1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện pháp luật về các hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường ở nước ta

274 877 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện pháp luật về các hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường ở nước ta
Tác giả Viện Khoa học Pháp lý - Bộ Tư Pháp, TS Nguyễn Viết Tý, TS Trần Thị Thơ
Người hướng dẫn PGS.TS Dương Đăng Huệ
Trường học Hà Nội University of Law
Chuyên ngành Luật học
Thể loại Báo cáo phức trình
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 274
Dung lượng 4,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

sở hữu chủ yếu mà không đi sâu nghiên cứu pháp luật về tất cả các hình thức sở hữu và các dạng cụ thể của mỗi hình thức sở hữu, ví dụ: không nghiên cứu một cách cụ thể hai loại sở hữu ch

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP VIỆN KHOA HỌC PHÁP LÝ

BÁO CÁO PHÚC TRÌNH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÌNH THỨC SỞ HỮU TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA

Chủ nhiệm: PGS.TS Dương Đăng Huệ

Trang 2

DANH SÁCH BAN CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI VÀ CỘNG TÁC VIÊN

BAN CHỦ NHỊÊM

1 PGS.TS Dương Đăng Huệ, Chủ nhiệm đề tài

2 TS Nguyễn Viết Tý, Phó Chủ nhiệm

3 TS Trần Thị Thơ, Thư ký đề tài

CỘNG TÁC VIÊN

1 PGS TS Nguyễn Như Phát - Viện Nhà nước và Pháp luật

2 TS Hoàng Thị Thuý Hằng - Vụ Pháp luật dân sự, kinh tế - Bộ Tư pháp

3 TS Nguyễn Văn Cừ - Trường Đại học Luật Hà Nội

4 TS Phùng Trung Tập - Trường Đại học Luật Hà Nội

5 TS Phạm Công Lạc - Trường Đại học Luật Hà Nội

6 TS Nguyễn Huy Anh - Vụ III - Văn phòng Chính phủ

7 ThS Nguyễn Văn Cương - Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp

8 ThS Nguyễn Chi Lan - Vụ Pháp luật dân sự, kinh tế - Bộ Tư pháp

9 Cử nhân Nguyễn Thị Mai - Vụ Pháp luật dân sự, kinh tế - Bộ Tư pháp

10 Cử nhân Cao Đăng Vinh - Vụ Pháp luật dân sự, kinh tế - Bộ Tư pháp

11 Cử nhân Nguyễn Thị Chính - Vụ Pháp luật quốc tế - Bộ Tư pháp

Trang 3

MỤC LỤC

A SỰ CẦN THIẾT NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

I Tính cấp thiết của đề tài

II Mục tiêu, phương pháp và phạm vi nghiên cứu

thức sở hữu trong xã hội

1.2.3 Điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ sở hữu ở một số nước

trên thế giới và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 22

Chương 2 Thùc tr¹ng ph¸p luËt vÒ së h÷u ë ViÖt Nam

2.1 Vai trò chủ đạo của Bộ luật Dân sự năm 2005 trong việc điều

chỉnh pháp luật về sở hữu ở Việt Nam

40

2.1.1 Bộ luật Dân sự năm 2005 - nguồn cơ bản của pháp luật về sở

hữu ở Việt Nam

40

2.1.2 Những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2005 về sở hữu so

2.2 Thực trạng điều chỉnh pháp luật đối với các hình thức sở hữu ở

2.2.2 Thực trạng điều chỉnh pháp luật đối với sở hữu nhà nước 51

2.2.3 Thực trạng điều chỉnh pháp luật đối với sở hữu tập thể 60

2.2.4 Thực trạng điều chỉnh pháp luật đối với sở hữu tư nhân 64

2.2.5 Thực trạng điều chỉnh pháp luật đối với sở hữu chung 66

Chương 3 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về sở hữu

trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

3.1 Một số hạn chế của việc điều chỉnh pháp luật đối với sở hữu ở

Việt Nam

70

3.1.1 Việc xác định hình thức sở hữu chưa hợp lý 70

3.1.2 Tên gọi của hình thức sở hữu nhà nước chưa nhất quán 70

3.1.3 Tên gọi của hình thức sở hữu tập thể chưa đúng với bản chất

của nó

70

Trang 4

3.1.4 Quyền sở hữu của người nước ngoài còn bị hạn chế 70

3.1.5 Nội hàm một số khái niệm khoa học liên quan đến quyền sở

3.1.6 Cơ chế thực thi quyền sở hữu chưa được xác lập đầy đủ 71

3.2 Quan điểm hoàn thiện pháp luật về sở hữu 72 3.2.1 Không nên đề cao tính chất chính trị trong xây dựng pháp luật

3.2.2 Hoàn thiện chế định quyền sở hữu trong Bộ luật Dân sự đi đôi

với việc quan tâm hơn nữa việc hoàn thiện các luật chuyên

ngành có liên quan đến sở hữu

73

3.2.3 Kết hợp việc hoàn thiện các quy định về quyền sở hữu với việc

3.2.4 Bảo đảm sự không phân biệt đối xử giữa các hình thức sở hữu 74

3.3.1 Cần sửa đổi Hiến pháp năm 1992 để thay thế hình thức sở hữu

3.3.2 Cần làm rõ tiêu chí để xác định đúng các hình thức sở hữu đang

tồn tại ở nước ta

75

3.3.3 Cần làm rõ ngoài quyền sở hữu còn có các loại vật quyền khác

và mối quan hệ giữa quyền sở hữu với các loại vật quyền khác

75

3.3.4 Tiếp tục hoàn thiện các quy định về các loại vật quyền khác 76

3.3.5 Sửa đổi cơ bản cơ chế đăng ký quyền sở hữu và các hình thức

3.3.6 Cần đổi mới cơ bản cơ chế thực hiện chức năng (quyền) đại

diện chủ sở hữu Nhà nước theo hướng thu hẹp và tiến tới không

còn chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước của các bộ, uỷ ban

nhân dân cấp tỉnh đối với công ty nhà nước

77

3.3.7 Cần tiếp tục củng cố và phát huy vai trò của mô hình Công ty

đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước với tư cách là đại diện chủ

sở hữu nhà nước đối với phần vốn, tài sản nhà nước đầu tư tại

các doanh nghiệp để thay thế chức năng đại diện chủ sở hữu của

bộ, uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong thời điểm thích hợp

77

3.3.8 Cần xem xét lại bản chất của sở hữu trong các hợp tác xã, nên

coi đó là một dạng cụ thể của sở hữu pháp nhân

78

3.3.9 Cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích của các

xã viên đối với tài sản thuộc sở hữu của hợp tác xã 78

3.3.10 Làm rõ thực chất của sở hữu tư nhân là sở hữu cá nhân 79

3.3.11 Cần công nhận một cách có điều kiện quyền sở hữu nhà ở gắn

liền với quyền sử dụng đất cho cá nhân nước ngoài tại Việt

Nam

79

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU

3 Pháp luật về sở hữu ở Cộng hoà

liên bang Nga và bài học kinh

nghịêm đối với Việt Nam

PGS TS Dương Đăng Huệ -

Vụ Pháp luật DS, KT -

Bộ Tư pháp

103

4 Một số vấn đề về quyền sở hữu

trong Bộ luật Dân sự năm 2005

và hướng hoàn thiện

TS Hoàng Thị Thuý Hằng -

Vụ Pháp luật dân sự, kinh tế -

Bộ Tư pháp

114

5 Sở hữu chung trong Bộ luật Dân

sự năm 2005 TS Hoàng Thị Thuý Hằng - Vụ Pháp luật dân sự, kinh tế -

Cử nhân Cao Đăng Vinh -

Vụ Pháp luật dân sự, kinh tế -

9 Quyền sử dụng đất của cá nhân,

hộ gia đình, tổ chức ở Việt Nam:

Bản chất, nội dung và kiến nghị

hoàn thiện

Cử nhân Nguyễn Thị Mai -

Vụ Pháp luật dân sự, kinh tế -

Bộ Tư pháp

185

10 Sở hữu theo pháp luật Việt Nam

thời kỳ phong kiến và thuộc địa -

khả năng vận dụng vào việc xây

dựng pháp luật về sở hữu dưới

chế độ XHCN

TS Nguyễn Huy Anh -

Vụ III - Văn phòng Chính phủ 205

11 Sở hữu theo pháp luật của CHND

Trung Hoa ThS Nguyễn Chi Lan - Vụ Pháp luật dân sự, kinh tế -

Trang 6

A SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1 Lý do nghiên cứu đề tài

Việc nghiên cứu đề tài này là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay vì một số lý do

cơ bản sau đây:

Thứ nhất, sở hữu và pháp luật về sở hữu là những vấn đề rất quan trọng đối với

đời sống kinh tế - xã hội, trong khi đó, chúng lại rất ít được quan tâm nghiên cứu hiện nay ở nước ta

Trong bất cứ hình thái kinh tế - xã hội nào thì quan hệ kinh tế (quan hệ sản xuất) vẫn luôn giữ vai trò chủ đạo, quyết định tính chất, nội dung, phương hướng phát triển của các quan hệ xã hội còn lại khác Theo quan niệm truyền thống thì, quan hệ kinh tế có ba

bộ phận cơ bản, đó là quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối Trong các quan hệ kinh tế đó thì quan hệ sở hữu có vai trò đặc biệt quan trọng vì nó quyết định tính chất và nội dung của các quan hệ kinh tế khác là quan hệ quản lý và quan hệ phân phối Tóm lại, quan hệ sở hữu có vai trò rất to lớn đối với sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế của bất cứ một quốc gia nào Cũng chính vì vậy mà vấn đề sở hữu luôn được ghi nhận một cách trang trọng trong Hiến pháp, bất cứ là Hiến pháp của nhà nước xã hội chủ nghĩa hay Hiến pháp của nhà nước tư bản chủ nghĩa

Việc xác định quan hệ sở hữu một cách đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan

sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các quan hệ kinh tế (nhất là quan hệ trao đổi hàng hoá) phát triển và ngược lại, sẽ kìm hãm sự phát triển của các quan hệ kinh tế và kéo theo đó là sự trì trệ của các quan hệ xã hội khác Điều này đã được thực tế chứng minh rất rõ ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Trước đây, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, Nhà nước ta chỉ công nhận hai hình thức sở hữu cơ bản là sở hữu toàn dân (sở hữu nhà nước) và sở hữu tập thể Các quy định này về sở hữu đã phát huy hiệu quả nhất định trong thời kỳ đất nước có chiến tranh Tuy nhiên, việc kéo dài quan điểm này về sở hữu sau khi chiến tranh kết thúc đã làm cho đời sống kinh tế - xã hội của đất nước gặp không ít khó

khăn Một trong những nguyên nhân chính của tình trạng này là do tình trạng vô chủ trong

khu vực kinh tế tập thể và khu vực kinh tế quốc doanh Sự vô chủ này (mà lý do chủ yếu của nó là sự tách rời người lao động ra khỏi quyền sở hữu của họ đối với tư liệu sản xuất

mà họ đang sử dụng để làm ra của cải vật chất cho xã hội) đã làm cho người lao động không quan tâm đến năng suất, không hăng hái nhiệt tình trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, không gắn bó với hợp tác xã, xí nghiệp nơi mình đang làm việc Hậu quả là, sản xuất bị đình đốn, đời sống vật chất và tinh thần của đa số người lao động đã rơi vào tình cảnh khốn khó, nghèo nàn, lạc hậu, đất nước rơi vào khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng Trong điều kiện đó, Chỉ thị số 100 (năm 1981) và Nghị quyết 10 (năm 1988) của Đảng về khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động và đổi mới quản lý nông nghiệp đã phát huy tác dụng, biến Việt Nam từ một quốc gia thiếu ăn, đói kém triền miên trở thành một nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ hai, thứ ba trên thế giới

Tóm lại, sở hữu là vấn đề rất quan trọng, có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển

nền kinh tế của bất cứ quốc gia nào, đặc biệt là đối với Việt Nam ta trong giai đoạn chuyển đổi hiện nay Tuy nhiên, phải nói rằng, sự quan tâm của Nhà nước, giới khoa học kinh tế và luật học đối với vấn đề này là hoàn toàn chưa thoả đáng Từ khi xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đến nay, chúng ta đã làm được nhiều việc,

Trang 7

giải quyết được nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn, xây dựng được nhiều đạo luật quan trọng để tạo môi trường pháp lý cho việc định hình và vận hành một cách trôi chảy nền kinh tế mới Trong số các đạo luật quan trọng này, đáng lưu ý nhất là Luật Doanh nghiệp (năm 1999, 2005), Luật Doanh nghiệp Nhà nước (năm 1995, 2003), Luật Hợp tác xã (năm 1996, 2003), Luật Thương mại (năm 1997, 2005), Luật Các tổ chức tín dụng (năm

1997 và năm 2004), Luật Kinh doanh bảo hiểm (2000), Luật Khuyến khích đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (năm 1993, 1998, 2001, 2003), Luật Xây dựng (năm 2003), Luật Phá sản (năm 1993, 2004), Luật Cạnh tranh (năm 2004)… Tuy nhiên, về vấn đề sở hữu thì hầu như chưa có một sự nghiên cứu nào đáng kể ngoài một số quy định rất cô đọng, ngắn gọn trong Hiến pháp (năm 1992) và Bộ luật Dân sự (năm 1995, 2005) Một sự ứng xử như vậy của Nhà nước, của các nhà khoa học là hoàn toàn chưa ngang tầm với vị trí và vai trò, ý nghĩa của vấn đề sở hữu và pháp luật về sở hữu Vì vậy, việc nghiên cứu nghiêm túc, đồng bộ, bài bản về vấn đề này là rất cần thiết ở nước ta hiện nay

Thứ hai, cần phải nghiên cứu vấn đề này để tạo cơ sở lý luận cho việc giải quyết

những vướng mắc, ách tắc liên quan đến sở hữu, quyền sở hữu do thực tiễn đặt ra hiện nay mà chưa có cơ sở khoa học để xử lý một cách thoả đánG

Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986), cơ chế quản lý kinh tế ở nước

ta đã có một bước chuyển biến quan trọng: chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang

cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Từ hơn 20 năm qua, sự chuyển đổi này đã tạo nên nhiều thành tựu to lớn trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước Đồng thời với sự chuyển biến theo hướng tích cực, thực tiễn quản lý kinh tế cũng như thực tiễn sản xuất, kinh doanh cũng đặt ra nhiều vấn đề lý luận mới, rất phức tạp Nhiều vấn đề lý luận do thực tiễn đặt ra đã được giải quyết nhưng cũng không ít vấn đề, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến sở hữu, quyền sở hữu cho đến nay, vẫn chưa có câu trả lời thoả đáng Ví dụ:

- Thế nào là chế độ sở hữu, hình thức sở hữu, loại sở hữu? căn cứ khoa học để phân biệt chúng với nhau là gì cho đến nay vẫn chưa được làm rõ;

- Liệu có nên giữ khái niệm sở hữu toàn dân nữa hay không bên cạnh khái niệm sở hữu nhà nước?

- Liệu có còn khái niệm sở hữu tập thể nữa hay không hay đó chỉ là một dạng của

sở hữu pháp nhân?

- Làm thế nào để doanh nghiệp nhà nước với tư cách là một pháp nhân có quyền chủ động hơn nữa trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản được Nhà nước giao?

- Quyền của doanh nghiệp nhà nước đối với tài sản được Nhà nước giao nên gọi là quyền gì (quyền sở hữu hay quyền quản lý nghiệp vụ hay quyền vận hành kinh tế như một

số nước (Nga) đã gọi) và mối quan hệ giữa nó với quyền sở hữu của Nhà nước nên thiết lập lại như thế nào cho phù hợp với cơ chế kinh tế mới?

- Ngoài quyền sở hữu còn có những quyền tài sản nào được gọi là vật quyền?

- Bản chất của quyền sử dụng đất là gì, nó có phải là một quyền sở hữu hạn chế hay không? v.v

Tóm lại, trong vấn đề sở hữu và quyền sở hữu ở Việt Nam hiện nay đang đặt ra không

ít vấn đề về mặt lý luận mà sự chậm trễ trong việc xử lý chúng chắc chắn sẽ gây ra không

ít khó khăn cho các chủ thể kinh doanh và suy cho cùng, sẽ ảnh hưởng không nhỏ đối với

sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế đất nước Trong khi đó, pháp luật về quyền sở

Trang 8

hữu được quy định tại hai đạo luật là Hiến pháp và Bộ luật Dân sự (năm 1995, 2005) lại đang có nhiều điểm bất cập và bất hợp lý Ra đời ngay sau khi tiến hành đổi mới, Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) chỉ quy định 3 hình thức sở hữu ở nước

ta là sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó, sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể giữ vai trò chủ đạo (Điều 15) Chương IV Bộ luật Dân sự (năm 1995) và Chương

X Bộ luật Dân sự (năm 2005) quy định về các hình thức sở hữu, bao gồm: Sở hữu toàn dân; sở hữu của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; sở hữu tập thể; sở hữu tư nhân; sở hữu của tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp Những quy định này là quá đơn giản, có tính liệt kê, không mang tính khái quát, không giải quyết được nhiều vấn

đề cụ thể do thực tiễn vận hành của các quan hệ xã hội đặt ra, do đó, cần phải được nghiên cứu một cách bài bản để có phương án sửa đổi, bổ sung kịp thời, đáp ứng nhu cầu của thực tiễn quản lý nhà nước về sở hữu cũng như thực tiễn sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp hiện nay

Thứ ba, phải nghiên cứu vấn đề này nhằm phục vụ đắc lực cho hoạt động xây

dựng pháp luật của nước ta

Hiện nay, Bộ luật Dân sự năm 1995 đã được sửa đổi, bổ sung một cách cơ bản bằng việc ban hành Bộ luật Dân sự năm 2005 Trong các vấn đề được sửa đổi, bổ sung có vấn đề về hình thức sở hữu Tuy nhiên, các quy định về sở hữu, nhất là quy định về các hình thức sở hữu vẫn còn chưa thực sự phù hợp với thực tế khách quan, chưa đảm bảo tính khoa học, do đó, cần phải tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện Ví dụ: tại Điều 172 Bộ luật Dân sự năm 2005 vẫn dùng phương pháp liệt kê trong việc xác định các hình thức sở hữu (sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; sở hữu của tổ chức chính trị

xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp) Ngoài ra, trong khi Hiến pháp năm 1992 vẫn giữ nguyên tên gọi là “sở hữu toàn dân” thì Bộ luật Dân sự năm

2005 đã thay hình thức sở hữu này bằng một tên gọi khác là “sở hữu nhà nước” Rõ ràng

đã có sự “vi hiến” trong Bộ luật Dân sự này Sắp tới, để phục vụ cho cải cách hành chính, cải cách tư pháp, chắc chắn Nhà nước ta sẽ phải sửa đổi, bổ sung Hiến pháp Đây là một công việc lớn, hệ trọng vì sửa đổi Hiến pháp có nghĩa là phải động chạm đến một loạt vấn

đề phức tạp, nền tảng, trong đó có vấn đề về sở hữu Vì vậy, việc nghiên cứu các vấn đề

về sở hữu hiện nay sẽ góp phần quan trọng vào việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp - một hoạt động mang tính chất chính trị - pháp lý rất to lớn trong tương lai gần của Đảng và Nhà nước ta Và đó cũng là một lý do khiến cho vịêc nghiên cứu Đề tài này trở nên bức xúc và bổ ích

Tóm lại, việc nghiên cứu một cách cơ bản đề tài: “Hoàn thiện pháp luật về các

hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường ở nước ta” là một việc làm rất cần thiết, góp

phần giúp Đảng và Nhà nước trong việc thiết lập một cách hợp lý các hình thức sở hữu cơ bản ở Việt Nam, đặc biệt là trong việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp và Bộ luật Dân sự trong thời gian tới

2 Mục tiêu, phương pháp và phạm vi nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài này nhằm giải quyết ba mục tiêu cơ bản sau đây:

a) Nghiên cứu để phân biệt rõ các khái niệm, thuật ngữ như: chế độ sở hữu, hình

thức sở hữu, loại sở hữu vì những khái niệm này lâu nay được sử dụng một cách tuỳ tiện

và không có cơ sở khoa học rõ ràng

Trang 9

b) Tìm ra những khuyết nhược điểm trong chế độ pháp lý đối với từng loại hình thức sở hữu (sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân và sở hữu chung) để có hướng và biện pháp khắc phục phù hợp

c) Trên cơ sở tìm ra những hạn chế, bất cập của pháp luật về sở hữu ở Việt Nam và trên cơ sở tiếp thu những kinh nghiệm của các nước, đề tài này sẽ nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về các hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường ở nước ta, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển, ổn định đời sống

kinh tế - xã hội của đất nước

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Việc hoàn thiện pháp luật về các hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường ở nước ta được nghiên cứu dựa trên những nền tảng lý luận cơ bản là quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về sở hữu; đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như: phương pháp hệ thống, tổng hợp, phân tích, diễn giải, quy nạp, so sánh pháp luật và tham khảo ý kiến của các chuyên gia

sở hữu chủ yếu mà không đi sâu nghiên cứu pháp luật về tất cả các hình thức sở hữu và các dạng cụ thể của mỗi hình thức sở hữu, ví dụ: không nghiên cứu một cách cụ thể hai loại sở hữu chung là sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất hoặc trong hình thức sở hữu nhà nước đề tài cũng chưa có điều kiện nghiên cứu đến sở hữu của cấp chính quyền địa phương

3 Khả năng ứng dụng của sản phẩm nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ có ích cho các đối tượng sau:

- Sinh viên các khoa luật và trường đại học luật

- Giảng viên các khoa luật và trường đại học luật

- Các nghiên cứu sinh về pháp luật

- Những tổ chức, cá nhân khác cần nghiên cứu, tìm hiểu về vấn đề sở hữu

- Đặc biệt đề tài sẽ phục vụ đắc lực cho các cơ quan nhà nước (bộ, ngành, Chính phủ, Quốc hội) trong việc định hướng chính sách, hoàn thiện pháp luật về sở hữu như: sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992; hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp (Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Hợp tác xã), Bộ luật Dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Dân sự

4 Các chuyên đề cụ thể

Để đạt được các mục tiêu và nội dung nghiên cứu trên đây, Ban chủ nhiệm đề tài

đã ký 14 hợp đồng nghiên cứu độc lập với các cộng tác viên là các nhà khoa học, công chức lãnh đạo, giảng viên và các chuyên gia có bề dày kinh nghiệm công tác am hiểu lĩnh vực về kinh tế, dân sự Cụ thể như sau:

Trang 10

Chuyên đề 1: Sở hữu và pháp luật về sở hữu ở Cộng hoà liên bang Nga (PGS TS

Dương Đăng Huệ - Vụ trưởng Vụ Pháp luật dân sự, kinh tế - Bộ Tư pháp)

Chuyên đề 2: Quyền của công ty nhà nước đối với tài sản được Nhà nước giao: Thực

trạng và phương hướng hoàn thiện (TS Nguyễn Viết Tý - Trường Đại học Luật Hà Nội) Chuyên đề 3: Thực trạng điều chỉnh pháp luật đối với sở hữu tập thể ở Việt Nam (TS

Trần Thị Thơ - Vụ Pháp luật dân sự, kinh tế - Bộ Tư pháp)

Chuyên đề 4: Hoàn thiện chế độ pháp lý về quyền sở hữu trong Bộ luật Dân sự năm

1995 (TS Hoàng Thị Thuý Hằng - Vụ Pháp luật dân sự, kinh tế - Bộ Tư pháp)

Chuyên đề 5: Quyền sử dụng đất của cá nhân, hộ gia đình, tổ chức ở Việt Nam: Bản

chất, nội dung và kiến nghị hoàn thiện (Cử nhân Nguyễn Thị Mai - Vụ Pháp luật dân sự,

kinh tế - Bộ Tư pháp)

Chuyên đề 6: Thực trạng điều chỉnh pháp luật đối với sở hữu nhà nước ở Việt Nam

(Cử nhân Cao Đăng Vinh - Vụ Pháp luật dân sự, kinh tế - Bộ Tư pháp)

Chuyên đề 7: Sở hữu và pháp luật về sở hữu ở Cộng hoà liên bang Đức (Cử nhân

Nguyễn Thị Chính - Vụ Pháp luật quốc tế - Bộ Tư pháp)

Chuyên đề 8: Khái niệm, bản chất, hình thức và vai trò của sở hữu trong đời sống xã

hội (ThS Nguyễn Văn Cương - Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp)

Chuyên đề 9: Pháp luật về sở hữu chung ở Việt Nam: Thực trạng và phương hướng

hoàn thiện (TS Nguyễn Văn Cừ - Trường Đại học Luật Hà Nội)

Chuyên đề 10: Quyền sở hữu tài sản của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã

hội (TS Phùng Trung Tập - Trường Đại học Luật Hà Nội)

Chuyên đề 11: Vấn đề sở hữu cá nhân theo pháp luật Việt Nam và phương hướng

hoàn thiện (TS Phạm Công Lạc - Trường Đại học Luật Hà Nội)

Chuyên đề 12: Thực trạng điều chỉnh pháp luật đối với sở hữu tư nhân ở Việt Nam

(PGS TS Nguyễn Như Phát - Viện Nhà nước và Pháp luật)

Chuyên đề 13: Sở hữu theo pháp luật Việt Nam thời kỳ phong kiến và thuộc địa - khả

năng vận dụng vào việc xây dựng pháp luật về sở hữu dưới chế độ XHCN (TS Nguyễn

Huy Anh - Vụ III - Văn phòng Chính phủ)

Chuyên đề 14: Sở hữu theo pháp luật của CHND Trung Hoa (ThS Nguyễn Chi Lan -

Vụ Pháp luật dân sự, kinh tế - Bộ Tư pháp)

5 Tiến độ thực hiện

Đề tài bắt đầu được triển khai từ tháng 4/2005 và kết thúc vào cuối tháng 4/2006 Trong qúa trình thực hiện đề tài, đã có sự liên hệ, phối hợp chặt chẽ, trao đổi, thảo luận thường xuyên giữa Ban chủ nhịêm đề tài với các cộng tác viên của đề tài và Viện Khoa học pháp lý Các chuyên dề nghiên cứu nhìn chung đều đáp ứng yêu cầu, một số chuyên

đề có chất lượng cao Các chuyên đề đều được Ban chủ nhiệm tổ chức đánh giá, nghịêm thu đúng quy định Để hoàn thiện Báo cáo phúc trình về kết quả nghiên cứu đề tài, Ban chủ nhịêm đã tổ chức xin ý kiến (bằng phiếu) của các chuyên gia, các nhà khoa học về những vấn đề còn có quan điểm khác nhau

Tháng 12/2007, Lãnh đạo Viện khoa học pháp lý đã lấy ý kiến nhận xét, phản biện của hai chuyên gia về Đề tài Về cơ bản các chuyên gia đánh giá cao kết qủa nghiên cứu, nhất trí cho nghịêm thu chính thức Đề tài này Nhóm nghiên cứu đã nghiêm túc tiếp thu ý kiến của các chuyên gia và hoàn chỉnh lại Báo cáo phúc trình

Đến nay, Đề tài đã được hoàn thành, Ban chủ nhiệm đề nghị Hội đồng khoa học, Viện Khoa học pháp lý Bộ Tư pháp xem xét, nghiệm thu Đề tài theo quy định

Trang 11

B NHỮNG KẾT QUẢ CHÍNH

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ SỞ HỮU VÀ PHÁP LUẬT VỀ SỞ HỮU 1.1 Bản chất, vai trò của sở hữu trong đời sống kinh tế - xã hội

Thứ nhất, sở hữu là vấn đề có tính chất lịch sử Mỗi hình thức sở hữu (dù là sở

hữu tư nhân hay sở hữu cộng đồng.v.v ) đều có vai trò lịch sử nhất định Không có hình thức sở hữu nào tồn tại vĩnh viễn Mọi hình thức sở hữu đều có quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong

Thứ hai, quá trình thay thế lẫn nhau giữa các hình thức sở hữu là quá trình lịch sử

tự nhiên, theo hướng, sở hữu công cộng của bộ lạc bị thay thế bởi sở hữu tư nhân chiếm hữu nô lệ Sở hữu tư nhân chiếm hữu nô lệ bị thay thế bởi sở hữu tư nhân phong kiến Sở hữu tư nhân phong kiến bị thay thế bởi sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa Sở hữu tư nhân

tư bản chủ nghĩa bị thay thế bởi sở hữu công cộng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa (sở hữu toàn dân)

Thứ ba, vai trò lịch sử của mỗi hình thức sở hữu là vấn đề có tính khách quan, do

trình độ phát triển của lực lượng sản xuất quyết định Điều này có nghĩa là, không thể tùy tiện xóa bỏ một hình thức sở hữu nhất định theo ý chí chủ quan của Nhà nước hoặc giai cấp cầm quyền Muốn xóa bỏ hình thức sở hữu nào đó, thì vấn đề là phải làm sao phát triển được lực lượng sản xuất để đến lúc trình độ của lực lượng sản xuất tự nó làm cho quan hệ sở hữu trở thành yếu tố kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất và từ đó đòi hỏi phải có hình thức sở hữu mới phù hợp hơn

Ngoài ra, chủ nghĩa Mác - Lênin còn đề cập tới tính chất giai cấp của sở hữu Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, trong xã hội có giai cấp, vấn đề sở hữu có ảnh hưởng quan trọng đối với việc khẳng định vị trí của giai cấp thống trị trong xã hội Giai cấp nào sở hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu, giai cấp đó sẽ quyết định được vận mệnh của số đông người lao động3 Điều này có nghĩa rằng, vấn đề sở hữu không đơn thuần là vấn đề kinh

tế mà còn là vấn đề có ý nghĩa chính trị Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định: giai cấp nắm

1 Xem: GS.TS Phạm Văn Nghiên “Một số quan điểm về đổi mới chính sách kinh tế và cơ chế quản lý kinh tế” - NXB Chính trị Quốc

gia 1993, tr 89 Trong tác phẩm này, các tác giả nhận xét “sở hữu là một trong những khái niệm được định nghĩa một cách thiếu chặt chẽ, được hiểu một cách khác nhau tùy theo các giai đoạn của lịch sử loài người, cũng như ở các nền văn hóa và các thể chế chính trị-xã hội khác nhau”;

Cũng xem: TS Nguyễn Văn Thức - Sở hữu - Lý luận và vận dụng ở Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, 2004, trang 39;

2 Xem: TS Nguyễn Văn Thức, Sở hữu: Lý luận và vận dụng ở Việt Nam - NXB Khoa học xã hội 2004, trang 11

3 Xem: Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam - ĐH Luật Hà Nội - NXB Công an Nhân dân 2002, trang 148-149

Trang 12

tư liệu sản xuất trong tay sẽ là giai cấp quyết định chế độ xã hội, giữ quyền thống trị về chính trị và tư tưởng đối với xã hội4

“Sở hữu” theo nghĩa Hán Việt được ghép từ 2 chữ “sở” (của mình) và “hữu” (có)

vì thế sở hữu được giải thích là “cái mình có”5 Theo cách hiểu thông thường này, “sở hữu” sẽ bị đồng nhất với “cái mình có” - tức là bị đồng nhất với chính “tài sản” - đối tượng của sở hữu Cách giải thích về “sở hữu” này rõ ràng có lỗi về mặt lô-gíc, khó có thể được chấp nhận làm khái niệm khoa học

Cũng có quan điểm cho rằng “sở hữu” là “việc chiếm giữ những sản vật tự nhiên, những thành quả lao động của xã hội loài người”6 Theo cách hiểu này, sở hữu là hành vi

tương tác của con người với những đối tượng nhất định (tài sản) vốn là một bộ phận của thế giới tự nhiên

Dưới giác độ triết học và kinh tế học, khái niệm “sở hữu” thường bị đồng nhất với khái niệm “quan hệ sở hữu” Cuốn Từ điển kinh tế do nhà xuất bản Sự thật ấn hành năm

1979 tại trang 381 có định nghĩa về sở hữu như sau: sở hữu là “quan hệ giữa người với người trong việc chiếm hữu tư liệu sản xuất và của cải vật chất được tạo ra nhờ tư liệu sản xuất ấy” Chia sẻ cách tiếp cận này, gần đây, một số học giả ở Việt Nam nghiên cứu chuyên sâu về sở hữu như TS Nguyễn Văn Thức (2004)7, PGS TS Nguyễn Văn Thạo,

TS Nguyễn Hữu Đạt (2004)8 đã đưa ra định nghĩa về sở hữu như sau: Sở hữu là quan hệ giữa con người với con người đối với việc chiếm hữu của cải và thông qua quan hệ ấy con người thực hiện thỏa mãn các nhu cầu của mình

Dưới giác độ pháp lý, thuật ngữ “sở hữu” thường được sử dụng đồng nhất với khái niệm “quyền sở hữu”9 - một khái niệm pháp lý đã tồn tại từ thời La Mã cổ đại Theo cách tiếp cận này, với các quốc gia thuộc hệ thống luật châu Âu lục địa, “quyền sở hữu”thường được hiểu là tập hợp nhóm quyền đối với tài sản, cụ thể đó là tập hợp nhóm 3 quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt10 Với các nước theo hệ thống luật

án lệ (common law), định nghĩa về “quyền sở hữu” được chấp nhận rộng rãi là định nghĩa

về quyền sở hữu của luật gia William Blackstone - một luật gia nổi tiếng người Anh đưa

ra từ cuối thế kỷ 1811 Theo định nghĩa này, “quyền sở hữu” (property) là “độc quyền chi phối tuyệt đối đối với một bộ phận của thế giới bên ngoài (một vật), và ngăn cản tất cả mọi người khác tiếp cận với vật ấy”12 Tuy khái niệm này mới hình dung tới quyền sở hữu

đối với tài sản là vật hữu hình, chưa hình dung tới quyền sở hữu đối với các loại tài sản vô

hình (trong đó có tài sản trí tuệ) mà thời luật gia Blackstone sống hầu như chưa đặt ra

4 Xem: giáo trình Luật Dân sự Việt Nam - ĐH Luật Hà Nội - NXB Công an Nhân dân 2002, trang 148-149

Cũng xem: Giáo trình Triết học Lênin, Hội đồng trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh - NXBCTQG, 1999, tr 440

Mác-5 Xem: GS Nguyễn Lân - Từ điển từ và ngữ Hán Việt - NXB Từ điển bách khoa 2002, trang 588-589

6 Xem: Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam - Trường ĐH Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 2002, trang 147

7 Xem: TS Nguyễn Văn Thức, Sở hữu: Lý luận và vận dụng ở Việt Nam - NXB Khoa học xã hội 2004, trang 42

8 Xem: PGS TS Nguyễn Văn Thạo, TS Nguyễn Hữu Đạt, Một số vấn đề về sở hữu ở nước ta hiện nay - NXB Chính trị quốc gia, H

sư Triệu Quốc Mạnh, sđd, tr 246)

10 Xem: TS Phạm Duy Nghĩa, Chuyên khảo Luật Kinh tế - NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004, trang 145

11 Xem: http://en.wikipedia.org/wiki/William_Blackstone

12 Ownership: A case study in the representation of legal concepts – L Thorne McCarty – GS ĐH Rugers, New Jersy (Hoa Kỳ),

2001, trang 2

Trang 13

nhưng yếu tố “độc quyền chi phối” đối với tài sản rõ ràng là bộ phận cấu thành nên nội

dung quyền sở hữu

Như vậy, theo cách quan niệm chung (dù là theo hệ thống common law hay hệ thống civil law) thì quyền sở hữu không phải là loại quyền không thể phân chia Ngược

lại, quyền sở hữu có thể chia thành những quyền năng thành phần Chẳng hạn, quyền sở

hữu có thể chia thành quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt (bao gồm quyền cho thuê, cho mượn, chuyển giao tài sản, quyền đòi lại tài sản v.v ) Chính vì thế, không phải không có lý khi coi quyền sở hữu là một nhóm các quyền (a bundle of rights) của những chủ thể nhất định đối với tài sản13 như cách quan niệm của luật gia khá nổi tiếng người Mỹ từ năm 1913 - Wesley Hohfeld14

Ở đây cũng cần lưu ý về sự khác biệt giữa thuật ngữ “quyền sở hữu” với “chủ quyền” (sovereignty) Đây là 2 khái niệm khác nhau Chủ sở hữu chỉ có quyền sở hữu đối với tài sản chứ không thể có chủ quyền với tài sản Chủ quyền là loại quyền năng chính trị đặc biệt mà chỉ Nhà nước mới có thể có được Chính vì thế, tuy không phải là chủ sở hữu tài sản, nhưng do có chủ quyền, Nhà nước có thể can thiệp vào quá trình thực thi quyền sở hữu của các chủ thể trong xã hội Nhà nước có thể có những hành vi hạn chế quyền sở hữu của các chủ thể trong xã hội theo các trình tự, thủ tục pháp luật quy định

Trong bối cảnh sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế ngày càng lớn, quyền sở hữu của các thành viên trong xã hội (cá nhân, pháp nhân) ngày càng chịu nhiều ràng buộc

từ phía Nhà nước, có luồng quan điểm cho rằng sở hữu cần được quan niệm không chỉ đơn thuần chỉ là một nhóm quyền mà phải bao gồm cả những nghĩa vụ đi kèm Theo cách quan niệm ấy, sở hữu sẽ là một nhóm quyền và nghĩa vụ của một chủ thể đối với một tài

sản (a bundle of rights and obligations)15

Khi xây dựng Bộ luật Dân sự năm 1995 của Việt Nam (và gần đây là Bộ luật Dân

sự năm 2005), các nhà làm luật dường như cũng đã chia sẻ cách tiếp cận này16 Các quy định về sở hữu trong Bộ luật không chỉ có các quy định về các quyền của chủ sở hữu mà còn chứa đựng cả các quy định về hạn chế quyền sở hữu (tức là những nghĩa vụ mà chủ

sở hữu phải gánh chịu đi kèm với việc có quyền sở hữu)

Bộ luật Dân sự năm 1995 và năm 2005 đã đưa ra những khái niệm pháp lý cơ bản liên quan đến “sở hữu” và “quyền sở hữu” trong pháp luật Việt Nam Cụ thể Điều 164 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định “quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng

và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có đủ ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản” Điều 165 Bộ luật Dân sự năm 2005 còn quy định: “chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài sản nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác” Điều 169 Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng quy định: “chủ sở hữu có quyền tự bảo vệ, ngăn cản bất cứ người nào có hành vi xâm phạm quyền sở hữu của

13

Xem: Property, trong từ điển Wikipedia http://en.wikipedia.org/wiki/Private_ownership

14 Xem: Wesley Hohfeld, “Some fundamental legal conceptions as applied in judicial reasoning” (Một số khái niệm cơ bản được sử dụng trong lập luận của tòa án”, 23 Yale Law Review 16

Trang 14

mình, truy tìm, đòi lại tài sản bị người khác chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không có căn

cứ pháp luật”

Việc tồn tại quyền sở hữu chính là cơ sở pháp lý quan trọng để một chủ thể tiến hành các hành vi tương tác với tài sản mà các chủ thể khác trong xã hội phải tôn trọng do được pháp luật bảo hộ Quyền sở hữu chính là quyền tiếp cận với tài sản và có các hành vi khai thác, sử dụng, phát huy công dụng và cả bảo vệ tài sản So sánh giữa chủ sở hữu với các chủ thể không phải là chủ sở hữu trong xã hội, chúng ta có thể coi rằng “quyền sở hữu” là độc quyền chi phối, khai thác, quyết định số phận của tài sản Chỉ có chủ sở hữu mới có “độc quyền” này Do đó, nhờ sự tồn tại của sở hữu, chủ sở hữu có ưu thế so với các chủ thể khác trong việc chi phối, khai thác, quyết định số phận của tài sản Trên cơ sở

đó, chúng ta có thể nói rằng, sự tồn tại của quan hệ sở hữu chính là sự thừa nhận của xã hội về phân tầng giữa các tổ chức, cá nhân trong việc tiếp cận đối với các nguồn lực khan hiếm trong xã hội (tài sản và các sản phẩm có nguồn gốc từ tài sản)

Sở hữu chung của toàn thể cộng đồng - sở hữu công cộng hoặc sở hữu toàn dân tạo điều kiện cho mọi thành viên trong xã hội được bình đẳng trong việc tiếp cận và sử dụng, hưởng thành quả từ việc sử dụng, khai thác các nguồn lực trong xã hội (nhất là các tài sản) Trong khi đó, sự tồn tại của các hình thức sở hữu mà chủ thể sở hữu chỉ là hữu hạn, nhóm người hoặc từng cá nhân luôn là dấu hiệu thừa nhận tình trạng bất bình đẳng giữa các thành viên xã hội trong việc tiếp cận nguồn lực (tài sản trong xã hội) Do có sự tồn tại của quan hệ sở hữu kiểu này (đặc biệt là sở hữu tư nhân) mà xã hội đã bị phân tầng thành

kẻ giàu, người nghèo - một cơ cấu xã hội ở chừng mực nhất định có tác dụng kích thích

xã hội phát triển (dù chính điều đó cũng có thể tiềm ẩn nhiều điểm bất ổn)

Như vậy, có thể đưa ra khái niệm sở hữu dưới giác độ pháp lý (tức là quyền sở hữu) như sau: (quyền) sở hữu là độc quyền chi phối đối với một tài sản nhất định và ngăn cản người khác xâm phạm độc quyền chi phối tài sản này - (quyền) sở hữu như vậy về bản chất là một đặc quyền, một độc quyền

1.1.2 Các hình thức sở hữu và nguyên nhân của việc thay thế các hình thức sở hữu trong xã hội

1.1.2.1 Hình thức sở hữu

Hình thức sở hữu là cách thức biểu hiện, là phương thức tồn tại của các quan hệ sở hữu Trong lịch sử nhân loại, quan hệ sở hữu đã từng tồn tại dưới nhiều hình thức sở hữu khác nhau như sở hữu bộ lạc, sở hữu công xã, sở hữu gia đình, sở hữu cá nhân, sở hữu chung, sở hữu tập thể, sở hữu công cộng v.v Xét về mặt lịch sử, hình thức sở hữu cá nhân đối với tài sản (coi mỗi cá nhân là chủ thể đích thực của các quan hệ xã hội, quan hệ pháp luật) chỉ thực sự xuất hiện cùng với quá trình giải phóng tư cách chủ thể của cá nhân khỏi các thiết chế liên quan (như bộ lạc, thị tộc, gia đình.v.v ) Về thực tiễn lịch sử, hình thức sở hữu cá nhân được hình thành và bộc lộ rõ nét cùng với phong trào Phục Hưng, Khai sáng và cách mạng tư sản từ khoảng thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX Đến thế kỷ XIX, cùng với các Bộ luật Dân sự nổi tiếng được ra đời trong đó phải kể đến Bộ luật Dân sự Napoleon, cá nhân con người mới được các bộ luật chính thức thừa nhận là chủ thể của các quan hệ sở hữu Trước đó, cá nhân con người thường bị lẩn khuất trong các “thiết chế

xã hội” như gia đình, cộng đồng, công xã.v.v Hiện nay, giữa hai hình thức sở hữu có

tính chất đối lập là sở hữu tư nhân và sở hữu công cộng thường tồn tại nhiều dạng hình

thức sở hữu trung gian như sở hữu chung, sở hữu tập thể, sở hữu nhà nước v.v

Trang 15

Nhìn chung, cách quan niệm về các loại hình thức sở hữu ở phương Tây và Việt Nam có nhiều rất khác biệt

Ở phương Tây, người ta quan niệm có ba dạng (hoặc ba hình thức) sở hữu cơ bản

là sở hữu tư nhân (private property), sở hữu tập thể (collective property) hoặc đôi khi còn gọi là sở hữu cộng đồng (communcal ownership hoặc common property) và sở hữu công cộng (common property)17 Theo chế độ sở hữu công cộng thì tài sản thuộc loại hình sở hữu này sẽ thuộc về tất cả mọi người, mọi người đều có quyền tiếp cận (ví dụ đồng cỏ tự nhiên, công viên v.v ) Theo chế độ sở hữu tập thể (hay sở hữu cộng đồng), tài sản thuộc

về một cộng đồng người cụ thể và chỉ có cộng đồng người đó mới có quyền quyết định về cách sử dụng và định đoạt tài sản Theo chế độ sở hữu tư nhân, tài sản thuộc về những cá nhân con người cụ thể hoặc một pháp nhân tư (công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn chẳng hạn) và các quyết định liên quan tới tài sản là thuộc về riêng cá nhân, pháp nhân đó18 Chính vì thế, sở hữu tư nhân đôi khi còn được gọi là “sở hữu riêng” (individual ownership)19 Ngoài ra còn có sở hữu chung trong trường hợp quyền sở hữu đối với một vật thuộc nhiều người (chủ thể) Có hai loại sở hữu chung: sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất

Ở các nước tư bản phương Tây, không có quan niệm về sở hữu toàn dân theo kiểu như sở hữu toàn dân ở Việt Nam Sở hữu công cộng ở phương Tây được hiểu là hình thức

sở hữu mà tài sản có thể được mọi người dân tiếp cận tự do Ở Việt Nam, tài sản thuộc sở hữu toàn dân nói chung là do Nhà nước quản lý hoặc do tổ chức được Nhà nước ủy quyền quản lý, sử dụng, định đoạt (cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước)

Ở các nước tư bản phương Tây cũng có khái niệm sở hữu nhà nước mà các học giả Việt Nam thường gọi là sở hữu tư bản nhà nước20 Tài sản thuộc sở hữu nhà nước được giao cho các cơ quan nhà nước và các doanh nghiệp công (doanh nghiệp nhà nước) nắm giữ Tài sản này được hình thành chủ yếu từ nguồn thuế thu của dân, từ nguồn vay của dân (trái phiếu chính phủ) hoặc từ hoạt động của chính các doanh nghiệp nhà nước Một

số nhà nước phương Tây trong một thời gian dài sau thế chiến thứ hai đến trước khi kết thúc chiến tranh lạnh (1991) đã thành lập hàng loạt doanh nghiệp nhà nước nắm giữ độc quyền kinh doanh và chi phối một số ngành kinh tế quan trọng như khai thác, điện, điện thoại.v.v Tuy nhiên, sau những trục trặc xuất phát từ sự thiếu minh bạch về cơ chế khuyến khích lợi ích và phân chia trách nhiệm trong các doanh nghiệp nhà nước, nhiều quốc gia đã tiến hành phong trào tư nhân hóa (nhất là từ cuối thập niên 1970 đến nay) chuyển các doanh nghiệp nhà nước thành các công ty do tư nhân nắm giữ và quản lý với

hy vọng nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp này Tuy nhiên, thực tế, hình thức sở hữu nhà nước ở các nước phương Tây vẫn tồn tại

Như vậy, có thể thấy, tiêu chí để phân định các hình thức sở hữu trong nhiều trường hợp không phải hoàn toàn rõ ràng Tuy nhiên, các hình thức sở hữu khác nhau chủ yếu ở ba yếu tố chính:

+ Chủ thể của quyền sở hữu (chủ sở hữu là người mang quyền lực nhà nước hay không mang quyền lực nhà nước, số lượng chủ thể bao nhiêu v.v ?)

17

Xem: Mục “property” trong Từ điển triết học - Đại học Standford – Hoa Kỳ ( http://plato.stanford.edu/entries/property/ )

18 Xem: Mục “property” trong Từ điển triết học - Đại học Standford – Hoa Kỳ ( http://plato.stanford.edu/entries/property/ )

19 Xem: http://en.wikipedia.org/wiki/Property

20

Xem: Nguyễn Đăng Dung, giáo trình Luật Hiến pháp của các nước tư bản, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2001, trang 78

Trang 16

+ Nội dung các quyền năng mà chủ sở hữu có thể có (chủ sở hữu có thể bị hạn chế quyền sở hữu của mình đến mức nào?)

+ Loại tài sản mà chủ sở hữu có thể có (đối với mỗi loại chủ sở hữu thì có thể sở hữu những loại tài sản nào?) Chẳng hạn, đối với sở hữu tư nhân, ở Việt Nam, pháp luật không công nhận quyền sở hữu tư nhân đối với đất đai Chính vì thế, đất đai chỉ có thể là tài sản thuộc sở hữu Nhà nước, không thể là tài sản mà các cá nhân, pháp nhân có thể sở hữu được

1.1.2.2 Nguyên nhân của việc thay thế các hình thức sở hữu trong xã hội

Áp dụng mô hình kinh tế tư bản chủ nghĩa, nhiều quốc gia phương Tây đã triệt để khai thác và áp dụng chế độ sở hữu tư nhân về tài sản Sở hữu tư nhân được coi là một thành tố quan trọng của nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, vì sao sở hữu tư nhân nảy sinh, thay thế các hình thức sở hữu cộng đồng đã tồn tại trước đó thì chính các học giả phương Tây cũng còn tranh cãi Phần dưới đây, chúng tôi xin trình bày những quan điểm cơ bản của nhà kinh tế học pháp luật Harold Demsetz - một trong những nhà lý luận hàng đầu về quyền sở hữu ở các nước tư bản phương Tây hiện nay

Trong tác phẩm “Toward a theory of property rights” (Tiến tới xây dựng một lý thuyết về quyền sở hữu) xuất bản trên tờ Tạp chí kinh tế Hoa Kỳ21 năm 1967, Harold Demsetz đã lần đầu tiên đưa ra một cách giải thích tương đối hệ thống về lý do quyền sở hữu tư nhân được nảy sinh để thay thế cho tình trạng vô chủ hoặc tình trạng sở hữu cộng

đồng đối với một số tài sản nhất định

Tinh thần chung trong lý thuyết của Harold Demsetz về sở hữu là sở dĩ người ta trao quyền sở hữu tư nhân thay cho các hình thức sở hữu khác (nhất là sở hữu chung của một nhóm người, sở hữu chung của cộng đồng) là vì bị thúc đẩy bởi lý do “hiệu quả sử dụng nguồn lực” trong xã hội Theo Harold Demsetz, trong xã hội dường như có một khuynh hướng rất tự nhiên là nhu cầu cải thiện tính hiệu quả trong việc sử dụng nguồn lực trong xã hội Khi mà tình trạng vô chủ đối với một số tài sản dẫn tới hệ quả về sự khai thác quá mức tài sản, không lưu ý tới sự bồi bổ, phát triển tài sản, thì giải pháp đối phó với tình trạng này là trao cho các thành viên của cộng đồng quyền “sở hữu tư nhân”, nhằm tạo ra “tình trạng khan hiếm” về “quyền sở hữu” để tài sản của ai thì do người đó tự mình chiếm giữ, sử dụng và định đoạt Bằng cách ấy, xã hội có thể tránh được tình trạng khai thác cạn kiện nguồn tài nguyên và nhờ đó con người sẽ khai thác, sử dụng một cách hiệu quả hơn22

Như vậy, theo Horald Demsetz, sở hữu tư nhân được hình thành thay thế cho sở hữu công cộng, sở hữu tập thể là nhằm khuyến khích tinh thần trách nhiệm trong khai thác, sử dụng các nguồn lực trong xã hội Nhờ việc biến tài sản thuộc sở hữu chung, sở hữu cộng đồng thành sở hữu tư nhân, các thành viên cộng đồng sẽ ý thức rõ hơn về tính khan hiếm nguồn lực trong xã hội và sử dụng tài sản một cách hiệu quả, có trách nhiệm hơn Cũng nhờ đó, năng suất lao động, năng suất sử dụng các nguồn lực trong nền kinh tế được nâng lên Có thể coi, giải pháp “tư nhân hóa” tài sản công cộng trong lý thuyết về sở

21

Harold Demsetz, Toward a Theory of Property Rights, 57 Am Econ Rev 347, 347 (1967).

Xem th ê m: Harold Demsetz, Toward a Theory of Property Rights II: The Competition Between Private and Collective Ownership, 31 J Legal Stud S653, S653 (2002)

22

Xem: Thomas W Merrill, Introduction: The Demsetz thesis and the Evolution of property rights, the Journal of Legal Studies, June, 2002

Trang 17

hữu của Harold Demsetz là cách thức làm cho mỗi thành viên trong cộng đồng nhận thức

rõ hơn về tính khan hiếm của các nguồn lực hữu ích trong xã hội

Việc công nhận sở hữu tư nhân, bảo vệ sở hữu tư nhân, bảo vệ khả năng chuyển nhượng tài sản thuộc sở hữu tư nhân được coi là một trong những biện pháp khuyến khích

“phúc lợi xã hội” (social welfare) Chí ít, việc công nhận sở hữu tư nhân với quy tắc cơ bản là người nào đầu tư vào tài sản thuộc sở hữu của mình thì người đó phải được hưởng thành quả của sự đầu tư ấy (hoa lợi, lợi tức từ tài sản) cũng góp phần thúc đẩy tính tích cực trong lao động, đầu tư của mỗi người Điều này hết sức đơn giản bởi lẽ, nếu như người ta đầu tư vào một mảnh đất bằng cách trồng trọt trên đó mà người ta lại không được gặt hái thành quả trên đó, thì người ta sẽ không muốn làm23 Cũng nhờ quy tắc này, chủ

sở hữu cũng có trách nhiệm với tài sản của mình hơn - họ sẽ lưu ý tới việc duy tu, bảo trì, bảo quản tài sản của mình (nhất là tài sản vốn) tốt hơn

Thiếu một hệ thống quy tắc tôn trọng quyền tư hữu - người ta sẽ có khuynh hướng

đi lấy của người khác làm của mình và như vậy, xã hội luôn ở trong tình trạng mâu thuẫn

Do đó, việc duy trì một hệ thống pháp luật bảo hộ có hiệu quả quyền sở hữu tài sản (quyền tài sản) góp phần chống tình trạng vô trật tự, vô chính phủ (tình trạng ăn cắp, ăn cướp) trong xã hội, chống các rủi ro mà mỗi cá nhân (nhất là cá nhân yếu thế) có thể gặp phải do tình trạng hỗn loạn

Với việc cho phép quyền chuyển nhượng tài sản tự do - một bộ phận cấu thành của quyền sở hữu - tài sản trong xã hội sẽ được dịch chuyển (phân bổ) đến những nơi tài sản được trả giá cao nhất (thông thường đây cũng chính là nơi tài sản được khai thác, sử dụng một cách hiệu quả nhất) Cũng nhờ đó, khả năng tích tụ tài sản để hưởng lợi thế kinh tế theo quy mô (economy of scale), để hưởng lợi thế của việc chuyên môn hóa lao động (specialization of labor)

Thực ra thì trước Harold Demsetz, các học giả nổi tiếng như Hobbes (1651), Blackstones (1765-1769) và Bentham (1830) đã từng biện minh cho sự cần thiết phải duy trì chế độ sở hữu tư nhân đối với tài sản từ giác độ nhấn mạnh tác dụng của nó đối với

“động lực làm việc” và “không khuyến khích sự ăn cắp”24

Đến nay, lý thuyết về sở hữu của Horald Demsetz đã được ứng dụng để luận giải cho việc khắc phục tình trạng “vô chủ”, thiếu minh bạch về chế độ trách nhiệm bằng cách

tư nhân hóa nhiều doanh nghiệp nhà nước ở các nước tư bản Cũng nhờ ứng dụng lý thuyết về sở hữu của Harold Demsetz, trong việc bảo vệ môi trường, nhiều quốc gia đã thay đổi quan niệm về môi trường sinh thái từ quan niệm trước đây coi môi trường sạch, môi trường trong lành là nguồn lực vô tận sang quan niệm “môi trường sạch, môi trường trong lành là thứ “tài nguyên khan hiếm” và cần “tư nhân hóa” loại tài sản, nguồn lực khan hiếm này bằng cách đưa ra hệ thống “quyền gây ô nhiễm” (hoặc quyền xả thải vào môi trường, quota phát thải) - thứ tài sản tư có thể chuyển nhượng để kiểm soát hành vi gây ô nhiễm môi trường trong một số lĩnh vực

Tuy nhiên, lý thuyết về sở hữu của Harold Demsetz cũng gặp nhiều chỉ trích từ chính các học giả phương Tây Nhiều ý kiến cho rằng đây là một lý thuyết có nhiều điểm khiếm khuyết Lý thuyết về sở hữu của Harold Demsetz đã không thể trả lời được câu hỏi làm cách nào mà người ta biến từ sở hữu chung sang sở hữu tư nhân (cách thức chuyển

Trang 18

đổi chế độ sở hữu như thế nào là hợp lý và hiệu quả.v.v ) và liệu quá trình ngược lại (biến từ sở hữu tư thành sở hữu công) có phải luôn là bất hợp lý hay không25

1.1.3 Vai trò của sở hữu trong đời sống kinh tế - xã hội

Quyền sở hữu là đặc quyền tiếp cận các nguồn lực trong xã hội Chủ sở hữu là người có thể tiếp cận một cách đầy đủ nhất (khi so với các chủ thể khác trong xã hội) đối với các nguồn lực trong xã hội (các tài sản vật chất và tài sản trí tuệ) Nhưng chính việc tiếp cận với các nguồn lực trong xã hội là điều kiện vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại

và phát triển của các cá nhân, tổ chức trong xã hội, việc tồn tại quyền sở hữu (nhất là sở hữu tư nhân) đã góp phần phân định lượng quyền năng tiếp cận, quản lý các nguồn lực trong xã hội, là tiền đề phân chia giàu nghèo

Các quy định về sở hữu - có ảnh hưởng trực tiếp tới “động lực làm việc”, “động lực sáng tạo”, “động lực làm ăn, kinh doanh” của mỗi cá nhân, tổ chức trong xã hội Chẳng hạn, giả sử tồn tại quy tắc ứng xử của xã hội là “người nào có tài sản và có lao động làm tăng tài sản thì tài sản gia tăng sẽ thuộc về người khác” thì chắc chắn, người có tài sản cũng không có ý định lao động để làm gia tăng giá trị của tài sản Điều này cho thấy, cơ cấu sở hữu trong xã hội có mối quan hệ với quá trình tăng trưởng, phát triển kinh

tế của đất nước

Việt Nam đã từng có nhiều kinh nghiệm hay về vấn đề này: đó là những kinh nghiệm được trả học phí khá đắt trong giai đoạn tiền đổi mới (1975-1985) Mô tả dưới đây trong một cuốn sách của GS Hoàng Chí Bảo về tình hình sản xuất nông nghiệp và kinh tế hợp tác trong giai đoạn đó là một minh chứng điển hình: “Người lao động có thái

độ thờ ơ với công việc chung của hợp tác xã, ruộng đất, tài sản của hợp tác xã không được

xã viên quan tâm, họ phải dồn vốn liếng và sức lao động vào mảnh đất 5% và tìm nguồn thu nhập để tồn tại Quy mô hợp tác xã càng mở rộng thì lãng phí càng lớn, tình trạng vô chủ gia tăng đến mức nghiêm trọng tất yếu dẫn đến hiệu quả kinh tế giảm; tài sản, vốn quỹ thất thoát; diện tích đất hoang hóa ngày càng tăng và phổ biến ở nhiều hợp tác xã; sản xuất nông nghiệp sa sút liên tục và nghiêm trọng; mức thu nhập của xã viên giảm Nhà nước phải đưa gạo về chi viện, cứu đói cho nông dân ngày càng nhiều Trên thực tế, thu nhập từ kinh tế tập thể giảm đi rõ rệt, chỉ còn 30-40% tổng thu nhập của hộ xã viên, có nơi chỉ còn 16-20% so với thu nhập của hộ xã viên”26

Trong công cuộc đổi mới của đất nước, chúng ta đã và đang tìm cách giải quyết vấn đề sở hữu để tạo nên hệ thống quan hệ sở hữu phù hợp với những đòi hỏi khách quan của nền sản xuất xã hội, khắc phục chế độ công hữu hình thức nhằm giải phóng mọi năng lực sản xuất của xã hội, phát huy các động lực phát triển, tăng hiệu quả của hoạt động kinh doanh Bởi vậy, tính đa dạng về hình thức sở hữu và hình thức tổ chức kinh doanh cùng với sự đa dạng về các thành phần kinh tế đã được chấp nhận và đang phát huy mặt tích cực của nó đối với quá trình phát triển nền kinh tế của đất nước

Trang 19

quan hệ xã hội nhất định Sở hữu trả lời cho câu hỏi: tài sản, tư liệu sản xuất, thành quả lao động thuộc về ai, do đó nó thể hiện quan hệ giữa người với người trong quá trình tạo

ra và phân phối các thành quả vật chất Với nội dung kinh tế như vậy, sở hữu là quan hệ

kinh tế khách quan

Sở hữu có 3 đặc điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất, sở hữu thể hiện quan hệ xã hội (quan hệ giữa người với người về vật);

Thứ hai, quan hệ xã hội này mang tính khách quan, tức là quan hệ sở hữu tồn tại

không phụ thuộc vào ý chí của con người Con người không tạo ra quan hệ sở hữu mà chỉ

có thể tham gia vào quan hệ sở hữu và gây ảnh hưởng nhất định đến sự vận hành của nó theo hướng hoặc là làm cho quan hệ sở hữu hình thành, phát triển một cách nhanh chóng, thuận lợi hoặc là làm cho chúng đi theo chiều hướng ngược lại

Thứ ba, sở hữu là bộ phận cơ bản của quan hệ sản xuất, là nền tảng kinh tế của

bất cứ hình thái kinh tế - xã hội nào

1.2.1 2 Quyền sở hữu theo nghĩa khách quan - Pháp luật về sở hữu:

Như trên đã trình bày, sở hữu là vấn đề rất quan trọng, có vai trò quyết định đến các vấn đề chính trị, kinh tế trong mọi chế độ xã hội, bất luận là tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa Vì vậy, Nhà nước nào cũng dành sự quan tâm đặc biệt và bằng nhiều công cụ, phương tiện để tác động vào các quan hệ sở hữu, làm cho các quan hệ xã hội này hình thành, phát triển theo ý chí của mình Một trong những công cụ quan trọng đó là pháp luật Bằng pháp luật, Nhà nước:

- Tuyên bố về các hình thức sở hữu tồn tại trong xã hội (thường là thông qua Hiến pháp - đạo luật cơ bản của một quốc gia);

- Quy định những quyền năng mà chủ sở hữu có được đối với tài sản của mình (nội dung quyền sở hữu);

- Quy định các nguyên tắc thực hiện quyền sở hữu (chủ sở hữu được toàn quyền trong việc đối xử với tài sản của mình nhưng phải phù hợp với pháp luật và không vi phạm quyền lợi của người khác);

- Quy định nghĩa vụ của những chủ thể khác không phải là sở hữu chủ không được xâm phạm quyền của sở hữu chủ;

- Xác định các căn cứ làm phát sinh và chấm dứt quyền sở hữu;

- Quy định cơ chế xác nhận, công khai hoá quyền sở hữu để mọi người biết (cơ chế đăng ký tài sản);

- Quy định cơ chế (biện pháp, cách thức giúp chủ sở hữu bảo vệ được quyền sở hữu của mình )

Kết quả của việc thực hiện các công việc nêu trên là sự hình thành một nhóm các quy định pháp luật về sở hữu, được gọi là pháp luật về sở hữu - một khái niệm thuộc thượng tầng kiến trúc, một phạm trù pháp lý

Như vậy, khi sở hữu với tư cách là một phạm trù kinh tế được pháp luật điều chỉnh

thì xuất hiện quyền sở hữu với tư cách là một phạm trù pháp lý Với tư cách là một phạm

trù pháp lý, quyền sở hữu mang tính chất chủ quan, vì đó là sự ghi nhận của Nhà nước Nhưng Nhà nước không thể đặt ra quyền sở hữu theo ý chí chủ quan của mình mà quyền

sở hữu được quy định trước hết bởi nội dung kinh tế của sở hữu Nhà nước quy định quyền sở hữu, tức là thể chế hoá những quan hệ chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản

Trang 20

Với tính cách là một phạm trù pháp lý, quyền sở hữu là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản Đây là khái niệm quyền sở hữu theo nghĩa rộng, nghĩa khách quan Còn theo nghĩa hẹp (nghĩa chủ quan) thì quyền sở hữu được hiểu

là các quyền năng cụ thể của chủ sở hữu đối với tài sản của mình

Ở Việt Nam, chế định về quyền sở hữu được quy định ở Phần thứ hai của Bộ luật Dân sự năm 2005 Trên cơ sở cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp năm 1992 về phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa với các hình thức kinh doanh đa dạng, dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân,

Bộ luật Dân sự đã quy định khá tập trung về vấn đề quyền sở hữu: từ những vấn đề có tính nguyên tắc đến các vấn đề cụ thể, tạo cơ sở pháp lý để cá nhân, tổ chức thực hiện quyền sở hữu của mình, tôn trọng quyền sở hữu của người khác; đồng thời là căn cứ để Toà án, các cơ quan nhà nước khác có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu, góp phần bảo vệ một cách có hiệu quả các quyền của chủ sở hữu tài sản

1.2.1.3 Quyền sở hữu theo nghĩa chủ quan - các quyền năng của chủ sở hữu

Theo nghĩa chủ quan thì quyền sở hữu là quyền của chủ thể, quyền thuộc về một chủ thể nào đó liên quan đến việc đối xử với tài sản mà họ được pháp luật công nhận là chủ sở hữu Với ý nghĩa như vậy, quyền sở hữu là một quyền công dân, quyền con người, được pháp luật tất cả các nhà nước văn minh thừa nhận và bảo vệ

Thông thường, Nhà nước công nhận cho chủ sở hữu có ba quyền năng là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản Ví dụ, Điều 164 Bộ luật Dân sự năm

2005 của Việt Nam quy định: Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có đủ ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản

- Quyền chiếm hữu: là quyền nắm giữ, quản lý tài sản (Điều 182 Bộ luật Dân sự năm

2005) Điểm cơ bản nhất trong việc điều chỉnh pháp luật đối với quyền chiếm hữu là tính hợp pháp của việc chiếm hữu Sự chiếm hữu chỉ có thể được coi là hợp pháp nếu nó được thực hiện trên cơ sở những căn cứ được quy định trong pháp luật hoặc những căn cứ khác không trái pháp luật

- Quyền sử dụng: là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản

(Điều 192 Bộ luật Dân sự năm 2005)

+ Quyền sử dụng của chủ sở hữu: Trong trường hợp chủ sở hữu thực hiện quyền sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình thì chủ sở hữu được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản theo ý chí của mình nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác (Điều 193 Bộ luật Dân sự năm 2005)

+ Quyền sử dụng của người không phải là chủ sở hữu:

1 Quyền sử dụng tài sản có thể được chuyển giao cho người khác thông qua hợp

đồng hoặc theo quy định của pháp luật, người không phải là chủ sở hữu có quyền sử dụng

tài sản đúng tính năng, công dụng, đúng phương thức;

2 Người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình cũng có quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản theo quy định của pháp luật

Trọng tâm của việc điều chỉnh pháp luật đối với vấn đề này là việc pháp luật phải quy định được những cơ chế, biện pháp, chế độ để kích thích các chủ sở hữu khai thác tài sản của mình một cách có hiệu quả Sự khuyến khích này được thực hiện bằng hai cách:

Trang 21

(1) đưa ra các ưu đãi về tài chính cho bất cứ người nào đã nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của mình và (2) hạn chế và có thể kể cả việc tước quyền tài sản đối với những ai không sử dụng hoặc sử dụng không tốt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình

- Quyền định đoạt: là quyền quyết định số phận pháp lý của tài sản bằng cách thay

đổi vị trí của tài sản trong hệ thống quan hệ xã hội Điều 195 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó

1.2.2 Quyền sở hữu và các loại vật quyền khác

Chế định quyền sở hữu không chỉ tập trung quy định địa vị pháp lý và các quyền chủ thể của chủ sở hữu vì như vậy quyền sở hữu chỉ được nhìn nhận ở một phạm vi hẹp

Sở hữu cần được hiểu là yếu tố cơ bản trải lên toàn bộ quan hệ sản xuất, bao gồm không chỉ quan hệ giữa người với người về vật mà cả quan hệ giữa họ về mặt tổ chức kinh doanh, về mặt chi phối đối với lợi ích kinh tế do sự chiếm hữu về mặt tài sản tạo ra27 Do

đó, trong chế định về quyền sở hữu có cả các quy định về quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt

Người không phải là chủ sở hữu tài sản nhưng cũng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình theo thoả thuận với chủ sở hữu tài sản đó hoặc theo quy định của pháp luật Ở các nước phương Tây, các quyền này được gọi là “các vật quyền khác”, còn ở Việt Nam, được gọi là “các quyền khác đối với tài sản” (Điều 6 của Bộ luật Dân sự năm 1995 đã sử dụng cụm từ này) Tuy nhiên, trong Bộ luật Dân sự năm 1995 còn quy định khá mờ nhạt về “các quyền khác đối với tài sản”: chưa quy định rõ “quyền khác đối với tài sản” là những quyền gì?, cách thức thực hiện và bảo

vệ các quyền đó như thế nào?

Theo pháp luật các nước, có các loại vật quyền (các quyền khác đối với tài sản) như sau:

- Quyền sử dụng đất;

- Quyền địa dịch;

- Quyền vận hành/khai thác kinh tế của công ty nhà nước

Vậy, quyền của người không phải là chủ sở hữu (vật quyền) và quyền sở hữu có mối liên hệ với nhau như thế nào?

Sự khác biệt giữa quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản thể hiện ở các khía cạnh sau:

Thứ nhất, quyền sở hữu là một loại quyền có trước còn vật quyền khác là quyền phái

sinh, chỉ có thể xuất hiện sau khi có quyền sở hữu

Thứ hai, quyền sở hữu là loại quyền độc lập còn vật quyền khác là quyền phụ thuộc Thứ ba, chủ sở hữu chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình,

còn người có các quyền khác đối với tài sản chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc

sở hữu của người khác Ví dụ, công ty nhà nước cũng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản được Nhà nước giao nhưng các tài sản đó vẫn là của Nhà nước, thuộc quyền sở hữu của Nhà nước; mọi cá nhân, pháp nhân ở Việt Nam cũng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đất đai nhưng mọi đất đai đó đều là của Nhà nước, do Nhà nước

Trang 22

Thứ tư, quyền năng của chủ sở hữu rộng hơn quyền năng của người có quyền khác

đối với tài sản Các quyền năng của chủ sở hữu do pháp luật xác định, trong khi đó, quyền năng của người có quyền khác đối với tài sản không chỉ do luật xác định mà còn được xác định bởi ý chí của chủ sở hữu Ý chí đó thường được thể hiện thông qua hợp đồng giữa chủ sở hữu và người có quyền khác đối với tài sản Các quyền khác đối với tài sản thường

bị hạn chế về nội dung vì phạm vi quyền mà chủ sở hữu trao cho những người có quyền này nhiều hay ít là phụ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu

Tóm lại, quyền khác đối với tài sản là quyền năng của một chủ thể trong chiếm hữu,

sử dụng, định đoạt tài sản của người khác, phái sinh từ quyền của chủ sở hữu và theo ý chí của chủ sở hữu (hoặc do pháp luật quy định), có nội dung hạn chế so với quyền sở hữu, nhưng được pháp luật bảo vệ như bảo vệ quyền sở hữu

1.2.3 Điều chỉnh pháp luật đối với sở hữu ở một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

1.2.3.1 Tại Trung Quốc:

Năm 2006, Quốc hội Trung Quốc đã ban hành Luật quyền tài sản - một văn bản pháp lý có tính tổng thể và toàn diện để điều chỉnh quyền về tài sản ở Trung Quốc Đây được coi là bước đi thích hợp, đúng đắn tạo cơ chế pháp lý cho nền kinh tế thị trường của Trung Quốc phát triển nhanh, hiệu quả và ổn định, tạo tâm lý yên tâm hơn cho các nhà đầu tư, kinh doanh Cho đến nay, trước khi dự thảo Luật quyền tài sản được thông qua, pháp luật về sở hữu của Trung Quốc chủ yếu dựa trên bộ khung pháp lý quan trọng nhất

là Hiến pháp và Bản Quy tắc chung về Luật Dân sự của Trung Quốc được ban hành năm

1996 (sau đây gọi tắt là Bản Quy tắc) và một số văn bản pháp luật có liên quan như Luật quản lý đất đai nông thôn, Luật quản lý đất thành thị, Bản Quy chế cấp đất.v.v

a) Khái niệm tài sản

Khái niệm "tài sản" theo pháp luật dân sự Trung Quốc bao gồm tài sản hữu hình

và tài sản vô hình Tài sản vô hình được hiểu bao gồm các quyền tài sản như sáng chế, nhãn hiệu, bản quyền và các công trình là sản phẩm của lĩnh vực sở hữu trí tuệ Tài sản hữu hình, theo pháp luật Trung Quốc được phân thành tài sản đặc định và vật cùng loại Tại Điều 72 của bản Quy tắc đã điều chỉnh việc chuyển giao cả hai loại tài sản này, theo đó: "Quyền sở hữu tài sản sẽ không được công nhận nếu vi phạm pháp luật Quyền sở hữu tài sản được xác lập thông qua hợp đồng hay các phương thức hợp pháp khác sẽ được chuyển giao đồng thời với tài sản đó trừ phi pháp luật quy định khác"28

Giống phần lớn các hệ thống pháp luật khác, pháp luật dân sự Trung Quốc cũng phân biệt giữa tài sản là bất động sản và tài sản là động sản Bất động sản là tài sản không thể di chuyển được Để chuyển giao tài sản là bất động sản như quyền sử dụng đất, thì việc đăng ký là thủ tục phải được thực hiện như là một điều kiện để hợp đồng chuyển giao

có hiệu lực Việc đăng ký đối với động sản chỉ được đặt ra khi đó là các phương tiện đi lại, tàu thuỷ, máy bay và các tài sản khác có liên quan29

Trang 23

sở hữu đường sắt, đường hàng không, hải cảng, các ngân hàng, các dịch vụ bưu chính viễn thông và đài truyền hình, đài phát thanh"

Sở hữu nhà nước được bảo vệ một cách nghiêm ngặt Điều 73 của Bản Quy tắc quy định: “Tài sản nhà nước là tài sản thuộc sở hữu toàn dân Tài sản nhà nước là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, không có bất kỳ một tổ chức hay cá nhân nào được phép niêm phong, xâm chiếm, chia cắt, nắm giữ và huỷ hoại tài sản nhà nước”

- Sở hữu tập thể (sở hữu của những người lao động):

Trong pháp luật dân sự Trung Quốc nói riêng và hệ thống pháp luật Trung Quốc nói chung không có nhiều quy định về tài sản tập thể Đối với các doanh nghiệp tập thể,

sự thiếu vắng các quy định này là rất tai hại và địa vị pháp lý của loại hình doanh nghiệp này là không chắc chắn Căn cứ pháp lý cho tài sản tập thể là Điều 8 của Hiến pháp, cụ thể là: “Các hình thức của nền kinh tế tập thể thuộc các lĩnh vực như thủ công mỹ nghệ, công nghiệp, nhà ở, giao thông và thương mại dịch vụ ở thành phố và thành thị đều thuộc

về thành phần của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa dưới hình thức sở hữu tập thể của những người lao động

Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức hợp tác kinh tế nông thôn

và khuyến khích, hướng dẫn, giúp đỡ nền kinh tế hợp tác phát triển”

Điều 74 của Bản Quy tắc quy định: “Sở hữu tập thể đối với tài sản là tài sản thuộc

về một nhóm người, thông thường là người lao động Tài sản thuộc sở hữu tập thể bao gồm: (1) đất, rừng, núi, đồng cỏ, đất tự nhiên và các bãi biển mà do tập thể sở hữu theo quy định của pháp luật; (2) tài sản của các tổ chức kinh tế tập thể; (3) các toà nhà, hồ tự nhiên, hồ nhân tạo, tư liệu sản xuất nông nghiệp (4) và các tài sản khác

Sở hữu tập thể về đất đai sẽ do những người nông dân trong làng xã sở hữu theo quy định của pháp luật Đất đai thuộc sở hữu tập thể sẽ do hợp tác xã sản xuất nông nghiệp hoặc các tổ chức kinh tế nông nghiệp hoặc Uỷ ban xã quản lý và đưa vào sử dụng Đất thuộc sở hữu của các tổ chức kinh tế tập thể nông dân ở tỉnh, thành sẽ do nông dân ở tỉnh, thành đó sở hữu

Tài sản thuộc sở hữu tập thể được pháp luật bảo vệ, không có bất kỳ tổ chức, cá nhân nào được phép niêm phong, lấn chiếm, chia cắt, phá huỷ hoặc phong toả, chiếm giữ, tịch thu một cách bất hợp pháp”

- Sở hữu cá nhân:

Điều 75 Bản Quy tắc quy định: “Tài sản thuộc sở hữu cá nhân bao gồm: thu nhập hợp pháp, nhà, khoản tiết kiệm, các vật dụng được sử dụng để đáp ứng nhu cầu sống hàng ngày, sách, vở, tác phẩm nghệ thuật, cây cối, vật nuôi cũng như các tư liệu sản xuất khác

mà pháp luật cho phép cá nhân được chiếm giữ và các tài sản hợp pháp khác

Trang 24

Tài sản thuộc sở hữu của công dân sẽ được pháp luật bảo vệ, không một tổ chức,

cá nhân nào được phép sử dụng, lấn chiếm, phá huỷ hoặc phong toả, chiếm giữ, tịch thu một cách bất hợp pháp”

Điều 76 Bản Quy tắc quy định: “Công dân có quyền thừa kế tài sản theo quy định của pháp luật”

- Các hình thức sở hữu khác:

Bản Quy tắc của Trung Quốc còn quy định về tài sản hợp pháp của các tổ chức xã hội, bao gồm tổ chức tôn giáo và một số loại hình sở hữu khác như sau:

Điều 77 Bản Quy tắc quy định: Tài sản hợp pháp của các tổ chức xã hội, bao gồm

cả các tổ chức tôn giáo sẽ được pháp luật bảo vệ

Điều 78 Bản Quy tắc quy định về đồng sở hữu do hai hoặc nhiều công dân, pháp nhân cùng sở hữu

Có hai loại đồng sở hữu, đó là sở hữu chung và đồng sở hữu theo phần Chủ sở hữu theo phần sẽ được hưởng quyền và có trách nhiệm tương ứng với số tài sản theo phần mình được hưởng Chủ sở hữu của sở hữu chung sẽ được hưởng quyền và có trách nhiệm tương ứng tài sản sở hữu chung đó

Chủ sở hữu theo phần có quyền được rút phần sở hữu theo phần hoặc chuyển giao quyền sở hữu của mình Tuy nhiên, khi chủ sở hữu bán phần sở hữu của mình, các chủ sở hữu khác được quyền ưu tiên mua trước

c) Quan điểm của Đảng Cộng sản Trung Quốc về sự cần thiết xây dựng mối quan

hệ bình đẳng giữa các hình thức sở hữu - cơ sở chính trị cho việc hoàn thiện pháp luật về

sở hữu ở Trung Quốc

Trong suốt hai thập kỷ qua, địa vị pháp lý của sở hữu tư nhân đã có nhiều biến chuyển tích cực tại Trung Quốc, sự tiến bộ này được thể hiện qua các lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp Cho đến tận những năm giữa thập kỷ 80, sở hữu công về tư liệu sản xuất vẫn được tiếp tục coi là nền tảng không thể thay đổi được của chủ nghĩa xã hội Chẳng hạn như Hiến pháp sửa đổi năm 1982 đã không quy định cụ thể địa vị của thành phần kinh tế

tư nhân tại Trung Quốc Tiếp tục sự giải thích có tính chất thực tế về chủ nghĩa xã hôị dựa trên bối cảnh Trung Quốc của những năm cuối thập kỷ 80, Hiến pháp sửa đổi năm 1988

đã chính thức công nhận thành phần kinh tế tư nhân như là "sự bổ sung" cho "nền kinh tế công xã hội chủ nghĩa" Những năm cuối của thập kỷ 90, học thuyết "giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội" đã được tự do hơn nữa Theo báo cáo của Chủ tịch nước Giang Trạch Dân tại kỳ họp Quốc hội lần thứ 15 (báo cáo năm 1997) thì bất kỳ hình thức sở hữu nào đáp ứng được yêu cầu đẩy mạnh năng lực xã hội, sức mạnh quốc gia và đời sống nhân dân đều được công nhận (sử dụng) để phục vụ cho mục tiêu xã hội chủ nghĩa Vào năm

1999, địa vị của thành phần tư nhân lại một lần nữa được phát triển Căn cứ vào Hiến pháp sửa đổi năm 1999 "cá nhân, tư nhân và các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh cùng tồn tại trong phạm vi pháp luật quy định là những bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa" Chỗ đứng của thành phần tư nhân lại một lần nữa được chuyển dịch trong bản Hiến pháp sửa đổi năm 2004 Sự quan trọng của các thành phần kinh tế này đã vượt ra ngoài sự công nhận Các thành phần tư nhân ngày nay được đặc biệt "khuyến khích và ủng hộ"30

30

Xem Hiến pháp Điều 11

Trang 25

Trong khi cùng với các chính sách của Nhà nước và sở hữu công được quy định trong Hiến pháp, đây là sự công nhận một cách rõ ràng, dứt khoát sở hữu công là một thành phần chủ đạo của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, thì sự phát triển của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh cũng được khuyến khích một cách bình đẳng31 Chủ tịch Giang Trạch Dân đã tuyên bố rõ ràng trong bản báo cáo 1997: "hệ thống kinh tế cơ bản của Trung Quốc trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội là đặt sở hữu công trong một vị trí chủ đạo và có sự đa dạng các hình thức sở hữu khác cùng phát triển" Thêm vào

đó, Hiến pháp sửa đổi năm 1999 đã có quy định đặc biệt rằng: Nhà nước sẽ bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các thành phần kinh tế cá nhân và tư nhân và trong thời gian chờ đợi sự hướng dẫn, giám sát và điều chỉnh sự phát triển của các thành phần kinh

tế ngoài quốc doanh32

Tại Đại hội toàn quốc lần thứ 16 tổ chức vào tháng 12/2002, dường như sự xung đột chính sách về việc nắm giữ thành phần kinh tế công như một thành phần kinh tế chủ đạo và thúc đẩy các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh cùng phát triển một lần nữa được giải thích Theo bản báo của Chủ tịch Giang Trạch Dân (bản báo cáo 2002) thì có hai chính sách không nên "chống lại lẫn nhau", trái lại, mà hai chính sách này nên "thống nhất" trong quá trình "hiện đại hoá xã hội chủ nghĩa"33 Bản báo cáo năm 2002 còn tiếp tục chỉ ra rằng các thành phần kinh tế trong tất cả các hình thức sở hữu có thể sẽ đáp ứng được những lợi thế của những thành phần kinh tế trong thị trường cạnh tranh, "khuyến khích lẫn nhau cho sự phát triển chung" Cũng trong bản Báo cáo của Chủ tịch Giang Trạch Dân, hoàn thiện hệ thống pháp lý để bảo vệ "tài sản tư nhân" và tạo lập một môi trường cạnh tranh bình đẳng cho các thành phần kinh tế tư nhân và cá thể đã được khẳng định như một chính sách nhà nước với mức độ cao hơn Theo bản Hiến pháp sửa đổi năm

2004, tài sản tư nhân được coi ngang bằng với tài sản công là thiêng liêng và bất khả xâm phạm, không có sự phân biệt đối xử đối với tài sản tư nhân Do vậy, ít nhất về mặt định tính, thành phần kinh tế tư nhân và thành phần kinh tế công sẽ là các đối tác bình đẳng trong thị trường

Hơn nữa, Báo cáo năm 2002 còn kêu gọi cần phải thúc đẩy hơn nữa công cuộc "đa dạng hoá" cơ cấu sở hữu (vốn) của tài sản nhà nước, đặc biệt là tài sản thuộc sở hữu nhà nước Với một vài sự ngoại lệ đặc biệt buộc phải thuộc sở hữu nhà nước, phần sở hữu của các doanh nghiệp nhà nước sẽ được "đa dạng hoá" thông qua "hệ thống cổ đông" Thêm vào đó, chỉ một số doanh nghiệp quan trọng trong số doanh nghiệp nhà nước vẫn tiếp tục

do Nhà nước kiểm soát thông qua cơ chế cổ đông chi phối Với một khung chính sách như vậy, ranh giới giữa sở hữu nhà nước và sở hữu ngoài quốc doanh đã được xác định tại mức độ cổ đông Kết quả là, "doanh nghiệp nhà nước" được chuyển đổi thành "doanh nghiệp do nhà nước quản lý" là kết quả của quá trình cải cách "phân chia quyền" trong giai đoạn trước đã trở thành "doanh nghiệp do nhà nước đầu tư" sau khi các doanh nghiệp này chuyển đổi thành một tập đoàn hiện đại với đa đạng cơ cấu vốn Sở hữu công và tư nhân không được bảo hộ bình đẳng, nhưng đồng thời “thống nhất” trong một hệ thống như vậy Vì vậy, với một mức độ thấp nhất, sở hữu công và sở hữu tư nhân là rõ ràng trong sự biến hoá có tính chất thống trị ở cả hai mức độ chính sách và Hiến pháp

1.1.5.2 Tại Cộng hòa Liên bang Đức:

Trang 26

a) Quyền sở hữu và các loại hình sở hữu

- Vật quyền và quyền sở hữu

Trong chế độ xã hội có sự điều chỉnh của pháp luật, thì các đồ vật tồn tại không thể được sử dụng chung một cách tuỳ ý, mà mọi chế độ khai thác, định đoạt chúng phải xuất phát từ chế định pháp luật về quyền sở hữu - một trong những chế định pháp luật quan trọng nhất của vật quyền Bên cạnh quyền sở hữu với tính chất là vật quyền toàn diện nhất đối với vật, còn có các vật quyền khác như: quyền chiếm giữ, quyền hưởng dụng, các quyền địa dịch, quyền được xây dựng trên đất của người khác cũng như các quyền phát mại đối với những vật là vật bảo đảm

Phần thứ ba Bộ luật Dân sự của Đức quy định về vật quyền, bao gồm các quy định về: Quyền chiếm giữ, quyền sở hữu, thụ đắc và mất quyền sở hữu đối với động sản và bất động sản, bảo vệ quyền sở hữu và các vật quyền khác đối với vật như quyền xây dựng trên đất của người khác, quyền hưởng dụng, địa dịch, quyền thực tế, thế chấp đối với bất động sản và cầm cố đối với động sản.v.v

Tất cả các vật quyền đều mang tính chất là quyền tuyệt đối, tức là có hiệu lực đối

với mọi người Tất cả mọi người đều phải tôn trọng quyền đối với vật của người khác

Riêng quyền sở hữu được quy định với tính chất là một quyền tuyệt đối toàn diện nhất

Chủ sở hữu có quyền năng toàn diện đối với vật thuộc sở hữu của mình

- Khái niệm quyền sở hữu theo pháp luật tư

Điều 903 Bộ luật Dân sự Đức quy định: “Chủ sở hữu một vật có thể hành xử một cách tuỳ ý đối với vật đó và loại trừ mọi tác động của người thứ ba đối với vật của mình, nếu như không trái với pháp luật hoặc quyền của người khác” Như vậy, quyền sở hữu

theo pháp luật tư của Đức được hiểu là vật quyền toàn diện nhất đối với một vật Chỉ có

chủ sở hữu mới có vật quyền toàn diện đối với vật thuộc sở hữu của mình Chủ sở hữu

được tuỳ ý hành xử vật thuộc sở hữu của mình mà không cần phải được phép của bất kỳ

người nào (sử dụng, định đoạt, dùng vật để bảo đảm, phá huỷ, tiêu huỷ, khước từ quyền

sở hữu v.v ) Khái niệm “tuỳ ý hành xử”, theo quy định của Điều 903 Bộ luật Dân sự Đức được hiểu là việc hành xử các quyền năng đối với vật theo ý chí của chủ sở hữu Quyền hành xử vật tuỳ theo ý chí của chủ sở hữu tuy nhiên không phải là không có giới hạn Giới hạn này chính là khuôn khổ pháp luật (không trái với pháp luật hoặc quyền của người thứ ba)

Chủ sở hữu một vật được loại trừ mọi tác động của người thứ ba đối với đồ vật của mình Tác động có thể là những tác động vật lý có ảnh hưởng đến thể trạng của vật (ví dụ: đập phá hoặc làm hư hỏng vật.v.v ) hoặc là những tác động làm hạn chế khả năng hành

xử quyền của chủ sở hữu đối với đồ vật (chiếm giữ trái phép.v.v )

Quyền sở hữu được hiểu là một quyền thống lĩnh tuyệt đối của chủ thể đối với một vật và quyền này có hiệu lực đối với mọi người Từ quyền tuyệt đối này, chủ sở hữu vật

có các quyền cụ thể như yêu cầu hoàn trả sở hữu (nếu sở hữu bị tước đoạt), yêu cầu huỷ

bỏ những tác động làm ảnh hưởng đến quyền sở hữu hoặc quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do bị xâm phạm (khác so với quyền tuyệt đối, pháp luật của Đức quy định quyền tương đối của các chủ thể là các quyền yêu cầu cụ thể phát sinh từ các quan hệ trái vụ)

Theo Bộ luật Dân sự Đức, vật là các đối tượng hữu hình, tức là những đối tượng có thể sờ nắm được (Điều 90) Các tác phẩm văn học, nghệ thuật khoa học, các giải pháp kỹ thuật, mẫu công nghiệp.v.v là các quyền Quyền yêu cầu không được coi là vật Bộ luật Dân sự Đức chia vật thành hai loại, động sản và bất động sản Bất động sản bao gồm đất

Trang 27

và những cấu thành cơ bản của đất Động sản là mọi đồ vật mà vị trí không gian của chúng có thể được thay đổi được

Xuất phát từ đặc tính của hai loại vật nói trên, pháp luật dân sự của Đức quy định hai cách thức chuyển dịch quyền sở hữu khác nhau đối với động sản và bất động sản, thể hiện rõ nguyên tắc công khai thông qua việc chiếm giữ (đối với động sản) và đăng ký (đối với bất động sản) Ngoài ra, đối với một số vật quyền nhất định như địa dịch, nợ đất, nợ hoa lợi, thế chấp chỉ có thể được xác lập đối với bất động sản

Quyền sở hữu đối với một vật luôn là quyền sở hữu đối với vật với tính chất là một vật thống nhất Không có sở hữu đối với một phần của vật, mà chỉ có chế độ sở hữu chung đối với một vật thống nhất Đối với những vật có nhiều bộ phận cấu thành khác nhau, thì số phận pháp lý của những bộ phận cấu thành về cơ bản không bị phụ thuộc vào

số phận của bộ phận cấu thành chính

- Khái niệm quyền sở hữu theo pháp luật công:

Điều 14 Đạo luật cơ bản Đức (Hiến pháp) quy định: “Quyền sở hữu, quyền thừa

kế, tước quyền sở hữu

(1) Quyền sở hữu và quyền thừa kế được bảo đảm Nội dung và những hạn chế được quy định thông qua các Đạo luật

(2) Quyền sở hữu đồng thời là nghĩa vụ Việc sử dụng quyền sở hữu cần đồng thời phục

vụ lợi ích của cộng đồng

(3) Chỉ được tước quyền sở hữu vì lợi ích của cộng đồng Việc tước quyền sở hữu chỉ được thực hiện thông qua một Đạo luật hoặc trên cơ sở một Đạo luật quy định về cách thức và mức đền bù Việc đền bù được xác định trên cơ sở cân nhắc công bằng giữa lợi ích của cộng đồng và lợi ích của những người có liên quan Các tranh chấp liên quan đến mức bồi thường thiệt hại có thể được giải quyết thông qua Toà án thường” (Toà án dân sự)

Trong khi Điều 903 Bộ luật Dân sự Đức điều chỉnh mối quan hệ giữa chủ sở hữu với chủ thể khác của pháp luật tư, thì Điều 14 Hiến pháp điều chỉnh mối quan hệ giữa chủ

sở hữu với Nhà nước Sự bảo đảm quyền sở hữu theo quy định của khoản 1 Điều 14 Hiến pháp, trước hết được hiểu là sự bảo đảm của Nhà nước đối với quyền sở hữu của cá nhân các công dân Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm sự tồn tại của quyền sở hữu của công dân với tính chất là cơ sở của sự phát triển tự do của cá nhân Sự tự do phát triển phụ thuộc vào sự tồn tại quyền sở hữu đối với tài sản Về nguyên tắc, quyền sở hữu của công dân đối với các đối tượng thuộc tài sản của họ không bị tước bỏ Trên cơ sở của Điều 14, công dân có quyền tự vệ chống lại mọi hành vi xâm phạm quyền sở hữu, kể cả các hành

vi được thực hiện từ phía các cơ quan công quyền của Nhà nước Với tính chất là sự bảo đảm cho các quyền sở hữu của công dân, khoản 1 Điều 14 chỉ bảo vệ quyền sở hữu đã thụ đắc, không bảo đảm những cơ hội thụ đắc hoặc khả năng thu nhập

Câu 2 khoản 1 Điều 14 Hiến pháp quy định: nội dung và những hạn chế quyền sở hữu được phải được quy định trong luật Nếu pháp luật không quy định thì Nhà nước không được tuỳ tiện hạn chế quyền sở hữu của công dân đối với vật thuộc sở hữu của họ Đối với đất đai, có rất nhiều giới hạn đối với quyền sở hữu theo pháp luật công, ví dụ như giới hạn quy định trong pháp luật về quy hoạch xây dựng, tiêu chuẩn xây dựng, giấy phép xây dựng, về giao thông, về sử dụng đất nông nghiệp và về bảo tồn thiên nhiên, di tích lịch sử

Trang 28

Câu 1 khoản 2 Điều 14 quy định: chủ sở hữu tài sản đồng thời cũng có nghĩa vụ Thuộc vào những nghĩa vụ của chủ sở hữu là nghĩa vụ đóng thuế cho Nhà nước hoặc nghĩa vụ của chủ sở hữu đất đối với lối đi công cộng liền kề (dọn tuyết trên lối đi công cộng liền kề) Câu 2 khoản 2 Điều 14 buộc chủ sở hữu phải sử dụng quyền sở hữu của mình đồng thời vì lợi ích chung của cộng đồng

Khoản 3 Điều 14 quy định về ngoại lệ mà theo đó quyền sở hữu công dân có thể bị tước bỏ trong những trường hợp nhất định Những trường hợp nhất định này phải được quy định bằng các Đạo luật hoặc thông qua các Đạo luật Các Đạo luật này còn quy định

về cách thức và mức độ đền bù trong trường hợp quyền sở hữu bị tước đoạt Như vậy, sự

bảo đảm về sự tồn tại của quyền sở hữu trong trường hợp này được chuyển thành sự bảo

đảm bằng giá trị tương ứng Người bị tước đoạt quyền sở hữu đối với một đối tượng được

đền bù bằng một đối tượng khác có giá trị tương tự hoặc được bồi thường một khoản tiền

có giá trị tương đương với quyền sở hữu đã bị mất

Sự bảo đảm theo quy định của Điều 14 Hiến pháp Đức còn được hiểu là một bảo đảm chế định, tức là, Quốc hội Đức phải bảo đảm tạo ra một hệ thống các quy phạm pháp luật bảo đảm cho hoạt động tự do trong lĩnh vực quyền tài sản Điều này có nghĩa là Điều

14 Hiến pháp chứa đựng sự bảo đảm của Nhà nước về sự tồn tại của chế định pháp luật tư

về các quyền tài sản

- Các quyền năng từ quyền sở hữu

Điều 903 Bộ luật Dân sự Đức quy định: “Chủ sở hữu một vật có thể tuỳ ý hành xử đối với vật đó, nếu không trái với pháp luật quyền của người thứ ba và loại trừ mọi tác động của người thứ ba vào vật” Khác so với quy định của Bộ luật Dân sự Việt Nam, Bộ luật Dân sự của Đức không liệt kê chủ sở hữu có những quyền năng gì đối với vật thuộc

sở hữu của họ, mà quy định các quyền năng bằng một quy định chung “có thể tuỳ ý” thực hiện mọi hành vi đối với vật thuộc sở hữu của mình, nếu không trái với pháp luật hoặc quyền của người thứ ba Các khả năng khai thác cụ thể phụ thuộc vào loại vật và các khả năng này có thể đã tồn tại hoặc có thể sẽ xuất hiện trong tương lai Tuy nhiên có thể khái quát bằng hai nhóm quyền năng chính như sau:

+ Quyền khai thác

Điều 903 Bộ luật Dân sự Đức không liệt kê các quyền cụ thể về sử dụng vật của chủ sở hữu đồ vật đó mà trao cho chủ sở hữu một quyền chung được hành xử quyền sở hữu của mình bằng mọi khả năng có thể (ví dụ: tự mình chiếm giữ và sử dụng hoặc cho người khác sử dụng); chủ sở hữu tuỳ ý quyết định về việc mình có sử dụng vật của mình hay không và nếu có thì cách thức sử dụng như thế nào (ví dụ có thể khai thác một chiếc máy bằng cách đưa máy vào sản xuất hoặc có thể bán chiếc máy đi hoặc dùng chiếc máy

để nghiên cứu, cải tạo thành chiếc máy khác để thực hiện những chức năng khác so với chức năng thiết kế ban đầu.v.v ) Ngoài ra, Điều 903 còn tạo cơ sở cho chủ sở hữu định đoạt về số phận pháp lý của vật thuộc sở hữu của mình (chuyển dịch quyền sở hữu thông qua bán, đổi, tặng hoặc để lại thừa kế hoặc khước từ quyền sở hữu đối với vật hoặc thiết lập quyền của người thứ ba đối với vật thuộc sở hữu của mình, ví dụ như thế chấp, cầm cố.v.v ) Ngoài ra, chủ sở hữu vật quyết định về việc có cho người khác tiếp cận tới vật của mình hay không, có cho chụp ảnh vật thuộc sở hữu của mình và trưng bày ảnh hay không Tuy nhiên những quyền năng này của chủ sở hữu không phải là không có giới hạn Giới hạn ở đây là các quy định của pháp luật và quyền của người thứ ba

+ Quyền loại trừ tác động của người thứ ba

Trang 29

Quyền của chủ sở hữu được hành xử tuỳ ý đối với đồ vật của mình được bổ sung bằng quyền được loại trừ tác động ảnh hưởng người thứ ba đối với quyền sở hữu (quyền loại trừ) Những tác động theo nghĩa của quyền loại trừ này bao gồm mọi dạng tác động ảnh hưởng đến quyền sở hữu, bất kể chủ sở hữu có chiếm giữ, sử dụng vật của mình hay không

Những tác động này có thể là những can thiệp trái phép vào không gian của vật (ví

dụ như lấy đồ vật trái phép, xâm nhập trái phép vào đất, nhà của người khác, đổ đồ phế thải xây dựng vào đất của người khác, thải các chất thải như hơi, khí, nước thải vào đất của người khác.v.v ) hoặc là những tác động ngăn cản sự kết nối tự nhiên của vật với môi trường ảnh hưởng đến chức năng của vật (ví dụ như xây nhà cao tầng ở sát ranh giới thửa đất liền kề làm cho ngôi nhà trên thửa đất liền kề bị che khuất ánh sáng hoặc cản đường lưu thông của không khí hoặc chặn đường thoát nước gây ngập úng cho thửa đất bên cạnh.v.v )

Những tác động mang tính tinh thần gây cho chủ sở hữu một vật những cảm nhận khó chịu do bị ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục (ví dụ: trong một khu dân cư, chủ một thửa đất dùng thửa đất của mình để chứa ô tô phế thải Chủ sở hữu của thửa đất liền kề mỗi lần mở cửa sổ nhìn ra không gian lại bị đập vào mắt những chiếc xe rỉ Sự ảnh hưởng

mà chủ sở hữu thửa đất liền kề thửa đất chứa ô tô phế thải phải chịu đựng theo quan điểm của Toà án Đức được coi là ảnh hưởng về thuần phong mỹ tục) Ngoài ra, việc chụp ảnh

và trưng bày trái phép vật thuộc sở hữu của người khác cũng bị coi là những hành vi tác động trái phép vào quyền sở hữu

Quyền loại trừ tác động trái phép của người thứ ba vào vật được thực hiện thông qua quyền yêu cầu hoàn trả vật (các điều từ 925 trở đi), quyền yêu chấm dứt hành vi vi phạm và huỷ bỏ những yếu tố gây tác động trái phép vào quyền sở hữu (Điều 1004 Bộ luật Dân sự Đức)

- Các hình thức sở hữu

Pháp luật của Đức quy định hai hình thức sở hữu, đó là sở hữu riêng và sở hữu chung Chủ sở hữu có thể là cá nhân hoặc pháp nhân Ngoài ra, Luật về sở hữu căn hộ của Đức năm 1951 đưa ra một dạng sở hữu đặc thù đó là sở hữu căn hộ Đây là một dạng sở hữu kết hợp giữa sở hữu chung và sở hữu riêng

là sở hữu riêng của một người hoặc một pháp nhân, nhưng về phương diện kinh tế thì đây

là một dạng sở hữu đặc biệt, vì chủ sở hữu pháp lý (chủ sở hữu thác quản) và chủ sở hữu kinh tế là những chủ thể khác nhau Ví dụ, một người là công dân nước ngoài, không được thụ đắc đất trong nước, nhờ một người trong nước mua đất và quản lý thửa đất đó cho mình Trong trường hợp này, người trong nước sẽ là chủ sở hữu pháp lý đối với thửa đất Tuy nhiên, chủ sở hữu pháp lý này hành xử các quyền sở hữu theo sự chỉ dẫn của chủ

sở hữu kinh tế Tính đặc thù của loại hình sở hữu này bắt nguồn từ quan hệ thác quản, một loại quan hệ nghĩa vụ Theo quan hệ thác quản, chủ sở hữu thác quản có thể có những nghĩa vụ đặc biệt đối với chủ sở hữu kinh tế, ví dụ như chỉ được phép sử dụng tài sản theo những mục đích nhất định Nếu chủ sở hữu thác quản vi phạm nghĩa vụ này thì sự vi

Trang 30

phạm này không làm ảnh hưởng đến địa vị của chủ sở hữu thác quản nhưng có thể phát sinh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu kinh tế trên cơ sở quan hệ thác quản Tuỳ theo nội dung của sự ràng buộc về mục đích trong quan hệ thác quản mà người ta phân biệt quyền sở hữu thác quản thành sở hữu thác quản không vì lợi ích riêng và sở hữu thác quản vì lợi ích riêng

Sở hữu thác quản không vì lợi ích riêng: theo hình thức này, chủ sở hữu pháp lý chỉ được chỉ được sử dụng sở hữu thác quản vào những mục đích phục vụ lợi ích của chủ

sở hữu kinh tế

Sở hữu thác quản vì lợi ích riêng: theo hình thức này, thì trong một phạm vi nhất định, chủ sở hữu pháp lý sử dụng sở hữu thác quản phục vụ lợi ích của mình Tuy nhiên chủ sở hữu thác quản không hoàn toàn được sử dụng vật thác quản cho lợi ích của mình

mà chỉ được sử dụng trong phạm vi được quy định trong hợp đồng giữa chủ sở hữu kinh

tế và chủ sở hữu thác quản Ở Đức, loại hình sở hữu này thường được vận dụng trong lĩnh vực chuyển giao quyền sở hữu để bảo đảm tín dụng

+ Sở hữu chung:

Theo pháp luật dân sự của Đức thì trong trường hợp quyền sở hữu của nhiều người thì hình thức sở hữu đó gọi là sở hữu chung Có hai loại sở hữu chung là sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất

* Về sở hữu chung theo phần

Trong trường hợp một vật thuộc quyền sở hữu chung của nhiều người theo cách

mà mỗi người có quyền sở hữu đối với một phần có thể tính toán được trong tư duy đối với đối tượng sở hữu, ví dụ hai người cùng góp một lượng tiền bằng nhau để mua một chiếc xe máy, về phương diện tư duy tính toán thì mỗi người sẽ sở hữu một nửa giá trị của chiếc xe máy Việc chia đôi chiếc xe máy bằng hiện vật không bao giờ diễn ra trên thực tế

và không thể có quyền sở hữu đối với một phần hiện vật của một vật thống nhất độc lập (ví dụ như đối với phần bánh trước của chiếc xe máy) Quyền sở hữu chung theo phần được hiểu là quyền sở hữu của người đó đối với toàn bộ vật với một giá trị kinh tế thống nhất, đồng thời, quyền của đồng sở hữu chung theo phần đó bị hạn chế thông qua quyền

sở hữu của các đồng chủ sở hữu khác

Nếu pháp luật không có quy định khác, thì sở hữu chung của nhiều người đối với một vật được coi là sở hữu chung theo phần (Điều 741) Trong trường hợp không xác định rõ phần của mỗi người trong vật sở hữu chung, thì được suy đoán là mỗi đồng sở hữu chủ có một phần sở hữu bằng nhau Mỗi đồng chủ sở hữu được hưởng một phần hoa lợi theo tỷ lệ phần sở hữu của mình Khác với hình thức sở hữu chung hợp nhất, chủ sở

hữu chung theo phần có thể tự do định đoạt về phần quyền của mình (Điều 747) Đồng

chủ sở hữu chung theo phần có thể dùng phần quyền sở hữu của mình để bảo đảm và phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu có thể bị tịch biên (việc hành xử quyền sở hữu và quản lý đối với vật thuộc sở hữu chung theo phần được thực hiện theo các điều 741-745

và kết hợp với Điều 1008 đến 1011 Bộ luật Dân sự Đức)

* Về sở hữu chung hợp nhất

Sở hữu chung hợp nhất là trường hợp một vật hoặc một khối tài sản thuộc quyền

sở hữu của nhiều người và mỗi người không được độc lập định đoạt phần quyền sở hữu

của mình đối với vật mà tất cả các đồng chủ sở hữu cùng định đoạt (ví dụ: khoản 1 Điều

719 Bộ luật Dân sự Đức quy định: “Thành viên công ty dân sự - không là pháp nhân - không thể định đoạt phần sở hữu của mình trong khối tài sản của công ty và các đối tượng

Trang 31

riêng rẽ thuộc tài sản của công ty; thành viên của công ty cũng không có quyền yêu cầu phân chia tài sản của công ty” Quyền và nghĩa vụ của công ty là quyền và nghĩa vụ chung của các đồng sở hữu chung hợp nhất Mỗi đồng sở hữu chung hợp nhất chịu trách nhiệm đối với toàn bộ khoản nợ chung bằng tài sản của công ty và bằng tài sản riêng với

tư cách là đồng mắc nợ liên đới và thực hiện quyền yêu cầu chung với tư cách là đồng chủ

nợ liên đới và không được lấy quyền đòi nợ chung để bù trừ cho khoản nợ riêng của mình

Bộ luật Dân sự Đức quy định ba trường hợp sở hữu chung hợp nhất Đó là sở hữu đối với tài sản của công ty dân sự không có tư cách pháp nhân (Điều 718 và 719), sở hữu đối với tài sản chung của vợ chồng (Điều 1416) và đối với di sản thừa kế (Điều 2032) Bên cạnh Bộ luật Dân sự, Bộ luật Thương mại cũng quy định hình thức sở hữu chung hợp nhất đối với công ty hợp danh (OHG) và công ty thụ vốn đơn giản (KG) (khoản 2 Điều

105 và khoản 2 Điều 161 Bộ luật Thương mại Đức) Ngoài các trường hợp do pháp luật quy định, thoả thuận giữa các bên với nhau về các trường hợp sở hữu chung hợp nhất khác không được pháp luật thừa nhận

b) Hạn chế đối với quyền sở hữu - Sự cần thiết và cơ sở của sự hạn chế quyền sở hữu

Điều 903 Bộ luật Dân sự Đức quy định, chủ sở hữu có thể tuỳ ý hành xử đối với vật thuộc sở hữu của mình, nếu như việc hành xử đó không trái với pháp luật hoặc quyền của người thứ ba Giới hạn của sự tuỳ ý theo quy định của Điều 903 được hiểu là một trật

tự cần thiết, có thể chấp nhận được của cuộc sống chung trong xã hội Giới hạn đối với quyền sở hữu chính là sự điều chỉnh cần thiết của quyền tự do sử dụng định đoạt quyền sở hữu để phù hợp với cuộc sống chung của trong xã hội Giới hạn quyền sở hữu này cũng được khẳng định trong câu 2 khoản 1 Điều 14 Hiến pháp: “Nội dung và những giới hạn đối với quyền sở hữu được xác thông qua các đạo luật” Do vậy khi hành xử quyền sở hữu, trong trường hợp cụ thể, chủ sở hữu phải tính đến những giới hạn được quy định trong pháp luật

Theo quy định tại câu 2 khoản 1 Điều 14 Hiến pháp, thì Quốc hội Đức có thể quy định những hạn chế đối với quyền sở hữu Những hạn chế quyền sở hữu theo quy định của khoản 2 Điều 14 Hiến pháp không phải là sự tước quyền sở hữu theo quy định của khoản 3 Điều 14 Hiến pháp nên không phải đền bù

Khoản 3 Điều 14 Hiến pháp quy định về việc tước quyền sở hữu với tính chất là sự hạn chế lớn nhất đến quyền sở hữu, có thể làm triệt tiêu quyền sở hữu Khoản này quy định việc tước quyền sở hữu chỉ được thực hiện nếu có đủ điều kiện sau:

c) Bảo vệ quyền sở hữu

Vì quyền sở hữu cho phép chủ sở hữu của một vật được tự do hành xử đối với đồ vật đó, nên pháp luật phải cung cấp cho chủ sở hữu các công cụ tự vệ để loại trừ mọi tác động trái phép ảnh hưởng đến quyền sở hữu của mình, bất kể những tác động này do nhân hay cơ quan Nhà nước gây ra

Trang 32

- Bảo vệ chống lại các biện pháp lập pháp

Đối với nhà lập pháp, quyền sở hữu không phải là không có giới hạn Quốc hội được phép quy định về nội dung và giới hạn của quyền sở hữu (câu 2 khoản 1 Điều 14 Hiến pháp) và dưới những điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 14 Hiến pháp, có thể thực hiện việc tước quyền sở hữu

Trong trường hợp quyền sở hữu bị ảnh hưởng một cách trái phép thông qua một Đạo luật, thì chủ sở hữu có thể kiện ra Toà án Hiến pháp chống lại Đạo luật do Quốc hội thông qua (điểm 4a khoản 1 Điều 93 Hiến pháp và Điều 90 Luật Toà án Hiến pháp Liên bang) Ví dụ, Quốc hội thông qua nhưng không đáp ứng các yêu cầu của khoản 3 Điều 14 Hiến pháp, chủ sở hữu một đối tượng trực tiếp bị mất quyền sở hữu thông qua Đạo luật đó

có quyền kiện ra Toà án Hiến pháp Liên bang Trong trường hợp này, sự tồn tại của quyền sở hữu được bảo vệ thông qua Toà án Hiến pháp

Nếu việc tước quyền sở hữu thông qua một Đạo luật hợp pháp, nhưng người bị mất quyền sở hữu không đồng ý với mức bồi hoàn, thì việc bảo hộ về sự tồn tại của quyền sẽ được thay thế bằng sự bảo hộ giá trị của quyền Trong trường hợp này, việc bảo vệ quyền được thay thế bằng việc bảo vệ quyền được đền bù theo mức hợp lý thông qua thủ tục tố tụng tại Toà án dân sự

- Bảo vệ trước các biện pháp hành chính

Cơ quan hành chính có thể làm ảnh hưởng đến quyền sở hữu thông qua quyết định hành chính (ví dụ như quyết định hành chính về việc phá bỏ một công trình xây dựng hoặc quyết định tịch thu một vật của công dân) Cơ quan hành chính chỉ được ra những quyết định hành chính can thiệp vào quyền sở hữu của công dân, nếu chúng được ban hành trên cơ sở một Đạo luật và quyết định hành chính đó được thông qua theo đúng thủ tục hành chính do pháp luật quy định Để chống lại quyết định hành chính có ảnh hưởng đến quyền sở hữu, chủ sở hữu có thể đưa đơn kiện đến Toà án hành chính yêu cầu huỷ bỏ quyết định hành chính trái pháp luật (đơn kiện huỷ bỏ theo khoản 1 Điều 42 Luật Thủ tục

tố tụng)

Quyền sở hữu cũng có thể bị hạn chế theo cách thức bị cơ quan quản lý hành chính

từ chối cấp giấy phép mà không có căn cứ pháp luật (ví dụ chủ sở hữu một thửa đất muốn xây dựng nhưng cơ quan cấp phép xây dựng từ chối việc cấp phép xây dựng mà không có căn cứ pháp luật) Trong trường hợp này, chủ sở hữu có quyền kiện ra Toà án hành chính buộc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải cấp phép cho mình (đơn kiện phải thực hiện nghĩa vụ theo khoản 1 Điều 42 Luật Thủ tục tố tụng)

Trong nhiều trường hợp, quyền sở hữu có thể bị vi phạm thông qua các Nghị định hoặc quy chế của chính quyền địa phương Trong trường hợp này, chủ sở hữu có quyền yêu cầu Toà án hành chính mở thủ tục kiểm tra các quy phạm của các văn bản pháp quy

có liên quan (Điều 47 Luật Thủ tục tố tụng)

Trong trường hợp quyền sở hữu bị ảnh hưởng thông qua hành vi hành chính, chủ

sở hữu có quyền kiện ra Toà án hành chính yêu cầu cơ quan hành chính phải chấm dứt hành vi hành chính đó (khoản 2 Điều 43 Luật Thủ tục tố tụng) Trong trường hợp chủ sở hữu bị thiệt hại thông qua hành vi công quyền, thì có thể kiện yêu cầu được đền bù theo khoản 3 Điều 14 Hiến pháp hoặc trong trường hợp cơ quan công quyền có lỗi có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại theo Điều 836 Bộ luật Dân sự

- Bảo vệ trước phán quyết của Toà án

Trang 33

Trong trường hợp chủ sở hữu cho rằng quyền sở hữu của mình bị vi phạm thông qua một phán quyết sai của Toà án, thì chủ sở hữu đó có thể kiện ra Toà án Hiến pháp liên Bang trên cơ sở của Điều 14 Hiến pháp (điểm 4a khoản 1 Điều 93 Hiến pháp và Điều 90 Luật Toà án Hiến pháp Liên bang), nếu đã tận dụng mọi khả năng kiện tụng thông qua các Toà án khác

- Bảo vệ trước tác động của cá nhân, pháp nhân theo pháp luật tư

Việc bảo vệ quyền sở hữu trước những tác động thông qua cá nhân, pháp nhân của pháp luật tư được thực hiện trên cơ sở các quy định pháp luật dân sự Việc bảo hộ này được thực hiện thông qua những quyền tự vệ như quyền yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm, quyền huỷ bỏ những tác động đối với quyền sở hữu và quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại để đền bù giá trị quyền sở hữu cho chủ sở hữu

1.1.5.3 Tại Cộng hoà Liên bang Nga:

Bộ luật Dân sự Cộng hoà Liên bang Nga năm 1994 có 6 phần, 68 Chương với

1224 Điều:

Phần 1: Quy định chung (từ Điều 1 - 208)

Phần 2: Quyền sở hữu và các loại vật quyền khác (từ Điều 209 - 306)

Phần 3: Phần chung về Luật nghĩa vụ (trái vụ) (từ điều 307 - 453)

Phần 4: Các loại nghĩa vụ cụ thể (từ Điều 454 - 1109)

Phần 5: Quyền thừa kế (từ Điều 1110 - 1185)

Phần 6: Tư pháp quốc tế (từ Điều 1186 - 1224)

Sau đây là nội dung cơ bản của pháp luật về sở hữu ở Cộng hoà Liên bang Nga

a) Các hình thức sở hữu và loại sở hữu

tư nhân với các hình thức sở hữu khác chủ yếu là vì chế độ pháp lý đối với tài sản trong hình thức sở hữu này có một số đặc thù như sau:

Thứ nhất, tài sản này thuộc về một người, của một người (cá nhân, pháp nhân) Thứ hai, tài sản với tư cách là khách thể của quyền sở hữu tư nhân có phần bị hạn

chế hơn về chủng loại và về quy mô so với tài sản thuộc các hình thức sở hữu khác, nhất

là sở hữu nhà nước Ví dụ, theo pháp luật dân sự Cộng hoà Liên bang Nga thì chủ sở hữu

tư nhân có thể bị Luật Liên bang cấm sở hữu một số loại tài sản và hạn chế về mặt khối lượng đối với một số tài sản mà họ có thể sở hữu

Thứ ba, chủ sở hữu tư nhân là người có quyền thực hiện các quyền năng đối với tài

sản của mình một cách độc lập, không cần phải tham khảo ý kiến của bất cứ ai khác, không phụ thuộc vào ý chí của bất cứ người nào khác Như vậy, chủ sở hữu tư nhân được độc lập hơn nhiều so với các chủ sở hữu khác trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình

Đối với sở hữu của Nhà nước thì tình hình lại khác Trong hình thức sở hữu này, chủ sở hữu là Nhà nước nói chung bao gồm một hệ thống các cơ quan và các cơ quan này trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình được giao quyền hạn nhất định liên quan đến việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của Nhà nước Tóm lại, trên thực tế, Nhà

Trang 34

nước với tư cách là chủ sở hữu tài sản bao gồm nhiều cơ quan khác nhau mà không phải

là một chủ thể pháp lý duy nhất Ngoài ra, khi Nhà nước giao tài sản của mình cho các chủ thể khác sử dụng thì Nhà nước không giao toàn bộ các quyền năng mà chỉ giao có mức độ mà thôi Vì vậy, người được giao tài sản của Nhà nước không bao giờ có thể thực hiện 3 quyền năng của mình một cách đầy đủ, độc lập và họ chỉ được chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản này theo ý chí của chủ sở hữu nhà nước mà không được tự mình quyết định

- Loại sở hữu

Trong một hình thức sở hữu lại có thể có các loại sở hữu Có thể có các loại sở hữu trong một hình thức sở hữu nào đó vì trong một hình thức sở hữu đôi khi có thể có nhiều nhóm chủ sở hữu khác nhau và các nhóm người này có thể có một số quyền năng đặc thù

mà nhóm người khác không thể có Ví dụ, trong sở hữu chung có sở hữu chung theo phần

và có sở hữu chung hợp nhất Sở hữu chung theo phần là loại sở hữu mà ở đó các phần quyền của các đồng sở hữu chủ đã được xác định, không thể lẫn lộn; chủ thể này không thể sử dụng tài sản thuộc phần quyền của chủ sở hữu khác vì khách thể quyền sở hữu của

họ trong khối tài sản chung đã được xác định rõ Trong sở hữu chung hợp nhất thì tất cả đồng chủ sở hữu đều có chung một khối tài sản và vì vậy họ đều có quyền như nhau đối với khối tài sản chung đó Tóm lại, trong sở hữu chung, mặc dù tất cả các chủ sở hữu đều được gọi là đồng chủ sở hữu nhưng do tài sản chung đó có trường hợp được xác định rõ cho từng người, có trường hợp lại không được xác định rõ nên chế độ pháp lý đối với tài sản chung trong hai trường hợp này là khác nhau Đây chính là lý do để chia sở hữu chung thành hai loại sở hữu là sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất

b) Căn cứ phát sinh, chấm dứt quyền sở hữu

- Căn cứ phát sinh quyền sở hữu (Chương 14 Bộ luật Dân sự)

Trong Chương này, Bộ luật đã liệt kê một danh mục không đầy đủ và do đó có thể

có những căn cứ làm phát sinh quyền sở hữu khác nếu không trái pháp luật Theo Điều

218 Bộ luật Dân sự thì căn cứ phát sinh quyền sở hữu bao gồm:

Trong các loại căn cứ làm phát sinh quyền sở hữu có một loại căn cứ gọi là thời

hiệu xác lập quyền Theo căn cứ này thì cá nhân, pháp nhân có thể trở thành chủ sở hữu

tài sản nếu đã chiếm giữ tài sản đó với thời hạn là 15 năm (đối với bất động sản) và 5 năm (đối với động sản) Tuy nhiên, để trở thành chủ sở hữu, ngoài thời hạn như vừa nêu trên thì sự chiếm hữu còn phải thoả mãn ba điều kiện khác là sự chiếm hữu phải ngay tình, công khai và liên tục

Thủ tục xác lập quyền sở hữu do sự kiện chiếm hữu ngay tình, công khai, liên tục đối với bất động sản khác với động sản Điều này thể hiện ở chỗ, đối với bất động sản thì người cho rằng mình là chủ sở hữu tài sản phải có đơn yêu cầu toà án để toà án ra quyết

Trang 35

định công nhận quyền cho họ Quyết định của toà án về việc chấp nhận đơn yêu cầu này

là căn cứ pháp lý để đương sự làm thủ tục đăng ký tài sản tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Từ thời điểm đăng ký, quyền sở hữu đối với bất động sản được phát sinh ở người chiếm giữ

- Căn cứ chấm dứt quyền sở hữu

Căn cứ chấm dứt quyền sở hữu khác nhau thì sẽ dẫn đến các hậu quả pháp lý khác nhau Nếu căn cứ vào ý chí của chủ sở hữu (người bị mất quyền sở hữu) thì căn cứ chấm dứt quyền sở hữu được chia thành ba nhóm:

Nhóm thứ nhất: đây là nhóm căn cứ mà ở đó, quyền sở hữu bị chấm dứt ngoài sự

mong muốn của chủ sở hữu do sự tác động của thiên tai hoặc do các nguyên nhân khác Trong trường hợp này, chủ sở hữu chỉ có thể yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại nếu người gây ra thiệt hại đối với tài sản của mình là có lỗi hoặc tài sản đã được bảo hiểm (Điều

929, 930, 947-956)

Nhóm thứ hai: Theo nhóm căn cứ này thì quyền sở hữu bị chấm dứt theo ý chí của

chủ sở hữu thông qua các hành vi sử dụng và định đoạt của họ Ví dụ, chủ sở hữu tiêu dùng tài sản của mình (ăn, uống ), tiêu huỷ tài sản một cách hợp pháp hoặc bán, tặng, cho, đổi chác tài sản

Nhóm thứ ba: Theo nhóm căn cứ này thì quyền sở hữu bị chấm dứt một cách trái

với ý muốn của chủ sở hữu

Tại khoản 2 Điều 235 quy định một cách đầy đủ các căn cứ thuộc nhóm này Sự liệt kê này là không được giải thích rộng hơn và cũng không thể được bổ sung thêm bởi các luật khác Các căn cứ chấm dứt quyền sở hữu này có hai đặc điểm: một là, tài sản bị tước đoạt thì phải được bồi hoàn về giá trị và hai là, các căn cứ này chỉ áp dụng cho các hình thức sở hữu không phải là sở hữu công cộng.Ví dụ, tài sản có giá trị lớn về mặt văn hoá dân tộc sẽ bị tịch thu nếu không được chủ sở hữu bảo quản tốt, có thể dẫn đến nguy

cơ bị hư hỏng hoặc bị tiêu huỷ (Điều 240) Các loại gia cầm cũng có thể bị tước đoạt khỏi chủ sở hữu nếu họ đối xử vô nhân đạo đối với chúng (Điều 241)

Đặc biệt, đối với bất động sản thì Nhà nước còn có thái độ nghiêm khắc hơn Điều này thể hiện ở chỗ, đối với một số bất động sản như đất sản xuất nông nghiệp, Nhà nước

sẽ thu hồi nếu sau ba năm kể từ ngày có đất mà đất không được sử dụng, khai thác hoặc được sử dụng, khai thác không đúng theo quy định của pháp luật đất đai (Điều 285) Đối với nhà ở cũng vậy, nếu nhà ở không được sử dụng đúng mục đích thì cũng trong thời gian ba năm kể từ ngày có nhà ở, Nhà nước cũng sẽ thu hồi (Điều 293)

Quốc hữu hoá cũng được pháp luật Cộng hoà Liên bang Nga quy định với tư cách

là một căn cứ chấm dứt quyền sở hữu Năm 2003 Nga đã ban hành luật Liên bang:“về việc chuyển tài sản thuộc sở hữu của công dân, pháp nhân thành sở hữu của Cộng hoà Liên bang Nga” Theo Luật này, thì người có tài sản bị quốc hữu hoá sẽ được Nhà nước bồi thường giá trị và nếu có tranh chấp có thể xảy ra thì sẽ do toà án giải quyết

c) Bảo vệ quyền sở hữu và các loại vật quyền khác

- Các loại vật quyền

Ngoài quyền sở hữu, ở Cộng hoà Liên bang Nga còn có các loại vật quyền khác sau đây (Điều 216 Bộ luật Dân sự):

+ Quyền sử dụng đất suốt đời và có thể để lại thừa kế (Điều 265);

+ Quyền tiến hành kinh doanh (đối với doanh nghiệp nhà nước (Điều 294);

+ Quyền quản lý nghiệp vụ (đối với các cơ quan, tổ chức nhà nước (Điều 296 )

Trang 36

- Đặc trưng của vật quyền

Các loại vật quyền nêu trên đều có chung một số đặc trưng sau đây:

Một là, đều mang tính chất tuyệt đối Vật quyền là quyền dân sự tuyệt đối Điều

này thể hiện ở chỗ, các chủ thể khác (ngoài chủ sở hữu) đều phải tôn trọng và không vi phạm quyền của chủ sở hữu tài sản Đây là đặc điểm giúp chúng ta phân biệt vật quyền với trái quyền Trái quyền là loại quyền dân sự tương đối vì chủ thể của trái quyền luôn luôn được xác định (đối diện với người mua là người bán; đối diện với người cho thuê là người thuê ) và vì vậy, trong quan hệ trái quyền, các chủ thể luôn luôn được xác định còn trong vật quyền chỉ có một bên được xác định (chủ sở hữu tài sản) còn bên kia là tất

cả những người còn lại và không được xác định một cách cụ thể

Hai là, tất cả các vật quyền đều được luật (văn bản do cơ quan lập pháp ban hành)

quy định, các chủ thể của thị trường (chủ thể kinh doanh) không thể tự mình đặt ra các loại vật quyền theo ý muốn của mình

Ba là, đối với tất cả các loại vật quyền, pháp luật đều đặt ra một số cơ chế pháp lý

đặc biệt để bảo vệ, đó là cơ chế “kiện đòi lại vật” và cơ chế “kiện yêu cầu chấm dứt hành

vi cản trở chủ sở hữu thực hiện các quyền năng của mình”

- Bảo vệ quyền sở hữu

Tất cả các ngành luật, từ hình sự, hành chính đến dân sự đều góp phần mình vào việc bảo vệ quyền sở hữu nói riêng và vật quyền nói chung

+ Bảo vệ quyền sở hữu theo nghĩa rộng bao gồm các việc: (1) bảo đảm các điều kiện để chủ sở hữu sử dụng tài sản của mình một cách có hiệu quả; (2) tạo điều kiện để quyền sở hữu được xác lập một cách nhanh chóng, thuận lợi; (3) xây dựng các cơ chế để bảo vệ tính bất khả xâm phạm của quyền sở hữu

+ Theo nghĩa hẹp, thì bảo vệ quyền sở hữu phải thực hiện ba loại công việc: (1) ngăn ngừa và trừng phạt các hành vi trái pháp luật; xâm hại đến quyền sở hữu của chủ sở hữu tài sản; (2) khôi phục các quyền bị vi phạm; (3) khắc phục các hậu quả xấu do các hành vi vi phạm gây ra cho chủ sở hữu tài sản

- Các cách thức bảo vệ quyền sở hữu

Về mặt dân sự, ở nước Nga có hai phương thức chủ yếu sau đây:

+ Kiện đòi lại vật Cách thức này được áp dụng khi có các điều kiện sau đây:

* Người đi kiện phải có bằng chứng chứng minh rằng mình là chủ sở hữu đích thực của tài sản đó;

* Người đi kiện là người trên thực tế đã không chiếm giữ được tài sản;

* Tài sản mà người đó kiện đòi lại là vật đặc định;

* Tài sản này đang tồn tại dưới trạng thái vật chất, còn nguyên vẹn, không bị tiêu huỷ, không bị làm lại;

* Tài sản trên thực tế đang nằm trong tay người bị kiện

Việc kiện đòi có thể được toà án chấp nhận nếu người chiếm hữu là người không ngay tình Người chiếm hữu không ngay tình là người biết hoặc cần phải biết rằng, việc chiếm hữu của mình đối với tài sản là không hợp pháp Ví dụ, mua tài sản khi biết rằng tài sản đó là do ăn cắp mà có hoặc mua tài sản với giá rẻ quá mức Người chiếm hữu không ngay tình không bao giờ được công nhận là chủ sở hữu đối với tài sản và do đó, trong mọi trường hợp, tài sản phải được trả cho người chủ của nó Ngoài ra, người chiếm hữu không ngay tình còn phải trả tất cả các khoản thu nhập có được từ tài sản này trong thời gian chiếm hữu bất hợp pháp

Trang 37

Nếu người chiếm hữu tài sản là ngay tình (không biết và không thể biết được rằng việc chiếm hữu của mình là bất hợp pháp) thì việc giải quyết đơn yêu cầu sẽ được toà án

xử lý như sau: tài sản sẽ được trả lại cho chủ cũ trong hai trường hợp: thứ nhất, người chiếm hữu ngay tình có được tài sản mà không phải trả tiền; thứ hai, tài sản rời khỏi sự

chiếm hữu của chủ cũ ngoài ý muốn của họ (bị ăn cắp hoặc bị đánh rơi) Chủ sở hữu phải chứng minh về việc tài sản đã rời khỏi họ một cách trái với ý chí của họ Các trường hợp khác, tài sản sẽ không được trả lại cho chủ sở hữu

+ Kiện yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sở hữu của chủ sở hữu tài sản (Điều 1064 Bộ luật Dân sự Nga)

Trong phương thức này, chủ sở hữu không mất quyền chiếm hữu đối với tài sản của mình nhưng do có những hành vi vi phạm pháp luật của một chủ thể nào đó nên chủ

sở hữu đã không thể thực hiện các quyền năng của mình một cách đầy đủ, thuận lợi Ví

dụ, một người, tổ chức nào đó đổ đất đá lên đường làm hàng xóm không thể đi về nhà của mình được; xây dựng nhà cao tầng chắn ánh nắng mặt trời chiếu vào cửa sổ của nhà hàng xóm; xây dựng nhà máy thải ra những chất độc công nghiệp gây ô nhiễm môi trường đất, nước làm cho nông dân không thể trồng trọt, chăn nuôi được Những hành vi này đã cản trở chủ sở hữu thực hiện các quyền năng của mình, do đó, phải được pháp luật quy định các biện pháp cần thiết để ngăn cấm

Theo Bộ luật Dân sự Cộng hoà Liên bang Nga, trong những trường hợp này, chủ

sở hữu có quyền yêu cầu toà án ra quyết định buộc người vi phạm phải chấm dứt hành vi của mình và bồi thường thiệt hại xảy ra

Điểm đặc trưng và có giá trị nhất của phương thức bảo vệ quyền sở hữu này là ở tính ngăn ngừa, bảo vệ từ xa của nó Điều này thể hiện ở chỗ, nó có thể được áp dụng khi chỉ mới xuất hiện nguy cơ gây cản trở chứ hành vi vi phạm chưa xảy ra trên thực tế Ví

dụ, một trạm xăng gần khu dân cư tuy chưa được xây dựng nhưng đã có đề án thì chủ sở hữu (dân cư xung quanh) đã có thể yêu cầu toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác ra quyết định không cho xây dựng trạm xăng này

1.2.3.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam từ việc nghiên cứu pháp luật về sở hữu ở các nước

Thứ nhất, các nước đều rất coi trọng chế định quyền sở hữu trong hệ thống pháp

luật điều chỉnh quan hệ tài sản của Nhà nước mình Ví dụ ở Nga, các quy định về quyền

sở hữu được sắp xếp và quy định tại phần 2, sau phần thứ nhất (Những quy định chung của Bộ luật Dân sự năm 1994) Điều này cho thấy, nhà lập pháp Nga rất coi trọng vị trí, vai trò, ý nghĩa của chế định pháp luật về quyền sở hữu Quan điểm này là rất đáng được chúng ta nghiên cứu, tiếp thu vì trong tổng thể các quan hệ sản xuất (quan hệ xã hội) do

Bộ luật Dân sự điều chỉnh thì các quan hệ sở hữu luôn luôn được coi là có tầm quan trọng nhất, quyết định nội dung và phương hướng phát triển của các quan hệ sản xuất khác còn lại Vị trí quan trọng như vậy của các quan hệ sở hữu cần phải được ứng xử một cách phù hợp, ngay trong cả việc bố trí, sắp xếp vị trí của chế định quyền sở hữu trong Bộ luật Dân

sự Chế định này được xếp ở phần 2, sau phần “Những quy định chung” nhưng trước tất

cả các chế định khác còn lại là hợp lý Việc Trung Quốc ráo riết xây dựng và ban hành Luật quyền tài sản năm 2006 cũng cho thấy sự coi trọng của Nhà nước này về chế định quyền sở hữu

Thứ hai, coi trọng vai trò chủ đạo của Bộ luật Dân sự trong việc điều chỉnh pháp

luật đối với quan hệ sở hữu So với Hiến pháp thì Bộ luật Dân sự của Cộng hoà Liên bang

Trang 38

Nga, Cộng hoà Liên bang Đức đã dành rất nhiều điều luật để quy định về quyền sở hữu Các quy định này đã ghi nhận các hình thức sở hữu, nội dung quyền sở hữu, căn cứ phát sinh, căn cứ chấm dứt quyền sở hữu, các hạn chế đối với quyền sở hữu, các phương pháp bảo vệ quyền sở hữu Như vậy, Bộ luật Dân sự là nguồn cơ bản nhất về quyền sở hữu ở các nước này Các văn bản khác chỉ đóng vai trò là các công cụ để cụ thể hoá các quy định về quyền sở hữu đã được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự mà thôi Cách xác định vị trí quan trọng của Bộ luật Dân sự trong việc điều chỉnh quan hệ sở hữu của người Nga, người Đức và nhiều dân tộc trên thế giới như vậy là hợp lý, rất đáng được chúng ta quan tâm Điều đáng mừng là, trên thực tế, chúng ta cũng đã làm như vậy

Thứ ba, các Bộ luật Dân sự đều ghi nhận nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ sở

hữu thuộc các hình thức sở hữu khác nhau Ví dụ, khoản 4 Điều 212 Bộ luật Dân sự Cộng hoà Liên bang Nga quy định: “Quyền của tất cả các chủ sở hữu đều được pháp luật bảo vệ như nhau” Quy định này có ý nghĩa rất lớn đối với Việt Nam trong quá trình nghiên cứu, xây dựng các phương thức bảo hộ các chủ sở hữu ở nước ra Đây chính là kinh nghiệm lập pháp quan trọng để chúng ta xoá bỏ trong Bộ luật Dân sự hiện hành của Việt Nam những quy định có nội dung trái với nguyên tắc bình đẳng này Tuy nhiên, cũng cần khẳng định rằng, sự bình đẳng này là không tuyệt đối Điều này thể hiện ở chỗ Bộ luật Dân sự nhiều nước đã không cho phép chủ sở hữu tư nhân (cá nhân, pháp nhân) có quyền

sở hữu đối với một số tài sản nhất định (Điều 213 Bộ luật Dân sự Cộng hoà Liên bang Nga) Quy định này rất phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam, do đó, rất đáng được nghiên cứu, tiếp thu trong pháp luật dân sự của Nhà nước ta

Thứ tư, khẳng định vai trò duy nhất của Luật trong việc ghi nhận quyền sở hữu Ở

các nước tiên tiến, các hình thức sở hữu và các đặc thù trong việc điều chỉnh pháp luật đối với các hình thức sở hữu khác nhau chỉ có thể được Luật quy định mà không thể do các văn bản khác dưới Luật quy định Khoản 3 Điều 212 Bộ luật Dân sự Cộng hoà Liên bang Nga quy định: “Các đặc thù trong việc thủ đắc và chấm dứt quyền sở hữu, trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chỉ có thể được xác lập bởi luật của Cộng hoà Liên bang Nga Các loại tài sản có thể thuộc quyền sở hữu của Nhà nước và quyền sở hữu cộng đồng do Luật Liên bang quy định” Khoản 1 Điều 4 Hiến pháp Cộng hoà Liên bang Đức quy định: “Nội dung và những giới hạn đối với quyền sở hữu được xác định thông qua các đạo luật” Đây là quy định có ý nghĩa quan trọng đối với chúng ta vì nó không cho phép các cơ quan hành pháp có thể can thiệp một cách tuỳ tiện vào một lĩnh vực quyền quan trọng và “thiêng liêng” của con người như quyền sở hữu đối với tài sản Ở Việt Nam, trong pháp luật hiện hành chưa có quy định này nên trên thực tế quyền sở hữu của công dân, pháp nhân đã không được đảm bảo ở mức độ cần thiết Ví dụ, dưới hình thức Thông tư 02/2003/TT-BCA ngày 13/01/2003 của Bộ Công an đã hạn chế quyền sở hữu của công dân thông qua việc chỉ cho phép một người được đăng ký một xe máy, trong khi đó các văn bản pháp lý có giá trị cao hơn (Điều 58 Hiến pháp 1992, khoản 1 Điều 221 Bộ luật Dân sự năm 1995) đều đã quy định một nguyên tắc, theo đó, quyền sở hữu không thể bị hạn chế về quy mô và giá trị

Thứ năm, không có tự do tuyệt đối về sở hữu Trong Bộ luật Dân sự các nước, bên

cạnh việc ghi nhận nguyên tắc tự do sở hữu, pháp luật cũng ghi nhận những ngoại lệ từ nguyên tắc này, tức là đã quy định những hạn chế đối với quyền sở hữu trong những trường hợp cần thiết, vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Ví dụ:

Trang 39

- Quyền sở hữu tài sản có thể bị tước bỏ từ cá nhân, tổ chức vì mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng;

- Quyền sở hữu tài sản cũng có thể bị thu hồi nếu tài sản đó không được sử dụng trong một thời gian nhất định do Luật định;

- Việc sử dụng tài sản gây ra thiệt hại cho môi trường (ô nhiễm đất đai, không khí, nước ) cũng có thể là lý do để chủ sở hữu tài sản bị tước quyền sở hữu tài sản

- Việc đối xử vô nhân đạo đối với vật nuôi cũng là lý do để cơ quan nhà nước có thẩm quyền tước quyền tài sản của người có hành vi như vậy đối với vật nuôi của mình Cũng tương tự như vậy, nếu tài sản có giá trị văn hoá của quốc gia đã bị chủ sở hữu ứng

xử một cách không thoả đáng, có thể gây ra nguy cơ làm hư hỏng hoặc mất mát tài sản

đó

Như vậy, ở các nước, kể cả các nước tiên tiến nhất thì cũng không có quan niệm về quyền sở hữu tuyệt đối, không có tự do sở hữu tuyệt đối Đây cũng là một đặc điểm về quan niệm khoa học cũng như về thực tiễn lập pháp mà Việt Nam ta có thể và cần phải tiếp thu trong hoạt động thực tiễn của mình Tuy nhiên, như đã khẳng định ở trên, việc hạn chế quyền sở hữu chỉ được thực hiện bởi một cơ quan duy nhất là Quốc hội mà không thể là bất kỳ ai khác

Thứ sáu, bên cạnh quyền sở hữu, các nước còn công nhận các loại vật quyền khác

như: quyền xây dựng trên đất của người khác, quyền hưởng dụng, quyền địa dịch, quyền thế chấp đối với bất động sản và quyền cầm cố đối với động sản Thực tiễn Việt Nam cho thấy, trong thời gian qua, chúng ta chỉ mới quan tâm điều chỉnh pháp luật đối với quyền sở hữu với tư cách là một loại vật quyền toàn diện nhất, đặc trưng nhất mà chưa chú ý đúng mức đối với các loại vật quyền khác như quyền sử dụng đất; quyền quản lý,

sử dụng tài sản của Nhà nước; quyền địa dịch Sự không quan tâm này đã dẫn đến tình trạng thiếu nhiều quy định pháp luật về các vật quyền và hậu quả là đã làm tổn hại quyền tài sản của các chủ thể có các quyền này

Thứ bảy, các nước xem trọng các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu và các loại vật

quyền khác Ví dụ: ở Đức, ngoài các công cụ bảo vệ quyền sở hữu truyền thống như kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại, kiện yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở chủ sở hữu thực hiện các quyền của mình, còn quy định thêm nhiều cơ chế khác để bảo vệ một cách triệt để quyền sở hữu tài sản Ví dụ: theo Điều 90 Luật Toà án Hiến pháp Cộng hoà Liên bang Đức thì chủ sở hữu có thể kiện ra Toà án Hiến pháp để chống lại một đạo luật nào đó do Quốc hội ban hành nếu đạo luật đó hạn chế một cách trái pháp luật các quyền sở hữu của mình Những cơ chế bảo vệ quyền sở hữu hữu hiệu như vậy là rất đáng để chúng ta quan tâm nghiên cứu và ghi nhận ở Việt Nam trong những thời điểm thích hợp Sự quan tâm một cách rất thoả đáng trong việc bảo vệ quyền sở hữu là một kinh nghiệm hay mà Việt Nam phải lưu ý trong qúa trình hoàn thiện pháp luật về sở hữu ở nước ta

Trang 40

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ Ở HỮU Ở VIỆT NAM

2.1 Vai trò chủ đạo của Bộ luật Dân sự năm 2005 trong việc điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ sở hữu ở Viêt Nam

2.1.1 Bộ luật Dân sự năm 2005 - nguồn cơ bản của pháp luật về sở hữu ở Việt Nam

Chế định về quyền sở hữu là chế định quan trọng, được xác định như là một chế định nền tảng, trung tâm chi phối các chế định khác như chế định về hợp đồng, chế định về thừa kế Đây cũng chính là cơ sở để quy định các vấn đề về quyền sở hữu trong các đạo luật khác của hệ thống pháp luật nước ta như Luật Đất đai, Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp

Chế định về quyền sở hữu được quy định ở Phần thứ hai của Bộ luật Dân sự năm

1995 Có thể thấy rằng, trên cơ sở cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp năm 1992 về phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa với các hình thức kinh doanh đa dạng, dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân; đồng thời có tham khảo kinh nghiệm quốc tế, Bộ luật Dân sự đã quy định khá tập trung về vấn đề quyền sở hữu: từ những vấn đề có tính nguyên tắc đến các vấn đề cụ thể, tạo cơ sở pháp lý để cá nhân, tổ chức thực hiện quyền sở hữu của mình, tôn trọng quyền

sở hữu của người khác; đồng thời là căn cứ để Toà án, các cơ quan nhà nước khác có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu

Tuy nhiên, qua gần 10 năm thực hiện Bộ luật Dân sự năm 1995, những quy định về quyền sở hữu cũng đã bộc lộ những hạn chế nhất định Trong các quy định về quyền sở hữu còn có những quy định mang tính nguyên tắc chung, chưa đủ cụ thể để có thể phát huy hiệu lực trong cuộc sống Có những vấn đề còn chưa phù hợp với thực tiễn hoặc có những vấn đề còn chưa được quy định Vì vậy, cần có sự hoàn thiện về mặt pháp luật để phù hợp với tình hình chính trị, kinh tế, xã hội hiện nay Và đó là lý do của việc Quốc hội nước ta ban hành Bộ luật Dân sự mới năm 2005

Trong Bộ luật Dân sự năm 2005, tài sản và quyền sở hữu được quy định tại Phần thứ hai gồm 7 chương (từ Chương X đến Chương XVI) với 117 điều (từ Điều 163 đến Điều 279) So với quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995, về cơ cấu, bố cục của Phần thứ hai,

Bộ luật Dân sự năm 2005 không có gì thay đổi Phần này có những quy định chung về quyền sở hữu (Chương X), các loại tài sản (Chương XI), nội dung quyền sở hữu (Chương XII), các hình thức sở hữu (Chương XIII), xác lập, chấm dứt quyền sở hữu (Chương XIV), bảo vệ quyền sở hữu (Chương XV), những quy định khác về quyền sở hữu (Chương XVI)

Trong việc điều chỉnh quan hệ sở hữu, vị trí trung tâm của Bộ luật Dân sự thể hiện ở những điểm sau đây:

Thứ nhất, Bộ luật Dân sự là tấm gương phản ánh tập trung nhất, hệ thống nhất các

quan điểm mới của Đảng Cộng sản Việt Nam về sở hữu và cụ thể hoá các quy định cơ bản của Hiến pháp về sở hữu Không phải ngẫu nhiên, khi cho ý kiến về các quan điểm lớn để xây dựng Bộ luật Dân sự, Bộ Chính trị đã chỉ rõ là Bộ luật Dân sự có tầm quan trọng chỉ sau Hiến pháp Bộ luật Dân sự quán triệt và thể chế hoá các Nghị quyết của Đảng; đồng thời cụ thể hoá quy định của Hiến pháp năm 1992 về chế độ sở hữu, về các quyền của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác Chính tính chất cụ thể hoá các quy

Ngày đăng: 15/04/2014, 10:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w