1. Trang chủ
  2. » Kỹ Năng Mềm

Tư duy phân tích

24 5K 18
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư Duy Phân Tích
Tác giả Joe Lau
Người hướng dẫn Nguyễn Ngọc Yến Chinh
Trường học Đại Học Hương Cảng
Chuyên ngành Triết Học
Thể loại Hướng Dẫn
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 6,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tư duy phân tích là khả năng tiến hàng những tư tưởng độc lập, có suy nghĩ và có thể suy nghĩ một cách rõ ràng và hợp lý.

Trang 1

Joe Lau

Khoa Triết Học Đại Học Hông Kông

Trang 2

những sai lầm và các lý lẽ không đúng, chúng cũng có thể được sử dụng để

ủng hộ những quan điểm khác, và góp phần với những quan điểm khác trong việc giải quyết các vấn đề và tiếp thu kiến thức có được

Tư duy phân tích là những kỹ năng suy nghĩ chung mà nó hữu dụng đối với tat

cả các loại hoạt động và nghề nghiệp Suy nghĩ rõ ràng và có hệ thông có thể

cải thiện được sự nhận thức và diễn đạt những ý tưởng, vì vậy khả năng tư duy phân tích tốt có thể nâng cao được các kỹ năng ngôn ngữ và diễn đạt

Đôi khi người ta có suy nghĩ rằng tư duy phân tích không thích hợp với tính sáng tạo Đây là một quan niệm sai lầm, vì sự sáng tạo không chỉ là một vẫn đề được nêu ra với những ý tưởng mới Một con người sáng tạo là một người mà

có thể tạo những ý tưởng mới mà nó hữu dụng và thích hợp với nhiệm vụ mà

họ đang thực hiện Tư duy phân tích thể hiện vai trò quyết định trong việc đánh

giá sự có ích của những ý tưởng mới, lựa chọn những ý tưởng tốt nhất và hồ trợ cho chúng nếu cần thiết

Tư duy phân tích cũng rất cần thiết cho việc tự phản ánh Đề sống một cuộc

sống có nghĩa và xây dựng cuộc sống của chúng ta một cách phù hợp, chúng ta cần điều chỉnh và phản ánh trên những giá trị và quyết định của chúng ta Tư duy phân tích cung cấp những công cụ cho quy trình của sự tự đánh giá

Chỉ dẫn nhỏ này bao gồm một thảo luận ngắn về những nên tảng của tư duy

phân tích Nó không phải là một sự nghiên cứu toàn diện, cũng không phải là một cuốn sách giáo khoa đầy đủ Mục đích là để làm nỗi bật một số các khái niệm và nguyên tắc quan trọng hơn của tư duy phân tích để đưa ra một ân tượng chung của lĩnh vực này Đề nghiên cứu xa hơn, người đọc có thể tìm

kiếm những cuốn sách và những nguồn trực tuyến liệt kê ở cuối bài

2 Ý Nghĩa

' Critical Thinking

Trang 3

Nghĩa Đen” là một đặc tính của những sự diễn đạt bằng ngôn ngữ Nghĩa đen

của một chuỗi từ được quyết định bởi những tính chất ngữ pháp của nó và những ý nghĩa mà nó được ấn định một cách thông thường đối với những từ

đó Nghĩa đen của một lời nói sẽ khác với ngụ ý nói chuyện của nó — thông tin

mà nó được chuyền tải một cách ngắm ngầm trong những ngữ cảnh nói chuyện riêng biệt, khác với nghĩa đen của lời nói

Ví dụ, gia sử ta hỏi Thảo là cô ấy có muốn đi xem phim hay không và cô ta trả lời, “tôi rất mệt” Một cách tự nhiên chúng ta sẽ suy ra rằng Thảo không muốn

đi xem phim Nhưng điều này không phải là phần nghĩa đen của những gì Thảo

đã nói Hơn nữa, thông tin mà cô ta không muốn đi được suy luận một cách

gián tiếp Tương tự, giả sử chúng ta nghe Sương nói, “Tí thích sách” Chúng ta

có thể bảo Sương nói răng Tí thích đọc Nhưng điều này phần lớn là ngụ ý nói chuyện, và không phải là phần nghĩa đen của những gì mà Sương đã nói Có

thé là Tí ghét đọc và cô ta thích sách chỉ vì cô ta nghĩ rằng đọc sách là cách đầu

tư tốt Nhưng nếu đây là một trường hợp, thì sự khẳng định của Sương vẫn

đúng

Một điểm quan trọng được minh họa bởi ví dụ này là khi chúng ta muốn tìm ra

một lời nói có đúng hay không, nó là nghĩa đen của lời nói mà chúng ta sẽ xem

như là vậy, và không phải là ngụ ý nói chuyện của lời nói Đây là điều quan

trọng đặc biệt trong văn cảnh pháp luật Nội dung của một bản hợp đồng đưa ra

một cách tiêu biểu nghĩa đen của những mục trên hợp đồng, và nếu có sự tranh chấp về bản hợp đồng, thì cuối cùng nó được giải quyết bằng nghĩa đen của những mục trên bản hợp đồng, và không được giải quyết bởi cái mà người ta

hay người khác nghĩ theo ngụ ý ngâm

Sự Vô Nghĩa”

Trong ngôn ngỡ thông thường, tính “vô nghĩa” đôi khi được sử dụng một cách khá là bừa bãi Những yêu câu không quan trọng hoặc trống rồng đôi khi cũng

được diễn tả bởi từ “vô nghĩa” Ví dụ, giả sử Tùng được hỏi rằng anh ta sẽ đi

dự tiệc hay không, và anh ta trả lời ° “nếu tôi tới, tôi sẽ tới ` Nói một cách chính xác, đây là một lời nói trong rong vì nó không cung cấp được bất kỳ một thông tin hữu dụng nào về việc Tùng có thể tới hay không Nhưng câu nói đó thì đủ nghĩa và đúng ngữ pháp một cách hoàn hảo Là một câu chính xác sẽ không diễn đạt những lời nói vô nghĩa như vậy

3 Những Định Nghĩa

? Literal Meaning

3 Meaninglessness

Trang 4

Sự thiếu rõ ràng về nghĩa có thể cản trở những lập luận hay và gây trở ngại cho hiệu quả truyền đạt thông tin Một cách đề làm cho nghĩa rõ ràng hơn là sử

dụng định nghĩa Một định nghĩa được cấu thành bởi 2 phân - một Định Từ và

một ĐỊNH NGHĨA Định Từ là một từ hay mục từ mà nó được định nghĩa, trái

lại Định Nghĩa là một nhóm từ hay những khái niệm được sử dụng trong định

nghĩa mà nó được giả sử răng nó cùng nghĩa như Định Từ Ví dụ, trong nghĩa của “chàng độc thân”, với nghĩa “một người đàn ông chưa có vợ”, từ “chàng độc thân” là Định Từ, và “một người đàn ông chưa có vợ” là Định Nghĩa

Chúng ta có thê chia các định nghĩa thành 4 loại:

Định Nghĩa Báo Cáo

Một định nghĩa báo cáo” đôi khi cũng đã biết như là một định nghĩa từ vựng

Nó báo cáo ý nghĩa tồn tại của một từ Điều này bao gồm từ “người đàn ông chưa có vợ” như ví dụ ở trên, hay định nghĩa của “số nguyên” khi nhắc đến bất

kỳ một số nguyên nào lớn hơn 1 và có thể chia hết cho 1 và chính nó Một định

nghĩa báo cáo diễn đạt từ chính xác mà nó định nghĩa

Định Nghĩa Qui Định

Một định nghĩa qui định” được sử dụng để giải thích ý nghĩa tồn tại của một từ

Nó được sử dụng để ấn định một nghĩa mới cho một từ, bất luận một từ đó đã

có nghĩa hay không Nếu định nghĩa qui định được chấp nhận, thì từ được sử

dụng theo cách mới mà nó được ra lệnh Ví dụ, giả sử một định nghĩa qui định

được đề nghị định nghĩa “MBA” theo nghĩa “Đã có gia đình nhưng vẫn cập bổ” Chấp nhận một định n nghĩa như thế, chúng ta có thể đi theo sự biểu diễn những người khác là MBA

Định Nghĩa Chính Xác

Một định nghĩa chính xác” có thê được xem như là một tô hợp của những định

nghĩa báo cáo và qui định Mục đích của những định nghĩa chính xác là để làm cho nghĩa của các từ chính xác hơn đối với một vài mục đích Ví dụ, một công

ty xe buýt có thể muốn đưa ra một sự giảm giá cho những người cao tuổi

* Reportive Definition

* Stipulative Definition

6 TQ hiệu đính: MBA viết tac cho Master of Business Administration, c6 nghĩa là Thạc Sĩ Quản Trị Kinh

Doanh Nhưng MBA còn có nghĩa tiếng lóng là “Married but Available”, nghĩa là “Đã có gia đình nhưng vẫn cặp bề” Nếu chúng ta quy định MBA theo nghĩa thứ 2, thì chúng ta có rất nhiều MBA khác trong nhóm mày râu!!! Trong tiếng Việt, chúng ta cũng có nhiều từ như vậy lắm “Yêu nước” là yêu quê hương đất nước, hay thích uống nước nhiều lắm? Tên thuốc CAPTAIN, HERO có thê được chế biến ra nhiều nghĩa khác nhau!

’ Precising Definition

Trang 5

Nhưng chỉ tuyên bố rằng người già cĩ thê trả tiền xe ít hơn sẽ dẫn đến nhiều

cuộc tranh cãi, vì nĩ khơng nĩi rõ bao nhiêu tuơi sẽ là một người già Vì vậy

người ta cĩ thê định nghĩa “một người già” như “bất kỳ một người nào 65 tuổi trở lên” Đây là một định nghĩa hiển nhiên giữa nhiều định nghĩa cĩ thể cĩ Một cách tương tự, những định nghĩa chính xác rất quan trọng trong việc lập ra những quy luật và những quy tắc Chúng ta cĩ thể muốn loại trừ hay trừng phạt ViỆc quây rồi tình dục, nhưng chúng ta cân một định nghĩa chính xác vê quây rơi tình dục để người ta biết cái nào là thích hợp và cái nào thì khơng Ví dụ,

một giáo sư sinh vật cho một bài kiểm tra bất ngờ về giới tính con người tốt

hơn hết khơng nến tính chuyện này như là “sự quấy rối tình dục” dưới bất kỳ

định nghĩa nào

Sau cùng, những định nghĩa chính xác cĩ thể được sử dụng để giải quyết lại những cuộc tranh cãi mà liên quan đến những khái niệm chính mà ý của những

người này cĩ thê khơng đủ rõ ràng Giả sử 2 người đang tranh luận về những

thú vật như chim hay khi khơng đuơi cĩ ngơn ngữ hay khơng Đề giải quyết lại cuộc tranh cãi này, chúng ta cần chính xác hơn khi nĩi nghĩa của “ngơn ngữ” là

øì Nếu “ngơn ngữ” của chúng ta dựa vào bất kỳ hệ thống liên lạc nào, thì dĩ nhiên những con chim và những con thú khác sử dụng ngơn ngữ Theo cách khác, “ngơn ngữ” cĩ thể được sử dụng theo một phương hướng khác, yêu cầu

một cú pháp tơng hợp và ngữ nghĩa học, cho phép một người sử dụng ngơn

ngữ đối với thơng tin liên lạc về những đối tượng hay những tình huơng điều

khiến theo thời gian và khơng gian từ vị trí của ngơn từ Theo cách như vậy,

các hệ thống liên lạc của hầu hết những thú vật sẽ khơng đủ khả năng là ngơn ngữ

Định Nghĩa Thuyết Phục

Một định nghĩa thuyết phục” là bất kỳ định nghĩa nào mà nĩ gắn với một cảm

xúc, xác thực hay làm giảm đi nghĩa của một tử khi nĩ khơng cịn nỡa Ví dụ, nhiều người phản đối việc nạo thai, cĩ thể định nghĩa “nạo thai” là “sự giết hại

những đứa trẻ cịn ngây thơ” Định nghĩa này mang một hàm ý chống đối vì

mục “sự giết hại” cho rằng nạo thai là giết người phi pháp, và nĩ cũng thừa nhận răng phơi thai cũng là một con người Một định nghĩa như vậy chắc chăn khơng thích hợp trong một cuộc tranh luận hợp lý trên nguyên tắc đạo đức của

việc nạo thai, mặc dù nĩ cĩ thể hữu dụng như một cơng cụ hùng biện.”

Š Persuasive Definition

?'TQ hiệu đính: chúng ta cần để ý tới định nghĩa thuyết phục, vì khi chúng ta chấp nhận định nghĩa thuyết phục, thì chưa tranh cải, chúng ta đã thua Theo ví dụ trên, nếu chúng ta chấp nhận phơi thai là con người, thì tắt nhiên “nạo thạ” là “giết người” Vì thế, chúng ta cần phải tìm hiểu trọng tâm của vấn đề: “phơi thai

cĩ phải là con người hay chưa?”

Trang 6

Định Nghĩa Uớc Lượng

Tiêu chuẩn cho những định nghĩa ước lượng"? tùy thuộc vào loại định nghĩa

mà chúng ta đang xem xét Với định nghĩa báo cáo, điều quan trọng là đưa ra định nghĩa một cách chính xác có được mà cách sử dụng từ nó đã định nghĩa Đặc biệt, điều này có nghĩa là định nghĩa sẽ không quá rộng hoặc không quá hẹp

Một định nghĩa quá rộng hay quá mênh mông nếu Định Nghĩa áp dụng những thứ mà Định Từ không áp dụng Ví dụ, định nghĩa một máy bay là một máy

móc có thê bay được, định nghĩa này quá rộng vì trực thăng thì cũng là một cái máy có thê bay, nhưng chúng không phải là máy bay

Một định nghĩa quá hẹp nếu Định Nghĩa không áp dụng những thứ mà Định

Từ áp dụng; ví dụ: định nghĩa một tam giác là một hình phăng với 3 cạnh băng nhau

Chú ý rằng một định nghĩa có thể là vừa quá rộng và cũng quá hẹp vào cùng một thời điểm Nếu bạn định nghĩa “rau” là những cái lá có thể ăn được của bất

kỳ cây nào, định nghĩa này quá hẹp vì nó không có tính đến cà chua và khoai tây Mặt khác, nó cũng quá rộng vì lá trà cũng có thể ăn được nhưng nó không phải là rau

Vẫn đề đáng nói là hoặc một định nghĩa quá mênh mông hoặc quá hẹp không xảy ra với những định nghĩa qui định, vì định nghĩa đó không thể hiện cách sử

dụng hiện có Nhưng điều quan trọng là định nghĩa qui định cần tránh sự vòng

vo, mâu thuẫn và tối nghĩa

4 Các Điều Kiện Cần Và Đủ

Những điêu kiện cân và đủ giúp chúng ta hiệu và giải thích được những môi

quan hệ khác nhau giữa các khái niệm, và tình trạng một việc liên kêt với những việc khác như thê nào

Nói rằng X là một điều kiện cần đối với Y thì có nghĩa rằng không thể có Y

mà không có X Nói cách khác, sự văng mặt của X bảo đảm có sự vắng mặt

của Y Một điều kiện cần đôi khi cũng được gọi là “một điều kiện chủ yếu” Một vài ví dụ:

e©_ Một hình tứ giác thì cần phải có 4 cạnh

® Một người lính giỏi thì cần phải có điêu kiện là: dũng cảm

10 Rvaluative Definition

Trang 7

e Không phải một số chẵn là cân thiết dé trở thành một số nguyên

Dé thay duge X khong phai la 1 điều kiện cần của Y, chúng ta dé dàng tìm ra một tình huông khi Y có mặt nhưng X thì không Ví dụ:

e_ Giàu không phải là điều kiện cần đối với việc được nhiều sự tôn kính,

vì một nhà hoạt động xã hội rất được tôn kính có thê thật sự rất nghèo

e©_ Sống trên cạn không phải là điều kiện cần để làm một loài động vật có

vú Cá voi là loài động vật có vú, nhưng chúng sống dưới biển

Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta cần biết khái niệm về điều kiện cần rất

thường xuyên, ngay cả dù cho chúng ta có thể đang sử dụng những từ khác nhau Ví dụ, khi chúng ta nói những câu như là ° “cuộc sống cần phải có

oxigen”, diéu mày thì cũng tương tự như nói rằng oxigen là điều kiện cần thiết đối với việc tồn tại của sự sống

Một tình trạng nào đó của vẫn đề có thê có nhiều hơn một điều kiện cần thiết

Ví dụ, đề trở thành một người chơi piano hay trong buổi hòa nhạc, có kỹ thuật

tốt về ngón tay là một điều kiện cần Nhưng điều này chưa đủ Một điều kiện

cần thiết khác là giỏi biêu diễn nhiều bài nhạc bằng piano

Kế tiếp, chúng ta nói đến những điều kiện đủ Để nói rằng X là một điều kiện

đủ đối với Y thì nói rằng sự có mặt của X bảo đảm sự có mặt của Y Nói cách khác, không thể có X mà không có Y Nếu X có mặt, thì Y cũng phải có mặt

Lặp lại một số ví dụ:

e©_ Là một tứ giác là điều kiện đủ để có 4 cạnh

e©_ Có thê chia hết cho 4 là điêu kiện đủ để là một sô chẵn

Đề thấy được rằng X không phải là điều kiện đủ đối với Y, chúng ta đưa ra

trường hợp khi X có mặt nhưng Y thì không Ví dụ:

® Yêu một người không là điều kiện đủ để được yêu Một người hèn hạ

và xâu xa yêu một người có thể không được người ta yêu

e©_ Trung thành thì không đủ để trở thành một người trung thực bởi vì hắn

có thê nói dối để bảo vệ người mà hắn trung thành

Những biểu thức như là “Nếu X thì Y7, hay “X thì đủ đối với Y”, có thể cũng được hiểu như khi nói răng X là một điều kiện đủ đối với Y Chú ý răng một số tình trạng của vấn đề có thé có nhiều hơn một điều kiện đủ Xanh da trời là điều kiện đủ đề có màu sac, nhưng đĩ nhiên xanh lá cây hay màu đỏ thì cũng là điều kiện đủ để có màu sắc

Trang 8

Cho 2 điều kiện bất kỳ X và Y, chúng có thể liên kết với nhau theo 4 cách:

X thì cần nhưng không đủ cho Y

X thì đủ nhưng không cân đối với Y

X thì cần và đủ đối với Y (hay “cùng chung cần và đủ”)

X thì không cần cũng không đủ đối với Y

Sự phân loại này rất hữu dụng khi chúng ta muốn làm sáng tỏ 2 khái niệm liên kêt với nhau như thê nào Đây là các ví dụ:

e©_ Có 4 cạnh thì cần nhưng không đủ để là một hình vuông (vì hình chữ

nhật có 4 cạnh nhưng nó không phải là hình vuông)

e©_ Có một đứa con trai thì đủ nhưng không cần thiết để làm ba mẹ (làm ba

mẹ có thê chỉ có một đứa con gái)

e©_ Là một người đàn ông chưa kết hôn thì đủ và cần thiết để là một “người

đàn ông chưa có vợ”

e©_ Là một người cao thì không cần cũng không đủ để là một con người

thành đạt

Hiểu biết các điều kiện cần và đủ rất hữu dụng trong việc giải thích những môi

quan hệ giữa những khái niệm trừu tượng Ví dụ, trong việc giải thích nhu cầu

tự nhiên của sự bình đẳng, chúng ta có thể nói rằng nguyên tắc của luật pháp

thì cần thiết nhưng không đủ cho sự bình đẳng

5 Những Sai Lầm của Ngôn Ngữ

Những khó khăn về ngôn ngữ học là việc lạm dụng ngôn ngữ như khi ngôn ngữ thường sử dụng không rõ nghĩa, bóp méo hay tạo những lời nói, xuất hiện

nhiều thông tin sâu sắc hơn những gì chúng thật sự có

Trang 9

Sự Lưỡng Nghĩa Do Ám Chỉ xảy ra khi ngữ cảnh không làm rõ là một đại từ

hay sô lượng đang được đê cập tới Ví dụ, lời nói sau đây không nói rõ aI là người bị thương:

e©_ “Ally đánh Georgia và sau đó cô ta bắt đầu chảy máu.” Ai chảy máu? Ally hay Georgia, hay một người thứ 3?

Nhiều người thích nói những lời chung chung, như là “các nhà chính trị thì ăn

hối lộ” Thật ra, câu nói này ngụ ý rằng không có nhà chính trị nào mà không

ăn hối lộ Nhưng đĩ nhiên chúng ta có thể phản chứng với nhiều ví dụ khác cho cách lập luận như thế này Vì vậy người ta nói “Tôi thật sự không có ý nói mỗi

hay tất cả các nhà chính trị.” Nhưng sau đó thì chính xác ai là người được đề cập đến?'”

Sự Lưỡng Nghĩa Về Cú Pháp nghĩa là có nhiều hơn một nghĩa do có nhiều hơn

một cách đề giải thích cầu trúc ngữ pháp Điều này có thể xảy ra ngay cả khi

nó làm rõ cái nào là nghĩa của những tử riêng biệt Xem xét câu “chúng ta sé

thảo luận bạo lực trên ti-vi.” Nó có thê có nghĩa là cuộc thảo luận sẽ được điều khiển một cách bạo lực trong một chương trình ti-vi, hay nó có thể có nghĩa là bạo lực trên TV là chủ đề đề thảo luận,

Khi có liên quan đến vẫn đề ngôn ngữ Lưỡng Nghĩa, chúng ta nên làm rõ ngữ

cảnh nào đối với người nghe sự giải thích nào là chính xác Khi chúng ta bắt

gặp sự Lưỡng Nghĩa, chúng ta có thê cô gắng làm sáng tỏ ý nghĩa một cách dứt

khoát bằng cách liệt kê ra danh sách tất cả những sự giải thích khác nhau có thể

có Qui trình của sự thay déi lại sự Lưỡng Nghĩa này được biết như là “sự rõ

ràng” Thông thường, tránh né sự Lưỡng Nghĩa chỉ ứng dụng đối với những

tình huống khi chúng ta muốn liên lạc một cách hoàn toàn chính xác Tuy nhiên, trong các hoạt động văn chương, sự Lưỡng Nghĩa có thể thật sự là một

nghệ thuật

À

Sự Mơ Hồ

Một từ là mơ hồ'' nếu nó có một ranh giới không chính xác Khi mặt trời mọc

thì vùng xung quanh trở nên tôi, nhưng không có biên giới rõ rệt khi mà vùng xung quanh chuyên từ sáng sang tôi Vì vậy “tôi” và “sáng” là những từ mơ hô

“Cao” thì cũng mơ hồ vì có những trường hợp khó mà nói được là một người

có cao hay không, nhưng sự do dự này không phải do thiêu hiệu biệt vê chiêu

! TQ hiệu đính: tiếng Việt chúng ta cũng có những từ tương tự “Quyền” như là cú đấm hay là quyền hành “Vô Thượng Sư” là vị sư không cao (nghĩa là làn) hay là vị sư không có ai cao hơn (tức là cao nhất)

“Tôi có đạo” nghĩa là tôi làm đạo tặc, hay tôi có theo một tôn giáo?

4 Vagueness

Trang 10

cao của con người Bạn có thể biết một cách chính xác một người cao bao nhiêu, nhưng bạn vẫn không thể quyết định rang anh ta có cao hay không Những từ này là do ngôn ngữ mơ hô, ví dụ: “núi” (bự như thế nào mới gọi là

núi), “khéo léo” (cư sử tế nhị như thé nào mới gọi là khéo léo), “rẻ” (giá thấp tới đầu mới gọi là rẻ)

Chú ý rằng chúng ta nên phân biệt giữa sự Mơ Hồ và sự Lưỡng Nghĩa Một từ

có thê mơ hô ngay cả dù cho nó không có sự Lưỡng Nghĩa, và những định nghĩa khác nhau của một từ Lưỡng Nghĩa có thê that sy rat chính xác

Khi chúng ta cần sự chính xác và nâng cao kiên thức, chúng ta nên tránh sự mơ

hô Nhiêu sinh viên thường thích hỏi những câu như là:

e©_ Có phải học kỳ này sẽ có rất nhiều bài tập ở nhà không?

e C6 phai bài kiêm tra cuôi khóa sẽ rât khó không?

Nhưng dĩ nhiên những từ như “khó” và “rất nhiêu” là mơ hồ Nó không làm rõ

xem là những câu hỏi này nên được trả lời như thê nào! Những yêu câu mơ hồ thì cũng thường xảy ra trong việc bói toán Đây là một trường hợp:

© Chuân bị thay đôi hướng đi vào tuân này vì có vài chuyện xảy ra bât ngờ

Vì nó không rõ ràng là cái gì được nói đến khi thay đối việc hướng đi (một số

người chắn đường đi của bạn trên vỉa hè nên bạn không thể đi trên một đường

thang?), người ta có thể dễ dàng tìm ra một sự kiện hay một cái khác như là

“bằng chứng” để chứng thực lời tiên đoán Giống như đối với lời tiên đoán khá

vô nghĩa này:

e Một phân tin tức sẽ ảnh hưởng đến thị trường cổ phiếu trong một phạm

vi nao đó

Sai lam khi noi rang tu duy phân tích yêu cầu là chúng ta loại tru tất cả sự mơ

hồ Những câu mơ hồ có thể hữu dụng mỗi ngày trong cuộc sông vì thông thường chúng ta không phải quá chính xác Tùy vào mức độ hiển nhiên trong một ngữ cảnh mà chúng ta nên chính xác bao nhiêu

Sự Thiếu Nghĩa

Một từ không đủ nghĩa nếu như đặc tính và mỗi tương quan mà nó thể hiện tùy

thuộc vào một tham số nữa được chỉ rõ bởi ngữ cảnh, trực tiếp hay ngụ ý Điều này bao gồm những từ như “hữu dụng”, “quan trọng”, tương tự” và “tốt hơn” Thực tế thì tất cả các đối tượng “hữu dụng” và “quan trọng” chỉ trong một số

Trang 11

sự quan tâm nào đó, chứ không phải trong mọi trường hợp Ví dụ, có phải tình yêu thì quan trọng hơn tiên không? À, còn tùy Nếu bạn thiếu ăn đến chết, thì tiền là quan trọng hơn Nhưng nêu ban dang tim kiếm một người nào đó cho

cuộc đời bạn, thì tình yêu có lẽ sẽ tốt hơn cho bạn

Do đó chỉ nói rằng cái gì đó hữu dụng hay quan trọng thì vô nghĩa trừ khi làm

rõ là nó hữu dụng hay quan trọng theo cách nào Đây là 2 lời nói mâu mà nghĩa của chúng thì không đây đủ:

®©_ “Có phải bài thi cuối khóa năm nay sẽ tương tự như bài năm ngoái

nghĩa chuân của nó mà không có các dâu hiệu rõ ràng

Việc sử dụng những biểu lộ cảm xúc không thích hợp là một ví dụ tiêu biểu

của sự bóp méo Nhiều sự biểu lộ trong ngôn ngữ là những diễn tả không trong sáng nhưng mang theo những hàm ý tiêu cực hoặc tích cực Xét lại sự liên tưởng vỆ việc nạo thai với tội giết người Giả sử một người nào đó tranh luận,

“nạo thai là sự giết người của một đứa trẻ không ai mong muốn và do đó sẽ

không được cho phép.” Từ “tội giết người” mang hàm ý là một hành động sai

trái, vì tội giết người thì thường là giết người phi pháp Khi một lý lẽ phản đối việc nạo thai là vẫn đề này, thì không có gì để phải bàn luận vì người ta đã giả định trước nạo thai là sai trái, điều cần được chứng minh một cách chính xác

hơn Tuy nhiên, người nào đó mà không cân thận và bỏ qua việc phát hiện ra

hàm ý tiêu cực có thê dễ dàng bị thống trị bởi lý lẽ

Sự Cụ Thể Hóa

Sự cụ thể hóa!” xem một ý tưởng hoặc một tính chất trừu tượng như thể nó là một đối tượng vật lý cụ thể Ví dụ, một khẩu hiệu trên một chương trình truyền

hình nổi tiếng nói “Sự thật ở ngoài đó” Điều này xem sự thật như thể nó là

một đối tượng vật lý mà nó có thể hoặc ở đây hoặc ở ngoài một nơi nào đó

Nhưng sự thật là một tính chất trừu tượng của những yêu cầu và lý thuyết, và

nó không được ấn định ở bất cứ chỗ nào Vì vậy đây là một ví dụ của sự cụ thể

15 Distortion

16 Reification

Trang 12

hóa Dĩ nhiên, chúng ta biết một cách đại khái ý nghĩa muốn nói là gì Ý là cái

có thê gidng “sự thật về [một van dé nao đó] là cái mà chúng ta có thê khám phá nêu như chúng ta có đủ sự cô gang.’ “Một ví dụ khác, giả sử câu tuyên

truyền phô biến là “Lịch sử thì công bằng.” Một người hay một hệ thông

nguyên tắc hoặc pháp luật có thể là công bằng hay không công băng, nhưng sự

công bằng thì thật sự không phải là một tính chất của lịch sử, lẫy một phần sự thật về cái đã xảy ra trong quá khứ Nhưng một lần nữa chúng ta có thê đoán người nói nghĩ gì khi mà nói như vậy Có lẽ ý nghĩa chứa đựng là giỗng như

“qua thời gian con người sẽ tạo được những quan điểm chính xác và công bằng

về vấn đề đang thảo luận.”

Hai ví dụ ở đây cho thấy răng sự cụ thể hóa trong bản chất của nó không cần bị

phản đối Nó làm tăng tác động mạnh mẽ và thường được sử dụng trong văn thơ và các phép ân dụ Tuy nhiên, nếu mục đích của chúng ta là để truyền đạt

thông tin một cách rõ ràng và đơn giản, thì ta nên tránh sự cụ thể hóa Nếu một yêu cầu mà dùng sự cụ thể hóa để diễn đạt đầy đủ ý nghĩa và cung cấp được nhiều thông tin, thì nó còn có thể được diễn đạt một cách rõ ràng hơn bằng ngôn ngữ đơn giản không có sử dụng sự cụ thể hóa Vì vậy, nói chung, trừ khi

bạn muốn tác động mạnh mẽ, còn không thì hãy tránh sự cụ thể hóa Nhưng

nếu bạn phải sử dụng nó, hãy đảm bảo chắc chắn rằng bạn biết bạn thật sự

muốn nói cái gì

Phạm Trù Sai Lầm

Đây là sai lầm của việc qui định một tính chất cho một vài đối tượng mà theo

một cách logic thì nó không thể có, hay một cách chung hơn là miêu tả sai phạm trù của nó Xem xét câu thường thấy “những ý ý tưởng xanh không màu ngủ một cách mãnh liệt” Câu này chứa đựng một sô những phạm trù sai lầm,

vì những ý tưởng xanh không thê nói là không có màu sắc, và những ý tưởng thì không phải là một vật chất mà nó có thể ngủ Cách đây vài năm, sinh viên

Luật Đại Học Hồng Kông giăng một khẩu hiệu nói rằng “Chúng Tôi Là Luật Pháp” Đây là một phạm trù sai lầm vì luật pháp là những quy định và những

nguyên tắc, và người ta thì không phải là luật pháp Dĩ nhiên, đôi khi con người nói rằng “tôi là luật pháp” có ý rang ho là chủ và mọi người nên nghe theo những gì mà họ ra lệnh Nhưng điều này trái ngược với ý tưởng của sự công bằng và nguyên tắc của luật pháp mà nó là trung tâm đôi với những nhóm

người dân chủ hiện đại Sinh viên luật nên biết nhiều hơn những khẩu hiệu

tuyên bố như thế

6 Những Khái Niệm Logic Cơ Bản

Ngày đăng: 11/08/2012, 21:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w