BỤI TRONG SẢN XUẤT MỤC TIÊU HỌC TẬP 1 Nắm được phân loại bụi, các đặc tính hóa lý và các thương tổn bệnh lý 2 Nắm được bệnh sinh, lâm sàng – cận lâm sàng, điều trị, dự phòng bệnh bụi phổi 3 Bệnh bụi p[.]
Trang 1BỤI TRONG SẢN XUẤT
MỤC TIÊU HỌC TẬP
1 Nắm được phân loại bụi, các đặc tính hóa lý và các thương tổn bệnh lý
2 Nắm được bệnh sinh, lâm sàng – cận lâm sàng, điều trị, dự phòng bệnh bụi phổi
3 Bệnh bụi phổi silicose: nắm được bệnh sinh, lâm sàng – cận lâm sàng, điều trị, dự phòng
4 Bệnh bụi phổi Amiant: nắm được bệnh sinh, lâm sàng – cận lâm sàng, điều trị, dự phòng
I. PHÂN LOẠI BỤI VÀ SỰ XÂM NHẬP CỦA BỤI VÀO CƠ THỂ.
1.1 Định nghĩa:
Theo Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế (ISO 4225 - ISO, 1994), "Bụi: là các hạt rắn nhỏ, thông thường có đường kính dưới 75 µm, chúng có thể lắng xuống dưới do sức nặng, nhưng cũng có thể vẫn lơ lững trong không khí một thời gian”
Theo "Từ điển thuật ngữ Hóa khí quyển " (IUPAC, 1990), "Bụi là các hạt nhỏ khô, rắn được đưa vào không khí bởi các hiện tượng tự nhiên nhiên như gió, núi lửa phun trào, và bởi quá trình cơ học nhân tạo như nghiền, xay, phay, khoan, phá hủy, xúc, vận chuyển, sàng lọc, đóng bao, và quét dọn Bụi thường có kích thước từ khoảng 1 µm đến 100 µm đường kính, và chúng sẽ từ từ lắng dưới ảnh hưởng của trọng lực
Như vậy, bụi là những hạt chất rắn có kích thước rất nhỏ, lơ lửng ở trong không khí Bụi là một hệ thống phân tán mà môi trường phân tán là không khí, chất phân tán là những hạt rắn Nói cách khác, bụi là một dạng khí dung có các hạt phân tán rắn
1.2 Sự hình thành bụi.
Bụi được tạo ra do ba cơ chế khác nhau:
- Sự nghiền nát cơ học các vật rắn: như nứt vỡ, xay nghiền, dập nát, khoan, nổ v.v… là những cơ chế sinh bụi rất phổ biến và trong các trường hợp này bụi được gọi là khí dung phân tỏa
- Sự ngưng tụ các hạt rắn trong không khí: nhự khi hàn điện, đúc đồng … các hơi kim loại bốc lên gặp oxy của không khí, tạo thành những hạt oxyt kim loại rất nhỏ, lơ lửng lâu trong không khí, trong các trường hợp này bụi được gọi là khí dung ngưng kết
- Sự thiêu cháy nhiên liệu không hoàn toàn Ví dụ: khói, bồ hóng
Trang 21.3 Phân loại bụi:
a/ Dựa theo nguồn gốc và tính chất của bụi, có thể chia ra thành 3 loại
- Bụi hữu cơ: do sự nứt, vụn … của các chất hữu cơ thực vật hoặc động vật, tỷ trọng của bụi từ 1,6-1,6 µm thường có hình sợi mảnh, các bụi hữu cơ thường gặp là bụi thóc gạo, bụi bột, bụi đường, bụi gỗ, bụi bông, bụi lông v.v …
- Bụi vô cơ: có hai loại:
+ Bụi khoáng chất, ví dụ: bụi than, bụi đất đá, bụi thạch anh.vv… tỷ trọng loại này thường
từ 2,6-3 µm
+ Bụi kim loại như bụi sắt, đồng, chì, kẽm v.v… tỷ trọng của các bụi kim loại thường từ 5-7,5 µm
- Bụi có cấu tạo phức tạp, ví dụ: Nhựa nhân tạo, cao su, chất dẻo v.vv… loại bụi này có tỷ trọng rất khác nhau
b/ Dựa theo kích thước của hạt bụi, người ta chia bụi ra làm 3 loại:
- Bụi mắt thường trông thấy được: đường kính hạt bụi trên 10 µm, dễ lắng xuống trong không khí yên tĩnh, khi hít thở phải, bụi này không vào được tới phế nang
- Bụi hiển vi: đường kính hạt bụi từ 0,25-10 µm, chỉ nhìn thấy được nhờ ở kính hiển vi, bụi này có khả năng vào sâu tận phế nang và là loại bụi chủ yếu được giữ lại ở trong phổi
- Bụi siêu hiển vi: Đường kính hạt bụi nhỏ dưới 0,25 µm chỉ nhìn thấy được dưới kính hiển
vi điện tử
Bụi có đường kính 10-100 µm: không thể lơ lửng lâu được ở trong không khí tĩnh, chúng được lắng xuống theo định luật của vật lý, chiếm khoảng 4,7% tổng lượng các hạt bụi Bụi có đường kính 1 -10 µm: ở trong không khí lắng xuống chậm hơn bị giữ lại ở trong phổi khi hít thở không khí có lẫn bụi
Bụi có đường kính dưới 0,1 µm trong thực tế không bao giờ lắng xuống, chúng luôn luôn chuyển động trong không khí theo kiểu chuyển động Brao Chúng chỉ có thể lắng xuống trong trường hợp chúng kết hợp với nhau thành những hạt có kích thước lớn hơn 4
Thông thường bụi sinh ra trong sản suất đều có đường kính khoảng dưới 10 µm, nhiều nhất
là loại bụi dưới 5 µm Nếu không khí có chuyển động (có gió), loại bụi này thường tồn tại lâu trong không khí nơi làm việc và là loại bụi chủ yếu gây tác hại đối với sức khỏe của con người nói chung, đối với cơ quan hô hấp nói riêng
Dựa vào mức độ xâm nhập của các hạt bụi vào đường hô hấp phân
Trang 3chia bụi ra thành 5 loại:
1 Bụi lớn hơn 50 µm: giữ lại ở mũi, khí quản và phế quản lớn
2 Bụi có đường kính 20-50 µm: giữ lại ở phế quản thùy và phân thùy của phổi
3 Bụi có đường kính 10-20 µm: giữ lại ở các phế quản nhỏ
4 Bụi có đường kính 1-10 µm: sẽ bám dính vào ph nang ph i ế ổ
5 Bụi có đường kính nhỏ hơn 1μm
Nh ng h t b i có kích th c nh h n ho c b ng 0,1ữ ạ ụ ướ ỏ ơ ặ ằ μm không l u l i trong h th ng ư ạ ệ ố
hô h p c a con ng i ấ ủ ườ
1.4 Các yếu tố quyết định tác hại với cơ thể người và đặc tính lý hóa của bụi.
Độ phân tán:
Độ phân tán của các hạt bụi trước hết phụ thuộc vào kích thước hạt bụi, tức là, bụi càng nhỏ càng khó lắng và càng có độ phân tán lớn Bụi có tỷ trọng cao lắng nhanh hơn bụi có tỷ trọng thấp, bụi hữu cơ dài, nhẹ lắng chậm
Diện tích đặc hiệu:
Diện tích đặc hiệu là diện tích bề mặt của 1 cm3 Một hạt rắn thể tích 1 cm3 có diện tích bề mặt 6 cm2, nếu nghiền nhỏ thành các hạt bụi có kích thước 100 micron, diện tích đặc hiệu sẽ tăng 100 lần, tức là 600 cm2 Nếu lại nghiền nhỏ thành các hạt kích thước 0,1 micron diện tích bề mặt của tất cả các hạt bụi sẽ là 60 m2, tăng gấp 10 vạn lần Diện tích đặc hiệu lớn hơn thì khả năng thâm
Trang 4nhập của bụi vào cơ thể càng lớn Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các hạt bụi có độc tính.
Độ hòa tan:
Nếu bụi không độc thì tính hòa tan của bụi là yếu tố thuận lợi khiến bụi được thải nhanh ra bên ngoài Nếu bụi là chất độc, tính hòa tan của bụi là một yếu tố xấu vì nó làm chất độc ngấm nhanh vào trong máu
Điện tích các hạt bụi:
Các hạt bụi phát sinh ra trong khi sản xuất, phần lớn đều có mang điện tích âm hoặc dương Điện tích của hạt bụi ảnh hưởng đến sự trao đổi ion ở màng tế bào, hoạt động của đại thực bào, nó là một nhân tố xúc tiến hiện tượng xơ hóa phổi Sự có mặt ở trong không khí các hạt bụi có điện tích cùng dấu sẽ khiến cho chúng đẩy nhau, khó kết lại với nhau thành những hạt bụi lớn để lắng xuống Ngược lại, các hạt bụi ở trong không khí có điện tích trái dấu có thể trung hòa điện tích của nhau và lắng xuống nhanh hơn
Tính phóng xạ:
Một số loại bụi có thể có hoạt tính phóng xạ, như các loại bụi do quặng phóng xạ uran, thôri và rađi chúng làm tăng khả năng xơ hóa và gây tác hại phóng xạ
Hình dáng của hạt bụi:
Bụi dạng sợi của nhiều loại thực vật, trong đó có bụi lông, bụi đay, các hạt bụi nhọn, dài của sợi thủy tinh, bụi asbest v.v … có khả năng lơ lửng lâu ở trong không khí Chúng có tác dụng kích thích các tế bào biểu mô của niêm mạc đường hô hấp, gây viêm phì đại và viêm thoái hóa niêm mạc, làm giảm chức năng lọc bụi của đường hô hấp trên Bụi sợi dài khó bị thực bào Bụi nhọn của sợi thủy tinh và sợi khoáng (abest) kích thích da gây ngứa ngáy khó chịu
Bản chất hóa học của bụi:
Silic (Si) và các hợp chất của silic chiếm 28% khối lượng vỏ quả đất Gần 60% các loại đá được cấu tạo bởi SiO2 tư do Tỷ lệ SiO2 tự do trong đá thạch anh chiếm tới trên 95%, cát thạch anh 80-90%, đá hoa cương 65-75%, quặng sắt 10-20%, quặng thiếc (trong mạch thạnh anh) 80-80-90%, quặng uran, mangan, sắt 50-70%, than và bụi thực vật, từ dưới 1 tới vài phần trăm, gạch chịu lửa 98% v.v … bụi có tỷ lệ SiO2 tự do càng cao càng nguy hiểm, càng dễ gây bệnh phổi nhiễm bụi silic (silicose)
Ngoài trạng thái SiO2 tự do, trong thiên nhiên còn có SiO2 trong trạng thái kết hợp ở các dạng muối silicat Ví dụ: asbest, đất sét, bột talk v.v … silicat cũng có khả năng gây xơ hóa phổi Bệnh
xơ hóa phổi do bụi silicat được gọi chung là silicatose Bệnh này nhẹ hơn và ít nguy hiểm hơn silicose
Đặc tính sinh vật học của hạt bụi:
Nhiều loại bụi thực vật và động vật là những hạt mang các loại nấm mốc, vi khuẩn, đôi khi là trứng giun, sán Bụi ngũ cốc đôi khi mang cả nấm tía, gây bệnh nấm tía actinomycose Nhiều vi khuẩn được giữ trong các hạt bụi bột, trong đó có staphylococus, streptococus, trực khuẩn đường ruột v.v
… Đất là nguồn bụi có mang nhiều vi khuẩn Trong 1 g đất có thể chứa tới hàng triệu vi khuẩn, trong đó có nhiều vi khuẩn gây bệnh như tụ cầu, liên cầu, vi khuẩn hoại thư sinh hơi, vi khuẩn, đường ruột, trực khuẩn lao, trứng giun sán … Bụi còn là yếu tố gây dị ứng ở cơ thể như bụi phấn hoa, bụi lông, bụi lông vũ
Điều kiện lao động tiếp xúc với bụi:
Trang 5Điều kiện lao động là nhân tố quan trọng nhất quyết định mức độ ảnh hưởng của bụi đối với sức khỏe và bệnh tật của những người làm việc, cụ thể là: Nồng độ bụi trong không khí càng cao, càng
có hại Đã có những nghiên cứu cho thấy rằng, bụi đã gây ra những thương tổn ở phổi, đặc biệt là những thương tổn xơ hóa phụ thuộc vào nhiều số lượng bụi bị giữ ở lại trong phổi (các phế nang) Giảm nồng độ bụi trong không khí là phương hướng cơ bản để phòng chống các tác hại của bụi Thời gian tiếp xúc với bụi trong ngày làm việc càng lâu càng có hại, người có tuổi nghề cao dễ bị bệnh hơn người có tuổi nghề ít Cường độ lao động càng nặng, lượng thông khí phổi càng lớn, bụi vào phổi sẽ càng nhiều
II Các thương tổn bệnh lý do bụi.
2.1 Các thương tổn sớm dễ thấy:
Tác hại của bụi đối với cơ thể rất đa dạng, tùy đặc tính hạt bụi và điều kiện tiếp xúc
Thông thường, khi hít thở phải không khí có nhiều bụi, lâu ngày, mũi bị viêm Giai đoạn đầu niêm mạc mũi viêm xuất tiết, cương tụ Ở giai đoạn sau, do hiện tượng loạn dưỡng của niêm mạc, niêm mạc bị thoái hóa và teo lại, khả năng lọc bụi của mũi bị giảm nhiều vì vậy viêm khí quản, phế quản cấp tính và mãn tính cũng là bệnh thường gặp ở người tiếp xúc với không khí có nhiều bụi
Đối với phổi, một số loại bụi có thể gây viêm phổi cấp tính (bụi xỉ lò có chứa nguyên tố vanađi, bụi phốtphát, bụi kali bicromat)
Đối với mắt, các loại bụi đều có thể gây ra viêm kết mạc, bụi sắc cạnh như bụi kim loại có thể gây xước giác mạc đưa đến tình trạng sẹo, mờ giác mạc, ảnh hưởng đến thị lực Bụi thuốc lá, bụi kim loại còn làm cảm giác của giác mạc, bản năng phòng ngừa dị vật của mắt bị cản trở, dễ bị sang chấn mắt Bụi nhựa đường, hắc ín kết hợp với tác dụng của ánh sáng mặt trời có thể gây viêm giác mạc cấp tính với các triệu chứng sưng, đau dữ dội
Đối với da bụi làm vít các lỗ tuyến nhờn trên da mặt, làm cho da bị khô, mất bóng bẩy mềm mại,
có thể da bị viêm, loét
Đối với toàn thân, bụi có thể gây bệnh sốt dị ứng Ví dụ bệnh sốt của thợ đốt lò do hít phải bụi kim loại, bệnh sốt của thợ dệt do hít phải bụi bông
2.2 Tác hại lâu dài
Tác hại lâu dài và nguy hiểm nhất của bụi là các bệnh bụi phổi Do mắc bệnh bụi phổi, sức khỏe và khả năng làm việc của con người bị giảm sút nghiêm trọng Bệnh bụi phổi đã được đưa vào danh sách các bệnh nghề nghiệp ở nước ta
III Các bệnh bụi phổi.
3.1 Định nghĩa.
Bệnh bụi phổi là một bệnh nghề nghiệp, biểu hiện bằng một tình trạng xơ hóa tràn lan nhu mô phổi
do tác dụng của bụi trong sản xuất Xơ hóa trong bệnh bụi phổi phải là xơ hóa tiên phát, do chính bụi gây ra Cần phân biệt xơ hóa do bệnh bụi phổi với xơ hóa do các bệnh khác ở phổi
Hiện nay, Bộ y tế đã quy định có năm bệnh bụi phổi được xếp vào bệnh nghề nghiệp là: (1) Bệnh bụi phổi – silic (2) Bệnh bụi phổi asbet hay bụi phổi amiăng (3) Bệnh bụi phổi – bông (4) Bệnh bụi phổi – talc, (5) Bệnh bụi phổi than.
3.2 Phân loại các bệnh bụi phổi.
Theo căn nguyên gây bệnh, người ta chia các bệnh bụi phổi ra làm 3 loại:
- Các bệnh phổi nhiễm bụi silic (silicose) do bụi chứa SiO2 tự do gây nên Thường gặp ở công nhân khai
Trang 6thác mỏ, cơ khí, luyện kim, sản xuất vật liệu xây dựng.
- Các bệnh phổi nhiễm bụi silicat (silicatose) do bụi chứa SiO2 ở dạng kết hợp gây nên Thuộc loại này do
có bệnh phổi do bụi asbest (asbestose), bụi talk, bụi đất sét, bụi bông, sợi thủy tinh, bụi xi măng…
- Các bệnh bụi phổi do bụi không có chứa SiO2 Ví dụ bụi apatit, bụi sắt, bụi than, bụi nhôm, bụi bông, bụi đường, bụi bột.
(1) Bệnh bụi phổi Talc
Talc có công thức hóa học là Hydrated Magnesium Silicate: Mg3SI4O10(OH)2 và cũng có sự hiện diện của nhôm, sắt và canxi trong hợp chất Bột talc được tạo ra từ các mỏ đá sau đó được nghiền nát thành một chất bột mềm và trơn nên được xem là chất bôi trơn khô tốt, một chất hấp thu và là một chất lọc Bột talc được thêm vào sơn, chất dẻo, đồ gốm sứ, trong công nghiệp cao su, nó cũng được dùng trong mỹ phẩm và dược phẩm.
Các công nhân hít phải bột talc nhiều, lâu ngày sẽ mắc bệnh bụi phổi – talc, thường thời gian tiếp xúc là từ 10-15 năm, nhưng có thể đến sớm hơn từ 3-5 năm.
(2) Bệnh bụi phổi - silicat (silicatose).
Silicatose là loại bệnh bụi phổi do bụi silicat vào phổi gây nên Silicat là những chất có chứa nguyên tố silic
ở trạng thái kết hợp với các nguyên tố khác (Mg, Ca, Fe, Al, v.v …) không phải ở trạng thái bioxyt silic (SiO2) tự do Các ailicat phổ biến gây ra bệnh bụi phổi; silicat là asbest (H4Mg3 Si2O9) bột talk (3MgO 4SiO2 H2O), olivin (FeMg2SiO4) nefelin (Na Al SiO4 hay Kal SiO4) v.v…Bệnh bụi phổi silicat thường phát sinh sau nhiều năm làm việc tiếp xúc với bụi, đa số là trên 10 năm Các trường hợp bênh xuất hiện sớm (sau 3-5 năm làm việc) chủ yếu là do tiếp xúc
với bụi amiăng Tiên lượng bệnh nói chung khả quan hơn bệnh bụi phổi silíc.
Ngoài ra còn có loại bệnh phổi nhiễm bụi hỗn hợp, vừa do SiO2 tự do, vừa do các bụi khác Ví dụ: bệnh bụi than silic (anthrasilicose), bệnh bụi silic lao (silicotuberculose).
(3) Bệnh phổi bụi do bụi than (anthracose).
Bản thân bụi than cũng có khả năng gây hiện tượng xơ hóa phổi, nhưng chậm Trong thực tế khi làm việc không chỉ hít thở bụi than thuần túy, mà là bụi than có lẫn cả SiO2, do đó anthrasilicose là dạng phổ biến hơn Yếu tố kích thích cơ học có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển xơ hóa của phổi ở bệnh bụi phổi than
Bệnh phát triển thường gặp ở những người có tuổi nghề tiếp xúc với bụi than từ 15-20 năm hoặc lâu hơn
(4) Bệnh bụi phổi bông (Byssinosis).
Bệnh bụi phổi bông là một bệnh tương đối phổ biến do bụi thực vật – còn được gọi là bệnh hen của thợ dệt Nguyên nhân gây bệnh có thể là do dị ứng, vì những yếu tố mang tính kháng nguyên có trong bụi bông giải phóng histamin làm hẹp các phế quản bằng cơ chế co cơ hay phù nề các phế quản
Ở giai đoạn đầu các biểu hiện đặc trưng là tức ngực khó thở vào ngày lao động đầu tiên sau ngày nghỉ cuối tuần và nhẹ dần vào những ngày sau Vì vậy còn được gọi là bệnh sốt hay khó thở của ngày thứ hai
Ở giai đoạn cuối, các biểu hiện lâm sàng giống như các bệnh viêm phế quản mãn, giãn phế quản khác Chẩn đoán dựa vào yếu tố tiếp xúc và biến đổi chức năng hô hấp vì hình ảnh chụp rơnghen không điển hình Viêm phế quản mãn nặng hơn ở người cao tuổi và nghiện thuốc lào, thuốc lá Có thể dùng thuốc kháng sinh histamin làm giảm các biểu hiện tức ngực khó
Trang 7Bảng phân loại các bệnh bụi phổi
B nh b i ph i ệ ụ ổ
theo nguyên
nhân b nh ệ
Đ c đi m quá trình b nh ặ ể ệ
X quang
ph i ổ
Giai
đo n ạ
b nh ệ Di n bi n ễ ế
a) Đ c đi m lâm sàng ặ ể b) Bi n ch ng kèm theo ế ứ
B nh ph i ệ ổ
nhi m b i silic ễ ụ
(silicose)
Th xen ể kẽ
Th n t ể ố
Th u ể
I II III
Phát tri n nhanh ể Phát tri n ch m ể ậ
Xu t hi n mu n ấ ệ ộ
a) Suy ph i, suy tim ph i, khí ph ổ ổ ế thũng, viêm ph qu n, các h i ế ả ộ
ch ng màng ph i và trung th t ứ ổ ấ b) Silicato - lao, tràn khí ph m c, ế ạ viêm ph i, b nh giãn ph qu n ổ ệ ế ả
B nh ph i ệ ổ
nhi m b i ễ ụ
silicat
(silicatose)
b nh b i ệ ụ
asbest, b nh ệ
b i xi măng, ụ
b nh b i ph n ệ ụ ấ
Th xen ể kẽ
Th n t ể ố
I
II Phát tri n ch mXu t hi n mu n ấ ệể ậộ
ho c không có ặ
a) Suy ph i, suy tim ph i, viêm ph ổ ổ ế
qu n, giãn ph qu n, khí ph thũng, ả ế ả ế
tr u ch ng màng ph i, b)Viêm ệ ứ ổ
ph i, b nh giãn ph qu n, Silicato - ổ ệ ế ả lao,
B nh b i than ệ ụ
(Anthracose) Th xen kẽể
Th n ể ốt
I II III
Phát tri n nhanh ể Phát tri n ch m ể ậ
Xu t hi n mu n ấ ệ ộ (hi m) ế
a) Suy ph i, suy tim ph i, viêm ph ổ ổ ế
qu n, giãn ph qu n, khí ph thũng, ả ế ả ế
tr u ch ng màng ph i, b)Viêm ệ ứ ổ
ph i, b nh giãn ph qu n, Silicato - ổ ệ ế ả lao,
B nh b i ph i ệ ụ ổ
do b i h n h p ụ ỗ ợ
B nh b i ệ ụ than
silic
B nh b i ệ ụ s t ắ
silic
Th xen ể kẽ
Th n ể ốt
I II III
Phát tri n nhanh ể Phát tri n ch m ể ậ
Xu t hi n mu n ấ ệ ộ (có khi không có)
a) Suy ph i, suy tim ph i, viêm ph ổ ổ ế
qu n, giãn ph qu n, khí ph thũng, ả ế ả ế
h i ch ng màng ph i ộ ứ ổ b)B i, lao ph i (conio-tuberoulose) ụ ổ Viêm ph i, b nh giãn ph qu n, ổ ệ ế ả tràn khí màng ph i ổ
Các b nh b i ệ ụ
ph i khác ổ
B nh b i nhôm ệ ụ
B nh b i ệ ụ apatit
Th xen ể kẽ
Th n ể ốt
I
II Phát tri n ch m ể ậ Suy ph i,Viêm ph qu n,ổế ả
Khí ph thũng, ế
3.2 Dự phòng
Cách tốt nhất để ngăn ngừa bụi phổi silic là để xác định các hoạt động nơi làm việc sản xuất có thể hít bụi tinh thể silica và sau đó để loại bỏ hoặc kiểm soát bụi ("phòng ngừa ban đầu") phun nước thường được dùng ở nơi bụi tỏa ra Bụi cũng có thể được điều khiển thông qua bộ lọc không khí khô
Giám sát vệ sinh môi trường 1 cách chặt chẽ và thường xuyên, đặc biệt với những nghành nghề có nguy cơ cao như sản xuất hay bảo trì các vật liệu có chứa asbestos Tổ chức tốt công tác giám sát bảo hộ lao động trong quá trình làm việc Khám sức khoẻ định kỳ hằng năm để phát hiện người có sức khoẻ kém, để chuyển đổi công việc, những người nghi nghờ bị bệnh để cách ly xác định, điều trị hoặc chuyển việc Trong quá trình khám sức khoẻ tổ chức chụp X quang phổi
Trang 83.3 Giám định y khoa các bệnh bụi phổi Những người có tổn thương cơ thể rõ do ảnh hưởng
của của các loại bụi theo danh mục các bệnh bụi phổi nghề nghiệp Việt Nam được giám định và đền bù
Các bệnh bụi phổi nghề nghiệp Việt nam:
1) Bệnh bụi phổi-silic nghề nghiệp, (nhóm I, 08-TTLB năm 1976)
2) Bệnh bụi phổi Atbet (amiăng), (nhóm I, 08-TTLB năm 1976)
3) Bệnh bụi phổi bông, (nhóm I, 29/TT-LB năm 1991)
4) Bệnh viêm phế quản mạn tính nghề nghiệp, (nhóm I, 167/BYT-QĐ năm 1997)
5) Bệnh hen phế quản nghề nghiệp, (nhóm I, 27/2006/QĐ-BYTnăm 2006)
6) Bệnh bụi phổi-talc nghề nghiệp, (nhóm I, 44/2013/TT-BYT năm 2013)
7) Bệnh bụi phổi-than nghề nghiệp, (nhóm I, 36/2014/TT-BYT năm 2014)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyễn Mạnh Liên, Trần Văn Tuấn, (2010) Ảnh hưởng của bụi đối với cơ thể và các biện pháp dự
phòng, Y học Môi trường và Laođđộng, Nhà xuất bản Y học, Hà nội, trang 225-231.
2 Patrick N Breysse, Peter S.J Lees, (2006) Particulate Matter, The Johns Hopkins University Animated
version at http://www.mfg.mtu.edu/cyberman/environment/air/depos.html
3 WHO (1999) Hazard prevention and control in the work environment: Airborne dust
WHO/SDE/OEH/99.14, World Health Organization, Geneva, Switzerland.