Nhiệm vụ của những nghiên cứu của tâm lý học xã hội đối với sự phát triển thị trường sức lao động là ở chỗ xác định xem những nhu cầu phát triển của thị trường sức lao động, nhu cầu phát
Trang 1Học viện chính trị – hành chính quốc gia hồ chí minh
======= =======
các chuyên đề nghiên cứu
đề tài khoa học cấp bộ năm 2007
Mã số đề tài: B.07-23
Tác động của tâm lý x∙ hội đối với sự phát triển thị trường sức lao động ở nước ta
hiện nay – vấn đề và giải pháp
(Qua khảo sát thị trường sức lao động ở Hà Nội)
Cơ quan chủ trì : Học viện Chính trị – hành chính khu vực I Chủ nhiệm đề tài : TS Nguyễn Thị Kim Phương
Thư ký đề tài : TS Trần Tú Quyên
6968-1
28/8/2008
Hà nội – 1/2008
Trang 2Học viện chính trị – hành chính quốc gia hồ chí minh
hiện nay – vấn đề và giải pháp
(Qua khảo sát thị trường sức lao động ở Hà Nội)
Cơ quan chủ trì : Học viện Chính trị – hành chính khu vực I Chủ nhiệm đề tài : TS Nguyễn Thị Kim Phương
Thư ký đề tài : TS Trần Tú Quyên
Hà nội – 1/2008
Trang 3Vai trò của tâm lý học x∙ hội trong nghiên
cứu thị trường sức lao động
đó
Khi vạch ra những quy luật khách quan của những hiện tượng tâm lý xã hội và sự tác động của tâm lý xã hội đến sự phát triển xã hội, tâm lý học xã hội, bằng cách đó đã tạo ra các tiền đề để nhận thức những triển vọng phát triển hơn nữa của xã hội nói chung cũng như các mặt, các lĩch vực riêng lẻ của nó, trong đó chúng ta tập trung nghiên cứu nghe sự tác động của các yếu tố tâm lý xã hội đến sự phát triển thị trường sức lao động
2 Nhiệm vụ của những nghiên cứu của tâm lý học xã hội đối với sự phát triển thị trường sức lao động là ở chỗ xác định xem những nhu cầu phát triển của thị trường sức lao động, nhu cầu phát triển của các yếu tố tham gia vào thị trường: như người sử dụng lao động, người bán sức lao động, doanh nghiệp môi giới v.v biểu hiện trong hoạt động xã hội của con người như thế nào xác
định những hình thức cụ thể cho phép đạt được sự trùng hợp tới mức tối đa các lợi ích của cá nhân, của nhóm, của cộng đồng trong những điều kiện cụ thể của thị trường lao động ở nước ta hiện nay
Trang 4II Một s ố khá i n iệm liên quan đến đề tài
1 Khái niệm thị trường sức lao động
Để có thể nghiên cứu đề tài này, trước hết chúng ta cần thấy nhất về cách hiểu khái niệm “Thị trường sức lao động” và “thị trường lao động”
Thị trường lao động là một loại thị trường trong nền kinh tế thị trường Đây là loại thị trường đặc biệt vì nó liên quan trực tiếp
đến con người Khái niệm về thị trường lao động thay đổi và hoàn thiện cùng với quá trình phát triển của kinh tế thị trường Trong các quốc gia phát triển theo quỹ đạo thị trường có những xuất phát
điểm khác nhau, có những đặc điểm về kinh tế, chính trị, xã hội và
tự nhiên khác nhau, và tất nhiên khác nhau về trình độ phát triển kinh tế xã hội, thị trường lao động có những biểu hiện đa dạng khác nhau Chính vì vậy nhận thức về thị trường lao động không thể đồng nhất, bất biến, và việc tồn tại những giải thích khác nhau
là lẽ đương nhiên trong quá trình khám phá các quy luật vận động của thị trường lao động Từ nhận thức đến thực tiễn luôn có khoảng cách, và việc vận dụng hiểu biết về thị trường lao động trong những điều kiện cụ thể đòi hỏi có những nghiên cứu thích hợp sao cho khoảng cách nêu trên càng ngắn càng tốt và xây dựng
được các cơ chế, chính sách đúng đắn phát triển thị trường lao
động
Thị trường lao động là nơi thực hiện việc làm được trả công qua các quan hệ mua và bán giữa người cung ứng lao động (bán việc làm) và người sử dụng (mua việc làm) qua quan hệ cung – cầu lao động Định nghĩa này nhấn mạnh đến đối tượng trao đổi trên thị trường lao động là nơi mua, bán “việc làm” Việc làm một mặt,
được hiểu là hoạt động có ích mang lại thu nhập cho người lao
động và không bị luật pháp ngăn cấm, mặt khác, việc làm biểu thị
Trang 5kết quả của giao dịch giữa người lao động và người sử dụng lao
động Như vậy việc làm nói chung, theo nghĩa rộng, phản ánh sự kết hợp giữa sức lao động – một yếu tố của sản xuất kinh doanh, với tư liệu sản xuất, sự kết hợp này mang lại lợi ích cho cả người
có tư liệu sản xuất và người lao động, trước hết là lợi ích kinh tế,
đối với người lao động biểu hiện qua tiền công và đối với người sở hữu tư liệu sản xuất là lợi nhuận Tất nhiên, khi bản thân người lao
động làm việc với tư liệu sản xuất của mình thì họ sẽ hưởng thu nhập với điều kiện hàng hoá họ tạo ra được tiêu thụ trên thị trường Trường hợp này khá phổ biến trong giai đoạn đầu của quá trình hình thành và phát triển thị trường lao động trong các nước
đang phát triển, đặc biệt quan trọng và cần thiết đối với các nước
đang chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang thị trường có xuất phát điểm thấp về kinh tế và xã hội như nước ta
Khi nghiên cứu về thị trường lao động, chúng ta thường gặp hai thuật ngữ “thị trường lao động” và “thị trường sức lao động” Một số nhà nghiên cứu sử dụng thuật ngữ thị trường lao động, nhưng một số nhà nghiên cứu khác lại sử dụng thuật ngữ thị trường sức lao động Do có những quan niệm khác nhau về thực chất của loại thị trrường này, nên các nhà nghiên cứu đã sử dụng một trong hai thuật ngữ nói trên Đây cũng là những khái niệm, những tranh luận trong các nhà kinh tế, các nhà nghiên cứu ở một
số nước kinh tế thị trường đang phát triển
Sở dĩ có sự khác nhau nói trên, xuất phát từ vấn đề là trên thị trường lao động có việc mua, bán sức lao động hay là mua, bán lao
động Có hai loại ý kiến khác nhau Một là, các nhà nghiên cứu theo lý thuyết kinh tế thị trường của chủ nghĩa Mác, thì cho rằng trên thị trường lao động chỉ có mua, bán sức lao động Hai là, các
Trang 6nhà kinh tế theo lý thuyết kinh tế thị trường hiện đại thì cho rằng – trên thị trường lao động chỉ có việc mua, bán dịch vụ lao động
Các nhà kinh tế theo lý thuyết kinh tế thị trường của chủ nghĩa Mác đã dựa vào lý luận C Mác về sức lao động là hàng hoá
và mối quan hệ giữa sức lao động và lao động để giải thích lập luận của mình về thị trường sức lao động Như đã biết, C.Mác đã
đưa ra hai điều kiện cơ bản để sức lao động trở thành hàng hoá là:
- Người lao động phải được tự do về thân thể, sức lao động thuộc về sở hữu của người lao động, họ có đủ tư cách pháp nhân
đề cập đến mối quan hệ giữa hai khái niệm “Sức lao động” và “Lao
động” Theo C.Mác cho rằng, sức lao động được hiểu là tổng hợp toàn bộ thể lực, trí lực ở con người, nó nói lên khả năng để có lao
động, còn lao động là hoạt động có mục đích của con người, là tiêu dùng sức lao động trong quá trình lao động Các khái niệm này khác nhau, nhưng có mối quan hệ với nhau Vì lao động không thể trở thành hiện thực, nếu không có sức lao động và muốn sức lao động được thực hiện, thì phải có lao động
C.Mác cho rằng lao động chỉ xuất hiện sau khi tiến hành mua, bán sức lao động trên thị trường thông qua hợp đồng mua, bán sức lao động Do đó, cái mà người lao động bán cho người sử dụng lao động là sức lao động chứ không phải là lao động Người
Trang 7công nhân không bán cái gì mà anh ta không có Vì trên thị trường tiến hành mua, bán sức lao động cho nên sử dụng thuật ngữ thị trường sức lao động Cần nhắc lại rằng sự phân tích trên của Mác nhằm mục đích cuối cùng là phơi trần sự bóc lột sức lao động qua chiếm đoạt giá trị thặng dư Đây là một trong những lý do chủ yếu
để thuật ngữ này tồn tại, nhấn mạnh bản chất của vấn đề
Một số nhà kinh tế theo lý thuyết kinh tế thị trường hiện đại cũng đồng tình với quan điểm nói trên của các nhà kinh tế theo lý thuyết kinh tế thị trường của chủ nghĩa Mác, nhưng cho rằng quan
điểm đó đúng với thời bình minh của nền kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa Đến nay, sự phát triển kinh tế thị trường đã làm thay
đổi các mối quan hệ giữa một bên là những người làm thuê và một bên là những người sử dụng lao động làm thuê Chẳng hạn, ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển có hơn 80% dân cư là những người thuộc tầng lớp trung lưu Nhiều công nhân đã mua cổ phiếu, trở thành cổ đông của các công ty cổ phần, mặc dù lượng
cổ phần ở mỗi người có thể khác nhau Họ vừa là chủ nhỏ về sở hữu lại vừa là công nhân làm thuê Vì điều kiện sản xuất lớn, không cho phép họ tiến hành sản xuất kinh doanh độc lập bằng số vốn và tài sản không lớn của mình
Trên thị trường lao động hiện nay, ở các nước đang phát triển
có nhiều loại lao động làm thuê khác nhau Trong đó có những người làm thuê, thực sự họ không có tư liệu sản xuất, chỉ có sức lao động Nhưng cũng có những người lao động làm thuê, vừa là chủ sở hữu, vừa là người làm thuê được chủ sở hữu giao nhiệm vụ quản lý, sử dụng lao động làm thuê, họ có những địa vị kinh tế (có thu nhập khá cao) và có địa vị xã hội nhất định (có chức vụ, quyền hạn trong công tác quản lý) Đặc biệt từ khi xuất hiện cuộc cải cách quản lý mang tính cách mạng ở các nước Phương Tây thì chủ
Trang 8sở hữu và người quản lý (người sử dụng lao động làm thuê) không thuộc về một phạm trù xã hội đồng nhất Người chủ sở hữu có khi không tự mình trực tiếp quản lý doanh nghiệp, mà thuê người quản
lý điều hành Người lao động này vừa là người lao động làm thuê
đối với chủ sở hữu doanh nghiệp, nhưng đồng thời lại là người đại diện cho chủ sở hữu để thuê những người lao động làm thuê khác, phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Như vậy, có một bộ phận những người lao động làm thuê trên thị trường lao động hiện này đã có những đặc trưng khác với trước
đây, họ không phải là những người không có tư liệu sản xuất, có một ít vốn cổ phần, cổ đông Họ vừa là người làm thuê vừa là chủ
sở hữu; họ vừa là người làm thuê, vừa là người đại diện cho chủ sở hữu để thuê người lao động làm thuê và sử dụng họ
Hiện nay, một số nhà kinh tế, nhà nghiên cứu đưa ra lập luận của mình là - ngôn ngữ kinh tế học đôi khi có nhiều nghĩa Thuật ngữ “lao động” không phải chỉ có nghĩa công việc hay là việc làm Việc làm là một thứ có thể mua, bán được Do đó nêu ra định nghĩa việc làm là công việc được đổi lấy tiền công – và vì vậy việc
sử dụng thuật ngữ “thị trường lao động” là phù hợp
Theo suy nghĩ của chúng tôi, giữa sức lao động và lao động
có mối quan hệ như đã nêu ở trên, nhưng sức lao động được mua, bán trên thị trường, không phải là lao động trừu tượng, mà là biểu hiện của nó – lao động cụ thể, và được thể hiện thành việc làm Lao động ở đây được hiểu là việc làm, trong thực tế, thuật ngữ
“dịch vụ lao động” và thuật ngữ “thị trường lao động” đã trở thành tên gọi thông dụng trong các văn bản, sách báo và các diễn đàn hiện nay ở nhiều nước và nước ta
Chúng tôi thấy hai khái niệm này thống nhất với nhau từ các nhân tốt cấu thành và những đặc điểm cơ bản của nó bởi vậy ở một
Trang 9chừng mực nào đó chấp nhận một độ linh động tương đối ta có thể dùng hai khái niệm này như nhau Điều này cũng thấy rất rõ trong các văn bản của nhà nước cũng như trong các sách báo và các diễn đàn hiện nay ở nhiều nước và ở nước ta
Thị trường lao động là nơi diễn ra quan hệ về việc làm giữa người lao động (cung lao động) và người sử dụng lao động (cầu lao động) theo nguyên tắc thoả thuận, thương lượng về việc làm,
về tiền công và về các điều kiện làm việc khác bằng hợp đồng lao
động theo luật lao động hiện hành quy định
Thị trường sức lao động được cấu thành bởi các yếu tố sau:
- Cung lao động Đề cập đến cung lao động tức là đề cập đến người lao động (lao động chân tay hay lao động trí óc, lao động nông thôn hay lao động thành thị) người ta còn có thể gọi là nguồn nhân lực, cũng tức là người ta đề cập đến số lượng người la động,
đề cập đến giới tính, đến độ tuổi, thể lực của người lao động, cũng như trình độ học vấn, trình độ chuyên môn và trình độ tay nghề của người lao động, nói cách khác là đề cập đến số lượng và chất lượng người lao động có đáp ứng được những yêu cầu của người sử dụng lao động nói riêng và yêu cầu của xã hội nói chung hay không
+ Cầu lao động Có thể nói một cách khái quát “cầu lao
động” tức là người sử dụng lao động (người sử dụng lao động có thể là một cá nhân, có thể là một tổ chức, một doanh nghiệp nhà nước, cũng có thể là một doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp nước ngoài ) Nếu hiểu như vậy, thì trong thời kỳ hội nhập như ngày nay, không những thị trường trong nước với sự phát triển mỗi năm hàng chục nghìn doanh nghiệp được hình thành, ngoài ra còn phải kể đến hàng nghìn làng nghề, hàng trăm nghìn trang trại, hàng triệu hộ kinh doanh cá thể, tiểu
Trang 10thương, tiểu thủ công nghiệp, mà còn thị trường khu vực và trên thế giới đều cần đến một số lượng người lao động hết sức lớn
+ Các thể chế về quan hệ lao động (Nhà nước, chủ thể đại
diện cho các bên giao dịch nối cung – cầu lao động) Nhà nước thực hiện vai trò quản lý và điều tiết thị trường lao động thông qua
tổ chức một thị trường thống nhất về cung – cầu lao động trên nguyên tắc tuân thủ các quy phạm pháp luật, xoá bỏ rào cản về hành chính, chia cắt thị trường lao động Nhà nước xây dựng hành lang pháp lý tạo môi trường tự do thuê, mướn sức lao động theo cơ chế thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động Tạo công cụ để người lao động và người sử dụng lao động thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình (các quy định về hợp đồng lao
động, thoả ước lao động tập thể); đồng thời tạo hành lang pháp lý cho các tổ chức môi giới cung ứng lao động, việc làm hoạt động
có hiệu quả, cân bằng cung – cầu lao động; hỗ trợ đầu tư nào đang
có nhu cầu lớn về lao động phục vụ cho nhu cầu tìm việc làm của người lao động Không những vậy mà còn giúp cho công tác quản
lý nhà nước về lao động được tốt hơn
+ Giá cả sức lao động Giá cả sức lao động tức là tiền công,
tiền lương mà người lao động được hưởng, trên cơ sở thoả thuận (hợp đồng lao động) giữa người lao động và người sử dụng lao
động theo các quy luật khách quan của thị trường lao động Tuy nhiên việc đảm bảo cho tiền công, tiền lương phải trở thành động lực khuyến khích người lao động nâng cao tay nghề, năng suất lao
động, kỷ luật lao động là hết sức cần thiết trong thời đại mở cửa, hội nhập Đồng thời qua tiền công, tiền lương nhằm thực hiện chính sách, chế độ đối với người lao động làm việc trong các loại hình doanh nghiệp và các lĩnh vực ngành nghề khác nhau, tạo ra sự bình đẳng trong xã hội
Trang 11Như vậy, khi đề cập đến thị trường lao động việc đầu tiên chúng ta phải làm là chỉ ra các yếu tố cấu thành nên nó
Với các yếu tố như chúng tôi đã chỉ ra ở trên thị trường lao
động có một số đặc trưng cơ bản sau:
Các đặc trưng phân biệt thị trường lao động với các loại thị trường khác, chủ yếu dựa vào tính chất đặc biệt của hàng hoá sức lao động Trong các nước dù thể chế chính trị xã hội và trình độ phát triển có khác nhau, nếu nền kinh tế vận hành theo thị trường, thì thị trường lao động vẫn có những đặc trưng cơ bản sau đây:
Một là, trước hết, lao động không thể tách rời khỏi người
cung cấp (người lao động) Đối với các hàng hoá thông thường, mối quan hệ giữa người bán, người mua sẽ kết thúc khi thoả thuận xong việc mua bán, và quyền của người bán đối với hàng hoá của mình chấm dứt sau khi được thanh toán sòng phẳng Nhưng đối với hàng hoá sức lao động, thì người làm thuê không hoàn toàn tách biệt với sức lao động của mình, mà người làm thuê còn phải tham gia tích cực, và chủ động trong quá trình khai thác và sử dụng sức lao động của mình, để tạo ra sản phẩm, hàng hoá - dịch vụ với số lượng và chất lượng ngày càng tốt hơn Đây là nét đặc trưng cơ bản, khác với các thị trường khác của nền kinh tế thị trường
Hai là, do người lao động (người làm thuê) vẫn giữ quyền
kiểm soát số lượng và chất lượng sức lao động, cho nên mối quan
hệ lao động là mối quan hệ lâu dài Việc duy trì, phát triển các mối quan hệ lao động là rất cần thiết, nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả của quá trình lao động Người sử dụng lao động (là một doanh nghiệp hay một cá thể) phải xây dựng một cơ chế đãi ngộ, kích thích, tạo động lực đối với người lao động một cách phù hợp Trong đó, tiền lương, tiền thưởng, các loại phúc lợi khác v.v là một trong những công cụ quan trọng, góp phần duy trì và phát
Trang 12triển, thúc đẩy mối quan hệ trong quá trình lao động ngày càng phát triển
Ba là, chất lượng lao động của người lao động không đồng
nhất Chất lượng lao động ở mỗi người lao động khác nhau về giới tính, tuổi tác, thể lực, trí thông minh, về trình độ chuyên môn, về kinh nghiệm công tác, khả năng khéo léo, khả năng ứng xử, động lực làm việc v.v Mỗi người lao động là tổng hợp các năng lực bẩm sinh và sức lao động tự nó cộng với khả năng chuyên biệt tiếp thu được thông qua giáo dục và đào tạo Vì vậy, việc đánh giá chất lượng lao động của người lao động trong khi tuyển dụng, trả công phù hợp cho từng người gặp nhiều khó khăn và phức tạp
Bốn là, lao động vừa là đầu vào của quá trình sản xuất, vừa
quyết định số lượng và chất lượng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ sản xuất ra Vì vậy, các chính sách, các quy định về tuyển dụng, tiền lương, bảo hiểm v.v vừa ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các đơn vị sản xuất kinh doanh, vừa ảnh hưởng đến các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như giá cả, việc làm
Năm là, thị trường lao động luôn có giới hạn về địa lý theo
vùng, về chuyên môn theo ngành, nghề Vì vậy phải nghiên cứu sự chuyển dịch và sự liên kết giữa các thị trường được phân đoạn theo các dấu hiệu (tiêu thức) khác nhau giữa các vùng giữa các ngành, nghề
Sáu là, bất kể thị trường lao động nào, dù hoàn hảo hay
không đều chịu sự tác động của pháp luật Các thể chế, quy chế
được luật hoá và các quy định không thành văn bản, có tác động
đến hành vi và điều kiện của hai chủ thể người lao động và người
sử dụng lao động trong quá trình thoả thuận các điều kiện giá cả của dịch vụ lao động
Trang 13Quan hệ giữa người lao động và sử dụng lao động là một trong những vấn đền quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển thị trường lao động ở nước ta Trong thời kỳ đầu sau cách mạng giải phóng dân tộc thành công và xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta quan điểm và đường lối, chính sách của Đảng
và Nhà nước là xoá bỏ sự bóc lột và bất công trong xã hội cũng như trong quan hệ lao động, đưa vị trí người lao động lên vị trí người làm chủ xã hội và làm chủ tập thể
Cùng với quá trình đổi mới đất nước, chuyển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường định hướng XHCN sự hình thành và phát triển thị trường lao động ở nước ta là một quá trình thay đổi cả về lượng và chất, cả nội dung và các hình thức biểu hiện, qua đó xác minh tính quy luật vận động của các mối quan hệ trong lao động, chủ động tạo ra một cơ chế vận hành phù hợp hoàn cảnh và trình độ phát triển kinh tế xã hội ở nước ta Quá trình này trong những năm đổi mới vừa qua có những đặc trưng chủ yếu sau:
Một là, sự hình thành và phát triển thị trường lao động gắn
liền với sự thay đổi nhận thức về quan hệ lao động, sự vận dụng lý luận kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin một cách sáng tạo và phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế – xã hội trên thế giới và trong nước đã và đang làm thay đổi tranh luận về bóc lột sức lao
động chỉ tồn tại dưới chủ nghĩa tư bản hay trong kinh tế thị trường nói chung theo hướng hình thành quan niệm mới về quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động Hơn thế nữa sự thay
đổi nêu trên được thể chế hoá bằng việc ban hành và thực hiện Bộ luật Lao động năm 1994 Bộ luật Lao động đã thể chế hoá đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta về lao động Trong Lời nói
đầu của Bộ luật Lao động có nhấn mạnh: “Pháp luật lao động quy
Trang 14định quyền và nghĩa vụ của người lao động và của người sử dụng lao động, các tiêu chuẩn lao động, các nguyên tắc sử dụng và quản
lý lao động, góp phần thúc đẩy sản xuất, vì vậy có vị trí quan trọng trong đời sống xã hội và trong hệ thống pháp luật của quốc gia”
Hai là, quá trình hình thành và phát triển thị trường lao động
gắn liền với sự thay đổi nhanh chóng về nội dung, hình thức biểu hiện và tính chất của một bên tham gia quan hệ lao động – người
sử dụng lao động, thông qua chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần với các hình thức sở hữu khác nhau Trước thời kỳ đổi mới, khi sở hữu tư nhân còn chưa được chú trọng, với các hình thức sở hữu cơ bản: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể thì người sử dụng lao động là Nhà nước thông qua các đại diện là những người
đứng đầu (thủ trưởng, giám đốc ) các tổ chức, cơ quan và doanh nghiệp với phương thức quản lý lao động bằng chế độ biên chế Trong giai đoạn hiện nay nhiều thành phần kinh tế đang được hình thành và phát triển với những hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng, đan xen, hỗn hợp, và người sử dụng lao động vì thế cũng mang những hình thức mới Đối với các doanh nghiệp nhà nước, hội đồng quản trị doanh nghiệp có quyền đại diện trực tiếp chủ sở hữu gắn với quyền tự chủ kinh doanh, chế độ biên chế hầu như đã mất đi vị trí vốn có Đối với kinh tế tập thể thì hợp tác xã là nòng cốt, người sử dụng lao động hoạt động theo Luật Hợp tác xã Đối với kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế vốn có đầu tư nước ngoài, do xác định rõ chủ
sở hữu nên tính chất quan hệ lao động ở đây là quan hệ chủ thợ,
được xác lập trên cơ sở Luật Doanh nghiệp, Luật Khuyến khích
đầu tư nước ngoài và Luật Lao động Mấy năm gần đây giới chủ doanh nghiệp đã tăng nhanh về số lượng doanh nhân và ngày càng khẳng định vị trí quan trọng trong đổi mới kinh tế của đất nước
Trang 15Ba là, quá trình hình thành và phát triển thị trường lao động
gắn liền với sự thay đổi phía người lao động Sự thay đổi này diễn
ra cả về số lượng và tính chất, đặc biệt sự thay đổi về nhận thức có
ý nghĩa quan trọng trong phát triển các quan hệ lao động Quan niệm về chế độ làm chủ tập thể trong các doanh nghiệp đang dần chuyển thành quan hệ chủ thợ Bên cạnh sự mặc cảm của người lao
động còn có các yếu tố rủi ro, tiêu cực và sự thiếu ổn định trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong điều kiện kinh tế thị trường tác động đến nhận thức, làm kéo dài quá trình thích nghi với sự thay đổi Vấn
đề đặt ra là làm thế nào để đảm bảo chắc chắn rằng người sử dụng lao động đối xử với công nhân viên một cách công bằng và với một thái độ tôn trọng, và làm thế nào để xử lý những bất đồng không thể tránh khỏi trong bất kỳ một tổ chức nào
2 Khái niệm “tâm lý xã hội”
Khác với các hiện tượng vật lý, tự nhiên, các hiện tượng tâm
lý xã hội thuộc về đời sống tinh thần của mỗi con người và các nhóm xã hội Các hiện tượng tâm lý xã hội có mặt thường xuyên
và ảnh hưởng trực tiếp đến mọi hoạt động có con người tham gia
Tâm lý xã hội là những cảm xúc, tình cảm, ý nghĩ, trí tưởng tượng, thói quen, phong tục, tập quán và các quá trình, trạng thái, thuộc tính tâm lý của mỗi con người và các nhóm xã hội thể hiện trong công việc và cuộc sống hằng ngày của họ
Tượng tâm lý xã hội đều có bản chất xã hội và là tâm lý của con người có ý thức xã hội, là thành viên của cộng đồng xã hội Tâm lý của con người dù là cá nhân hay cộng đồng đều mang tính bản chất xã hội Từ luận điểm nổi tiếng của C.Mác: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã
Trang 16hội”1, ta có thể khẳng định tâm lý của con người là sự phản ánh và thể hiện sinh động các mối quan hệ xã hội Có thể coi quá trình nhận thức và ý thức thông thường trong đời sống hằng ngày của mỗi con người và các nhóm xã hội là những hiện tượng tâm lý xã hội Đó là sự biểu hiện cụ thể, sinh động của ý thức tư tưởng, của trình độ văn minh, tiến bộ của con người thông qua hành vi hoạt
động và quan hệ ứng xử của mỗi người hoặc mỗi nhóm người khác nhau Tâm lý xã hội có quan hệ hữu cơ và tác động qua lại thường xuyên với hệ tư tưởng Đó là quan hệ giữa ý thức xã hội thông thường hàng ngày của mỗi người với hệ tư tưởng của một giai cấp, một tập đoàn xã hội Hệ tư tưởng có tác động chỉ đạo, hướng dẫn
và điều chỉnh đời sống tinh thần hàng ngày của con người và các nhóm xã hội và ngược lại tâm lý xã hội góp phần thực hiện hoá hệ tư tưởng, làm cho hệ tư tưởng đi vào cuộc sống sinh động và bền vững
Các hiện tượng tâm lý xã hội rất phong phú, đa dạng; chúng biến đổi phức tạp, thường xuyên như chính đời sống tinh thần hằng ngày của mỗi con người và các nhóm xã hội khác nhau
* Những tính quy luật quan trọng cần chú ý của các hiện tượng tâm lý xã hội
- Tính quy luật phổ biến và lan truyền
Các hiện tượng tâm lý xã hội rất phong phú đa dạng, phức tạp, biến đổi thường xuyên hàng ngày như thời tiết, như tính nết của từng con người nhưng vẫn có tính quy luật Trước hết, các hiện tượng tâm lý của con người và các nhóm xã hội có tính quy luật phổ biến và lan truyền có thể liên kết hoặc xung đột, đồng nhất đơn nhất nhưng vẫn thể hiện mối quan hệ giữa cái chung và
1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB CTQG, ST, H, 1995, t.3, tr 11
Trang 17cái riêng Các hiện tượng tâm lý xã hội vừa có tính chung, sâu xa, thầm kín, vừa có tính riêng, cụ thể, sinh động
- Các hiện tượng tâm lý của con người và các nhóm xã hội có tính chất sâu xa, thầm kín, khó đo lường được, nhưng lại rất nhạy cảm, sinh động và biểu hiện cụ thể ra bên ngoài qua hành vi hoạt
động và quan hệ, thái độ ứng xử Đây là tính quy luật không thể giấu kín được, vừa sâu xa, vừa dễ nhận biết của các hiện tượng tâm
có biểu hiện đặc điểm tâm lý gia đình, giai cấp, dân tộc, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp
Đây là tính quy luật quan trọng cần chú ý khi lựa chọn và phân tích các hiện tượng tâm lý tác động đến thị trường sức lao
động
- Tính tích cực vượt trước hoặc bảo thủ, lạc hậu
Các hiện tượng tâm lý xã hội vừa có tính tiên tiến, tích cực, vừa có tính lạc hậu, tiêu cực, bảo thủ Ngay trong cùng một hiện tượng tâm lý xã hội cũng có thể có cả mặt tích cực và tiêu cực, lúc này có tính tích cực, lúc khác lại tiêu cực Giữ gìn và bảo vệ truyền thống tốt đẹp hoặc đổi mới là tích cực, nhưng giữ truyền thống, thói quen lạc hậu là tiêu cực; theo cái mới nhưng không giữ cái tốt đẹp của dân tộc là tiêu cực
Trang 18- Tính quy luật tự điều chỉnh, tự cân bằng
Các biện pháp tâm lý xã hội có tính tự điều chỉnh, sự cân bằng Biết tự điều chỉnh và giữ vững sự cân bằng tâm lý của con người, giữ vững và phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực để
ổn định và phát triển, vượt qua lạc hậu, trì trệ, bảo thủ là một trong những yêu cầu tiêu chuẩn và thể hiện cuộc sống tốt đẹp của con người
- Tính quy luật khái quát hoá và điển hình hoá, hình thành nhóm không chính thức và xuất hiện những thủ lĩnh không chính thức
Các hiện tượng tâm lý xã hội có tính khai quát yêu cầu chung, phổ biến ở nhiều người, lại vừa có tính điển hình cụ thể Tính khái quát, tính chung càng sâu rộng, tính điển hình cụ thể càng sinh động và rõ nét cá biệt bao nhiêu thì tính hấp dẫn thuyết phục mọi người càng mạnh mẽ và hiệu quả bấy nhiều Trong quá trình hoạt động, bao giờ cũng hình thành trong nhóm không chính thức và xuất hiện những thủ lĩnh không chính thức Đó chính là yêu cầu rất cao và khách quan về đặc điểm tâm lý xã hội đối với mỗi người, đối với các nhân vật được phản ánh trong tiểu thuyết và phim tâm lý xã hội, trong các tác phẩm nghệ thuật được nhiều người yêu mến, ca ngợi
- Ngoài ra, các hiện tượng tâm lý xã hội còn có những tính quy luật khác cần chú ý như:
+ Tính quy luật chọn lọc, kế thừa và phát triển, cảm hoá, thuyết phục, bắt chước lẫn nhau, liên kết và xung đột giữa các nhóm không chính thức và các thủ lĩnh không chính thức, thích nghi và thích ứng lẫn nhau
Trang 19+ Nắm vững tính quy luật của các hiện tượng tâm lý xã hội, người ta sẽ phân tích được sự tác động sâu sắc của tâm lý xã hội
3 Khái niệm “tác động của tâm lý xã hội đối với sự phát triển của thịt trường sức lao động”
3.1 Chúng ta biết rằng, hoạt động chính là nhân tố quyết
định trực tiếp việc hình thành và phát triển tâm lý của con người
Tâm lý được hình thành và phát triển bởi hoạt động và cũng
được bộc lộ trong hoạt động Với tư cách là một con người có ý thức, tâm lý của mỗi người có vài trò định hướng, điều khiển và
điều chỉnh các hành vi và hoạt động của con người
3.2 ở đề tài này, chúng tôi nghe sự tác động trở lại của tâm lý đến thị trường sức lao động
Tác động của tâm lý xã hội đối với sự phát triển thị trường sức lao động là rất rộng bởi vì hoạt động của thị trường sức lao
động là hoạt động rất rộng nên nó cũng hình thành nhiều phẩm chất tâm lý khác nhau Trong khuôn khổ thời gian cho phép, ở đề tài này chúng tôi tập trung nghiên cứu những đặc điểm tâm lý sau
đây, mà theo chúng tôi nó đóng vai trò lớn trong sự tác động đến hoạt động của thị trường lao động
Trang 20- Nhận thức xã hội và tác động của nó đến sự phát triển thị trường lao động
- Phẩm chất và năng lực người lao động và tác động của nó
đến sự phát triển triển thị trường lao động
- Phẩm chất và năng lực người sử dụng lao động và tác động của nó đến sự phát triển thị trường lao động
- Tác động của tâm lý truyền thống đến sự phát triển thị trường sức lao động
3.3 Nói đến sự tác động, tất nhiên có sự tác động tích cực
và có sự tác động cản trở
của các yếu tố tâm lý trên đến thị trường lao động, và nghiên cứu
sự cản trở, kìm hãm của các yếu tố tâm lý đó đối với hoạt động của thị trường lao động, tìm ra nguyên nhân và đề xuất các giải pháp để phát huy những tác động tích cực và hạn chế những tác
động cản trở của chúng đến sự phát triển thị trường lao động ở nước ta hiện nay
Trang 21Thực trạng thị trường sức lao động
ở nước ta hiện nay
TS Hồ Sĩ Lộc Th.s Nguyễn Thị Hảo
I Thự c trạng thị trườn g sức la o động ở nư ớc ta hiện nay
Những yếu tố cơ bản của thị trường lao động là:
- Cầu sức lao động
- Cung sức lao động
- Giá cả của sức lao động (tiền lương)
- Cạnh tranh trên thị trường lao động
- Cơ sở hạ tầng của thị trường lao động
Thị trường lao động bao gồm những chủ thể sau:
+ Một bên là những người thuê lao động (người mua) và đai diện của họ
+ Bên kia là những người làm thuê (người bán) và đại diện của họ
+ Nhà nước và các đại diện của mình
+ Các tổ chức môi giới trung gian
Trang 22người chỉ chiếm 8,18%; theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm
2007 lực lượng lao động cả nước là 45.277 nghìn người, tăng gần 2% so với 2006; phân bố không đồng đều giữa nông thôn và thành thị (nông thôn 75%, thành thị 24,97%) Dịch chuyển lao động
đang tăng, nhưng tự do hoá lao động làm hạn chế, làm cho tính linh hoạt của thị trường lao động chưa cao, đặc biệt là sự chuyển lao động trong nước và ra nước ngoài, giữa các khu vực, các ngành còn bị hạn chế, còn nhiều rào cản do cung lớn hơn cầu, chất lượng, cơ cấu ngành nghề và tổ chức, cung cấp thông tin, cung ứng lao
động chưa phù hợp với cơ chế thị trường Chất lượng lao động ngày càng được cải thiện, theo ước tính sơ bộ từ cuộc điều tra thực trạng việc làm và thất nghiệp năm 2006, tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo là 31,9%, tăng 6,6% so với năm 2005 Tỷ lệ này ở thành thị cao hơn ở nông thôn, tương ứng là 58,1% và 23,2%, chủ yếu tăng số công nhân kỹ thuật (lao động có chứng chỉ nghề ngắn hạn trở lên là 14,4% Tuy nhiên, kỹ năng tay nghề còn thấp do chất lượng đào tạo, cơ cấu ngành, nghề đào tạo chưa
đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động; thiếu trầm trọng lao
động kỹ thuật trình độ cao, lao động dịch vụ cao cấp (tài chính, ngân hàng, du lịch, bán hàng ), nhiều nghề và công việc phải thuê lao động nước ngoài; xuất khẩu lao động đa phần là lao động trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp hoặc chỉ qua giáo dục định hướng
Kỷ luật lao động, tác phong làm việc công nghiệp chưa được hình thành, phần lớn lao động Việt Nam xuất thân từ nông thôn, còn mang nặng tác phong sản xuất nông nghiệp Do vậy, khả năng cạnh tranh yếu, nhất là ở thị trường yêu cầu lao động có trình độ cao như các khu công nghiệp, khu chế xuất và thị trường lao động nước ngoài
Trang 231.2.Về chất lượng
Tuy lực lượng lao động đông, nhưng số đã qua đào tạo là 31,9% Tỷ lệ này ở thành thị cao hơn ở nông thôn tương ứng là 58,1% và 23,2% chủ yếu tăng số công nhân đào tạo ngắn hạn
Thể lực của lao động chủ yếu theo Viện nghiên cứu Thanh niên, thì chiều cao trung bình của thanh niên Việt Nam hiện nay khoảng 163,7 cm đối với nam, và 154 cm đối với nữ Chỉ số này vẫn thấp hơn nhiều so với chuẩn quốc tế và thấp hơn một số nước
2 Thực trạng về cầu lao động
Những năm qua, hàng loạt những yếu tố khách quan và chủ quan có ảnh hưởng tích cực đến tăng cầu về lao động
Đối với lao động trong nước: Số doanh nghiệp hoạt động sản
xuất kinh doanh có xu hướng tăng trong những năm gần đây Theo
số liệu điều tra doanh nghiệp hàng năm của Tổng cục Thống kê, số doanh nghiệp có đăng ký đang hoạt động của cả nước năm 2003,
2004 và năm 2005 tăng tương ứng là 72.012,91.755 và 113.352 doanh nghiệp, đã thu hút 5.175 nghìn (năm 2003), 5.770 nghì (năm 2004) và 6.243 nghìn lao động (năm 2005) vào làm việc; ước tính tổng số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh đến cuối năm 2006
là 234.000 doanh nghiệp
Ngoài ra, với khoảng 2.000 làng nghề, 110.000 trang trại, 2.000 hộ kinh doanh cá thể, tiểu thương, tiểu chủ đã thu hút khoảng 15 triệu lao động vào làm việc, trong đó có hơn 5 triệu làm theo hợp đồng, đưa tổng số lao động làm công ăn lương trên 13 triệu (trong đó khoảng gần 2 triệu làm việc trong khu vực hành chính sự nghiệp), chiếm khoảng 30% lao động xã hội;
Cầu lao động ngoài nước: Số lượng lao động Việt Nam làm
việc ở nước ngoài có xu hướng tăng Từ 15 nước tiếp nhận lao
Trang 24động Việt Nam vào năm 1995 với 10.050 người đến nay lao động Việt Nam đã có mặt trên 40 nước và vùng lãnh thổ, tập trung chủ yếu ở các nước trong khu vực Đông á như Hàn Quốc, Nhật Bản,
Đài Loan, Malaysia và sẽ tăng một số thị trường khác Trong giai
đoạn 2001-2007, Việt Nam đã đưa được 29 vạn lao động đi làm việc ở nước ngoài, trong đó có 50% được đào tạo nghề và 90%
được đào tạo định hướng Năm 2007, 78 nghìn lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, đưa tổng số lao động và chuyên gia Việt Nam đang làm việc có thời hạn ở nước ngoài lên trên 400.000 người, hàng năm chuyển về gia đình khoảng 1,6 tỷ USD góp phần nâng cao thu nhập cho bản thân, gia đình và xã hội
Cầu lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam
cũng gia tăng, năm 2002 là 6.938 người và ước tính năm 2007 khoảng trên 7.000 người, chủ yếu là lao động có chuyên môn kỹ thuật cao và lao động quản lý, làm việc chủ yếu trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, liên doanh thuộc 50 lĩnh vực, ngành nghề khác nhau
3 Thực trạng về hệ thống giao dịch thị trường sức lao
động
Các hình thức giao dịch trên thị trường lao động hiện nay là giao dịch gián tiếp (thông qua các tổ chức giới thiệu việc làm, hội chợ việc làm và sàn giao dịch việc làm) và giao dịch trực tiếp giữa người và sử dụng lao động và người lao động
Đối với hoạt động giao dịch gián tiếp chính thức, tính đến 01/7/2007, hệ thống giao dịch gián tiếp (các tổ chức giới thiệu việc làm, hội chợ việc làm và sàn giao dịch việc làm) đã có 170 Trung tâm giới thiệu việc làm được thành lập và hàng nghìn doanh nghiệp hoạt động giới thiệu việc làm, cung ứng lao động Từ 1990-
2005, các Trung tâm và tư vấn cho trên 3 triệu lượt người, giới
Trang 25thiệu việc làm và cung ứng lao động cho khoảng 2,5 triệu lao
động, dạy nghề ngắn hạn gắn với việc tạo việc làm cho khoảng 1,8 triệu lao động
Hàng năm đã tổ chức trên 40 hội chợ việc làm cấp tỉnh và hàng trăm phiên chợ, sàn giao dịch làm tại các Trung tâm giới thiệu việc làm, trường học, doanh nghiệp với hàng vạn người tham gia, số lao động được phỏng vấn tại chỗ chiếm hơn 60% số người tham gia, trong đó có khoẳng 25-30% số lao động được tuyển dụng Tuy nhiên, các hội chợ việc làm mới tập trung ở đô thị, chưa thường xuyên, chưa tiếp cận với vùng nông thôn có nhiều lao động;
4 Thực trạng về thông tin thị trường sức lao động
Thông tin thị trường lao động là hệ thống chỉ tiêu phản ánh trạng thái các thành tố của thị trường lao động như: cung, cầu lao
động, điều kiện việc làm (tiền lương, thời gian, trợ cấp ), các trung gian thị trường như: cung, cầu lao động, điều kiện việc làm (tiền lương, thời gian, trợ cấp ), các trung gian thị trường lao
động như tổ chức, cơ chế hỗ trợ việc kết nối “người tìm việc” và
“việc tìm người” Ngoài thông tin định lượng, thông tin thị trường lao động được thu thập có thể là thông tin tính như: văn bản pháp luật, báo cáo, bản ghi dữ liệu về điều kiện làm việc, nhu cầu đào tạo, lỗ hổng kỹ năng, đào tạo nghề và đầu ra
Sự phát triển về công nghệ thông tin cho phép chúng ta có thể xây dựng một mạng thông tin thị trường lao động hiện đại, nhằm đáp ứng một cách hệ thống, chính xác, đầy đủ và kịp thời yêu cầu thông tin phục vụ quản lý, nghiên cứu, thực hiện và giám sát các chính sách về thị trường lao động, cũng như nhu cầu thông tin của người lao động và người sử dụng lao động và các tổ chức trung gian
Trang 264.1 Tầm quan trọng của thông tin thị trường lao động đối với quá trình hoạt động, phát triển của thị trường lao động và nền kinh tế, thể hiện ở các khía cạnh:
- Thông tin về thị trường lao động dùng trong hoạch định và
điều chỉnh các chính sách thị trường lao động chủ động và thụ
động Đó là các xu hướng việc làm, thất nghiệp và thiếu việc làm
để phân tích cung và cầu lao động, thiết kế và triển khai các chính sách thị trường lao động
- Đối với các trung tâm dịch vụ việc làm, người lao động, người sử dụng lao động, thông tin thị trường lao động là việc làm, tiền công, điều kiện việc làm việc, địa điểm phân bổ việc làm và các lợi ích liên quan khác, bao gồm đào tạo và phát triển
- Thông tin thị trường lao động giúp cho Chính phủ và cộng
đồng xã hội đánh giá những trợ cấp và chi phí của hệ thống bảo hiểm xã hội cho người lao động, như trợ cấp thất nghiệp, đền bù mất việc làm, đào tạo tái hoà nhập thị trường lao động, hưu trí
- Các nhà đầu tư xem xét kỹ lưỡng các thông tin thị trường lao động mới đi đến các quyết định tuyển dụng, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực doanh nghiệp theo số lượng, chất lượng lao động
kỹ năng nghề nghiệp, tiền lương và theo pháp luật lao động
- Theo tín hiệu, yêu cầu kỹ năng nghề nghiệp, ngành nghề của cầu lao động từ thông tin thị trường lao động, đội ngũ làm công tác dạy nghề sẽ có hướng thiết kế, thực hiện các chương trình
đào tạo phù hợp
4.2 Các yếu tố cấu thành thông tin thị trường lao động gồm:
+ Các chỉ tiêu về cung lao động
+ Các chỉ tiêu về cầu lao động
Trang 27+ Các chỉ tiêu về đánh giá hàng hoá sức lao động
+ Các chỉ tiêu khác
Hiện nay, trong xu thế hội nhập, nền kinh tế nước ta đang từng bước đi lên, các yêu cầu đối với thông tin thị trường lao động rất khắt khe, yêu cầu thông tin phải đảm bảo tính hệ thống, độ tin cậy, tính sử dụng (thiết thực phục vụ trực tiếp công tác quản lý, nghiên cứu, giới thiệu việc làm, tuyển dụng, đào tạo lao động kỹ năng và điều chỉnh các khuyết tật của thị trường lao động ) phải
được cập nhật thường xuyên thông qua kết quả điều tra, số liệu thống kê, báo cáo về các chỉ tiêu cung - cầu lao động, tiền lương, (tiền công) sử dụng một cách đại chung, rõ ràng, dễ hiểu, nhưng phải đạt hiệu quả cao trên các mặt: khoa học, đầy đủ, chất lượng
và nhanh nhạy
Thời gian qua, mạng lưới thông tin thị trường lao động bước
đầu được thiết lập ở 10 tỉnh, thành phố trọng điểm đã góp phần tích cực phát triển hệ thống giao dịch thị trường lao động
5 Về giá cả sức lao động
Tiền lương là một phạm trù kinh tế - xã hội Chính sách tiền lương là một bộ phận quan trọng cấu thành hệ thống chính sách kinh tế - xã hội ở nước ta Nó tác động trực tiếp đến đời sống của những người làm công ăn lương và của người dân nói chung, nó
ảnh hưởng đến nhiều mối quan hệ khác, đến sự ổn định kinh tế chính trị và, suy cho cùng, liên quan đến chính sách phát triển của
đất nước
Chính sách tiền lương của nước ta đã lạc hậu, tiền lương không đảm bảo để tái sản xuất sức lao động, không phản ánh đúng thực trạng thu nhập của những người làm công ăn lương, làm mất
động lực kích thích của tiền lương, làm cho hệ thống phân phối
Trang 28của nước ta bị rối loạn Nhà nước không điều tiết được thu nhập, làm tăng tình trạng phân hoá bất bình đẳng trong xã hội, cải cách chính sách tiền lương là tất yếu khách quan Phải thừa nhận tiền lương là giá cả sức lao động quyết định Cần phải tính đúng, tính
đủ giá trị sức lao động sao cho cán bộ công chức sống bằng chính tiền lương của mình Thực hiện tiền tệ hoá tiền lương, trên phương diện vĩ mô và với tư cách là người sử dụng lao động thì phải coi tiền lương là khoản đầu tư lớn nhất, đầu tư cho con người
Tuy vậy, theo chúng tôi, có lẽ những điều kiện khác chưa chín muồi để cải cách triệt để chính sách tiền lương theo hướng phát triển thị trường Chẳng hạn về cải cách hành chính, giảm biên chế, vấn đề xã hội hoá lĩnh vực về sự nghiệp y tế, giáo dục, khoa học, văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao, về tăng tiền lương tối thiểu và bù trượt giá Đây là những vấn đề phức tạp, liên quan đến thể chế chính trị và kinh tế, và do đó cần có cân nhắc toàn diện với những bước đi và thời gian thích hợp
Từ năm 2007 đến nay, nhìn chung tiền lương, tiền công ở nước ta đã bước đầu tuân theo hướng thị trường Theo số liệu điều tra hàng năm của Tổng cục Thống kê
Năm 2007, tiền lương bình quân của người lao động trong các loại hình doanh nghiệp năm 2006 đều tăng so với năm 2005 Mức tăng bình quân từ 8 đến 10% Trong đó, doanh nghiệp Nhà nước đạt 2,1 triệu đồng/người/tháng (tăng 9% so với năm 2005); các Tổng công ty hạng đặc biệt bình quân đạt 3,2 triệu
đồng/người/tháng (tăng 11% so với năm 2005); doanh nghiệp dân doanh đạt 1,6 triệu đồng/ người/tháng; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 2,2 triệu đồng/người/tháng, tăng khoảng 8% so với năm 2005) Nhìn chung, tiền lương, tiền công ở Việt Nam đã chuyển biến dần theo hướng thị trường
Trang 296 Thực trạng về quản lý của Nhà nước đối với thị trường
sức lao động
6.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về quản lý thị trường sức lao động
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định
về chủ trương “phát triển thị trường lao động trong mọi khu vực kinh tế, tạo sự gắn kết cung - cầu lao động, phát huy tính tích cực của người lao động trong học nghề, tự tạo và tìm việc làm Có chính sách ưu đãi các doanh nghiệp thu hút nhiều lao động nhất là
ở khu vực nông thôn Đẩy mạnh xuất khẩu lao động, đặc biệt là xuất khẩu lao động qua đào tạo Thực hiện điều tiết thị trường lao
động thông qua tổ chức một thị trường thống nhất về cung - cầu lao động trên nguyên tắc tuân thủ các quy phạm pháp luật, xoá bỏ rào cản về hành chính, chia cắt thị trường lao động Nhà nước xây dựng hành lang pháp lý tạo môi trường tự do thuê, mướn sức lao
động theo cơ chế thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động trên nguyên tắc không thấp hơn giá sàn tiền lương tối thiểu; tạo công cụ để người lao động và người sử dụng lao động thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình (là các quy định về hợp
đồng lao động, thoả ước lao động tập thể); đồng thời tạo thành hành lang pháp lý cho các tổ chức môi giới cung ứng lao động, việc làm hoạt động có hiệu quả, cân bằng cung - cầu lao động; hỗ trợ đầu tư doanh nghiệp phát triển để thu hút lao động; cho vay vốn giải quyết việc làm và tự tạo việc làm, tăng các chương trình,
dự án phát triển kinh tế - xã hội thu hút nhiều lao động, chính sách hỗ trợ xuất khẩu lao động, khởi sự doanh nghiệp; chính sách
ưu đãi đối với nhóm người lao động yếu thế như phụ nữ, người khuyết tật và các cơ sở sản xuất kinh doanh của người tàn tật; chú
Trang 30trọng công tác dạy nghề cho lao động, ưu tiên nông dân, dân tộc thiểu số, đổi mới chính sách quản lý lao động di chuyển
6.2 Lĩnh vực quản lý nguồn nhân lực
Lĩnh vực quản lý nguồn nhân lực chưa được quan tâm ở tất cả các cấp, từ Trung ương (Bộ, Ngành) đến địa phương và các tổ chức Nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay còn bất cập trước yêu cầu của trị trường lao động Tình trạng thiếu lao động kỹ thuật và lao động có tay nghề cao là phổ biến ở tất cả các địa phương và cơ
và sai
- Rất nhiều vấn đế gay cấn được đặt ra trong quá trình quản
lý nguồn nhân lực như các thể chế và thị trường lao động còn đang trong quá trình hình thành, mạng lưới an toàn xã hội về việc làm cũng chưa được thiết lập, chính sách tạo việc làm chưa tác động mạnh mẽ đến thay đổi cơ cấu lao động, thu hút lao động được đào tạo về các vùng khó khăn có nhu cầu; vấn đề giới, các nhóm xã hội
đặc thù chưa được quan tâm đúng mức Công tác quản lý nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp; các tổ chức cũng bị ảnh hưởng nặng nề của lịch sử “tổ chức hành chính” gây nên, rất khó khăn cho việc chuyển đổi nhận thức không chỉ là người lao động mà
Trang 31ngay cả với các nhà quản lý Văn hoá tổ chức cơ bản được thiết lập theo các giá trị thời bao cấp, văn hoá quản lý mới chưa được thiết lập
7 Thực trạng về tranh chấp lao động
Kết quả khảo sát tại các địa phương trên cho thấy, tình hình tranh chấp lao động diễn ra khá phức tạp, ngày càng gia tăng cả về
số vụ xảy ra và số lượng lao động tham gia, đặc biệt ở một số tỉnh/ thành phố, tình hình tranh chấp lao động đã trở nên “nóng” Chẳng hạn ở Đồng Nai, trong giai đoạn 1995-2002 số vụ tranh chấp lao
động dẫn tới đình công bình quân chỉ khoảng 10 vụ/năm, tuy nhiên đến giai đoạn 2003-2005 đã tăng lên gấp 4 lần, (khoảng 40 vụ/năm) và chỉ riêng 6 tháng đầu năm 2006 đã có gần 100 vụ ở
TP Hồ Chí Minh, tình hình trong các doanh nghiệp cũng rất phức tạp, quy mô lao động tham gia các vụ tranh chấp lao động dẫn đến
đình công cũng có xu hướng gia tăng Nếu như trước đây tranh chấp chủ yếu giữa một vài cá nhân với chủ sử dụng lao động thì hiện nay số vụ tranh chấp giữa nhóm khá đông người lao động với chủ sử dụng lao động diễn ra phổ biến hơn Kết quả khảo sát cũng cho thấy, các doanh nghiệp ở các tỉnh/ thành phố phía Nam có số
vụ tranh chấp lao động nhiều hơn ở các tỉnh miền Trung và miền Bắc
Hầu hết các cuộc tranh chấp lao động trong thời gian qua đều không có vai trò của tổ chức công đoàn cơ sở Mặc dù nhiều doanh nghiệp đã có tổ chức công đoàn, nhưng công đoàn hầu như không biết các thông tin liên quan đến tranh chấp như: thời điểm xảy ra, nguyên nhân, người khởi xướng, lực lượng tham gia Chỉ khi tranh chấp lao động chuyển thành đình công thì công đoàn mới biết nên khá lúng túng, bị động trong tham gia xử lý, giải quyết
Trang 32Phạm vi xảy ra tranh chấp lao động ngày càng lan rộng Trước đây, tranh chấp lao động chỉ diễn ra ở các doanh nghiệp FDI
và doanh nghiệp tư nhân, nhưng hiện nay đã xảy ra cả ở doanh nghiệp nhà nước Bên cạnh đó, đình công cũng đã xuất hiện ở các doanh nghiệp trước đây có quan hệ lao động rất tốt như các doanh nghiệp FDI của Nhật Bản Trong các loại hình doanh nghiệp, doanh nghiệp FDI xảy ra nhiều vụ tranh chấp lao động nhất, tiếp
đến là khu vực tư nhân và trong các doanh nghiệp FDI, “điểm nóng” về tranh chấp lao động là các doanh nghiệp Hàn Quốc, Đài Loan
Trang 33Thực trạng tác động của nhận thức x∙ hội
đối với sự phát triển thị trường sức lao động
ở nước ta hiện nay
TS Nguyễn Thị Kim Phương Th.s Vũ Ngọc Lương
1 Nhận thức của các cơ quan quản lý x∙ hội và tác động của nó đến thị trường sức lao động ở nước ta hiện nay
Về vấn đề này, chúng tôi khảo sát một số tiêu chí sau:
1.1.Về đường lối chính sách
Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách để thúc đẩy phát triển thị trường lao động Với chức năng và nhiệm vụ của mình, Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội dã giúp Chính phủ, Quốc hội ban hành nhiều chính sách, pháp luật quan tọng liên quan đến lao động và phát triển thị trường lao động như: Bộ luật Lao động, Luật dạy nghề, Luật Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Luật Bảo hiểm xã hội và hàng trăm Nghị
định, Quyết định, Thông tư hướng dẫn thi hành luật Trong đó đã thể hiện rõ vai trò của Nhà nước, nhằm: tổ chức một thị trường thống nhất về cung cầu lao động theo nguyên tắc tuân thủ các quy
định pháp luật, xoá bỏ rào cản về hành chính, chia cắt thị trường lao động; khuyến khích cầu lao động; Đầu tư phát triển nguồn lao
động, trong đó chú trọng đào tạo nghề theo 3 cấp trình độ, đặc biệt cho nông dân, dân tộc thiểu số, xuất khẩu lao động và lao
động vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất
Trang 34Tuy vậy, kết quả điều tra cho thấy nhận thức của các cơ quan quản lý về tầm quan trọng của thị trường lao động so với các thị trường khác trong nền kinh tế quốc dân cho kết quả như sau:
tổ chức môi giới việc làm, hệ thống thông tin thị trường lao động,
đào tạo cho người lao động, nhất là đào tạo nguồn nhân lực bậc cao, chuyển dịch cơ cấu lao động còn thiếu và nhiều bất cập
Điều đó tác động rất lớn đến sự phát triển của thị trường lao động
+ Chẳng hạn như vấn đề bảo hiểm thất nghiệp
Thất nghiệp là một mặt của thị trường lao động, hiện nay chúng ta chưa có một khái niệm thống nhất cao về thất nghiệp và thiếu việc làm Chẳng hạn: thiếu việc làm được định nghĩa là một người nào đó, bằng lao động, của mình chỉ đạt được nguồn thu nhập không đủ sống
Hiện nay, Chính phủ đang tìm cách cải thiện hiện trạng thị trường lao động, trong đó đã hình thành bảo hiểm thất nghiệp
Điều này sẽ có ý nghĩa bảo đảm chống lại những mạo hiểm luôn
de dọa người lao động, nhưng hiện nay bảo hiểm mới chỉ dừng lại trong khu vực kết cấu bao gồm các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp nhà nước và phí bảo hiểm chỉ chiếm 6% tổng lương trợ giúp thất nghiệp chỉ được trả tối đa là 1 năm và ở mức 60% của lương đang hưởng - quá ít và chưa có bảo hiểm thất nghiệp cho
Trang 35toàn xã hội điều đó tạo tâm lý lo lắng, không an tâm cho người dân, vì phải mưu sinh do chưa có bảo hiểm thất nghiệp nên mỗi khi mất việc làm sẽ hình thành một sức ép lớn về tìm việc làm - người lao động ít nghĩ đến đào tạo và tự đào tạo, người lao động ít
có cơ hội lựa chọn Điều đó lại làm cho thị trường lao động không
ổn định, không phát triển được rơi vào tình trạng mất trật tự, đó là cái vòng luẩn quẩn đang diễn ra trên thị trường lao động hiện nay
Về xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động: Bộ lao
động Thương binh Xã hội chưa có được những số liệu chính xác làm cơ sở để tính toán để xây dựng bảo hiểm thất nghiệp: vừa không rõ những đóng góp nào của bảo hiểm thất nghiệp sẽ có, vừa
Hoàn toàn không biết một cách chắc chắn về quy mô dân số mà bảo hiểm thất nghiệp phải thực hiện Không có những số liệu này việc bảo hiểm thất nghiệp sẽ thất bại Cũng qua điều tra chúng tôi còn phát hiện thấy một điều đáng ngạc nhiên là: rất nhiều người nhận được một phần lương hưu mặc dù họ vẫn đang làm việc Đây
là việc mà pháp lý chưa có và còn đáng ngạc nhiên hơn vì rất nhiều người nằm trong dạng này
+ Về tiền lương: ai cũng biết lương là giá cả sức lao động
hiện, hiện nay Nhà nước đã có nhiều đợt cải cách tiền lương Nhìn chung, tiền lương, tiền công đã chuyển biến dần theo hướng thị trường, nhưng rõ ràng tiền lương, tiền công chưa đảm bảo, chưa phản ánh đúng thực trạng thu nhập của người làm công ăn lương, tạo nên sự phân hoá giàu nghèo ngày càng rõ rệt Tiền lương của
đa phần người lao động chân chính là thấp Cho dù sức mua của tiền Việt Nam cao hơn ở Châu Âu, nhưng với mức thu nhập thấp (trung bình 40 USD/tháng) Như vậy, cũng chỉ đủ cho mức sống
Trang 36khiêm tốn ở mọi nơi, khi giá trị lương trung bình giảm xuống rõ rệt thì ngay lập tức đói nghèo tuyệt đối sẽ đe dọa
1.2 Nhận thức về đào tạo năng lực cho người lao động
Hầu như ai cũng biết quan điểm của Đảng ghi trong các văn kiện Đại hội Đảng VIII và IX rằng: “Con người và nguồn lực con người là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hiện đại” và “Giai cấp công nhân là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”; nhưng trong đào tạo thì chưa thể hiện được quan điểm đó, mà còn coi trọng đào tạo đại học, coi nhẹ đào tạo nghề (đào tạo công nhân) Hàng chục năm, gần 350 trường đào tạo nghề điêu đứng, sống dở, chết dở do không được đầu tư, không có người học, nay còn 157 trường Trong đào tạo nghề lại chỉ nhằm để có việc làm (dân gian gọi là “mì ăn liền”), chứ không nhằm đào tạo ra người công nhân
đủ tư chất, kiến thức và năng lực để cải biến và nâng cao chất lượng giai cấp công nhân hiện đại, “trí thức hoá giai cấp công nhân” Như vậy là vừa qua, đào tạo nghề của ta (công lập và tư lập) còn chạy theo thị hiếu, nhu cầu ảo và nhất thời, chứ chưa thực
sự là theo nhu cầu thị trường Như thế thì làm sao mà xác lập và vận hành được thị trường lao động lành mạnh tương ứng với các thị trường khác Một nghịch lý đang tồn tại trong lĩnh vực đào tạo (đại học và nghề), nếu có điều kiện đi sâu phân tích sẽ khá lý thú là: Dạy học thì rất dễ bị “thương mại hoá”; nhưng sản phẩm đào tạo lại chưa hẳn từ nhu cầu thị trường và đáp ứng yêu cầu thị trường lao động Sản phẩm do người làm ra thì phải Quy chuẩn quốc gia (TCVN) và Quy chuẩn quốc tế (ISO), nhưng đào tạo người làm ra sản phẩm lại không có quy chuẩn chặt chẽ, thậm chí không cần quy chuẩn “Dịch vụ việc làm)
Trang 37Một vài điều tra ở trên cho chúng ta thấy thực trạng về nhận thức của các cơ quan quản lý xã hội về thị trường lao động và tác
động cụ thể của nó đến sự phát triển thị trường lao động Hiện nay, vấn đề này đang được khắc phục dần và đã bước đầu có chuyển biến theo hướng tích cực Đặc biệt, từ khi chúng ta gia nhập WTO và có nhiều đầu tư nước ngoài, cũng như sự phát triển của nền kinh tế gây sức ép rất lớn lên nguồn nhân lực, nhất là nhân lực bậc cao, sẽ là thực tiễn làm thay đổi nhận thức cũng như
sự chỉ đạo của các nhà quản lý, các cấp quản lý, các cấp quản lý
về xây dựng và phát triển thị trường sức lao động
2 Thực trạng về nhận thức của người lao động và tác động của nó đến thị trường sức lao động hiện nay
2.1 Nhận thức của người lao động về vai trò của đội ngũ công nhân
một số mặt tư tưởng chính trị để đánh giá được nhận thức tư tưởng của người công nhân cần có nhiều báo chí khác nhau trên nhiều phương tiện, song ở đây chúng tôi chỉ xem xét trên khía cạnh họ nhận thức về chính bản thân đội ngũ mình như thế nào Các chỉ báo mà chúng tôi đặt ra là dựa trên các câu hỏi trắc nghiệm sau
đây:
1 Công nhân là giai cấp lãnh đạo đất nước; 2 Công nhân là người chủ doanh nghiệp; 3 Tôi tự hào là người công nhân; 4 Công nhân quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Về câu hỏi thứ nhất, số lượng người lao động nhận thức công nhân là giai cấp lãnh đạo đất nước tỷ lệ thuận với thời gian làm việc Nghĩa là càng làm công nhân lâu năm càng có đông người cho rằng công nhân là giai cấp lãnh đạo đất nước những người trở
Trang 38thành công nhân lâu năm (công nhân cao tuổi) có tỷ lệ người nhận thức được vấn đề này hơn công nhân trẻ 48,5% công nhân vào làm trước năm 1985 nhận thức như vậy Còn công nhân mới vào làm những năm 2002-2007 tỷ lệ người không cho rằng lên đến 63,7% Công nhân trong các ngành cơ khí, điện, điện tử có nhận thức tốt hơn về vấn đề này so với công nhân các ngành dệt, may, chế biến thực phẩm và xây dựng
Với câu hỏi hai, ba, bốn, tình hình cũng diễn ra như vậy, nghĩa là số lượng công nhân nhận thấy công nhân là người chủ doanh nghiệp tăng dần theo thời gian làm việc với một hệ thống tương quan lớn
Với câu hỏi hai: “Công nhân là người chủ doanh nghiệp”, khi phân tích theo hình thức sở hữu của doanh nghiệp chúng tôi thấy
có tình trạng công nhân trong các doanh nghiệp ngoài Nhà nước cũng có một tỷ lệ tương tự như trong các doanh nghiệp Nhà nước nhận mình là người chủ doanh nghiệp Rõ ràng, trên thực tế trong hai khu vực này quyền của người công nhân trong việc quản lý doanh nghiệp rất khác nhau Điều đáng chú ý tỷ lệ công nhân trong các doanh nghiệp đông (38%) như vậy có thể dẫn đến những sai lầm trong quan hệ công nhân và chủ doanh nghiệp
Qua phân tích tương quan chúng tôi còn nhận thấy một thực
tế khác Thời hạn hợp đồng của công nhân với doanh nghiệp cũng
ảnh hưởng đến nhận thức của công nhân Với những câu hỏi trắc nghiệm ở trên thì tỷ lệ người hợp đồng ngắn trả lời tích cực luôn thấp hơn những công nhân có hợp đồng không thời hạn Như vậy ngắn hạn có lương thấp hơn công nhân có hợp đồng không thời hạn: chỉ bằng 2/3) đã làm giảm nhận thức của họ trong các vấn đề của giai cấp mình
Trang 39Bên cạnh đó còn một tỷ lệ công nhân còn có tư tưởng coi mình chỉ là người đi làm thuê Theo kết quả khảo sát của chúng tôi
có đến 16,7% công nhân trả lời họ chỉ là người làm thuê Chỉ số này thấp nhất là 9,4% thanh niên trong ngành điện, điện tử và cao nhất là nhận được bảo đảm tốt (thu nhập cao, ổn định) thì công nhân trong các ngành đó có nhận thức tốt hơn về vai trò của giai cấp mình
2.2 Nhận thức về vấn đề nâng cao tay nghề của công nhân trong tình hình hiện nay
Trong điều kiện hiện nay, thực trạng người công nhân nhận thức như thế nào về việc nâng cao tay nghề của mình, nhất là trong khi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi đội ngũ công nhân phải có trình độ chuyên môn cao để tiếp thu và làm chủ công nghệ mới, hiện đại? Người công nhân nhận thức vấn đề này như thế nào và họ đã làm gì để nâng cao trình độ chuyên môn của họ?
Khi được hỏi trong giai đoạn hiện nay người công nhân phải
có những phẩm chất gì thì hầu hết cho rằng trước hết phải có trình
độ chuyên môn giỏi, có trình độ học vấn cao, tiếp theo đó là các phẩm chất chính trị của người công nhân (đấu tranh chống tham nhũng, hiểu biết các vấn đề xã hội )Sự phân bố các phẩm chất này theo từng ngành nghề được thể hiện trong bảng 6
Những số liệu cho thấy, người công nhân trong các doanh nghiệp quốc doanh hiện nay đều nhận thấy tầm quan trọng của trình độ chuyên môn và trình độ học vấn trong quá trình công việc của mình Công nhân ở những ngành mà sản xuất nhiều chủng loại mặt càng nhận thấy rõ điều này (cơ khí và giày) ở các ngành dệt may và may do tính chất công việc đơn điệu, thêm vào đó có nhiều công nhân nữ nên các phẩm chất đặt ra cũng ít hơn
Trang 40Phẩm chất mà công nhân nhận thấy cần có (% trên từng ngành nghề)
- Hiểu biết rộng các vấn đề xã
Tuy có ý thức về việc tự mình phải vươn lên để tìm việc làm, chuyển đổi nghề nghiệp, nhưng khi đặt vấn đề đào tạo thì họ rất ngại khi đầu tư cho việc học nghề (70% có ý kiến trả lời: không muốn đi học nghề) nhất là lao động trong nông nghiệp cần phải chuyển đổi Hơn nữa, môi trường và điều kiện kinh tế cũng là một trở ngại lớn gây tâm lý ngại học nghề để chuyển đổi nghề nghiệp học nghề nhưng lại không có môi trường để họ hành nghề, bởi nhiều cơ sở đào tạo khi chiêu sinh thì quảng cáo hết sức hấp dẫn, nhưng khâu quản lý đào tạo và đầu ra sau đào tạo lại không nhất quán với quảng cáo ban đầu Khi tránh được tình trạng đầu voi
đuôi chuột trong đào tạo và quản lý đào tạo nghề thì thị trường lao
động ở nước ta sẽ hấp dẫn thu hút đầu tư Việc hình thành nên nhiều khu công nghiệp ở các địa phương chính là hình thành nên một chu trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhu cầu nguồn nhân lực qua đào tạo để thích