1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thanh toán bằng Thương mại điện tử

25 601 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thanh toán bằng thương mại điện tử
Tác giả Đồng Hoàng Thơm, Võ Thị Minh Trúc, Phạm Thị Kim Trang, Ngũ Ngọc Thanh, Trần Thị Thuỷ Trinh, Nguyễn Thị Thanh Hà, Trần Ngọc Nữ, Huỳnh Thị Hạnh Dung, Hoàng Kim Thuý, Hoàng Thị Thuỷ, Huỳnh Thị Chúc Châu, Nguyễn Thị Lệ Huyên
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế
Chuyên ngành Thương mại điện tử
Thể loại báo cáo
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 539,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ khi ra đời đến nay, TMĐT đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau như online trade, cyber trade, paperless commerce, i-commerce (internet commerce), m- commerce (mobile commerce), e- commerce (electronic commerce).

Trang 1

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

DANH SÁCH NHÓM BFF ( Best Friends Forever) 1 Đồng Hoàng Thơm Nhóm trưởng 0814969

2 Võ Thị Minh Trúc 0817482

3 Phạm Thị Kim Trang 0811481

4 Ngũ Ngọc Thanh 0817283

5.Trần Thị Thuỷ Trinh 0819288

6 Nguyễn Thị Thanh Hà 0811264

7 Trần Ngọc Nữ 0817575

8 Huỳnh Thị Hạnh Dung 0809785

9 Hoàng Kim Thuý 0815811

10 Hoàng Thị Thuỷ 0819448

11 Huỳnh Thị Chúc Châu 0809222

12 Nguyễn Thị Lệ Huyên 0816559

Trang 2

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

I Các khái niệm 4

II Lịch sử phát triển TMĐT 1 Quá trình hình thành và phát triển TMĐT trên thế giới 7

2 Thực trạng phát triển TMĐT ở Việt Nam 8

III Các loại hình chủ yếu của TMĐT 9

IV Lợi ích và hạn chế của TMĐT 10

CHƯƠNG 2: ỨNG DỤNG TMĐT TẠI NGÂN HÀNG ĐÔNG Á ( DAB) I Giới thiệu ngân hàng Đông Á 15

II Các dịch vụ và cách thức giao dịch qua Internet 1 Các dịch vụ 18

2 Cách thức giao dịch 18

3 Các dịch vụ được sử dụng qua các phương thức giao dịch trong DAB 19

4 Hướng dẫn sử dụng Internet Banking 20

III Những thuận lợi và khó khăn khi giao dịch 1 Thuận lợi 23

2 Khó khăn 24

IV GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ 1 Giải pháp 25

2 Kiến nghị 25

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Trong thập kỷ qua, thương mại điện tử đã phát triễn như vũ bão và đã trở thành mốiquan tâm lớn không những chỉ đối với các doanh nghiệp ở các nước phát triển mà là tất cả cácdoanh nghiệp trên thế giới Trong quá trỉnh hội nhập hiện nay, đặc biệt sau sự kiện Việt Nam gianhập tổ chức thương mại thế giới ( WTO), việc tiếp cận và phát triển thương mại điện tử đangngày càng trở nên cấp thiết

Với xu hướng phát triển của ngày kinh tế hiện đại và kỹ thuật cao của ngành công nghệthông tin, chúng tôi mong muốn việc ứng dụng ngành thương mại điện tử ngày càng tiếp cận hơnđối với người tiêu dùng như trong việc quảng cáo bán hàng, phân phối sản phẩm, thanh toán trênmạng Internet, các giao dịch thương mại thông qua mạng viễn thông và các phương tiện điện tửnhư là việc ứng dụng thương mại điện tử tại một số ngân hàng : Dong A bank, Eximbank,Agribank, Techcombank…

Để hiểu rõ về việc cung cấp các dịch vụ thanh toán bằng thương mại điện tử vàcác bước sử dụng dịch vụ này, chúng tôi sẽ giới thiệu về ngân hàng Đông Á- một trongnhững ngân hàng phát triển mạnh về cách thức thanh toán trực tiếp

Trang 4

1 Khái niệm TMĐT theo nghĩa hẹp :

- Theo định nghĩa tại diễn đàn đối thoại xuyên Đại Tây Dương (1997), TMĐT là các giao dịchthương mại về hang hóa và dịch vụ được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử

- Theo EITO (1997), TMĐT là việc thực hiện các giao dịch kinh doanh có dẫn đến việc chuyểngiao giá trị, thông qua các mạng viễn thông

- Theo cục thống kê Hoa Kỳ (2000), TMĐT là việc hoàn thành bất kỳ một giao dịch nào, thôngqua một mạng máy tính làm trung gian, có bao gồm việc chuyển giao quyền sở hữu hay quyền sửdụng hàng hóa và dịch vụ

Như vậy, TMĐT theo nghĩa hẹp được hiểu là hoạt động thương mại đối với hàng hóa vàdịch vụ thông qua các phương tiện điển tử và mạng internet

2 Khái niệm TMĐT theo nghĩa rộng:

- Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) định nghĩa bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng,phân phối sản phẩm và thanh toán trên mạng internet, được giao nhận trực tiếp hay giao nhậnqua internet dưới dạng số hóa

- Liên minh Châu Âu (EU) cho rằng TMĐT là toàn bộ các giao dịch thương mại thông qua mạngviễn thông và các phương tiện điện tử, bao gồm TMĐT trực tiếp ( trao đổi hàng vô hóa hữuhình) và TMĐT gián tiếp (trao đổi hàng hóa vô hình) Ngoài ra, TMĐT còn bao gồm chuyển tiềnđiện tử (electronic fund transfer- EGT), mua bán cổ phiếu điện tử (electronic share trading-EST), vận đơn điện tử( electronic bill of lading- E B/L), đấu giá thương mại (commercialauction), hợp tác thiết kế và sản xuất, tìm kiếm các nguồn lực trực tuyến, mua sắm trực tuyến,

Trang 5

marketing trực tiếp, dịch vụ khách hàng hậu mãi…

Theo tổ chức OECD, TMĐT gồm các giao dịch thương mại liên quan đến các tổ chức và cánhân, dựa trên việc xử lý và truyền đi các dữ kiện được số hóa, thông qua các mạng mở (nhưInternet) hoặc các mạng đóng thông với các mạng mở (như AOL)

Định nghĩa của Liên Hiệp Quốc có lẽ là đầy đủ và bao quát nhất, nhằm giúp các nước có thểtham khảo làm chuẩn, tạo cơ sở xây dựng chiến lược phát triển TMĐT phù hợp Theo tổ chứcnày, TMĐT phản ánh chiều ngang là việc thực hiện toàn bộ các hoạt động kinh doanh bao gồmMarketing, bán hàng, phân phối và thanh toán thông qua các phương tiện điện tử; phản ánh theochiều dọc bao gồm cơ sở hạ tầng cho sự phát triển TMĐT, các thông điệp, các quy tắc cơ bản vàđặc thù, các ứng dụng

Tóm lại theo nghĩa rộng, TMĐT là toàn bộ quy trình và các hoạt động kinh doanh sử dụngcác phương tiện điện tử và công nghệ xử lí thông tin số hóa, liên quan đến các tổ chức hay cánhân Để dễ hình dung những điểm tương đồng và khác biệt giữa TMĐT và thương mại thôngthường, hay còn gọi là thương mại truyền thống (TMTT), hãy xem xét một ví dụ minh họa đơngiản sau đây Giả sử bạn vào siêu thị để mua một số đồ dùng và thức ăn Bạn có thể đã thamkhảo chất lượng, kích cỡ, màu sắc, giá cả những mặt hàng bạn định mua ở nhiều cửa hàng vàsiêu thị khác nhau trước đó Khi đã quyết định chọn mua một mặt hàng nào đó, bạn đặt nó trong

xe chở hàng và tiếp tục đi chọn mua các mặt hàng khác, tại các quầy khác Khi chọn hàng xong,bạn mang toàn bộ những mặt hàng đã chọn đến quầy tính tiền, thanh toán bằng tiền mặt hoặcbằng thẻ tín dụng TMĐT sử dụng phương phương pháp mô phỏng quá trình mua sắm thôngthường như vậy thiết kế quá trình phục vụ mua sắm trên mạng Bạn có thể viếng thăm các quầyhàng trên mạng, chọn các mặt hàng ưng ý và đưa vào một “xe đẩy” ảo Khi hoàn tất việc chọnhàng và sẵn sàng để mua, bạn bấm vào nút “mua” (“purchase”) Để hoàn tất giao dịch, bạn cầncung cấp cho trang mua địa chỉ gửi hàng và số thẻ sử dụng của bạn So sánh các bước thực hiệnTMTT và TMĐT được thể hiện trong bảng dưới đây

Bảng : So sánh giữa hai cách mua hàng cũ và mới

Các bước của chu trình

Thu thập thông tin về sản

phẩm

Tạp chí, tờ bướm,catolgue…

Trang web

Viết phiếu yêu cầu mua

hàng

Các biểu mẫu insẵn, thư

E-mail

Trang 6

Kiểm tra khả năng cung

ứng và giá cả

Điện thoại, fax

Tạo đơn đặt hàng Dạng mẫu in sẵn E-mail,

trang webGửi và nhận đơn đặt hàng Fax, thư E-mail, trao

đổi dữ liệuđiện

tử(EDI)Sắp xếp ưu tiên các đơn

hàng

CSDL trựctuyến

Kiểm kê hàng tồn Mẫu in sẵn, điện

thoại, fax

CSDL trựctuyến

CSDL trựctuyến

Viết hóa đơn xuất kho Mẫu in sẵn CSDL trực

tuyến

chuyểnThông báo nhận đủ hàng Mẫu in sẵn E-mail

Định lịch thanh toán Mẫu in sẵn EDI, CSDL

trực tuyến

chuyển khoản

EDI,EFT(chuyểnkhoản điệntử)

Cần chú ý là có sự phân biệt tương đối giữa TMĐT(e-commerce) và kinh doanh điện tử(e-business), TMĐT tập trung vào việc mua bán và trao đổi hàng hóa, dịch vụ, thông tin, qua cácmạng, các phương tiện điện tử và internet Còn kinh doanh điện tử chỉ sự phối hợp các doanhnghiệp, đối tác, khách hàng và tổ chức các hoạt động trong nội bộ doanh nghiệp

II Lịch sử phát triển TMĐT

Trang 7

1 Quá trình hình thành và phát triển TMĐT trên thế giới :

Ý tưởng đầu tiên về mạng kết nối các máy tính với nhau xuất hiện từ năm 1962 và đãđược Bộ Quốc phòng Mỹ triển khai thử nghiệm từ năm 1967 Tuy nhiên, phải đợi đến năm 1991,ngôn ngữ siêu văn bản (Hypertext Markup Language-HTML) cùng với giao thức truyền siêu vănbản (Hypertext Transfer Protocol-HTTP) ra đời, Internet mới thực sự trở thành công cụ đắc lựcvới hàng loạt dịch vụ mới Mạng Internet được sử dụng rộng rãi từ năm 1994 và sự phát triểnnhư vũ bão của Internet trong những năm vừa qua đã tạo ra cuộc cách mạng trong ngành truyềnthông, thông tin, rồi lan nhanh sang lĩnh vực kinh doanh, thương mại Cùng với World WideWeb (WWW), Internet trở thành công cụ quan trọng nhất của TMĐT Dù sinh sau đẻ muộn,Internet có khả năng cạnh tranh với các phương tiện truyền thông truyền thống với những thếmạnh và đặt điểm riêng của nó trên các mặt chính sau:

Thứ nhất, đây là cửa ngõ mở ra nguồn thông tin khổng lồ bất cứ nơi nào trên thế giới Bỏ ramột chi phí không lớn, mỗi doanh nghiệp, tổ chức hoặc cá nhân có thể có một địa chỉ websitetrên xa lộ thông tin này, ở đó họ có thể bày biện và tự giới thiệu hàng hóa, dịch vụ với các kỹthuật thể hiện tiên tiến, từ văn bản, từ hình ảnh, âm thanh cho đến phim ảnh Ở bất cứ đâu, chỉcần một máy tính nối mạng, người ta đều có thể vào “thăm” và tiếp nhận các thông điệp quảngcáo lên các trang chủ của các nhà cung cấp dịch vụ mạng nổi tiếng, nơi có nhiều khách thămviếng hơn Hiệu quả của các loại quảng cáo chạy trên đầu trang web hay nhảy vào một trang webvừa được mở ra là điều còn nghiên cứu thêm, tuy nhiên điều hiển nhiên là loại quảng cáo nàyngày càng đến được với nhiều đối tượng khách hàng

Thứ hai, Internet là môi trường diễn ra hàng loạt hội thảo, diễn đàn của những người có thể

ở cách xa nửa vòng trái đất, trong đó mỗi người vào mạng có thể tham dự và phát biểu ý kiến củamình Những nhà kinh doanh đã tận dụng những diễn đàn này để khéo léo phát đi những thôngđiệp quảng bá sản phẩm, dịch vụ của mình, hiệu quả rất lớn Hiện nay, giới trẻ là thành phần chủ yếu tham gia các diễn đàn (forum), trò chuyện, tán gẫu trên mạng (chat) hay lập blog Tác độnglẫn nhau trong xu hướng mua sắm, chọn lựa hang tiêu dung của họ thông qua cách thức trao đổinày hiều khi có hiệu ứng dây truyền còn và tiềm năng khai thác lớn đối với các nhà kinh doanh Thứ ba, hoạt động thư điện tử ( Email), một trong những tiến bộ lớn nhất hiện nay tronglĩnh vực truyền thông, nhờ vào các tiện ích rẻ tiền, nhanh chóng, có thể gửi đi một nội dung códung lượng lớn, có thể gửi thư cùng lúc cho nhiều người nhận khác nhau Thực ra, cách thức gửithư quảng cáo trực tiếp đến từng cá nhân là đối tượng khách hàng đã xuất hiện từ lâu Với sự ra

Trang 8

đời của thư điện tử, các nhà quảng cáo đã nắm lấy nó như một công cụ cách tân quan trọng sovới cách gửi thư quảng cáo qua đường bưu điện trước đây

Hiện nay, số người truy cập và sử dụng Internet trên thế giới đã vượt qua con số 2 tỷ, baogồm những người sử dụng máy tính cá nhân, điện thoại di động, máy thu hình và các thiết bịkhác Các doanh nghiệp tham gia TMĐT cũng phát triển rất lớn Từ tháng 5/1995, công tyNetscape đã tung ra các phần mềm ứng dụng để khai thác thông tin trên Internet Công ty IBMtung các chiến dịch quảng cáo cho các mô hình kinh doanh điện tử từ năm 1997 Một ví dụthành công điển hình nhất trong lĩnh vực TMĐT là công ty Amazon.com, công ty phát hành sáchnổi tiếng trên phạm vi toàn cầu, có trụ sở ở Seatle Washington Mỹ, có giá trị thị trường hơn 20 tỷUSD Điều đóng góp lớn nhất của hiệu sách ảo khổng lồ này chính là tạo ra các cơ hội thươngmại bằng cách tập hợp các nguồn lực trên Internet để thiết lập mối quan hệ trực tiếp với kháchhàng ở khắp nơi trên thế giới

2 Thực trạng phát triển TM Đ T tại Việt Nam

Dịch vụ Internet được bắt đầu cung cấp chính thức tại Việt Nam từ năm 1997 Trải qua mộtthập kỷ cơ sở hạ tầng mạng cũng như người sử dụng Internet tại Việt Nam đã gia tăng nhanhchóng Theo khảo sát của Asia Digital Marketing Yearbook – ADMY (asiadma.com), tính đếncuối tháng 5-2007, số người dùng Internet của Việt Nam đạt 14 triệu, xếp thứ 17/20 quốc gia vàvùng lãnh thổ đứng đầu thế giới về số người sử dụng Internet Theo thống kê của trung tâmInternet tại Việt Nam, đến hết tháng 6-2007, con số này là 16.5 triệu người, chiếm 19.87% dân

số Bộ Bưu chính Viễn thông đánh giá Việt Nam đứng vào Top 10 thế giới về tốc độ phát triểnInternet Đó là một trong những điều kiện thuận lợi cơ bản tạo tiền đề phát triển lĩnh vực TMĐT

Từ khi Nghị định 55/2001/NĐ-CP ra đời, đã có 5 nhà cung cấp dịch vụ kết nối (InternetExchange Provider-IXP) được cấp phép và đang hoạt động tích cực, bao gồm VNPT, Viettel, FPT, ETC và SPT Kết nối với các IXP là nhà cung cấp dịch vụ Intetnet (Internet ServiceProvider-ISP) với hai loại dung lượng chính là dung lượng lưu chuyển trong nước và dung lượnglưu chuyển quốc tế Hướng đi quốc tế lên đến 12 hướng, qua 8 vùng quốc gia có lưu lượng traođổi Internet lớn, gồm Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc, Hongkong, Đài Loan,Malaysia Trong số 17 ISP được cấp phép, có một số đang tham gia mạnh mẽ vào thị trường nhưVNPT, SPT, FPT, Viettel…

Nhận thức được tầm quan trọng và tính cấp thiết của việc hoàn thiện môi trường pháp lýlàm cơ sở phát triển Thương Mại Điên Tử , Quốc Hội và Chính Phủ đã nổ lực xây dựng và ban

Trang 9

hành các luật và văn bản pháp lý liên quan Ngoài Luật Thương Mại (sửa đổi), Luật Kế ToánLuật Hải Quan …, Luật Giao Dịch điện tử đã đuợc ban hành ngày 29/11/2005 và Luật CôngNghệ Thông Tin được ban hành ngày 29/6/2006.Năm 2006-2007, các nghị định quy định chi tiết

về chữ ký sổ và chứng thực điện tử, về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính, cũng như cácchỉ thị của Bộ Bưu Chính Viễn Thông về triển khai Luật Công Nghệ Thông Tin, về tăng cườngbảo đảm an ninh thông tin trên mạng …cũng đã được ráo riết ban hàng, tạo các cơ sở pháp lýquan trọng cho lĩnh vực TMĐT phát triển

III Các loại hình chủ yếu của Thương Mại Đi ệ n Tử:

Các bên tham gia TMĐT bao gồm chính quyền (Government-G), một thực thể kinh doanh như nhà máy, công ty, doanh nghiệp hay một nhà bán lẻ (Business-B) và người tiêu dùng (Consumer-C).Quan hệ đối tác giữa các bên này được biểu hiện trong bảng sau:

Bảng : Các quan hệ đối tác chủ yếu

- B2B (Business to Business) : Các giao dịch thương mại trên internet,trong đó đối tuợng

khách hàng là các doanh nghiệp mua hàng Các quan hệ thương mại giữa nhà máy sảnxuất và công ty phân phối, giữa công ty sản xuất và công ty cung ứng nguyên vật liệu,

giữa hai công ty thương mại …thuộc loại hình B2B

- B2C ( Business to Customer): Các giao dịch thương mại trên Internet giữa doanh nghiệp

và khách hàng là cá nhân và hộ gia đình Loại hình sản phẩm này áp dụng cho bất cứdoanh nghiệp hay tổ chức nào bán các sản phẩm, dịch vụ của họ cho khách hàng quaInternet, phục vụ nhu cầu sự dụng cá nhân Chẳng hạn, khi mua hàng trên mạngAmazon.com, sách của bạn sẽ được chuyển đến bạn sau khi bạn đặt hàng trên Internet Các điểm khác biệt chính giữa hai loại hình này là

Trang 10

- Khác biệt về khách hàng: Khách hàng của các giao dịch B2B là công ty, tổ chức, còn

khách hàng của giao dịch B2B là cá nhân Từ đặc điểm này về khách hàng, các giao dịchB2B phức tạp hơn và đòi hỏi nền tảng kĩ thuật cho các giao dịch cao hơn B2C

- Khác biệt về đàm phán, giao dịch: Việc bán hàng cho các doanh nghiệp (B2B) phải bao

gồm các yếu tố như đàm phán về quy cách, đặc tính sản phẩm, giá cả, việc giao nhậnhàng và thanh toán Bán hàng cho người tiêu dùng (B2C) không nhất thiết phải bao gồmtất cả yếu tố đó Khác biệt này giúp các nhà bán lẻ dễ dàng hơn trong việc đưa lên mạngcatalog sản phẩm, dịch vụ của họ để mở một siêu thị trực tuyến Đó cũng chính là lí dotại sao những ứng dụng TMĐT B2B đầu tiên chỉ được phát triển cho những hàng hóa,sản phẩm hoàn chỉnh, đơn giản trong khâu mô tả tính chất và định giá

- Khác biệt về vấn đề tích hợp: Các công ty trong TMĐT B2C không phải tích

hợp hệ thống của họ với hệ thống của khách hàng Trái lại, các công ty trong giao dịchB2B phải đảm bảo các hệ thống của họ có thể giao tiếp được với nhau, dẫn đến nhu cầutích hợp của hệ thống của doanh nghiệp bán hàng và doanh nghiệp mua hàng

IV Lợi ích và hạn chế của TMĐT

1 Lợi ích của TM Đ T

1.1 Lợi ích đối với tổ chức, doanh nghiệp

- Giảm chi phí: giảm được chi phí giấy tờ, chi phí chia sẻ thông tin và liên lạc, chi phí in ấn, gửivăn bản theo kiểu truyền thống Bảng 1.3 cho thấy thời gian giao dịch và chi phí giao dịch bìnhquân qua Internet chỉ bằng 7% thời gian giao dịch qua fax, bằng 0,05% thời gian

Bảng 1.3: So sánh chi phí và tốc độ truyền một tài liệu dài 40 trang

( USD )

Từ New York đi Tokyo

- Qua bưu điện

- Chuyển phát nhanh

- Fax

5 ngày

24 giờ25-31 phút

7.4026.2528.83

Trang 11

Đặc biệt, doanh nghiệp có thể tiết kiệm rất lớn chi phí quản lý hành chính ( có khi lên đến80% ), giảm giá mua hàng (5-15% ), giảm chi phí bán hàng và tiếp thị Doanh nghiệp không phảitốn kém nhiều cho việc thuê cửa hàng, mặt bằng, kho chứa, đông đảo nhân viên phục vụ…Cácdoanh nghiệp xuất khẩu có thể ngồi nhà và tìm kiếm khách hàng qua mạng, không cần phải tốnkém cho nhiều chuyến xuất ngoại Theo số liệu của hãng máy bay Boeing (Mỹ), đã có tới 50%khách hàng của hãng này đặy mua 9% phụ tùng qua Internet, mỗi ngày hãng giảm đựơc 600cuộc điện thoại so với trước Mặt khác, do chủ trương khuyến khích kinh doanh qua mạng và đặcthù của TMĐT, một số nước và khu vực giảm hoặc không thu phí đăng kí kinh doanh qua mạng

- Mô hình kinh doanh mới: Các mô hình kinh doanh mới với những lợi thế và giá trị mới chokhách hàng Mô hình Amazon.com, mua hàng theo nhóm hay đấu giá nông sản qua mạng đếncác sàn giao dịch B2B là điển hình của lợi ích này

Những tiện lợi của việc giao dịch qua mạng giúp doanh nghiệp lôi kéo khách hàng thôngqua khả năng đáp ứngmọi nhu cầu của khách hàng Lợi thế về thông tin và khả năng phối hợpcao giữa các doanh nghiệp làm tăng hiệu quả sản xuất và giảm thời gian tung sản phẩm ra thị trường, dẫn đến việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách nhanh nhất Doanh nghiệp có thểcung cấp catalog, brochure, thông tin, bảng báo giá rất nhanh chóng Việc tự động hoa các giaodịch giúp hoạt động kinh doanh đựơc thực hiện 24/24 giờ, 7 ngày mỗi tuần

Mặt khác, doanh nghiệp còn cải thiện đáng kể hệ thông phân phối nhờ giảm lượng hànglưu kho và độ trễ trong việc phân phối hàng Với hệ thống cửa hàng giới thiệu sản phẩm đượcthay thế hoặc hỗ trợ bởi các showroom trên mạng, các công ty sản xuất ô tô như Ford Motor tiếtkiệm được chi phí lưu kho hàng tỷ USD mỗi năm

- Mở rộng thị trường: Với chi phí đầu tư nhỏ hơn nhiều so với thương mại truyền thống, cáccông ty có thể mở rộng thị trường, tìm kiếm, tiếp cận nhà cung ứng, khách hàng và đối tác trênkhắp thế giới Việc mở rông mạng lưới nhà cung ứng và khách hàng cũng cho phép các doanh

Trang 12

nghiệp có thể mua với giá thấp hơn và bán được nhiều sản phẩm hơn Mặt khác, thông qua việcgiao tiếp thuận tiện qua mạng và cá biệt hoá sản phẩm, dịch vụ, mối quan hệ với khách hàngđược củng cố thường xuyên.

Việc kinh doanh trên mạng còn là một “sân chơi” cho sự sáng tạo, nơi doanh nghiệp ápdụng những ý tưởng hay nhất, mới nhất về dịch vụ hỗ trợ, chiến lược tiếp thị…Phần thắng sẽnghiêng về những doanh ngiệp nào sáng tạo nhất, độc đaó nhất trong việc thu hút và giữ chânkhách hàng,mở rông thị trường

- Cập nhập thông tin: Với nguồn thông tin khổng lồ trên Internet và nhiều nhiều cách tiếp cậnthông tin phong phú, các doanh nghiẹp có cơ hội rất thuận lợi để nắm bắt và cập nhật thông tin,nhất là những thông tinliên quan đến sản phẩm,dịch vụ giá cả, đối thủ cạnh tranh, nhà cung ứng,khách hàng

- Các lợi ích khác: nâng cao uy tín, ảnh hưởng cùa doanh nghiệp, cài thiện chất lượng dịch vụkhách hàng, đơng giản hoá và chuẩn hoá các quy trình giao dịch, tăng sự linh hoạt trong giaodịch và hoạt động kinh doanh Những lợi ích đó tất yếu sẽ dẫn đến hệ quả tăng doanh thu vàhiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

1.2 Lợi ích đối với người tiêu dùng :

- Thông tin phong phú, thuận tiện và chất lượng cao hơn: Khách hàng có thể dễ dàng tìm kiếmcác thông tin liên quan đến sản phẩm, dịch vụ cần mua, kể cả thông tin đa phương tiện (âmthanh, hình ảnh)

- Đáp ứng mọi nhu cầu: TMĐT cho phép người tiêu dùng có nhiều lựa chọn hơn về sản phẩm và

dịch vụ vì tiếp cận được nhiều nhà cung ứng hơn

- Vượt giới hạn về không gian và thời gian: Cho phép khách hàng mua sắm mọi lúa, mọi nơi.Khách hàng có thể ngồi ở nhà, đặt lệnh mua hàng vào bất cứ giờ nào trong ngày

- Giá thấp hơn: Do thông tin phong phú, khách hàng có thể so sánh giá cả giữa các nhà cung cấpthuận tiện hơng và từ đó tìm được mức giá phù hợp

- Giao hàng nhanh hơn với các sản phẩm số hoá: Việc giao hàng với các sản phẩm số hoá nhưphim, nhạc, sách, phần mềm… được dễ dàng thông qua internet

- Đấu giá: Mô hình đấu giá trực tuyến ra đời cho phém mọi người có thể tham gia mua và bántrên các sản đấu giá, đồng thời có thể tìm kiếm và sưu tầm những món hàng mình quan tâm tạimọi nơi trên thế giới

Ngày đăng: 18/01/2013, 15:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w