoá là thể hiện giai đoạn
phát triển cao của phân công lao động xã hội Về phương điện này, thương mại hoá các sản phẩm tinh thần chính là quá trình xã hội hóa (các sản phẩm
đo nhiều người làm ra và thông qua việc mua bán, để cho nhiều người khác sử
Trang 18dụng) Nói cách khác, thương mại hóa sản phẩm tinh thần là mang tính khách
quan, thể hiện trình độ phát triển của xã hội trong phân công lao động Thực
chất của thương mại hoá các sản phẩm văn hoá tỉnh thân là quá trình tổ chức các hoạt động sản xuất, kinh doanh các sản phẩm văn hoá tỉnh thần để kiếm
lời Thương mại hóa khác với xu hướng (hay khuynh hướng) thương mại hóa Nói khuynh hướng thương mại hóa, thể hiện tính chủ quan trong sản xuất, kinh doanh chỉ nhằm mục đích duy nhất là lợi nhuận, nó mang tính tiêu cực Ví dụ:
trong cơ chế thị trường, một số người đã lợi dụng khai thác những ấn phẩm
văn hoá như băng, đĩa hình, phim, các trò giải trí có nội dung không lành
mạnh, nhằm thoả mãn thị hiếu tầm thường của một số bộ phận công chúng để kiếm lời bằng tất cả mọi giá
Điều đáng lưu ý, vì không phải là hàng hóa thuần tuý, nên không phải sản
phẩm văn hoá tỉnh thần nào cũng được thương mại hoá Quá trình thương mại
hoá các sản phẩm văn hoá tỉnh thần phải dựa vào đặc trưng của nó (tính hàng
hoá và phi hàng hoá, giá trị kép ) Việc xác định các các loại văn hoá phẩm
trong quá trình thương mại hoá là rất quan trọng Theo ý kiến của các nhà nghiên cứu ():
Những sản phẩm văn hoá tinh thần không được thương mại hoá:
- Là những sản phẩm mà việc sản xuất, phân phối lưu thông và tiêu
dùng do nhà nước quản lý và bao cấp kinh phí hoàn toàn, như: Các viện bảo tàng, các kỷ vật trong những khu di tích lịch sử; các sản phẩm phục vụ cho nhụ cầu rất cao của công chúng và của cả xã hội; các sản phẩm mà khi sản
xuất nó, người ta không chú ý nhiều đến hiệu quả kinh tế mà chủ yếu tính đến hiệu quả xã hội Thường các sản phẩm này được Nhà nước chi nguồn kinh phí
để đầu tư sản xuất, bảo quản các loại hàng hoá này
Những sản phẩm tỉnh thần có thể thương mại hoá từng phần:
Tính chất của loại sản phẩm này là: Khi tiêu dùng vừa thoả mãn nhu cầu
cá nhân, vừa thoả mãn nhu cầu của xã hội và giá trị của nó cao hơn giá trị thị
trường, kinh phí để sản xuất sẵn phẩm loại này thường được nhà nước bao cấp
1Lê Ngọc Tòng, Một số nghiên cứu Sdd „ tr 108, 109
Trang 19hoặc bù lỗ một phần; các sẵn phẩm đó khi tiêu dùng mang lại những hiệu quả xã
hội, những cơ sở sản xuất có thể mở rộng sản xuất tăng thêm nguồn thu Đối với
những loại hàng hoá này, Nhà nước rất khuyến khích đầu tư sản xuất của tư nhân
Những sản phẩm tinh thần có thể thương mại hoá hoàn toàn:
Đó là những loại sản phẩm mà công chúng có nhụ cầu rất cao, Nhà nước không có khả năng bao cấp; khi dùng nó không gây tác hại hoặc phản giá trì đối với xã hội; các đơn vị sản xuất kinh doanh có thể đầu tư sản xuất
kinh doanh
1.1.2 Các yếu tố cơ bản cấu thành thị trường văn hoá phẩm
Thị trường văn hoá phẩm được cấu thành bởi các yếu tố: hàng hoá văn hoá, cung, cầu và giá cả hàng hoá văn hoá phẩm
Trước hết, về hàng hoá văn hoá phẩm Như đã phân tích ở trên, sản
xuất hàng hoá văn hoá xuất hiện khi mà các sản phẩm văn hoá làm ra không
phải để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sáng tạo, mà để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi mua bán Cũng như các loại hàng hoá khác, một sáng tạo văn hoá chỉ có thể trở thành
hàng hoá khi nó hội tụ được các đặc tính:
- Là sản phẩm lao động của con người
- Có khả năng thoả mãn ít hoặc nhiều nhu cầu của con người
- Nó được sản xuất ra để trao đổi, mua bán
(Tuy nhiên, trên thực tế còn có những loại hàng hoá được trao đổi trên thị trường, nhưng không phải do con người làm ra)
Hàng hoá văn hoá cũng mang hai thuộc tính của hàng hoá nói chung,
đó là giá trị và giá trị sử dụng Giá trị sử dụng của hàng hoá văn hoá chính là tính hữu dụng có thể thoả mãn nhu cầu văn hoá tỉnh thần của mọi người, mọi nhà, mọi tầng lớp xã hội ở nhiều thời đại khác nhau Hoạt động sản xuất văn hoá đa số thuộc về lĩnh vực sản xuất phi vật thể, nên hàng hoá sản phẩm văn
hoá chủ yếu được xếp vào loại sản phẩm phục vụ
Giá trị của hàng hoá văn hoá là do lao động trí tuệ trừu tượng của con người kết tính trong đó Việc xác định lượng giá trị thường căn cứ vào thời
Trang 20gian lao động cá biệt của người sáng tạo (vốn sống, vốn nghề, tài năng bẩm sinh ) Thời gian để sản xuất hàng tỉnh thần bao gồm từ thời gian thai nghén
và cả thời gian thể hiện hoàn thành tác phẩm Trong đó thời gian thai nghén
rất trừu tượng, thường khó quy ra thời gian vật chất cụ thể Các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất như nguyên vật liệu, công nghệ, sức lao động
đều có tính đặc thù Chính vì vậy, sản phẩm tinh thần thường tự khẳng định
mình bằng tính độc đáo, đơn nhất, so với tính chất sản xuất đồng loạt của các
sản phẩm hàng hoá khác
Trong quá trình sản xuất và lưu thông, sản phẩm hàng hoá văn hoá có
tính hai mặt: nó có thể tạo ra giá trị văn hoá hoặc phản văn hoá Điều đó bắt nguồn từ tính cá nhân, cá biệt trong sáng tạo Nếu một sản phẩm (tác phẩm văn học, điện ảnh, ca khúc, giải trí ) có giá trị, nó sẽ tác động tích cực đến
người tiêu dùng và xã hội, góp phần bồi đấp tư tưởng tình cảm của con người, hướng con người tới những chuẩn mực tốt đẹp và ngược lại Khác với sản
phẩm vật chất (mang tính tiêu dùng cá nhân cao), sản phẩm văn hoá tỉnh thần còn thực hiện chức năng văn hoá, chức năng xã hội Cho nên, để có một thị trường văn hoá phẩm lành mạnh, phong phú, thì trách nhiệm của người sản xuất không phải vì lợi nhuận tuyệt đối mà làm tổn hại đến môi trường văn hoá của cộng đồng Mặt khác, đây là loại hàng hoá vừa có tính công hữu vừa có tính tư hữu, thường do cá nhân sáng tạo, nên mang dấu ấn cá nhân đậm nét Nhưng dù muốn hay không, trong quá trình sáng tạo, chủ thể đương nhiên phải sử dụng những chất liệu là các giá trị văn hoá truyền thống của cộng
đồng, của dân tộc và quốc tế Chính vì thế, khi nó trở thành hàng hoá, thì đồng
thời hàng hoá đó cũng thể hiện tính công hữu Tính công hữu làm nền tảng cơ
sở cho sự sáng tạo, còn tính tư hữu (dấu ấn cá nhân) làm phong phú, tạo sự độc đáo hấp dẫn của hàng hoá sản phẩm văn hoá Hàng hoá văn hoá là loại sản phẩm mà khi sử dụng nhiều lần, ít bị bao mòn giá trị, hoặc hao mòn chậm,
thậm chí giá trị có khi được tăng lên sau nhiều lần sử dụng
Thứ hai, là cung hàng hoá văn hoá phẩm Cung là là khối lượng hàng hoá, hoặc dịch vụ mà tất cả những người sản xuất có thể đưa vào thị trường một số lượng của một loại hàng hoá nào đó, và bán với giá cả cụ thể Cung
Trang 21hang hoá thường dựa trên hai điều kiện cơ bản: nhu cầu và khả năng đáp ứng Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến cung, như: mục đích của người cung ứng, giá
thành sản xuất, giá cả hàng hoá, sự phát triển của công nghệ, giá cả của các loại
hàng thay thế Thường thì giá cả hàng hoá tăng, sẽ làm cho cung tăng lên, và ngược lại
Thứ ba là cầu hàng hoá văn hoá phẩm Cầu, chính là khả năng thanh
toán của người tiêu dùng để thoả mãn nhu cầu của mình Cầu chỉ số lượng mà
hàng hoá hoặc dịch vụ mà người tiêu dùng có thể mua được Nó là sự kết hợp giữa nhu cầu và sức mua của người tiêu dùng Cầu hàng hoá văn hoá cũng bị
ảnh hưởng bởi các yếu tố như: giá cả, giá hàng thay thế bổ sung, sở thích, nguồn thu nhập của người tiêu dùng, số lượng người mua trên thị trường, sự tiêu dùng của người xung quanh Lượng cầu chỉ số lượng một loại hàng hoá nào đó, với mức giá mà người tiêu dùng chấp nhận được Lượng cầu khác với cầu Sự thay đổi của cầu bao giờ cũng dẫn tới sự thay đối của lượng cầu về
một loại hàng hoá nào đó Khi cầu lớn hơn cung thì giá cả cao hơn giá trị, và ngược lại
1.1.3 Đặc trưng của thị trường văn hoá phẩm
Sự xuất hiện thị trường văn hoá phẩm là một tất yếu khách quan, nó
cũng tuân thủ và chịu sự chi phối của những quy luật kinh tế thị trường Tuy nhiên, do sản phẩm văn hoá là một loại hàng hoá đặc biệt, nên thị trường văn
hoá phẩm có những đặc thù riêng Thị trường văn hoá phẩm không chỉ có hoạt
động mua bán đơn thuần, cũng không thể lấy lợi nhuận làm mục tiêu duy
nhất Có thể thấy những nét đặc thù đó là:
Thứ nhất, nó thực hiện chuyển quyên sở hữu và quyền sử dụng hàng
hoá Bởi vì hàng hoá sản phẩm văn hoá là loại loại hàng hoá đặc thù, nên có
thể nhân bản đến vô cùng mà không mất đi giá trị sử dụng của nó Khi người
tiêu dùng sử dụng một sản phẩm văn hoá, người bán vẫn có thể giữ nguyên
bản gốc của sản phẩm đó Chính vì vậy, các sản phẩm hàng hoá tỉnh thần trên thị trường có thể được mua bán, trao đổi theo hai phương thức sau:
- Trao đổi quyên sở hữu hàng hoá: người bán có thể trao cho người mua
toàn bộ quyền định đoạt tác phẩm của mình, chỉ giữ lại quyền tác giả
Trang 22- Trao đổi quyền sử dụng hàng hoá: người bán giữ lại quyền định đoạt hàng hoá, chỉ đồng ý cho người mua sử dụng tác phẩm của mình ở những mức
độ khác nhau Ví dụ: tác giả cuốn sách có thể hợp đồng với nhà xuất bản nào
đó in và bán tác phẩm đó, nhưng quyền sở hữu và quyền tác giả vẫn thuộc về
người sáng tạo ra tác phẩm đó Trong thị trường văn hoá phẩm, vấn để bản
quyền tác giả đóng vai trò quan trọng
Thứ hai, trên thị trường văn hoá, Nhà nước vừa là người làm chức năng công quản, vừa đại điện cho xã hội thực hiện chức năng người tiêu dùng xã hội Bởi vì hàng hoá sản phẩm văn hoá có giá trị sử dụng xã hội, nên Nhà
nước phải thay mặt xã hội trả một khoản tiên cho người bán hàng với tư cách là
đại diện cho người tiêu dùng xã hội Chính đặc điểm cơ bản này của thị trường
văn hoá phẩm đã làm cho việc mua bán, trao đổi các sản phẩm văn hoá trở nên
phức tạp và nhạy cảm hơn Các cơ quan quản lý nhà nước phải thẩm định được
tỷ trọng giá trị sử dụng xã hội trong toàn bộ giá trị sử dụng của các loại hàng
hoá đó
Thứ ba, Giá trị của sản phẩm hàng hoá văn hoá được hình thành vừa
theo quy luật của giá trị, vừa theo những quy luật đặc thù của văn hoá Có rất
nhiều sản phẩm văn hoá có giá trị kinh tế rất lớn, dù chỉ mất rất ít thời gian để sáng tạo ra nó Chính vì thế mà giá trị của những sản phẩm này thường được quy định trên cơ sở thời gian lao động cá biệt để sáng tạo ra nó
1.2 THỊ TRƯỜNG VĂN HOÁ PHẨM Ở NƯỚC TA
Có thể ở nước ta, hiện tượng mua bán trao đổi các sản phẩm văn hóa đã
xuất hiện từ lâu, nhưng chưa tồn tại với tư cách là một thị trường và có sự tác
động sâu sắc đến đời sống xã hội như hiện nay
1.2.1 Quá trình hình thành thị trường văn hoá phẩm ở nước ta
a Thị trường văn hoá phẩm ở nước ta xuất hiện từ bao giờ?
Trong một thời gian rất dài của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp, chúng ta đã cho rằng văn hoá là lĩnh vực hoạt động phi sản xuất Đến giữa thập ký 80, khi mà những dịch vụ phi vật chất có những vị trí đáng kể trong xã hội, thì vẫn còn không chỉ những người hoạt động trên các lĩnh vực
Trang 23khác, mà ngay cả những người làm văn hoá, văn nghệ vẫn quan niệm rang
kinh tế và văn hoá là hai lĩnh vực khác biệt, hầu như không có quan hệ với
nhau, hoặc có quan hệ không đáng kể Đến Hội nghị khoa học về kinh tế trong văn hoá nghệ thuật cuối năm 1985, chúng ta đã bắt đầu nhận thấy sai lầm của quan niệm này
Trong hai thập kỷ qua, sự nghiệp đổi mới đất nước của chúng ta diễn ra trong bối cảnh toàn cầu hoá về kinh tế, mở cửa hội nhập với khu vực và thế
giới Điều đó đem lại nhiều lợi ích cho sự phát triển kinh tế và văn hoá, nhưng
nó cũng mang lại nhiều thách thức trên tất cả trên các lĩnh vực đời sống xã hội
của các quốc gia dân tộc, trong đó có lĩnh vực văn hoá Đặc điểm của xu thế toàn cầu hoá hiện nay là toàn cầu hoá tư bản chủ nghĩa Với bản chất của phương thức sản xuất TBCN, tất cả mọi thứ thành hàng hoá, kể cả các sản
phẩm văn hoá đều được trao đổi, mua bán trên thị trường Nếu chấp nhận phát triển kinh tế thị trường định hướng XNCN, chúng ta có thể cưỡng lại xu thế đó
được không? Và cưỡng lại bằng cách nào? Day 1a van dé dat ra trên phương diện nhận thức cũng là vấn đề thực tiễn đặt ra đối với việc phát triển hay
không phát triển thị trường văn hoá phẩm ở nước ta Nếu phát triển thị trường văn hoá phẩm, thì phát triển đến đâu? ở khu vực nào?
Thực tế, trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện
nay, nhiều giá trị văn hoá đã xuất hiện và tồn tại trong đời sống xã hội không chỉ với diện mạo của một sản phẩm tỉnh thần mà còn mang những đặc tính của
hàng hoá, giá trị kinh tế Dù muốn hay không, thị trường văn hoá phẩm vẫn đang tồn tại và hoạt động một cách khách quan, có tác động cả tích cực lẫn
tiêu cực đến sự phát triển kinh tế, văn hoá xã hội
Có thể khẳng định rằng, quá trình hình thành thị trường văn hoá phẩm
ở nước ta gắn với đường lối đổi mới đất nước từ năm 198ó, do Đảng ta khỏi
xướng và lãnh đạo Chúng ta có thể thấy được quá trình đó như sau:
Thứ nhất, Đường lối đổi mới kinh tế gắn với chủ trương xây dựng nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN Đổi mới kinh tế trước hết là đổi mới tư
duy kinh tế, chuyển đổi cơ chế và phương thức quản lý kinh tế, chuyển đổi
quan hệ và các chính sách kinh tế Đây là một sự chuyển hướng có tính cách
Trang 24mạng của Đảng, từ xây dựng CNXH theo mô hình cũ sang xây dựng CNXH theo mô hình mới Đây cũng là một quá trình Đổi mới đang được tìm tòi, thể nghiệm Nhiều vấn đề về kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá được xem xét lại, gắn với việc đổi mới tư duy kinh tế và xây dựng nên kinh tế thị trường ở nước ta
hiện nay
Việc xây dựng nền kinh tế thị trường dựa trên sản xuất hàng hoá, quy
luật giá trị và quan hệ thị trường đã tạo ra cơ sở kinh tế để phát triển và thúc đẩy nhu cầu của từng cá nhân cũng như của xã hội Do đó, dưới tác động và
ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, sự hình thành ý thức và năng lực dân
chủ của mỗi người có điều kiện để thực hiện nhiều hơn và rõ rệt hơn so với kinh tế kế hoạch hoá tập trung với cơ chế bao cấp và phương thức phân phối
bình quân trước Đổi mới Xung lực này của kinh tế thị trường làm cho văn hoá, nghệ thuật của xã hội và quan hệ giữa con người với con người có tính
chất dân chủ và bình đẳng hơn, khác phục được nhược điểm của quan liêu,
đẳng cấp, gia trưởng Trong môi trường kinh tế thị trường và môi trường xã hội dân chủ hoá, con người được bộc lộ những suy nghĩa và đánh giá thực,
phản ánh nhu cầu thực, giải phóng các tiểm năng xã hội, các tiềm lực của cá nhân, giải phóng ý thức, tưởng và tỉnh thần Dân chủ vừa là môi trường vừa là
điêu kiện để hình thành nhân cách, nhân cách thực sự của mình chứ không
phải một nhân cách “ảo”, “vay mượn”, che lấp mất cả tính cách, bản sắc riêng
Một cách lành mạnh, tự nhiên kinh tế thị trường không chỉ hối thúc con người
phải chuẩn bị và trau đồi năng lực của mình mà còn đòi hỏi con người phải chú trọng tới trách nhiệm, cả trách nhiệm đạo đức lẫn trách nhiệm pháp lý, trong công việc, trong hoạt động của mình Việc giữ chữ tín trong sản xuất, kinh
doanh, trong công việc và trong các quan hệ hệ ứng xử của con người trở thành một đòi hỏi đạo đức, hơn nữa còn là văn hoá
Kinh tế thị trường thúc đẩy sự ra đời của văn hoá kinh doanh, kinh doanh trong lĩnh vực văn hoá, trong đó cái cốt lõi là đạo đức, là sự lương
thiện Song việc xây dựng nên kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở nước ta đang đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến đời sống tinh thần, văn hoá
của xã hội Về phương điện nhận thức: thế nào là nền kinh tế thị trường định
Trang 25hướng xã hội chủ nghĩa? Kinh tế thị trường ở nước ta liệu có thể phát triển
theo định hướng xã hội chủ nghĩa được hay không? Nhiều nghịch lý đang diễn
ra trong đời sống kinh tế văn hoá của đất nước: tính đã man, hoang dã của kinh tế thị trường hiện nay, sự thua lỗ của các doanh nghiệp nhà nước, khả
năng cạnh tranh yếu kém của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường trong
nước và quốc tế, nạn tham nhũng, lãng phí, thất thoát trong đầu tư phát triển
kinh tế Sự phát triển của kinh tế tự nhân, sự phát triển và làm ăn có hiệu
quả của các doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài cao hơn các doanh
nghiệp nhà nước đang tác động vào đời sống xã hội, vào tư tưởng, đạo
đức của chúng ta
Thứ hai, Đường lối xây đựng nên văn hoá mới ở nước ta Đồng thời
với nhiệm vụ “trọng tâm” xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền và phát triển nền đân chủ xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ xây đựng nên văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Đường lối xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
được nêu ra trong Nghị quyết Trung ương năm khoá VIII “Jam cho văn hoá thấm sâu vào từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đời sống tỉnh thân cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng, văn mình, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hột” (D
Để thực hiện phương hướng đó, những giải pháp cơ bản được đưa ra,
trong đó có việc hình thành thị trường văn hoá phẩm ở nước ta Lần đầu tiên chúng ta chủ trương các hoạt động văn hoá không chỉ mang tính chất sự nghiệp mà còn mang tính “kinh doanh” Nghị quyết Trung ương năm khoá VIH đã nhấn manh “Nang cao chất lượng hoạt động của các thiết chế văn hoá hiện có, sắp xếp hợp lý các cơ quan hành chính, các đơn vị sự nghiệp và kinh doanh, nâng cấp các đơn vị văn hoá, nghệ thuật trọng điểm, tạo chất Ì-
1Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội Nghị TW 5 - Khóa VIHI, Nxb CTQG, 1998, tr
58
Trang 26uong méi cho todn nganh” (') Ching ta đặt các hoạt động văn hoá, các sản phẩm văn hoá trong sự vận hành của cơ chế thị trường: “Hoàn chỉnh các văn
bản pháp luật về văn hoá, nghệ thuật, thông tin trong điêu kiện của cơ chế
kinh tế thị trường; ban hành các chính sách khuyến khích sáng tạo và nâng mức đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá của nhân dán” () Có thể nói những
quan điểm mới nói trên là nhân tố rất cơ bản tác động đến sự xuất hiện thị trường văn hoá phẩm ở nước ta
- Một là, sự thừa nhận có thị trường văn hoá phẩm và công nhận một bộ
phận sản phẩm văn hoá như là sản phẩm hàng hoá được lưu thông trên thị
trường
- Hai là, tạo điêu kiện cho thị trường văn hoá phẩm vận thông trong đời
sống kinh tế - xã hội của đất nước Có chính sách kinh tế trong văn hoá và
chính sách văn hoá trong kinh tế
Chính sách kinh tế trong văn hoá được làm rõ: “nhằm gắn văn hoá với
hoạt động kinh tế, khai thác tiêm năng kinh tế, tài chính hỗ trợ cho sự phát
triển văn hoá" và “thực hiện mở rộng kinh doanh dịch vụ (hoại động thể thao,
dịch vụ văn hoá ) tạo nguôn thu hỗ trợ cho các thành phần kinh tế, kể cả tư
nhân trong nước và nước ngoài, thực hiện hình thức liên doanh, liên kết với
một số cơ sở hoạt động văn hoá theo quy định của pháp luật, nhằm xây dựng
cơ sở hạ tầng, đổi mới công nghệ và tham gia tổ chức một số hoạt động văn
hoá có nội dụng lành mạnh, bổ ích” (”) Coi hoạt động của một số cơ quan văn
hoá, một số thiết chế văn hoá nhu hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất
kinh đoanh, từ đó có chế độ ưu đãi về thuế, thuế đất, thuế vốn, khấu hao cơ
bản v.v “Quy định cụ thể chế độ cho các doanh nghiệp đặc thù của ngành văn hoá thông tin (hãng phim, rạp chiếu bóng, hiệu sách, khu vui chơi giải trí, nhà xuất bản, khu triển lãm, tu bổ di tích ) được hưởng mức thuế tu đãi
' Đảng Cộng sản Việt Nam (Tài liệu đã dẫn), tr 68
? Đảng Cộng sản Việt Nam (Tài liệu đã dẫn), tr 69
* Đảng Cộng sản Việt Nam (Tài liệu đã dẫn), tr 74 -75
Trang 27trong hoạt động kinh doanh" (), cùng với việc “mở rộng, khuyến khích xuất khẩu sách, báo, văn hoá phẩm”
Những quan điểm, đường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước về văn hoá, thị trường văn hoá phẩm đã thể hiện sự chuyển hướng rất căn bản đặt nền tảng cho sự phát triển thị trường văn hoá phẩm ở nước ta trong giai đoạn
Đổi mới hiện nay Tuy nhiên, trong quan niệm của chúng ta về xây dựng và
phát triển văn hoá trong điều kiện kinh tế thị trường còn nhiều vấn đề đặt ra
Chẳng hạn, sự phát triển kinh tế thị trường và mục tiêu của nền văn hoá “#ên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ” tác động qua lại như thế nào? Từ đó dẫn đến vấn
để văn hoá có vận hành theo cơ chế thị trường hay không? Những sản phẩm văn
hoá nào được coi là các sản phẩm hàng hoá và chịu sự chỉ phối của cơ chế thị trường? Các chính sách kinh tế, cơ chế quản lý cụ thể đối với thị trường văn hoá
chưa thật rõ ràng Điều này được thể hiện ở tính phức tạp đang diễn ra của thị
trường văn hoá phẩm hiện nay, cũng như sự lúng túng của chúng ta trong công
tác quản lý thị trường văn hoá phẩm
b Một số thị tường văn hoá phẩm ở nước ta hiện nay
Theo công ước về bảo vệ đa dạng của các nội dung văn hoá và các biểu
đạt nghệ thuật do nhóm Chuyên viên văn hoá UNESCO khởi thảo, các hàng
hoá và dịch vụ văn hoá bao gồm các loại:
- Xuất bản phẩm và in ấn văn chương
- Âm nhạc và các thể loại nghệ thuật biểu diễn
- Nghệ thuật tạo hình
- Thủ công nghiệp, thiết kế và kiến trúc
- Phương tiện nghe nhìn và truyền thông mới
- Di sản văn hoá
- Các hoạt động văn hoá
Mỗi loại có hàng ngàn mặt hàng cụ thể, như vậy con số về dịch vụ văn hoá và văn hoá phẩm sẽ rất lớn
' Đáng Cộng sản Việt Nam (Tài liệu đã dẫn), tr 73 -74
Trang 28Mặc dù mới phát triển nhưng thị trường văn hoá phẩm ở nước ta hầu
như cũng đã có đủ mặt các loại hàng hoá văn hoá Có ý kiến (') cho rằng, hiện
nay chúng ta đã có:
* Thị trường nghe nhìn: (thị trường catset, và băng đĩa hình) Thị
trường này bao gồm: sản xuất chế tác, thâu băng, phát hành, cho thuê và thị trường chiếu băng Sản phẩm nghe nhìn có tính quốc tế nên thị trường nghe nhìn là thị trường quốc tế mang tính mở cửa, sản phẩm có sức truyền cảm mạnh, kích thích mạnh lại dễ vận chuyển, dễ buôn bán lậu Vì thế, đòi hỏi
phải có sự quản lý chặt chẽ để có thể ngăn chặn những sản phẩm văn hoá độc
hại, làm trong sạch thị trường văn hoá Việt Nam và nâng cao chất lượng văn hoá
* Thị trường diễn xuất: (thị trường biểu diễn nghệ thuật) Nhân tố
chủ yếu của thị trường này gồm sàn diễn, đoàn nghệ thuật và công chúng
xem Chủng loại của thị trường này rất nhiều, có bao nhiêu loại nghệ thuật
biểu diễn thì có bấy nhiêu thị trường diễn xuất Cùng với sự phát triển của
thị trường văn hoá, thị trường này cũng sẽ được mở rộng và đổi mới
* Thị trường điện ảnh: Thị trường này bao gồm thị trường kịch bản điện ảnh, thị trường nhân bản phim, thị trường chiếu phim thị trường điện ảnh của
nước ta trong những năm gần đây đang gặp rất nhiều khó khăn, bất cập, đòi hỏi điện ảnh Việt Nam phải có sự thay đổi mới, nâng cao chất lượng hơn nữa
* Thị trường sách: Gồm thị trường bản thảo sách, thị trường ¡in ấn,
thị trường phát hành và cho thuê sách thị trường này trong những năm gần đây phát triển phong phú và linh hoạt, tuy nhiên cũng có những tiêu cực, đó là sự xam nhập của những cuốn sách có nội dung không lành mạnh,
làm ảnh hưởng đến đời văn hoá xã hội Lĩnh vực xuất bản sách cần được Đảng và Nhà nước quan tâm một cách kịp thời và đúng đắn hơn nữa để góp
phần nâng cao giá trị văn hoá cho toàn dân, đẩy mạnh hiện đại hoá đất n- ước, góp phần xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh
1Lê Ngọc Tòng (2004), Một số nghiên cứu bước đâu về kinh tế học văn hóa, Nxb CTQG,
Hà Nội, tr 95- Ø7
Trang 29* Thị trường các vật phẩm văn hoá: Gôm thị trường phục chế vật
phẩm văn hoá, thị trường chế phẩm nghe nhìn và sách báo vật phẩm văn hoá, thị trường phục vụ tra cứu vật phẩm văn hoá, thị trường thương nghiệp vật phẩm văn hoá thị trường này đồi hỏi phải có sự quản lý tập trung, rạch
roi
* Thị trường mỹ thuật: là nơi diễn ra các hoạt động kinh doanh, mua bán, đấu giá tranh, tượng, ảnh, những tác phẩm mỹ thuật, thời trang Thị
trường này cần phải có biện pháp quản lý và thẩm định chặt chế của Nhà nước
để tránh tình trạng những tác phẩm nghệ thuật độc đáo và giá trị của nước ta bị
bán ra nước ngoài, không với mục đích ca ngợi đất nước mà với ý đồ đen tối
* Thị trường văn hoá giải trí: Gồm phòng nhảy, quán trà âm nhạc,
quán Karaoke, sân chơi thể thao và các dịch vụ văn hoá khác Thị trường này ở Việt Nam mới phát triển trong những năm gần đây, tuy nhiên bên cạnh việc phục vụ vui chơi giải trí và lợi nhuận mà nó đem lại, thì còn kèm theo những tệ nạn xã hội, cờ bạc, mại đâm, ma tuý
Cũng như các thị trường nói chung, trên thị trường văn hoá phẩm,
người bán bao giờ cũng mong muốn bán được nhiều hàng, thu được nhiều lợi nhuận Vì vậy họ hay tìm mọi cách để lách luật, trốn tránh sự quản lý
của Nhà nước, thậm chí vi phạm pháp luật như trốn thuế, lậu thuế, gian lận
thương mại, buôn bán hàng giả, hàng quốc cấm Thị trường văn hoá, buôn
bán, trao đổi hàng hoá văn hoá tình thần - một loại hàng hoá đặc biệt dễ có
tác động tiêu cực đến thị trường và đời sống xã hội, vì vậy việc quản lý thị trường văn hoá là hết sức quan trọng Nó không những góp phần ngăn chặn
được các loại hàng hoá văn hoá độc hại, phản giá trị mà còn giúp cho thị
trường văn hoá phẩm phát triển theo xu hướng lành mạnh, hữu ích
Thị trường văn hoá phẩm ở Việt Nam tuy hình thành muộn nhưng lại
có tiềm năng rất lớn, nhất là trong lúc chúng ta đẩy mạnh quan hệ giao lưu kinh tế - văn hoá với khu vực và trên thế giới
1.2.2 Những đặc điểm cơ bản của thị trường văn hoá phẩm nước ta
Quá trình phát triển thị trường văn hoá phẩm ở Việt Nam gắn liền với đường lối đổi mới đất nước và xây dựng nền văn hoá mới trong hai thập kỷ
Trang 30Xét trên phạm vị cả nước, thị trường văn hoá phẩm của chúng ta mới
phát triển, trong một bối cảnh đất nước vừa trải qua nhiều thay đổi lớn Từ
chiến tranh chuyển sang hoà bình với những bước chuyển mình trong công
cuộc đổi mới, tạo dựng một đời sống tự do, dân chủ thực sự giữa những thời
cơ và thách thức mới trên con đường hội nhập
- Đặc điểm thứ hai: Sự xuất hiện của thị trường văn hoá phẩm trong
điều kiện một nền kinh tế chưa phát triển, vận động theo cơ chế thị trường
định hướng XHCN
Trong hai thập kỷ qua, cơ chế kinh tế thị trường đã dân thay thế cho cơ
chế quan liêu bao cấp Tuy chưa phát triển hoàn thiện, nhưng sự thay đổi này
đã đẩy thị trường văn hoá phẩm ở nước ta lên một tầm cỡ mới, mang ý nghĩa mới
Về mặt tích cực, có thể thấy cơ chế thị trường đã làm cho quá trình sản xuất, bảo quản, phân phối, tiêu dùng các sản phẩm văn hoá có sự thay đổi
cơ bản so với thời bao cấp
Thứ nhất, nhìn vào thị trường văn hoá phẩm, ta có thể hình dung được
phần nào định lượng về giá trị kinh tế Để xuất bản và phát hành được một cuốn sách, người ta có thể đầu tư hàng trăm triệu, đến hàng tỉ đồng Để sản xuất một bộ phim, kinh phí có thể từ vài tỉ đến hàng chục tỉ, thậm chí hàng
triệu đô-la Vốn đầu tư sản xuất một loại băng đĩa cũng đã lên tới hàng chục
đến hàng trăm triệu Cùng với nhu cầu của khán giả, là việc họ có thể bỏ tiền
ra để thưởng thức những vở kịch, những bộ phim trong vòng một tuần lễ (số
tiền mà các chủ sân khấu, các hãng phim thu được là hàng ba bốn trăm triệu
đến vài tỉ đồng) Nhiều ca sỹ tự bd tiền để tổ chức những show diễn tốn kém
không đưới vài tỉ đồng Chưa kế đến những dịch vụ văn hoá, nghệ thuật đầu
tư liên kết với nước ngoài, đầu tư xây dựng cơ bản các cơ sở vật chất, kỹ thuật của văn hoá, đầu tư kinh đoanh trong lĩnh vực văn hoá - giáo dục, văn hoá - thể thao, văn hoá - du lịch, văn hoá - phát thanh - truyền hình với những ý
nghĩa kinh tế - xã hội hết sức to lớn So với những nhu cầu vật chất, nhu cầu
về tinh thần của người dân được các dịch vụ văn hoá đáp ứng đã khó có thể so
Trang 31sánh với thời kỳ bao cấp Thậm chí trong nhiều trường hợp, chi tiêu về nhu cầu văn hoá còn tốn kém hơn nhiều so với nhu cầu vật chất
Thứ hai, thị trường văn hoá phẩm cũng đã góp phần thúc đẩy quá trình
giao lưu văn hoá trong nước và quốc tế trên mọi phương diện Thị trường với
tư cách là bộ điều chỉnh giữa cung và cầu của hàng hoá sản phẩm văn hoá Quá trình sản xuất, bảo quản, trao đổi và sử dụng các sản phẩm văn hoá phụ thuộc rất lớn vào vai trò của thị trường
Tuy còn những phạm vi quan trọng khác của đời sống văn hoá xã hội không phụ thuộc vào thị trường, nhưng sự thâm nhập đa dạng giữa hai [nh vực xã hội: thị trường và văn hoá, đã tạo ra một mối quan hệ liên quan đến tầm vóc của văn hoá Một mặt, thị trường tạo nên một trong những hệ thống
đánh giá sản phẩm văn hoá ở nhiều phương điện khác Mặt khác, văn hoá
cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành tập quán thương mại trong lĩnh vực kinh doanh các sản phẩm văn hoá (thiết lập các quan hệ thị trường,
tạo ra các quy tắc, hình thức, quy chế của hệ thống thương nghiệp) Thị
trường văn hoá tạo ra môi trường quan trọng, góp phần làm cho văn hoá dân tộc hội nhập một cách tự nhiên, khách quan, với văn hoá khu vực và thế giới Thứ ba, trong những năm qua, thực tế việc áp dụng cơ chế thị trường trong lĩnh vực văn hoá đã tạo ra một mạng lưới kinh doanh văn hoá, với những
thủ pháp tạo ra lợi nhuận trong lĩnh vực này - giá 0rị kính rế Điều mà trong thời gian rất dài của nền kinh tế quan liêu bao cấp hầu như bị bỏ quên, hoặc thậm chí xem là những vấn đề thấp kém trong đời sống văn hoá của dân tộc
Về mặt tiêu cực, chúng ta có thể nhận thấy cơ chế thị trường làm xuất
hiện mạng lưới sản xuất, kinh doanh và dịch vụ văn hoá, văn nghệ, thì đi cùng với nó là đội ngũ doanh nhân cũng mang tính tự phát Xu hướng của sự tự phát này nhằm mục đích chạy đua theo lợi nhuận, thường kinh doanh mặt hàng nào
có lãi nhiều thì làm, bất chấp hậu quả xấu của nó Những thủ pháp trong sản
xuất, kinh doanh không phù hợp cho sự phát triển văn hoá Những mặt tiêu
cực này biểu hiện rất sôi động trong các thị trường băng đĩa, sân khấu ca nhạc, xuất bản phẩm, mỹ thuật gây tác động rất xấu đến đời sống văn hoá tinh thần của xã hội, đến công tác quản lý
Trang 32- Đặc điểm thứ ba: những thành tựu của quá trình đổi mới đất nước
tác động đến sự vận động phát triển của thị trường văn phẩm
Trước hết, đó là những thành tựu về phát triển kinh tế Trong hai mươi
năm qua (1986-2006) tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục tăng cao, năm sau cao hơn năm trước Đặc biệt trong năm năm vừa qua (2001-2005) tăng trưởng kinh tế đạt xấp xỉ 7.5% Kinh tế vĩ mô tương đối ổn định, các mối quan hệ và cân đối chủ yếu trong nền kinh tế (tích luỹ - tiêu dùng, thu - chi ngân sách )
được cải thiện đáng kể; việc huy động nguồn nội lực cho phát triển kinh tế nói
chung, và văn hoá nói riêng có tiến bộ đáng kể, tỷ lệ GDP vào ngân sách Nhà nước vượt dự kiến Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đến năm 2005, ước tỷ lệ giá trị nông - lâm - ngư
nghiệp còn 20,5%, công nghiệp 41%, dịch vụ là 38,5% Tổng sản phẩm quốc
dân đạt khoảng 54,5 tỷ đô la Mỹ
Mức sống của nhân dân được nâng cao, được cải thiện đáng kế, nhất là
ở thành phố, ở những khu công nghiệp Từ đó dẫn đến nhu cầu văn hoá tăng lên vẻ số lượng và chất lượng Ở thành phố người dân chỉ cần bỏ ra từ 30-40% thu nhập hàng tháng để đáp ứng nhu cầu về sinh hoạt vật chất Điều đó dẫn đến tình hình là người dân đã có điều kiện đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tỉnh
thần Trong thực tế, các gia đình đã bỏ ra từ 20-30% thu nhập cho việc học tập, chữa bệnh và tiêu dùng các sản phẩm văn hoá, làm cho thị trường văn hoá
phẩm phát triển nhanh chóng với những biểu hiện cụ thể sau:
Số lượng các phương tiện nghe nhìn tăng lên: ở thành phố bình quân mỗi gia đình có từ 2 - 4 máy thu hình, thu thanh, máy nghe nhạc; ở vùng nông thôn 80% gia đình có máy thu hình và 40% có rađiô catset Đặc biệt ở các
thành phố lớn, hệ thống truyền hình cáp ra đời, chương trình truyền hình cáp chính là sản phẩm hàng hoá mà nhiều gia đình sử đụng theo khả năng chỉ trả
Ở thành phố các tụ điểm sinh hoạt văn hoá, các dịch vụ văn hoá xuất hiện ngày càng nhiều: các rạp chiếu phim, các câu lạc bộ, sân khấu, ca nhạc,
vũ trường, quán ba, các điểm truy cập internet Người ta đến đó để tiêu dùng
Trang 33các sản phẩm văn hoá - nơi tiêu biểu cho hoạt động của thị trường văn hoá
phẩm ở nước ta
Kinh tế phát triển không chỉ thúc đẩy sự tăng nhanh của như cầu văn hoá mà còn thúc đẩy hoạt động sản xuất các sản phẩm văn hoá của xã hội tăng
lên Sự xuất hiện của hàng loạt các cơ quan xuất bản, sách báo, văn hoá phẩm
của Nhà nước, của tư nhân ngày càng nhiều
Hiện nay, cả nước có gần 50 nhà xuất bản và các cơ sở ¡in ấn, hơn 500
cơ quan báo chí với gần 600 ấn phẩm và hàng chục triệu cuốn sách được phát hành hàng năm Cả nước hiện có hơn 20 hãng phim của nhà nước và tư nhân
Kinh tế phát triển tạo điều kiện cho việc nhập các sản phẩm văn hoá
của nước ngoài vào đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước Các chương trình văn hoá, thể thao: phim ảnh, ca nhạc, thời trang, các trận bóng đá, bóng chuyền, ten ni được phát trên các đài truyền hình ngày càng phong phú với
thời lượng lớn, phản ánh mức sống chung của xã hội Những cuốn sách mới xuất bản, bán chạy nhất trên thế giới cũng được bán tại Việt Nam ngay khi mới phát hành (như Harry Potter, bán 490.000 đồng/1 bản tiếng Anh), điều đó phản ánh nhu cầu và khả năng chỉ trả của người Việt Nam đã tăng lên rất nhiều
Do mức sống tăng, nên hàng năm có hàng chục triệu người đi du lịch
trong nước và nước ngoài Số người này cũng bỏ ra một lượng tiền đáng kể để
thoả mãn các nhu cầu văn hoá tại nơi họ đến, bỏ tiền ra mua nhiều văn hoá
phẩm làm lưu niệm, hay làm quà cho người thân Đồng thời số người nước ngoài đến Việt Nam tăng lên nhanh chóng trong những năm vừa qua Trong số ngoại tệ hơn một tỷ đôla Mỹ mà chúng ta thu được, ngoài phí dịch vụ du lịch
thì số tiền bán các sản phẩm văn hoá do trong nước sản xuất, cũng không nhỏ
Quan hệ kinh tế giữa nước ta với các nước trên thế giới tạo ra cơ hội cho xuất nhập khẩu không chỉ văn hoá phẩm thuần tuý mà cả các hàng hoá mang
tính mỹ nghệ cao như các hàng thủ công truyền thống Chúng ta có hàng trăm làng nghề truyền thống, sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ để bán ra nước ngoài Chẳng hạn như gốm mỹ nghệ ở Bát Tràng (Hà Nội), Thủ Dâu Một (Bình Dương), gỗ mỹ nghệ Đồng Ky (Bắc Ninh), tranh sơn mài Chương Mỹ
Trang 34(Hà Tay), vải thổ cẩm của các dân tộc Thái (Sơn La), Chăm (Ninh Thuan), Eđê (Tây Nguyên) v.v
Có thể nói rằng, sự phát triển của kinh tế đã tạo điều kiện cho nhu cầu
văn hoá tăng lên và đồng thời thúc đẩy việc sản xuất các sản phẩm văn hoá để
đáp ứng nhu cầu văn hoá cũng tăng lên
Thứ hai, là sự tác động tích cực của những thành tựu về phát triển xã
hội
Dự thảo về các văn kiện trình bày trước Đại hội lần thứ X của Đảng:
“Hoạt động văn hoá - xã hội có tiến bộ trên một số mặt, việc gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội có chuyển biến tốt, đời sống các tầng
lớp nhân dân được cải thiện, chỉ số phát triển con người tăng lên" Những thành tựu đó đã tác động tích cực trên nhiều phương diện đến thị trường văn
hoá phẩm nước ta hiện nay
Trước hết, nó góp phần thúc đẩy sự tăng nhanh nhu cầu văn hoá của xã hội, do trình độ văn hoá, học vấn của con người tăng lên Tuy nhiên, sự tăng
nhanh nhu cầu thường gắn với sự phân tầng nhu cầu văn hoá, nghệ thuật của công chúng Trong đời sống văn hoá xã hội của chúng ta hiện nay, đã có sự đa dang sâu sắc về nhu cầu văn hoá: nhu cầu có tính bình dân, nhu cẩu có tính bác học, nhu cầu của giới trẻ, nhu cầu của lớp người lớn tuổi, nhu cầu hưởng
thụ văn hoá nghệ thuật hiện đại, quốc tế, nhu cầu hưởng thụ văn hoá cổ truyền đân tộc Điều đó đòi hỏi cần có sự phong phú của các sản phẩm văn hoá trên
thị trường Thị trường văn hoá phẩm với các sản phẩm nhờ đó mà bung ra mạnh mẽ và phát triển hết sức sôi động
Mức hưởng thụ văn hoá không những ở thành thị mà cả nông thôn cũng
tăng lên Đặc biệt là như cầu văn hoá của các vùng nông thôn có sự phát triển đội biến Do sự thuận tiện của giao thông, sự tiện ích của các phương tiện nghe nhìn, hàng chục triệu người ở các vùng nông thôn đều có khả năng tiếp cận với các dịch vụ văn hoá: xem video, hát karaoke, xem biểu diễn ca múa nhạc Tuy không bằng thành phố, nhưng các hoạt động hưởng thụ các
dịch vụ văn hoá cũng phát triển khá sôi động Cả những dịch vụ biểu diễn âm
nhạc với các loại hình như nhạc Trẻ, Rook, Rap du nhập từ bên ngoài vào n-
Trang 35ước ta Ngoài ra còn rất nhiều sản phẩm văn hoá mới lạ hấp dẫn, được du nhập vào đã thu hút đông đảo giới trẻ, thanh niên, sinh viên các thành phố và cả
vùng nông thôn
Sự phát triển của ý thức dân chủ cũng tác động mạnh mẽ đến thị trường văn hoá phẩm ở hai bình diện sáng tạo và hưởng thụ các sản phẩm văn hoá
Tính dân chủ được biểu hiện ở sự tự do sáng tạo, người sáng tạo được tự
do lựa chọn đề tài, phương pháp sáng tác phù hợp với năng lực, kinh nghiệm,
hiểu biết và cả tính sáng tạo của mình Điều đó góp phần tạo nên sự phong
phú, đa dạng cho các sản phẩm văn hoá, nghệ thuật Do vậy, chất lượng nội
dung sản phẩm cũng tăng lên, đáp ứng nhu cầu, thị hiếu đa dạng của người tiêu dùng Tính dân chủ còn được biểu hiện ở sự ự do lựa chọn các sản phẩm
văn hoá của người tiêu dùng Các sản phẩm văn hoá được lựa chọn theo từng
trình độ, thị hiếu văn hoá, thẩm mỹ của từng cá nhân và khả năng chỉ trả của mỗi người
Sự tiến bộ xã hội thể hiện ở nhận thức của xã hội về vai trò, chức năng
của văn hoá Văn hoá không chỉ là công cụ chuyển tải tư tưởng, không chỉ có chức năng giáo dục mà văn hoá còn có chức năng giải trí, chức năng kinh tế Chức năng giải trí của văn hoá ngày càng trở nên quan trọng trong đời sống xã
hội đương đại trước sự dồn nén của sự phát triển khoa học, công nghệ của
kinh tế thị trường
Các sản phẩm văn hoá là phương tiện, phương thức của hoạt động giải
trí, đấp ứng nhu cầu sống của con người hiện đại Con người cần đến các dich
vụ giải trí và các sản phẩm văn hoá tất yếu trở thành sản phẩm trên thị trường
đó Ngày nay, ở nhiều nước phát triển trên thế giới, một nền công nghiệp giải trí - một nền công nghiệp không ống khói đã ra đời Trong đó các sản phẩm
văn hoá đóng vai trò cơ bản trong các sản phẩm dịch vụ Ở nước ta hoạt động
giải trí ngày càng phát triển, người ta mua các sản phẩm văn hoá qua truyền
hình cáp, qua điện thoại, qua Internet, qua các hoạt động của các trung tâm văn hoá, các tụ điểm vui chơi và các cửa hàng dịch vụ văn hoá khác
Trang 36- Đặc điểm thứ tư: Sự tác động toàn cầu hoá về kinh tế và của thị
trường văn hoá phẩm thế giới đã tạo ra sức ép lớn đối với thị trường văn hoá
phẩm trong nước
Việt Nam cũng như các nước khác, nếu gia nhập WTO, tuân theo các
hiệp định, thì đều phải mở cửa thị trường nước mình cho các nước thành viên
cả về thương mại hàng hoá, thương mại địch vụ và đầu tư Điều đó cũng có nghĩa chúng ta phải tuân thủ các nguyên tắc: không phân biệt đối xứ giữa
hàng hoá, giữa doanh nghiệp nước mình với hàng hoá và doanh nghiệp nước khác; thực hiện minh bạch trong cơ chế chính sách; đặc biệt là thực hiện bảo
hộ quyền sở hữu trí tuệ Điều nay sẽ gây một sức ép rất lớn đến thị trường sản xuất kinh doanh trong nước, trong đó có thị trường văn hoá phẩm Dù muốn hay không, thị trường văn hoá phẩm Việt Nam đang phải đối mặt với những
thách thức, như: bẩn quyền tác giả, chính sách xuất nhập khẩu văn hoá, nạn
kinh doanh hàng lậu (nhất là băng đĩa lậu), chất lượng hàng hoá văn hoá, doanh nghiệp và doanh nhân văn hoá, sự tác động tiêu cực của các loại hàng hoá phản văn hoá
Một trong những vấn đề chịu sự tác động lớn, đó là bản quyền tác giả Trước đây, Việt Nam là một trong những quốc gia có tình trạng vi phạm bản quyền ở mức độ trầm trọng Theo điều tra của Tạp đoàn IDC (Lưu trữ dữ liệu của thế giới), thì Việt Nam và Trung Quốc là những quốc gia có sự vi phạm bản quyển phần mềm đứng đầu thế giới (92%) Riêng trong lĩnh vực nghệ thuật, mức độ vi phạm bản quyền khá trầm trọng Công ước Berne có hiệu lực
vào ngày 24/10/2004, đã tác động sâu sắc hầu hết đối với các hoạt động văn hoá thông tin, từ hoạt động lập pháp, quản lý, thực thi, hoạt động kinh doanh
và dịch vụ Các hoạt động như xuất bản, âm nhạc, điện ảnh và các hoạt động
giải trí khác đều chịu sự chi phối mạnh mẽ từ công ước nay Riêng ngành xuất bản Việt Nam năm 2005, chỉ đạt bằng khoảng 50% số đầu sách dịch của nước
ngoài so với cùng kỳ các năm trước Cùng với Công ước Berne, Công ước
Geneva bao hộ nhà xuất bản ghi âm chống việc sao chép bản ghi âm có hiệu lực vào ngày 6/7/2005, cũng đã có tác động mạnh vào hoạt động sản xuất của
Trang 37các hãng sản xuất băng, đĩa ca nhạc, các tổ chức phát sóng, các tổ chức cá
nhân hoạt động với mục đích thương mại sử dụng chương trình ghi âm
Năm 2005, Việt Nam đã có rất nhiều động thái để hoà nhập được vào môi trường của thị trường thế giới Trước hết Luật Sở hữu trí tuệ được Quốc hội thông qua vào ngày 19/11/2005 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2006, là sự kiện pháp lý quan trọng, là bước ngoặt mới trong hoạt động bảo hộ quyền tác giả
Trung tâm Bảo vệ bản quyền âm nhạc Việt Nam (VCPMC) (thuộc Hội đồng nhạc sỹ Việt Nam) đã ký hợp đồng quyền uỷ thác với trên 700 nhạc sỹ, với l6
tổ chức của 14 quốc gia Việt Nam đã mở trang “Website quyền tác giả Việt Nam” khai trương vào tháng 4/2005 Điện tử hoá các thông tin về quyền tác giả, “Quyên hành chính điện tử quyển tác giả và quyền liên quan” đã được
thiết lập tại Cục Bản quyền tác giả Văn học- Nghệ thuật
Trang 38CHƯƠNG 2
HIỆN TRẠNG MỘT SỐ THỊ TRƯỜNG VĂN HOÁ PHẨM Ở NƯỚC TA
Việc khảo sát toàn bộ các lĩnh vực của thị trường văn hoá phẩm ở nước
ta là công việc không dễ dàng Chính vì thế trong nhiều năm qua, mới chỉ có
một số công trình nghiên cứu (như đã thống kê ở trên) bước đầu đề cập đến
thể chế xã hội trong lĩnh vực kinh doanh văn hoá phẩm, hoặc chỉ mới nghiên
cứu khảo sát được một vài lĩnh vực cụ thể Trong đề tài này, chúng tôi chỉ tìm
hiểu hiện trạng thị trường hàng hoá văn hoá phẩm chủ yếu trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, như: :hj trường băng đĩa, điện ảnh, biểu diễn sân khẩu, âm
- nhạc và mỹ thuật với hướng tiếp cận chủ yếu: đưa ra quan niệm, đánh giá khái quát hiện trạng, sự tác động và những vấn đề đặt ra trong quá trình vận
động, phát triển của các thị trường đó
2.1 Thị trường băng đĩa
Băng đĩa là vật lưu giữ, phổ biến các sản phẩm văn hoá rất hữu hiệu
Đặc điểm nổi bật của loại hàng hoá này là sự phong phú da dang vé ching
loại và nội dung Có thể nói, thị trường băng đĩa là một trong những thị
trường văn hoá phẩm sôi động nhất ở nước ta hiện nay và có nhiều mối quan hệ với các thị trường văn hoá phẩm khác
2.1.1 Khái niệm thị trường băng đĩa và các loại hàng hoá trên thị trường băng đĩa nước ta
Thị trường băng đĩa là gì?
Thị trường băng đĩa là quá trình mà trong đó người mua và người
bán những chúng loại băng đĩa nào đó, tác động qua lại lẫn nhau bằng
những phương thức khác nhau để xác định giá cả, số lượng hàng hoá mua bán
và phương thức giao nhận, thanh toán Cũng như các thị trường khác, thị trường
băng đĩa được cấu thành bởi các yếu tố: người mua (cầu băng đĩa), người sản xuất kinh doanh (cưng sản xuất băng đĩa) và hàng hoá băng đĩa cùng với những
mối quan hệ giữa các yếu tố đó
Các loại hàng hoá băng đĩa
Trang 39Ở Việt Nam, một số loại băng đĩa đã xuất hiện rất sớm trên thị trường Những năm 80 của thế kỷ trước, đầu video đã nhập vào Việt Nam,
băng video phổ biến vào khoảng giữa những năm 90 Sau đó, xuất hiện
những dàn máy nghe nhạc hiện đại, đĩa nhạc compact (CD), thay thế cho những dàn máy nghe băng Tiếp theo là sự có mặt của đĩa hình VCD, DVD, tạo nên bước ngoặt trong thưởng thức văn hoá với những âm thanh và hình
ảnh sống động, rõ nét Thử so sánh: từ năm 1993, cả nước mới có 3,5 triệu
băng cassette lưu thông trên thị trường, cho đến nay con số đó tăng lên hang chuc lan Dia VCD va DVD dan thay thế cho băng video So với thời điểm mới xuất hiện rất hạn chế vẻ số lượng của các loại đĩa CD của Mỹ và
Tây Âu, giá xấp xỉ 20 USD/đĩa, thì nay chỉ tính riêng băng đĩa Trung Quốc
bằng nhiều con đường khác nhau, tràn ngập thị trường Việt Nam, chỉ với giá 5000 đ -6000 d/dia CD, 15.000 đ/đĩa phim Hiện nay, trên thị trường
ngày càng xuất hiện những loại băng đĩa chất lượng cao, lưu giữ âm thanh
và hình ảnh bằng những kỹ thuật tiên tiến
Hàng hoá băng đĩa có mặt trên thị trường của chúng ta hiện nay có
thể chia làm nhiều loại khác nhau
Nếu xét theo loại hình sản phẩm, có:
- Băng đĩa nghe nhìn: Băng tiếng (cassette), Đĩa tiếng (đĩa CD), Băng
hình (băng video), đĩa hình, đĩa phim (đĩa VCD và DVD)
- Băng đĩa hành động (băng đĩa trò chơi), (chủ yếu là nhập ngoại) Nếu xét theo nội dung, hiện đang lưu hành:
- Loại băng đĩa có nội dung phù hợp với văn hoá Việt Nam
- Loại băng đĩa có nội dụng không phù hợp với văn hoá Việt Nam Những băng đĩa có nội dung phù hợp văn hoá dân tộc trước hết là loại
hàng hoá băng đĩa nằm trong danh mục được Nhà nước cho phép sản xuất,
kinh doanh Các loại băng đĩa đang phát hành có nội dung phong phú, đa
đạng: từ phim, ca nhạc, cho đến các loại hình nghệ thuật truyền thống như
cải lương, chèo, quan họ Hàng hoá này được được kinh doanh tại hệ thống các cửa hàng và mạng lưới chân rết ở mọi địa bàn dân cư thành phố, thị xã, nông thôn Hà Nội và các thành phố lớn là nơi lưu hành những hàng
Trang 40hoá băng đĩa có chất lượng cao Ở day c6 di, tir classic, jazz, rock véi những tên tuổi nhạc sỹ nổi tiếng, đến nhạc cung đình Huế tuyển chọn, chèo
tuyển chọn Trên thị trường, hiện hàng hoá băng đĩa lành mạnh, chính thống không được ổn định và chiếm thị phần rất nhỏ, đang bị lấn át bởi hàng lậu
Băng đĩa lậu hay còn gọi là băng đĩa ngoài luồng, ở nước ta có hai nguồn hoặc được nhập lậu trực tiếp từ nước ngoài vào, hoặc được ¡n sao lậu
trong nước Về nguồn thứ nhất, từ nhiều năm nay đã tồn tại và phát triển nhiều đường dây nhập lậu băng đĩa qua các cửa khẩu, sân bay, bến cảng và đường
bộ Phần lớn, loại băng đĩa này có nguồn gốc từ Mỹ, Pháp, Trung Quốc, Đài
Loan, hoặc đi theo những cửu vạn, vượt cửa khẩu Tân Thanh, Đông Đăng ở
Lạng Sơn, Móng Cái - Quảng Ninh, Lao Bảo - Quảng Trị rồi tập kết về Hà
Nội và thành phố Hồ Chí Minh để sao ¡n, phát tán Nguồn thứ hai, băng đĩa lậu được in sao ngay tại Việt Nam, chủ yếu là ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí
Minh Tại Hội thảo về Công ước Geneva (bảo hộ nhà sản xuất ghi âm) ngày 6/7/2005 tại Hà Nội, bà Leong May Seey - Cố vấn pháp luật khu vực chau A,
Phó giám đốc khu vực Đông Nam Á, Hiệp hội Công nghiệp ghi âm quốc tế
(IFP)) - đã trình bày một biểu đồ về băng đĩa lậu ở các quốc gia chau Á Trong biểu đồ này, Việt Nam nằm ở khu vực “nóng” cùng hàng loạt “cường quốc”
sao chép băng đĩa lậu của châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaixia
Loại băng đĩa lậu có nội dung tốt cũng có nhiều loại Có loại là sự tập hợp những bài hát đang ăn khách được chọn lọc từ nhiều băng đĩa khác nhau, đưa vào một chương trình riêng tạo thành một sản phẩm mới Loại thứ hai là in lại nguyên xi một chương trình, từ vỏ đến ruột với công nghệ hiện đại, nhiều khi người tiêu dùng không phân biệt được đó là hàng nhái Một loại nữa hiện đang tiêu thụ khá chạy trên thị trường, là những chiếc đĩa
không cần vỏ, không cần bìa được bỏ trong túi nilon cùng với một tờ danh mục tên các bài hát Giá chỉ khoảng 4000 - 5000 đồng/ dia CD, hoặc 8000 -
8500 đồng/ đĩa VCD, cho tất cả các đĩa loại phim, nhạc, karaoke Người