1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nguyen thi huong k22 msv60340102 2019

110 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác Động Của Công Tác Quản Lý Nhà Nước Đến Môi Trường Kinh Doanh Của Các Cơ Sở Bán Lẻ Nước Ngoài Trên Địa Bàn Thành Phố Hà Nội
Tác giả Nguyễn Thị Hương
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn Cảnh
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài học cho công tác quản lý của Thành phố Hà Nội để phát triển các cơ sở bán lẻ………30 CHƯƠNG II – THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA CÁC CƠ SỞ BÁN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và

tài liệu trong luận văn “Tác động của công tác quản lý Nhà nước đến môi trường

kinh doanh của các cơ sở bán lẻ nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội” là

trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào Tất cảnhững tham khảo và kế thừa đều được trích dẫn và tham chiếu đầy đủ

Học viên

Nguyễn Thị Hương

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN vi

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ viii

TỐM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN ix

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I - NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐẾN MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA CÁC CƠ SỞ BÁN LẺ NƯỚC NGOÀI……… 5

1.1 Khái niệm môi trường kinh doanh của các cơ sở bán lẻ nước ngoài … 5

1.1.1 Một số vấn đề chung về bán lẻ và cơ sở bán lẻ nước ngoài… ……5

1.1.1.1 Bán lẻ………5

1.1.1.2 Cơ sở bán lẻ ………6

1.1.1.3 Các loại hình cơ sở bán lẻ nước ngoài 6

1.1.1.4 Đặc điểm của cơ sở bán lẻ 10

1.1.2 Một số vấn đề chung về môi trường kinh doanh 11

1.1.2.1 Khái niệm môi trường kinh doanh……….………11

1.1.2.2 Các yếu tố cấu thành môi trường kinh doanh ……….…… 13

1.1.2.3 Đặc điểm của môi trường kinh doanh 16

1.1.3 Quản lý Nhà nước đối với hoạt động của cơ sở bán lẻ nước ngoài 17

1.1.3.1 Mục tiêu quản lý Nhà nước đối với cơ sở bán lẻ nước ngoài…….….17

1.1.3.2 Quản lý Nhà nước về kinh tế - thương mại……….…….19

1.1.3.3 Quản lý Nhà nước đối với cơ sở bán lẻ nước ngoài……… 20

1.2 Tác động của quản lý Nhà nước đối với môi trường kinh doanh của các cơ sở bán lẻn nước ngoài hoạt động của các cơ sở bán lẻ nước ngoài…….……….…21

Trang 5

1.2.1 Tác động của quản lý Nhà nước đối với môi trường kinh doanh của

doanh nghiệp bán lẻ……….21

1.2.1.1 Hoạch định sự phát triển của các cơ sở bán lẻ……… 21

1.2.1.2 Xây dựng và thực hiện các chính sách nhằm phát triển các cơ sở bán lẻ nước ngoài……… 22

1.2.1.3 Ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động của các cơ sở bán lẻ nước ngoài……… 23

1.2.1.4 Phổ biến và hướng dẫn thực hiện chính sách và pháp luật về cơ sở bán lẻ nước ngoài……… 23

1.2.1.5 Kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ sở bán lẻ nước ngoài…….24

1.2.2 Tác động của quản lý Nhà nước đối với các cơ sở bán lẻ nước ngoài……….24

1.2.2.1 Tác động đến việc thành lập các cơ sở bán lẻ nước ngoài…… … 24

1.2.2.2 Tác động đến hoạt động kinh doanh của các cơ sở bán lẻ nước ngoài………25

1.2.2.3 Tác động đến hoạt động tự kiểm tra, kiểm soát của các doanh nghiệp……….……….25

1.3 Kinh nghiệm quản lý Nhà nước của một số thành phố trong và ngoài nước để phát triển các cơ sở bán lẻ……….26

1.3.1 Kinh nghiệm của Thái Lan……… 26

1.3.2 Kinh nghiệm của thành phố Bắc Kinh- Trung Quốc……….27

1.3.3 Kinh nghiệm của Thành phố Hồ Chí Minh………28

1.3.4 Bài học cho công tác quản lý của Thành phố Hà Nội để phát triển các cơ sở bán lẻ………30

CHƯƠNG II – THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA CÁC CƠ SỞ BÁN LẺ NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI……….32

2.1 Thực trạng hoạt động của các cơ sở bán lẻ nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội………32

2.1.1 Quy mô cơ sở hạ tầng các cơ sở bán lẻ nước

Trang 6

ngoài………37 2.1.2 Các hình thức doanh nghiệp lập cơ sở bán lẻ nước ngoài tại Hà Nội……….………… …38 2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của các cơ sở bán lẻ nước ngoài……… ….38

2.2 Tác động đối với cơ sở bán lẻ nước ngoài trên địa bàn thành phố

Hà Nội từ công tác quản lý Nhà nước thời gian qua 41

2.2.1 Tác động đến môi trường kinh doanh của cơ sở bán lẻ nước ngoài……….41

2.2.1.1 Quy hoạch các cơ sở bán lẻ nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội 41 2.2.1.2 Định hướng, hướng dẫn các cơ sở nước ngoài kinh doanh và cạnh tranh theo đúng quy định pháp luật……….……… 51 2.2.1.3 Kiểm tra, giám sát nhà nước đối với cơ sở bán lẻ nước ngoài thực hiện các mục tiêu phát triển……… ……… 56

2.2.2 Tác động đến hoạt động của các cơ sở bán lẻ nước ngoài…………59

2.2.2.1 Những tác động đến việc thành lập các cơ sở bán lẻ nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội………59 2.2.2.2 Những tác động đến hoạt động kinh doanh của các cơ sở bán lẻ nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội………60 2.2.2.3 Những tác động đến hàng hóa, chất lượng hàng hóa của các cơ sở bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội……….……… 65

2.2.3 Nhận xét chung………65

CHƯƠNG III – MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHẰM TẠO MÔI TRƯỜNG PHÁT TRIỂN CÁC CƠ SỞ BÁN LẺ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI……….69 3.1 Cơ hội và thách thức đối với các cơ sở bán lẻ nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội……….69 3.2 Bối cảnh thị trường bán lẻ tại thành phố Hà Nội trong thời gian

tới……… 71

Trang 7

3.3 Một số giải pháp đối với các cơ sở bán lẻ nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội………73

3.3.1 Nghiên cứu chính sách, các quy định pháp luật để tìm kiếm cơ hội,

mở rộng đầu tư, thành lập các cơ sở bán lẻ mới………73 3.3.2 Tăng cường nguồn lực về nhân sự, tài chính để phát triển các cơ sở bán lẻ………74 3.3.3 Đa dạng hóa sản phẩm, đảm bảo chất lượng sản phẩm cung cấp cho người tiêu dùng………75 3.3.4 Tăng cường hợp tác, liên kết giữa các nhà phân phối, giữa nhà phân phối và nhà sản xuất………77 3.3.5 Tăng cường truyền thông trách nhiệm xã hội và định hướng phát triển của doanh nghiệp đảm bảo sự phát triển cân bằng của thị trường……… 78

3.4 Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tạo môi trường phát triển các cơ sở bán lẻ nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội……….78

3.4.1 Tiếp tục đổi mới, hoạch định chính sách nhằm phát triển cơ sở bán lẻ nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội………79 3.4.2 Tiếp tục hoàn thiện việc pháp luật tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng cho các cơ sở bán lé nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội……….81 3.4.3 Kiểm soát hoạt động của cơ sở bán lẻ nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội tạo môi trường lành mạnh, bình đẳng để các cơ sở bán lẻ nước ngoài phát triển……… ……….…………84 3.4.4 Tăng cường đối thoại giữa các cơ quan quản lý Nhà nước và cơ sở bán lẻ về các chính sách, thông tin cho các doanh nghiệp về tình hình thị

trường……… ………85

KẾT LUẬN 877

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô trường Đại học Ngoạithương Hà Nôi

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô trường Đại học Ngoạithương Hà Nội, đặc biệt là những thầy cô trong Khoa Quản trị kinh doanh đã tậntình dạy bảo cho tôi suốt thời gian học tập tại trường

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Văn Cảnh - PhóTrưởng khoa - Khoa Sau đại học - Trường Đại học Ngoại thương đã cho tôi nhữngkinh nghiệm bổ ích trong quá trình nghiên cứu đề tài Luận văn, từ việc giúp tôi địnhhướng rõ ràng, mạch lạc về kết cấu bài Luận văn đến những góp ý chân thành tớinội dung Luận văn, giúp tôi hoàn thành Luận văn của mình

Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn các anh/chị từ các Sở, ban, ngành và cácanh/chị các khóa học trước đã có các đề án, chương trình, bài luận văn,… thiếtthực, giúp tôi có dữ liệu, thông tin, nền tảng để viết luận văn

Xin gửi lời cảm ơn đến những người thân trong gia đình, bạn bè, đồngnghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học này

Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình

và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mongnhận được những đóng góp quí báu của quí thầy cô và các bạn

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả

Nguyễn Thị Hương

Trang 9

Viết tắt Nội dung

AFTA Association of South East Asian Nations Free Trade

Area-Khu thương mại tự do các nước Đông Nam Á

ASEAN Association of South East Asian Nations - Hiệp hội các nước

Đông Nam ÁCSBL Cơ sở bán lẻ

CSBLNN Cơ sở bán lẻ nước ngoài

ENT Economic Need Test - Kiểm tra nhu cầu kinh tế

GATS General Agreement Trade in Services - Hiệp định chung về

thương mại dịch vụQLNN Quản lý Nhà nước

ST Siêu thị

TTTM Trung tâm thương mại

TTMS Trung tâm mua sắm

UBND Uỷ ban nhân dân

WTO World Trade Organization - Tổ chức Thương mại thế giới

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 - Tiêu thức phân hạng siêu thị, trung tâm thương mại

Bảng 2.1 - Tỷ lệ lựa chọn mua sắm đối với hệ thống ST, TTTM qua điều tra người tiêudùng thường xuyên đến mua sắm

Bảng 2.2 - Danh mục các trung tâm thương mại ưu tiên đầu tư

Bảng 2.3 – Danh mục các trung tâm mua sắm ưu tiên đầu tư

Bảng 2.4 - Danh mục các siêu thị ưu tiên đầu tư

Bảng 2.5 - Quy hoạch số lượng, quy mô của mạng lưới siêu thị và trung tâm thương mại đến năm 2020, định hướng đến năm 2030

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 - Mặt hàng người tiêu dùng quan tâm tại ST, TTTM

Trang 11

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN

Thứ nhất, Luận văn làm rõ một số vấn đề lý luận về môi trường kinh doanh

của các cơ sở bán lẻ nước ngoài và ảnh hưởng của nó tới hoạt động kinh doanh củacác cơ sở bán lẻ nước ngoài, như làm rõ một số vấn đề chung về bán lẻ và cơ sở bán

lẻ nước ngoài; một số vấn đề về môi trường kinh doanh cũng như mục tiêu công tácquản lý Nhà nước đối với hoạt động của các cơ sở bán lẻ nước ngoài Luận văncũng nêu ra tác động của quản lý Nhà nước đối với môi trường kinh doanh của cơ

sở bán lẻ nước ngoài, trong đó tập trung vào môi trường pháp lý của cơ sở bán lẻnước ngoài, bao gồm: công tác hoạch định sự phát triển của các cơ sở bán lẻ; xâydựng và thực hiện các chính sách nhằm phát triển các cơ sở bán lẻ nước ngoài; banhành các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động của các cơ sở bán lẻ nước ngoài;phổ biến hướng dẫn thực hiện chính sách và pháp luật về cơ sở bán lẻ nước ngoài;kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ sở bán lẻ nước ngoài Luận văn phân tíchtác động của quản lý Nhà nước đối với các cơ sở bán lẻ nước ngoài, kinh nghiệmquản lý Nhà nước đối với cơ sở bán lẻ nước ngoài của một số nơi như: Thái Lan,Bắc Kinh – Trung Quốc và Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó rút ra bài học kinhnghiệm cho Hà Nội

Thứ hai, Luận văn phân tích thực trạng tác động của công tác quản lý Nhà

nước đối với môi trường kinh doanh của các cơ sở bán lẻ nước ngoài trên địa bànthành phố Hà Nội, trong đó nhấn mạnh tới môi trường pháp lý như tác động đếnviệc thành lập các cơ sở bán lẻ nước ngoài, hoạt động kinh doanh của các cơ sở bán

lẻ nước ngoài, hàng hóa, chất lượng hàng hóa của các cơ sở bán lẻ nước ngoài trênđịa bàn thành phố Hà Nội

Thứ ba, Trên cơ sở những hạn chế của thực trạng tác động của công tác quản

lý Nhà nước đối với môi trường kinh doanh của các cơ sở bán lẻ nước ngoài trên địabàn thành phố Hà Nội và trên cơ sở bài học kinh nghiệm của một số nước, thànhphố về vấn đề này, Luận văn đưa ra một số định hướng, giải pháp hoàn thiện côngtác quản lý Nhà nước nhằm tạo môi trường phát triển các cơ sở bán lẻ nước ngoàitrên địa bàn thành phố Hà Nội trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng hiệnnay Trong đó, chú trọng đến các giải pháp như: nghiên cứu chính sách, các quy

Trang 12

định pháp luật để mở rộng đầu tư, thành lập các cơ sở bán lẻ mới; tăng cường nguồnlực về nhân sự, tài chính để phát triển các cơ sở bán lẻ; đa dạng hóa sản phẩm, đảmbảo chất lượng sản phẩm cung cấp cho người tiêu dùng; tăng cường hợp tác, liên kếtgiữa các nhà phân phối, giữa nhà phân phối và nhà sản xuất; tăng cường truyềnthông trách nhiệm xã hội và định hướng phát triển của doanh nghiệp đảm bảo sựphát triển cân bằng của thị trường.

Trang 13

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam chính thức trở thành Thành viên của WTO từ ngày 11 tháng 01 năm

2017 Đây là một dấu mốc quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế củanước ta Đặc biệt hiện nay Việt Nam đã ký kết nhiều hiệp định thương mại tự dosong phương, đa phương, khu vực với mức độ mở cửa cao hơn cam kết trong WTOnhư ASEAN (AFTA), Việt Nam - Liên minh kinh tế Á - Âu, Việt Nam - Liên minhchâu Âu (EU), Việt Nam - Nhật Bản, Việt Nam – Hàn Quốc, Asean - Hồng Kông…

và đang tiếp tục đàm phán nhiều hiệp định thương mại tự do như Hiệp định đối táckinh tế toàn diện khu vực (RCEP), Việt Nam - Israel và Việt Nam - Khối thươngmại tự do châu Âu (EFTA) Theo đó thị trường phân phối nói chung và lĩnh vực bán

lẻ nói riêng mở cửa và cạnh tranh là điều kiện tất yếu cho sự vận hành của nền kinh

tế thị trường Từ ngày 01/01/2009, các nhà đầu tư nước ngoài được đầu tư vào lĩnhvực bán lẻ tại thị trường Việt Nam theo hình thức tổ chức kinh tế 100% vốn của nhàđầu tư nước ngoài nên nhiều Công ty, Tập đoàn bán lẻ nước ngoài hướng đến trongchiến lược phát triển kinh doanh toàn cầu của họ

Khi Việt Nam mở cửa khá mạnh mẽ về hệ thống bán lẻ, các doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài (FDI) tham gia mạnh mẽ hoạt động bán lẻ tại thị trường ViệtNam thông qua việc lập các cơ sở bán lẻ nước ngoài đặc biệt là tại thành phố HàNội - Trung tâm kinh tế lớn của cả nước Trên thực tế, hiện nay tại Thủ đô Hà Nội

đã xuất hiện nhiều cơ sở bán lẻ nước ngoài như Big C, Aeon, Lotte,… đã cung cấpcho người tiêu dùng dịch vụ mua sắm chuyên nghiệp, hiện đại với các loại hàng hóa

đa dạng đồng thời có chất lượng Thị trường bán lẻ của Hà Nội sôi động hơn, tạo cơhội cho doanh nghiệp bán lẻ trong nước học hỏi được nhiều kinh nghiệm về kỹ năngquản lý, tính chuyên nghiệp trong việc mua hàng, hệ thống hậu cần,… tạo sức ép đểcác doanh nghiệp trong nước vươn lên cạnh tranh và phát triển Tuy nhiên, họ cũng

là đối thủ cạnh tranh trực tiếp về thị phần với các doanh nghiệp bán lẻ trong nướcquy mô nhỏ, phương thức kinh doanh chưa tiên tiến Để tạo ra môi trường kinhdoanh thuận lợi, bình đẳng, cạnh tranh giữa doanh nghiệp bán lẻ trong nước vàdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; đảm bảo các doanh nghiệp này hoạt độngtuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam thì công tác Quản lý Nhà nước đốivới môi trường kinh doanh của các cơ sở bán lẻ nước ngoài trong bối cảnh cạnhtranh toàn cầu gay gắt như hiện nay có ý nghĩa quan trọng hơn bao giờ hết Nhànước cần có chính sách hỗ trợ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp phát

Trang 14

triển bình đẳng, từ việc tạo môi trường kinh doanh thuận lợi bao gồm xây dựng vàban hành các luật về doanh nghiệp, tạo thuận lợi trong cấp giấy phép, tiếp cận mặtbằng sản xuất, kinh doanh đến cung cấp thông tin, hỗ trợ công nghệ, hỗ trợ về tíndụng và đào tạo nguồn nhân lực quản lý cho doanh nghiệp,… để các doanh nghiệpcùng phát triển thuận lợi, bình đẳng.

Do vậy, đề tài luận văn thạc sỹ “Tác động của công tác quản lý Nhà nước

đến môi trường kinh doanh của các cơ sở bán lẻ nước ngoài trên địa bàn thành phố

Hà Nội” có ý nghĩa thực tiễn đối với sự phát triển của ngành thương mại thành phố

Hà Nội nói chung và lĩnh vực bán buôn, bán lẻ của Thủ đô nói riêng trong giai đoạnhội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng hiện nay

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề

tài - Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ những tác động của quản lý Nhànước đối với môi trường kinh doanh của các cơ sở bán lẻ nước ngoài trên địa bànthành phố Hà Nội, trong đó tập trung vào ảnh hưởng của quản lý nhà nước đối vớimôi trường pháp lý của các cơ sở bán lẻ nước ngoài Trên cơ sở đó, đề xuất nhữnggiải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước nhằm tạo môi trường pháp lýgiúp các cơ sở bán lẻ nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội phát triển, đáp ứngyêu cầu phát triển dịch vụ bán lẻ ở Việt Nam trong giai đoạn mở cửa và hội nhậpquốc tế

- Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu được học viên xác định cụthể như sau:

+ Làm rõ một số vấn đề lý luận về môi trường kinh doanh của các cơ sở bán lẻnước ngoài và ảnh hưởng của nó tới hoạt động kinh doanh của các cơ sở bán lẻnước ngoài

+ Phân tích thực trạng tác động của quản lý Nhà nước đối với môi trường kinhdoanh của các cơ sở bán lẻ nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội, trong đó tậptrung vào môi trường pháp lý của các cơ sở bán lẻ nước ngoài; công tác quản lýNhà nước đối với hoạt động của cơ sở bán lẻ nước ngoài

+ Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tạo môi trườngphát triển các cơ sở bán lẻ nước ngoài cũng như phát triển thị trường bán lẻ trên địa

Trang 15

bàn thành phố Hà Nội

3 Đối tượng và phạm vi nghiên

cứu - Đối tượng nghiên cứu:

Là sự tác động của công tác quản lý Nhà nước đối với môi trường kinh doanhcủa các cơ sở bán lẻ nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội, trong đó tập trungvào ảnh hưởng của công tác quản lý Nhà nước đối với môi trường pháp lý của các

cơ sở bán lẻ nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về nội dung: Quản lý Nhà nước đối với môi trường kinh doanh của các cơ

sở bán lẻ nước ngoài là lĩnh vực rất rộng lớn Để có cái nhìn bao quát khi phân tích

về quản lý Nhà nước, trong phạm vi một luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản trịkinh doanh, luận văn giới hạn phạm vi về các nội dung ở việc nghiên cứu ảnhhưởng của công tác quản lý Nhà nước đối với môi trường pháp lý của các cơ sở bán

lẻ nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội

+ Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề tác động của công tácquản lý Nhà nước đối với môi trường kinh doanh của các cơ sở bán lẻ nước ngoàitrên địa bàn thành phố Hà Nội Ngoài ra, để đưa ra các định hướng và giải pháp,luận văn nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước như Thái Lan, Bắc Kinh – TrungQuốc, Thành phố Hồ Chí Minh

+ Về thời gian: Đề tài thu thập số liệu, nghiên cứu tập trung vào tác động củacông tác quản lý Nhà nước đối với môi trường kinh doanh của các cơ sở bán lẻ nướcngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến năm

2019 Đề xuất định hướng, giải pháp tăng cường quản lý Nhà nước đối với các cơ

sở bán lẻ nước ngoài đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025

4 Phương pháp nghiên cứu

-Phương pháp thu thập dữ liệu

Phương pháp này được sử dụng trong tất cả các chương của Luận văn Đây làphương pháp có ý nghĩa quan trọng trong quá trình nghiên cứu, là giai đoạn đầu tiênlàm tiền đề thực hiện nghiên cứu Nguồn tài liệu phục vụ nghiên cứu đề tài luậnvăn, gồm có:

- Các văn bản quy phạm pháp luật, tài liệu có liên quan của Bộ Công Thương,UBND thành phố Hà Nội, Sở Công Thương Hà Nội, Sở Kế hoạch và đầu tư Hà

Trang 16

Nội, Cục thống kê Hà Nội như: Nghị định, Thông tư, Quy hoạch phát triển ngànhThương mại Hà Nội đến năm 2020 tầm nhìn đến 2030, Quyết định phê duyệt quyhoạch mạng lưới bán buôn bán lẻ trên địa bàn Thành phố Hà Nội đến năm 2020,định hướng đến năm 2030,

- Các công trình nghiên cứu khoa học cấp Thành phố, các luận văn tốt nghiệp tiến sỹ, thạc sỹ, đại học của một số trường Đại học khối kinh tế

- Các thông tin liên quan đến đề tài ở các trang Web của Bộ Công Thương, Cổng thông tin điện tử thành phố Hà Nội và Sở Công Thương Hà Nội

Sau khi thu thập dữ liệu, học viên tiến hành các bước xử lý dữ liệu như: phân tích, chú thích, phân loại, sắp xếp, lập bảng dữ liệu,…

-Phương pháp phân tích và tổng hợp

Phương pháp này được sử dụng trong tất cả các chương của Luận văn Cụ thểđược sử dụng đi sâu tìm tòi, trình bày các hiện tượng, các quan điểm về quản lý Nhànước đối với các cơ sở bán lẻ nước ngoài, khái quát lại để phân tích, cái thuộc vềbản chất và hiện tượng, các hoạt động thực tế của các cơ sở bán lẻ, thực trạng tácđộng của công tác quản lý Nhà nước đối với môi trường kinh doanh của các cơ sởbán lẻ nước ngoài (Chương 1 và Chương 2) Từ đó, rút ra các đánh giá, kết luận,kiến nghị định hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện công tác quản lý Nhànước nhằm tạo môi trường phát triển các cơ sở bán lẻ nước ngoài trên địa bànThành phố (Chương 3)

5 Bố cục của luận văn:

Ngoài danh mục chữ viết tắt, mục lục, phụ lục, các tài liệu tham khảo, phần

mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được chia thành 3 chương:

Chương I - Những vấn đề cơ bản về tác động của công tác quản lý Nhà nướcđến môi trường kinh doanh của các cơ sở bán lẻ nước ngoài

Chương II – Thực trạng tác động của quản lý Nhà nước đối với môi trườngkinh doanh của các cơ sở bán lẻ nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội

Chương III – Một số định hướng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lýnhằm tạo môi trường phát triển các cơ sở bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 17

CHƯƠNG I - NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐẾN MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA CÁC CƠ SỞ BÁN LẺ NƯỚC NGOÀI

1.1 Khái niệm môi trường kinh doanh của các cơ sở bán lẻ nước ngoài và

quản lý Nhà nước đối với các cơ sở bán lẻ nước ngoài

1.1.1 Một số vấn đề chung về bán lẻ và cơ sở bán lẻ nước ngoài

Theo danh mục phân loại của tài liệu số TN.GNS/W/120 (W/120) vòng đàmphán Uruguay của WTO và danh mục chính tạm thời của Liên Hợp quốc địnhnghĩa: “Bán lẻ là hoạt động bán hàng hóa cho người tiêu dùng từ một địa điểm cốđịnh (cửa hàng, ki ốt) hay một địa điểm khác (bán trực tiếp) và các dịch vụ phụ liênquan”

Theo Khoản 7, Điều 3 của Nghị định 09/2018/NĐ-CP ngày 15/01/2018 củaChính phủ Quy định chi tiết Luật Thương mại và Luật Quản lý ngoại thương vềhoạt động mua bán hàng hoá và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hànghoá của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại ViệtNam định nghĩa “Bán lẻ là hoạt động bán hàng hóa cho cá nhân, hộ gia đình, tổchức khác để sử dụng vào mục đích tiêu dùng”

Tuy có nhiều định nghĩa bán lẻ hàng hóa theo nhiều cách khác nhau nhưng

có thể hiểu bán lẻ là hoạt động dịch vụ đưa hàng hoá hoặc dịch vụ đến tay người

tiêu dùng cuối cùng (tiêu dùng cá nhân hay tiêu dùng gia đình) Nghĩa là, bán lẻ

Trang 18

hàng hóa là công đoạn cuối cùng của khâu lưu thông để sản phẩm đến với ngườitiêu dùng.

1.1.1.2 Cơ sở bán lẻ

Cơ sở bán lẻ là địa điểm thực hiện hoạt động bán lẻ (Theo quy định tạiKhoản 8, Điều 3 của Nghị định 09/2018/NĐ-CP ngày 15/01/2018 của Chính phủQuy định chi tiết Luật Thương mại và Luật Quản lý ngoại thương về hoạt động muabán hàng hoá và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá của nhàđầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam)

Nghị định số 09/2018/NĐ-CP của Chính phủ ra đời nhằm thực thi cam kếtcủa Việt Nam với WTO trong lĩnh vực thương mại sau khi Việt Nam là thành viênchính thức của WTO Nghị đinh này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/01/2018thay thế Nghị định số 23/2007/NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2007 của Chính phủquy định chi tiết Luật thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt độngliên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài tại Việt Nam Nghị định này hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Thương mạingày 14/6/2005 và Luật Quản lý ngoại thương ngày 12/6/2017 So với Nghị định số23/2007/NĐ-CP, Nghị định số 09/2018/NĐ-CP bổ sung quy định “Nhà đầu tư nướcngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện hoạt động mua bán hànghóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa tại Việt Nam phảituân thủ các quy định tại Nghị định này; trường hợp Điều ước quốc tế quy địnhkhác với quy định tại Nghị định này thì áp dụng quy định của Điều ước quốc tế đó.”

1.1.1.3 Các loại hình cơ sở bán lẻ nước ngoài

Cơ sở bán lẻ nước ngoài là đơn vị thuộc sở hữu của doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài thực hiện quyền phân phối bán lẻ tại nước sở tại Cơ sở bán lẻ nướcngoài bao gồm:

Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập

theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam

Trang 19

Tổ chức kinh tế là tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của

pháp luật Việt Nam, gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và các tổchức khác thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh

Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư

nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông (Theo Điều 3 Luật Đầu tư năm 2014).

Trước đây các nhà phân phối dịch vụ bán lẻ nước ngoài khi vào Việt Namthường dưới hình thức thành lập doanh nghiệp liên doanh Tuy nhiên, từ ngày01/01/2009 Việt Nam mở cửa hoàn toàn dịch vụ phân phối theo cam kết gia nhậpWTO thì doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đã được thành lập tại Việt Nam

Khi tham gia vào thị trường bán lẻ Việt Nam những doanh nghiệp bán lẻnước ngoài thường thành lập các cơ sở bán lẻ hiện đại có trang bị kỹ thuật tiên tiến,

hỗ trợ tối đa khách hàng trong việc mua hàng như:

a Siêu thị (ST)

Siêu thị (Supermarket) “là loại hình cửa hàng hiện đại; kinh doanh tổng

hợp hoặc chuyên ngành; có cơ cấu chủng loại hàng hóa hàng hóa phong phú, đadạng, đảm bảo chất lượng; đáp ứng các tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang bị

kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; có các phương thức phục vụ vănminh, thuận tiện nhằm thỏa mãn nhu cầu mua sắm hàng hóa của khách hàng” (BộThương mại 2004)

Căn cứ vào cơ cấu chủng loại hàng hóa kinh doanh, siêu thị được phân chiathành 02 loại: Siêu thị kinh doanh tổng hợp và Siêu thị Chuyên doanh

b.Trung tâm thương mại (TTTM)

Trung tâm thương mại (Trade centre) “là loại hình tổ chức kinh doanh

thương mại hiện đại, đa chức năng, bao gồm tổ hợp các loại hình cửa hàng, cơ sởhoạt động dịch vụ; hội trường, phòng họp, văn phòng cho thuê…được bố chí tậptrung, liên hoàn trong một hoặc một số công trình kiến thức liền kề; đáp ứng cáctiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chứckinh doanh; có các phương thức phục vụ văn minh, thuận tiện đáp ứng nhu cầu phát

Trang 20

triển hoạt động kinh doanh thương nhân và thoả mãn nhu cầu về hàng hoá, dịch vụcủa khách hàng” (Bộ Thương mại 2004).

Từ Quy chế Siêu thị, trung tâm thương mại của Bộ Thương mại (nay là BộCông Thương), có thể rút ra bảng tiêu thức phân hạng siêu thị, trung tâm thươngmại như sau:

Bảng 1.1 - Tiêu thức phân hạng siêu thị, trung tâm thương mại

Tiêu chuẩn tối thiểuHạng Loại hình

Diện tích (m2 ) Danh mục hàng

hóa (mặt hàng)Hạng I Siêu thị kinh doanh tổng hợp 5.000 20.000

Siêu thị chuyên doanh 1.000 2.000

Trung tâm thương mại 50.000

Hạng II Siêu thị kinh doanh tổng hợp 2.000 10.000

Siêu thị chuyên doanh 500 1.000

Trung tâm thương mại 30.000

Hạng III Siêu thị kinh doanh tổng hợp 500 4.000

Siêu thị chuyên doanh 250 500

Trung tâm thương mại 10.000

(Nguồn: Bộ Thương mại, 2004)

c Trung tâm mua sắm (TTMS)

Trung tâm mua sắm (Shopping centre/ Shopping mall) là cơ sở bán lẻ tập

trung, trong Trung tâm mua sắm có bố trí nhiều loại hình cửa hàng bán lẻ hàng hóa,cửa hàng ăn uống và các cơ sở dịch vụ khác,… trong đó có một hoặc một số siêu thịhoặc cửa hàng bách hóa,… mà với quy mô và vị trí của nó được chọn làm cửa hàngchính (hay cửa hàng hạt nhân) là tâm điểm hút khách hàng đến trung tâm mua sắm

Trang 21

Trung tâm mua sắm không chỉ đơn thuần là nơi mua hàng mà còn là nơi đáp ứngnhu cầu vui chơi, giải trí, thể thao,… của người tiêu dùng Vì vậy, trong Trung tâmmua sắm còn bố trí các cơ sở, thiết bị để phục vụ những nhu cầu này.

Khái niệm Trung tâm mua sắm (shopping centre/ shopping mall) ở Việt Namvẫn thường lẫn lộn với khái niệm Trung tâm thương mại (Trade centre) Vào cuốithập niên 90 bắt đầu xuất hiện những trung tâm mua sắm đầu tiên tại Việt Nam nhưDiamond Plaza với diện tích hơn 15,500 m2, vài năm sau đó xuất hiện Parkson,Garden và giờ đây là AEON, Royal, TimeCity, Lotte,… Tốc độ phát triển về quy

mô và số lượng các trung tâm mua sắm ở Việt Nam rất mạnh mẽ trong vài năm gầnđây, tuy nhiên, chiếu theo chuẩn quốc tế (diện tích phải lớn hơn 200.000 m2) thìtrung tâm mua sắm ở Việt Nam đại đa số ở dạng vừa, nhỏ thậm chí là siêu nhỏ

Trung tâm mua sắm phát triển theo quy hoạch và được xây dựng, vận doanhmột cách có kế hoạch bởi nhà quản lý- khai thác TTMS được chỉ định rất rõ ràng

d Cửa hàng tiện lợi

Cửa hàng tiện lợi (Convenience store)

tiện lợi cho người tiêu dùng; quy mô cửa hàng

chủ yếu là những thứ gần gũi, thiết yếu nhất với

con người; thời gian mở cửa trong ngày dài,…

là loại hình cửa hàng cung cấp sựnhỏ; hàng hóa, dịch vụ kinh doanhcuộc sống, sinh hoạt hàng ngày của

Với nhịp sống nhanh như hiện nay, người tiêu dùng thường có xu hướngchọn những cửa hàng tiện lợi để mua sắm nhanh các đồ dùng sinh hoạt hàng ngày,hay thậm chí cả việc ăn uống Trong những năm gần đây tại Hà Nội xuất hiện một

số cửa hàng tiện lợi của những doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài Có thể điểm quacác thương hiệu nổi bật trong mô hình này tại Hà Nội như B’s mart (Thái Lan),Circle K (Mỹ), Ministop (Nhật Bản), Shop&Go (Singapore),… Mặc dù phải trả phícao hơn so với việc mua bán ở chợ hoặc siêu thị, nhưng người tiêu dùng vẫn chấpnhận vì hầu hết các cửa hàng tiện lợi ngày nay đều đảm bảo chất lượng hàng hóa, vệsinh an toàn thực phẩm, dịch vụ khách hàng tốt, cơ sở vật chất tiện nghi và quantrọng hơn cả đó là việc mở cửa 24/24 giờ

Tại Hà Nội các nhà bán lẻ nước ngoài thường lập cơ sở bán lẻ như ST,

Trang 22

TTTM, TTMS.

1.1.1.4 Đặc điểm của cơ sở bán lẻ

Có hai mô hình về cơ sở bán lẻ, bao gồm cơ sở bán lẻ truyền thống và cơ sởbán lẻ hiện đại Hai mô hình cơ sở bán lẻ này có những đặc điểm như sau:

Cơ sở bán lẻ truyền thống: có đặc điểm chung là khách hàng không hoàn toàn

chủ động trong việc tìm kiếm sản phẩm cần mua, mà phải tìm kiếm sản phẩm thôngqua gặp gỡ, trao đổi trực tiếp với người bán Quy mô của các cơ sở bán lẻ truyềnthống thường có quy mô nhỏ, manh mún, tự phát, chủ yếu là thuộc sở hữu của hộgia đình Giá cả, chất lượng, kích thước và các điều kiện giao dịch mua bán hànghóa thường không dễ nắm bắt mà phải thông qua người bán; người bán hàng phảichủ động mời chào, giới thiệu hàng hóa tới khách hàng, để khách hàng phải thựchiện nhiều thao tác trong quy trình kỹ thuật bán hàng và toàn bộ công việc liên quanđến việc bán hàng, từ việc mời chào khách hàng, giới thiệu hàng cho khách, tìmhiểu và khơi dậy nhu cầu của khách hàng cho đến bao gói, đưa hàng cho khách,nhận tiền và tiễn khách,… Nhược điểm của mô hình cơ sở bán lẻ truyền thống làkhông thuận tiện cho khách hàng trong việc tìm kiếm, lựa chọn các mặt hàng cầnmua; bộ phận quản lý, công tác chăm sóc khách hàng, vận chuyển,… hạn chế doquy mô cơ sở thường nhỏ lẻ

Cơ sở bán lẻ hiện đại (chủ yếu là Siêu thị (ST), Trung tâm thương mại

(TTTM), Trung tâm mua sắm (TTMS), Cửa hàng tiện lợi): có đặc điểm chung làquy mô đồng bộ, hiện đại, chuyên nghiệp Khách hàng tự do, chủ động trong việctìm kiếm, so sách, lựa chọn sản phẩm nhờ vào việc niêm yết công khai giá, xuất xứ,công dụng, của hàng hóa và các mặt hàng cùng chủng loại Các cơ sở bán lẻ hiệnđại này thường bày theo khu vực giúp khách hàng dễ dàng tìm kiếm, do đó hạn chếviệc người mua phải tiếp thị, mời chào khách hàng Ngoài ra các cơ sở này thường

có bộ phận quản lý, chăm sóc khách hàng, vận chuyển hàng hóa về tận nơi chokhách hàng, trải nghiệm sản phẩm, áp dụng công nghệ và nghệ thuật marketingtrong bán lẻ cũng như trong giao tiếp, phục vụ nhằm thoả mãn nhu cầu mua sắm củakhách hàng

Trang 23

1.1.2 Một số vấn đề chung về môi trường kinh doanh và môi trường kinh doanh

của các cơ sở bán lẻ nước ngoài

1.1.2.1 Khái niệm môi trường kinh doanh và môi trường kinh doanh của các

cơ sở bán lẻ nước ngoài

Khi nhắc đến môi trường nói chung chúng ta có thể hiểu là những yếu tố,điều kiện tạo nên khung cảnh tồn tại và phát triển của một chủ thể Trong lĩnh vựcquản trị kinh doanh, trong các lĩnh vực hoạt động và chức năng quản trị doanhnghiệp ở nhiều nước trên thế giới xuất hiện thuật ngữ môi trường kinh doanh Môitrường kinh doanh có thể được nghiên cứu và xem xét theo nhiều cách khác nhautùy thuộc vào mục đích, phạm vi, đối tượng nghiên cứu và cách tiếp cận vấn đề Do

đó với phạm vi nhất định có thể chia thành môi trường kinh doanh của một doanhnghiệp, một ngành, môi trường kinh doanh trong nước, khu vực hoặc môi trườngkinh doanh quốc tế Song môi trường kinh doanh nếu tiếp cận theo khía cạnh hayyếu tố cấu thành lại bao gồm: môi trường thể chế, môi trường công nghệ, môitrường kinh tế Ở đây, chúng ta tiếp cận với quan điểm về môi trường kinh doanhcủa doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường Với cách tiếp cận đó có cácquan niệm khác nhau về môi trường kinh doanh

Thứ nhất, "Môi trường kinh doanh là một khung cảnh bao trùm lên hoạt động

kinh doanh Nó bao gồm tổng thể các nhân tố mang tính khách quan và chủ quan,vận động và tương tác lẫn nhau, tác động trực tiếp, gián tiếp đến hoạt động kinhdoanh của từng doanh nghiệp, sự tác động này có thể thuận lợi cho kinh doanh,hoặc khó khăn, trở ngại cho kinh doanh" Theo cách tiếp cận này, một số đặc trưngcần được xem xét đó là: (1) Kinh doanh là một quá trình vận động trong một môitrường cũng không ngừng vận động; (2) Các nhân tố cấu thành môi trường kinhdoanh vừa tự vận động, lại vừa tác động qua lại với nhau trở thành ngoại lực chínhcho sự vận động biến đổi của môi trường kinh doanh; (3) Các nhân tố của môitrường kinh doanh rất phong phú và đa dạng do đó cần nhiều phương pháp tiếp cận;(4) Doanh nghiệp không chỉ thụ động chịu các tác động từ môi trường kinh doanh

mà chính nó lại sản sinh ra các tác nhân làm thay đổi đến môi trường kinh doanh

Trang 24

Thứ hai, "Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp là tổng hợp các yếu tố và

điều kiện khách quan và chủ quan bên ngoài và bên trong doanh nghiệp, có mốiquan hệ tương tác lẫn nhau, có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động sảnxuất và kinh doanh của doanh nghiệp" Với cách tiếp cận này cũng đề cập đến môitrường tiến hành những hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, những yếu tố,điều kiện có ảnh hưởng, tác động đến sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp

Thứ ba, "Môi trường kinh doanh là tổng hợp những yếu tố và điều kiện mà

doanh nghiệp sử dụng để tiến hành toàn bộ quá trình sản xuất và kinh doanh" Nhưvậy, đó là tổng thể những điều kiện, những yếu tố bên trong và bên ngoài doanhnghiệp nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động bình thường và có hiệu quả.Quan niệm này chưa nhìn nhận rõ được mức độ phức tạp của môi trường kinhdoanh

Thứ tư, "Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp là tổng hợp các yếu tố, điều

kiện bên ngoài có tác động trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động sản xuất kinhdoanh của các doanh nghiệp" Tuy nhiên có thể thấy, theo quan niệm này đứng trêngiác độ vĩ mô sẽ không thấy được những yếu tố và điều kiện ngay trong nội bộdoanh nghiệp cũng có những tác động quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển củadoanh nghiệp

Khái quát lại, đứng dưới góc độ nghiên cứu trong luận văn này, khái niệm vềmôi trường kinh doanh được hiểu như sau: "Môi trường kinh doanh của doanhnghiệp là tổng thể các yếu tố và điều kiện khách quan, chủ quan bên ngoài, có mốiquan hệ tương tác lẫn nhau, có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp"

Có thể nhận thấy môi trường kinh doanh có vai trò quan trọng đối với các hoạtđộng kinh doanh Môi trường kinh doanh tạo điều kiện thuận lợi hay không thuậnlợi cho hoạt động kinh doanh và cũng đòi hỏi sự thích ứng của doanh nghiệp hoạtđộng trong môi trường kinh doanh đó Xem xét dưới góc độ quản lý kinh tế chothấy chủ thể quản lý có thể tác động vào các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh đểtạo những điều kiện thuận lợi hoặc không thuận lợi đối với hoạt động kinh doanh

Trang 25

Như vậy môi trường kinh doanh của các cơ sở bán lẻ nước ngoài được hiểu làtổng thể các yếu tố và điều kiện khách quan, chủ quan bên ngoài, có mối quan hệtương tác lẫn nhau, có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động sản xuấtkinh doanh của các cơ sở bán lẻ nước ngoài.

1.1.2.2 Các yếu tố cấu thành môi trường kinh doanh

Các yếu tố cấu thành môi trường kinh doanh cũng bao gồm các yếu tố tácđộng đến hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Như vậy,các yếu tố cấu thành môi trường kinh doanh bao gồm:

(1) Yếu tố kinh tế: Chính sách kinh tế quốc gia, chu kỳ kinh doanh hay tỷ lệlạm phát, thất nghiệp, tỷ lệ hối đoái, sự phát triển hệ thống tài chính, cơ cấu kinh tế,

mô hình tăng trưởng và phát triển

Tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ phản ánh sức mua và nhu cầu của dân cư Dovậy, nếu tốc độ tăng trưởng kinh tế cao sẽ là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp vàdoanh nghiệp nào nắm bắt và có khả năng đáp ứng được nhu cầu của khách hàng thì

sẽ thành công

Chu kỳ phát triển kinh tế lại có ảnh hưởng mạnh đến các quyết định của doanhnghiệp và sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường tại mỗi giai đoạn khácnhau Chu kỳ phát triển kinh tế thường trải qua bốn giai đoạn đó là: thời kỳ pháttriển, thời kỳ cực đại, thời kỳ suy thoái và thời điểm cực tiểu

Tỷ giá hối đoái và giá trị của đồng tiền trong nước có tác động nhanh chóng vàsâu sắc đối với từng quốc gia nói chung và từng doanh nghiệp nói riêng đặc biệt làtrong điều kiện nền kinh tế mở Nếu đồng nội tệ lên giá sẽ khuyến khích nhập khẩu

do vậy sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước sẽ bị giảm ngay trên thịtrường trong nước Ngược lại, khi đồng nội tệ giảm giá, sức cạnh tranh của cácdoanh nghiệp tăng cả trên thị trường trong nước và thị trường ngoài nước

Lãi suất cho vay của các ngân hàng cũng ảnh hưởng lớn đến sức cạnh tranhcủa các doanh nghiệp Khi lãi suất cho vay cao sẽ làm cho chi phí của các doanhnghiệp tăng và do đó sức cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ kém đi

Trang 26

(2) Yếu tố chính trị và pháp luật: Các yếu tố đó bao gồm hệ thống pháp luậtchung của nền kinh tế mà các doanh nghiệp trong nước đều phải tuân thủ Đồngthời, hệ thống các công cụ chính sách và những quy định của Nhà nước có liên quanđến hoạt động kinh doanh cũng tác động đến các doanh nghiệp Ở đây, chủ trương,chính sách, cơ chế điều hành, bộ máy hành chính và chế độ hành chính, việc thựcthi công vụ của công chức thuộc bộ máy công quyền cũng như việc bảo đảm anninh, an toàn có tác động đáng kể đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Bởi

sự ổn định về chính trị, thể chế chính trị, sự nhất quán trong chủ trương, đường lối

cơ bản của quốc gia luôn là yếu tố tạo môi trường kinh doanh hấp dẫn các nhà đầu

tư, các doanh nghiệp Cùng với sự tác động của chính phủ cũng có sự tác động đểlàm ổn định chính trị có ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh

(3) Yếu tố văn hóa - xã hội: Các yếu tố văn hóa xã hội có mối liên hệ và tácđộng qua lại với hoạt động kinh doanh, bao gồm: dân số và thu nhập, yếu tố văn hóabao gồm các giá trị văn hóa cốt lõi và các giá trị văn hóa thứ phát, vai trò của các tổchức chính trị, kinh tế và xã hội Các số liệu về nhân khẩu học của dân cư trong mộtkhu vực thị trường như: số nhân khẩu thường trú, độ tuổi, giới tính, mật độ và phân

bố dân cư là những số liệu cần thiết để các doanh nghiệp xây dựng các chiến lượckinh doanh Mặt khác các doanh nghiệp cũng cần phải tìm hiểu các số liệu về mứcsống, trình độ dân trí, thói quen tiêu dùng, thị hiếu và thu nhập của người dân trongkhu vực thị trường để hoạch định kế hoạch kinh doanh và đưa ra các quyết định đầu

tư Có thể xem xét yếu tố dân cư tác động đến tình hình kinh doanh của doanhnghiệp theo 2 hướng:

(4) Yếu tố công nghệ: Yếu tố công nghệ là một trong những yếu tố động nhấtlàm cho môi trường kinh doanh thay đổi Xét trong môi trường kinh doanh có thểxem xét thông qua một số yếu tố trong đó đó như: hệ thống chính sách về khoa họccông nghệ Nó thể hiện sự quan tâm và vai trò của quản lý Nhà nước trong việc pháttriển kinh tế, phát triển khoa học và công nghệ và là yếu tố quan trọng quyết địnhđến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

(5) Yếu tố tự nhiên, cơ sở hạ tầng kỹ thuật: Xét trong môi trường kinh doanh

có thể xem xét các yếu tố: tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng kinh tế và các nhân

Trang 27

tố tác động chậm và ít nhận thấy đối với các doanh nghiệp đó là các yếu tố tự nhiên.Đây là một trong những điều kiện quan trọng đối với sự phát triển của một nền kinh

tế, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả Tác độngcủa các yếu tố tự nhiên đối với các quyết sách trong kinh doanh từ lâu đã được cácdoanh nghiệp thừa nhận Trong nhiều trường hợp chính các điều kiện tự nhiên trởthành một yếu tố rất quan trọng để hình thành lợi thế cạnh tranh của các sản phẩm

và dịch vụ Ngày nay, các yếu tố tự nhiên càng được quan tâm hơn bởi các chínhsách hoạt động của nhà nước Chất lượng môi trường tự nhiên với các vấn đề: ônhiễm môi trường, sản phẩm kém chất lượng, lãng phí tài nguyên thiên nhiên cùngvới nhu cầu ngày càng lớn đối với các nguồn lực có hạn làm cho công chúng cũngnhư các doanh nghiệp phải thay đổi các quyết định và hoạt động liên quan

(6) Yếu tố quốc tế và hội nhập: Yếu tố quốc tế và hội nhập trong nền kinh tếcần phải xem xét một số vấn đề gắn liền với việc quản lý Nhà nước có sự tác độngtới hoạt động của các doanh nghiệp như: chính sách khuyến khích và thu hút đầu tư,

hỗ trợ thương mại, khả năng liên kết trong và ngoài nước và việc xây dựng thể chếkinh tế thị trường đáp ứng hội nhập… Hội nhập thực hiện các cam kết theo các hiệpđịnh song phương và đa phương có những ảnh hưởng đáng kể đến môi trường kinhdoanh theo nhiều chiều Hệ thống luật pháp quốc tế, những hiệp định và thỏa thuậnđược một loạt các quốc gia tuân thủ ảnh hưởng gián tiếp đến môi trường kinh doanhthông qua việc tạo ra môi trường kinh doanh ổn định và thuận lợi Việc tăng cườnghội nhập, tự do hóa thương mại có tác động làm cho môi trường kinh doanh sẽ năngđộng hơn, việc lưu thông hàng hóa phát triển hơn vì những trở ngại như thuế quan,thủ tục xuất nhập khẩu, các hạn chế mậu dịch… được cố gắng giảm thiểu, thành tựukhoa học kỹ thuật được sử dụng tối ưu và có hiệu quả hơn Tuy nhiên, việc thựchiện các cam kết theo tiến trình hội nhập lại cũng đặt ra những thách thức đối vớidoanh nghiệp Các doanh nghiệp phải chấp nhận chạy đua trong điều kiện cạnhtranh gay gắt hơn và vẫn phải đối mặt với các hạn chế thương mại khác nhau…Việc quản lý Nhà nước để tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi theo xu thế hộinhập đòi hỏi cơ quan quản lý Nhà nước phải thực sự chủ động và có các chiến lược,chính sách phù hợp theo lộ trình thực hiện các cam kết của quốc gia

Trang 28

(Mai Thị Phượng, 2015)

Trong phạm vi nghiên cứu của Luận văn này, tập trung nghiên cứu vào yếu tốpháp luật trong môi trường kinh doanh của các cơ sở bán lẻ nước ngoài, bao gồm hệthống các công cụ chính sách và những quy định của Nhà nước có liên quan đếnviệc thành lập và hoạt động kinh doanh của các cơ sở bán lẻ nước ngoài Như vậyhoạt động kinh doanh của các cơ sở bán lẻ nước ngoài chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởimôi trường kinh doanh của các cơ sở bán lẻ nước ngoài, đặc biệt là yếu tố pháp luật.Trước 01/01/2009, các doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài không đượcphép đầu tư vào lĩnh vực bán lẻ tại thị trường Việt Nam do Việt Nam chưa có chínhsách mở cửa với loại hình này Nhờ kết quả của việc gia nhập Tổ chức thương mạithế giới (WTO) và chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Nhà nước cho phép cácdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được phép tham gia vào thị trường bán lẻViệt Nam thông qua việc thành lập các cơ sở bán lẻ nước ngoài tại Việt Nam Theo

đó từ năm 2009 đến nay, tại thành phố Hà Nội số lượng các cơ sở bán lẻ nước ngoàicũng không ngừng tăng lên với quy mô, chủng loại mặt hàng phong phú Hiện naytại thành phố Hà Nội đã có tới 196 cơ sở bán lẻ nước ngoài được cấp giấy phép

thành lập tại thành phố Hà Nội (Sở Công Thương, 2019) Đó là bằng chứng rõ nét

nhất cho thấy sự ảnh hưởng rất lớn của yếu tố pháp luật trong môi trường kinhdoanh đối với việc thành lập các cơ sở bán lẻ nước ngoài Yếu tố pháp luật trongmôi trường kinh doanh không chỉ ảnh hưởng tới việc thành lập cơ sở bán lẻ nướcngoài mà còn ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của các cơ sở bán lẻ nước ngoài

Ví dụ: Khoản 4 Điều 9 Nghị định 09/2018/NĐ-CP ngày 15/01/2018 của Chính phủquy định hàng hóa kinh doanh “chưa được cam kết mở cửa thị trường trong cácĐiều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên: Dầu, mỡ bôi trơn; gạo; đường; vậtphẩm đã ghi hình; sách, báo và tạp chí”, do đó các cơ sở bán lẻ nước ngoài khôngđược phép đưa các mặt hàng này vào kinh doanh tại Việt Nam Dẫn đến việc hạnchế các mặt hàng được kinh doanh tại các cơ sở bán lẻ nước ngoài

1.1.2.3 Đặc điểm của môi trường kinh doanh

Những đặc trưng của môi trường kinh doanh nói chung đó là:

Trang 29

Thứ nhất, môi trường kinh doanh tồn tại một cách khách quan đối với hoạtđộng của doanh nghiệp Những yếu tố của môi trường kinh doanh có thể tạo điềukiện thuận lợi hoặc gây ra những khó khăn cho hoạt động của doanh nghiệp Mộtmặt, môi trường kinh doanh tạo ra các ràng buộc cho các hoạt động của doanhnghiệp song mặt khác nó cũng tạo ra những cơ hội thuận lợi cho các doanh nghiệp.

Thứ hai, môi trường kinh doanh có tính tổng thể, bao gồm nhiều yếu tố cấuthành có quan hệ qua lại, ràng buộc lẫn nhau Số lượng và những bộ phận cấu thành

cụ thể của môi trường kinh doanh tùy thuộc vào trình độ phát triển của kinh tế - xãhội, cơ chế quản lý và của chính những bộ phận cấu thành môi trường kinh doanh

Thứ ba, môi trường kinh doanh và các yếu tố cấu thành luôn vận động vàbiến đổi Đó là do sự tác động của quy luật vận động nội tại của từng yếu tố cấuthành môi trường kinh doanh và của nền kinh tế quốc dân

Trong môi trường kinh doanh, việc cải cách hành chính nói chung, cải cáchthủ tục hành chính nói riêng là bước đi đầu tiên để hoàn thiện môi trường kinhdoanh Đây là một trong những yếu tố có sự ảnh hưởng sâu sắc đến việc hoàn thiệnmôi trường kinh doanh Việc cải cách thủ tục hành chính có hiệu quả hay không lạiphụ thuộc vào rất nhiều yếu tố đồng bộ bao gồm các quy định, việc tổ chức thựchiện các quy định và bản thân các cán bộ thực hiện Do vậy, cần phải có cơ chế điềuhành, quản lý, giám sát việc cải cách hành chính

Hoàn thiện môi trường kinh doanh là thay đổi cho tốt hơn các yếu tố, điềukiện khách quan, chủ quan bên ngoài có sự tương tác, ảnh hưởng trực tiếp hay giántiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

1.1.3. Quản lý Nhà nước đối với hoạt động của cơ sở bán lẻ nước ngoài

1.1.3.1 Mục tiêu quản lý Nhà nước đối với cơ sở bán lẻ nước ngoài

- Nhằm thay đổi cán cân trong cơ cấu thương mại dịch vụ theo hướng tăng tỷtrọng của thương mại bán lẻ, giúp tăng thu ngân sách địa phương trong bối cảnh Việt Nam mở cửa và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới

Theo xu hướng phát triển chung của thế giới, mục tiêu quản lý Nhà nước đối

Trang 30

với cơ sở bán lẻ nước ngoài còn giúp Việt Nam ngày càng phát triển so với khu vực,tận dụng các hiệp định thương mại, cam kết đã ký với các nước trên thế giới làmtiền đề phát triển khu vực dịch vụ bán lẻ, đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng, góp phầnnâng cao mức sống, thu nhập của người dân Giúp người tiêu dùng ngày càng có cơhội tiếp cận với các hàng hoá và các dịch vụ mua sắm văn minh, hiện đại tại các cơ

sở bán lẻ nước ngoài

- Tăng cơ hội việc làm

Thay đổi cơ cấu lao động trong tổng lao động xã hội, từng bước tăng tỷ trọnglao động trong khu vực công nghiệp, dịch vụ; giảm tỷ trọng lao động trong khu vựcnông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản Mạng lưới các cơ sở bán lẻ nước ngoài pháttriển, mở rộng giúp tăng sử dụng lao động phổ thông, lao động có trình độ học vấn,giải quyết việc làm cho nhiều lao động nữ, giúp người lao động có cơ hội tìm kiếmviệc làm thu nhập cao và ổn định

- Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường Việt Nam gópphần cải thiện kết cấu hạ tầng cho các ngành sách xuất trong nước phát triển Khi

mở cơ sở bán lẻ tại Việt Nam, tỷ lệ hàng Việt tại các hệ thống siêu thị nước ngoài

chiếm từ 65% đến 95% (Thúy Hiền, 2019) Việc liên kết, thâm nhập được vào các

cơ sở bán lẻ nước ngoài, giúp cho các doanh nghiệp trong nước mở rộng tiêu thụhàng hoá của mình đồng thời là cơ hội để doanh nghiệp trong nước đầu tư cải tiếnchất lượng, kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm,

- Việc mở cửa cho phép các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đượcphân phối bán lẻ tại thị trường Việt Nam thông qua các cơ sở bán lẻ nước ngoàigiúp tạo sự cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh giữa các doanh nghiệp bán lẻ trongnước và các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài Với lợi thế về vốn, kinh nghiệm quản

lý, phương thức kinh doanh chuyên nghiệp, khi tham gia vào thị trường Việt Namcác nhà bán lẻ nước ngoài có lợi thế so với các doanh nghiệp bán lẻ trong nước vẫncòn nhỏ lẻ, manh mún Do vậy, công tác quản lý Nhà nước đối với loại hình này làrất cần thiết, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giúp ngành bán lẻ của Việt Namphát triển mạnh, bền vững

Trang 31

- Tạo cầu nối kinh tế giúp kinh tế Việt Nam tiếp cận với nền kinh tế thế giới:Nhà nước tăng cường mở rộng quan hệ ngoại giao, tham gia WTO và các cam kếtquốc tế giúp mở rộng hoạt động của các cơ sở bán lẻ nước ngoài Nhà nước sẽ điềuchỉnh, hoàn thiện hệ thống pháp luật cho phù hợp với các cam kết quốc tế mà ViệtNam đang tham gia, qua đó giúp các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cónhiều cơ hội tham gia vào thị trường bán lẻ Việt Nam.

Để đạt được những mục tiêu trên Nhà nước phải thực hiện chức năng quản lý

vĩ mô thông qua việc hoạch định, triển khai thực hiện và đánh giá tình hình thựchiện các chính sách đối với các cơ sở bán lẻ nước ngoài

1.1.3.2 Quản lý Nhà nước về kinh tế - thương mại

Quản lý Nhà nước về kinh tế nói chung và về thương mại nói riêng là mộthoạt động thường xuyên, lâu dài của quốc gia để nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranhcủa mỗi quốc gia để nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế nhằm thíchứng với bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế

Quản lý Nhà nước: là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực Nhà nước,

được sử dụng quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạtđộng của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luậtnhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước Điểm khác nhau cơ bản giữaquản lý Nhà nước và các hình thức quản lý khác (ví dụ quản lý của các tổ chức xãhội,…) là tính quyền lực của Nhà nước gắn liền với cưỡng chế nhà nước khi cần

Quản lý Nhà nước về kinh tế: là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền

của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồnlực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu pháttriển kinh tế đất nước đặt ra trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế

Theo nghĩa rộng, quản lý Nhà nước về kinh tế được thực hiện thông qua ba

cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của nhà nước Theo nghĩa hẹp, quản lý Nhànước về kinh tế được hiểu như hoạt động quản lý có tính chất nhà nước nhằm điềuhành nền kinh tế, được thực hiện bởi cơ quan hành pháp (Chính phủ)

Quản lý Nhà nước về thương mại: là quá trình cơ quan Quản lý Nhà nước

Trang 32

quản lý thương mại bằng pháp luật, chính sách chiến lược quy hoạch và kế hoạchphát triển thương mại để thực hiện những chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước.

Nhà nước điều tiết hoạt động thương mại bằng các công cụ giá cả, tài chính,tín dụng Nhà nước xây dựng và ban hành pháp luật về thương mại, xây dựng chínhsách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển thương mại Hướng dẫn tổ chứcthực hiện pháp luật về thương mại, điều tiết lưu thông hàng hóa theo định hướngchiến lược phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước và dự báo thị trường trong vàngoài nước Tổ chức, hướng dẫn các hoạt động xúc tiến thương mại Đào tạo và xâydựng đội ngũ các bộ nhân viên hoạt động thương mại Đàm phán, ký kết các điềuước thương mại với nước ngoài, tham gia các công ước quốc tế, kiểm tra, kiểm soátthị trường

1.1.3.3 Quản lý Nhà nước đối với cơ sở bán lẻ nước ngoài

Quản lý Nhà nước đối với các cơ sở bán lẻ nước ngoài là quá trình cơ quanQuản lý Nhà nước sử dụng các phương pháp, công cụ để tác động vào các cơ sở bán

lẻ nước ngoài nhằm đạt được mục tiêu, định hướng, dẫn dắt các cơ sở này thực hiệntốt kinh doanh bán lẻ hàng hóa trên thị trường

Thông qua các cơ quan quản lý Nhà nước, Nhà nước thực hiện chức năngquản lý đối với các cơ sở bán lẻ nước ngoài nước ngoài, cụ thể:

- Quốc hội: Ban hành văn bản như Hiến pháp, Luật để điều chỉnh các hoạtđộng thương mại dịch vụ nói chung và dịch vụ bán lẻ nói riêng

- Chính phủ: Ban hành Nghị định, các Bộ ban hành Thông tư điều chỉnh cáchoạt động về dịch vụ bán lẻ nói chung và công tác quản lý Nhà nước đối với các cơ

sở bán lẻ nước ngoài nói riêng

- UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành Quy hoạch dàihạn phát triển ngành Thương mại của tỉnh, thành phố; Quy hoạch dài hạn mạng lướibán buôn, bán lẻ trên địa bàn các tỉnh, thành phố, ban hành và đôn đốc các sở,ngành, quận, huyện thực hiện kế hoạch phát triển thương mại định kỳ hàng năm,giai đoạn,

Trang 33

- Trên cơ sở phân cấp của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các

sở, ban, ngành của tỉnh, thành phố thực hiện công tác quản lý Nhà nước đối với các

cơ sở bán lẻ nước ngoài theo từng lĩnh vực trên toàn địa bàn tỉnh, thành phố, như:cấp phép thành lập, quản lý về y tế, môi trường, an ninh trật tự,

- UBND các quận, huyện, thị xã và UBND các phường, xã, thị trấn cũng thựchiện công tác quản lý Nhà nước đối với các cơ sở bán lẻ theo từng lĩnh vực trên toànđịa bàn, như hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện của các cơ sở bán lẻ theo đúng cácvăn bản pháp luật, thực hiện kế hoạch, chính sách của từng địa phương,

1.2 Tác động của quản lý Nhà nước đối với môi trường kinh doanh của các

cơ sở bán lẻ nước ngoài

1.2.1 Tác động của quản lý Nhà nước đối với môi trường kinh doanh của các cơ sở bán lẻ nước ngoài

Quản lý Nhà nước đối với môi trường kinh doanh của các cơ sở bán lẻ nướcngoài là quá trình cơ quan Quản lý Nhà nước sử dụng các công cụ chính sách để tácđộng vào môi trường kinh doanh của các cơ sở bán lẻ nước ngoài, trong phạm vinghiên cứu luận văn này là quản lý nhà nước tác động đến yếu tố pháp lý của môitrường kinh doanh của các cơ sở bán lẻ nước ngoài nhằm đạt được mục tiêu, địnhhướng các cơ sở bán lẻ nước ngoài kinh doanh đúng quy định của pháp luật ViệtNam Việc xây dựng và ban hành quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cam kết quốc tế,

xu hướng toàn cầu hóa sẽ tác động tích cực tới môi trường kinh doanh của các cơ sởbán lẻ nước ngoài Ngược lại việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch nhằm hạn chế cơ

sở bán lẻ nước ngoài sẽ có tác động tiêu cực tới môi trường kinh doanh của các cơ

sở bán lẻ nước ngoài

Các nội dung của quản lý Nhà nước đối với các cơ sở bán lẻ nước ngoài baogồm:

1.2.1.1 Hoạch định sự phát triển của các cơ sở bán lẻ nước ngoài

Các cơ quan quản lý Nhà nước từ Trung ương đến địa phương cần xây dựng

và ban hành quy hoạch, kế hoạch từ ngắn đến dài hạn liên quan đến phát triển các

cơ sở bán lẻ nước ngoài Việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch liên quan đến phát

Trang 34

triển các cơ sở bán lẻ nước ngoài phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triểnthương mại, phát triển kinh tế, xã hội của cả nước và của địa phương, đồng thời đảmbảo sự phát triển bình đẳng, bền vững của doanh nghiệp bán lẻ trong nước và doanhnghiệp bán lẻ nước ngoài.

Quy hoạch, kế hoạch đặt ra phải phù hợp với tình hình thực tế và phù hợp vớinăng lực của địa phương, thường xuyên phải cập nhật điều chỉnh để tránh lạc hậu,chồng chéo, không khả thi để có thể tạo định hướng ổn định đáng tin cậy cho cácnhà đầu tư nước ngoài Trong quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch, không chỉdựa trên hướng phát triển mà còn phải xuất phát và phân tích sâu từ phía thị trườngnhư dự báo nhu cầu về hoạt động của các cơ sở bán lẻ và sự biến động của chúng dotác động của các nhân tố khác nhau

1.2.1.2 Xây dựng và thực hiện các chính sách nhằm phát triển các cơ sở bán

lẻ nước ngoài

Việc xây dựng và thực hiện các chính sách để đạt được mục tiêu mà Nhànước đề ra là một trong những nội dung quan trọng của quản lý Nhà nước đối vớimôi trường kinh doanh của các cơ sở bán lẻ nước ngoài là Việc xây dựng và banhành các chính sách, quy hoạch và kế hoạch về quản lý đối với các cơ sở bán lẻnước ngoài sẽ tạo hàng lang pháp lý thuận lợi cho các cơ quan Trung ương và địaphương thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình và nâng cao năng lực QLNN đốivới hoạt động của các cơ sở bán lẻ nước ngoài Hệ thống luật pháp, quy định phảiđảm bảo tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động quản lý và thực thi đối với hoạt độngcủa các cơ sở bán lẻ nước ngoài

Các văn bản, chính sách thương mại cũng như pháp luật của nhà nước cầnphải thống nhất, minh bạch, rõ ràng và đồng bộ, giúp các cơ quan Trung ương vàđịa phương thực hiện đúng và hiệu quả công tác quản lý Đó là các yêu cầu cơ bảnđối với việc xây dựng và thực hiện các chính sách quản lý Nhà nước đối với các cơ

sở bán lẻ nước ngoài

Việc xây dựng và thực hiện các chính sách quản lý Nhà nước đối với các cơ

sở bán lẻ nước ngoài phù hợp với cam kết quốc tế, đảm bảo hiệu quả khả thi giúp

Trang 35

tạo niềm tin, sự yên tâm của các cơ sở bán lẻ nước ngoài.

1.2.1.3 Ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động của các cơ sở bán lẻ nước ngoài

Nhà nước thông qua công cụ ban hành văn bản pháp luật để điều chỉnh hoạtđộng kinh doanh của các cơ sở bán lẻ nước ngoài trong lĩnh vực bán lẻ Nhà nướcquản lý thông qua điều chỉnh các quan hệ pháp luật, sử dụng luật để tạo môi trườngphát triển dịch vụ bán lẻ bình đẳng, điều tiết, kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn hoạtđộng của các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài theo đúng quỹ đạo nhằm đảm bảo giữgìn an ninh trật tự xã hội và những định hướng xã hội đã lựa chọn Nhà nước có vaitrò giúp các cơ sở bán lẻ nước ngoài phát triển, đồng thời đảm bảo điều kiện tự do,bình đẳng trong kinh doanh dịch vụ bán lẻ

Khi nền kinh tế ngày càng mở cửa và hội nhập sâu rộng thì sự tham gia củacác nhà bán lẻ nước ngoài ngày càng sôi động, quan hệ quản lý về mặt pháp luậtngày càng phức tạp và đỏi hỏi phải đáp ứng yêu cầu phù hợp với các cam kết quốc

tế Do vậy, Nhà nước cần rà soát, sửa đổi, điều chỉnh hoặc ban hành mới các vănbản pháp luật để xây dựng khung pháp lý phù hợp với cam kết quốc tế và đi đôi vớithực tiễn Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quản lý các cơ sở bán lẻnước ngoài là một quá trình lâu dài, phức tạp, đòi hỏi phải có quy trình soạn thảokhoa học, trình độ, năng lực cao của cán bộ cũng như nhận thức pháp luật củadoanh nghiệp bán lẻ nước ngoài

Liên quan đến việc quản lý hoạt động của các cơ sở bán lẻ nước ngoài, hệthống pháp luật Việt Nam hiện có: Luật đầu tư, Luật Thương mại, Luật doanhnghiệp, Luật Quản lý ngoại thương, các Luật chuyên ngành như: Luật đất đai, Luật

vệ sinh an toàn thực phẩm,… và các văn bản hướng dẫn thi hành Đây là nhữngcông cụ để điều chỉnh hoạt động kinh doanh của các cơ sở bán lẻ nước ngoài tronglĩnh vực bán lẻ

1.2.1.4 Phổ biến và hướng dẫn thực hiện chính sách và pháp luật về cơ sở bán lẻ nước ngoài

Phổ biến và hướng dẫn thực hiện văn bản pháp luật về cơ sở bán lẻ nước

Trang 36

ngoài là một trong những nội dung quan trọng của quản lý Nhà nước đối với các cơ

sở bán lẻ nước ngoài, giúp các cơ sở bán lẻ nước ngoài nắm bắt thông tin kịp thời,thực hiện đúng các quy định của pháp luật liên quan Trong quá trình thực thi cácvăn bản pháp luật, cơ quan quản lý Nhà nước cần hướng dẫn, đôn đốc các cơ sở bán

lẻ nước ngoài thực hiện đúng và tuân thủ quy định của pháp luật Việc phổ biến vàhướng dẫn được thực hiện thông qua nhiều hình thức như tổ chức tập huấn, đào tạo,đăng tải các thông tin cập nhật và nội dung văn bản pháp luật chuyên ngành lên cácphương tiện báo đài, các trang web của cơ quan quản lý Nhà nước, tổ chức các diễnđàn doanh nghiệp, tổ chức hội nghị giao ban tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho cácnhà bán lẻ nước ngoài,…

1.2.1.5 Kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ sở bán lẻ nước ngoài

Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý Nhà nước đối vớicác cơ sở bán lẻ nước ngoài rất cần thiết, nhằm theo dõi quá trình hoạt động mộtcách thường xuyên, bảo đảm các đơn vị này hoạt động đúng quy định của pháp luật;hướng dẫn các cơ sở bán lẻ nước ngoài thực hiện đúng quy định pháp luật; đối vớicác vi phạm lần đầu thì kịp thời nhắc nhở để đơn vị điều chỉnh; xử lý kịp thời đốivới những trường hợp cố tình vi phạm, không tuân thủ quy định, nhằm mục đíchtrục lợi Trong quá trình quản lý, thanh tra, kiểm tra, cần chú ý lắng nghe ý kiếnđóng góp, cũng như nắm bắt những khó khăn, vướng mắc trong quá trình hoạt độngcủa các cơ sở bán lẻ nước ngoài, những bất cập trong quá trình thực thi văn bảnpháp luật, chính sách để kịp thời kiến nghị, điều chỉnh các văn bản pháp luật với đốitượng này cho phù hợp với thực tiễn Ngoài ra công tác thanh tra, kiểm tra, giám sátcũng giúp tăng cường pháp chế trong hoạt động kinh doanh, góp phần hoàn thiện cơchế quản lý, bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền lợi hợp pháp của các doanh nghiệp bán

lẻ nước ngoài trong đó có cơ sở bán lẻ nước ngoài tạo điều kiện cho các doanhnghiệp phát triển và cạnh tranh lành mạnh

1.2.2 Tác động của quản lý Nhà nước đối với các cơ sở bán lẻ nước ngoài

1.2.2.1 Tác động đến việc thành lập các cơ sở bán lẻ nước ngoài

Nhà nước thông qua việc điều chỉnh các quan hệ pháp luật để quản lý việc

Trang 37

thành lập cơ sở bán lẻ nước ngoài theo đúng quỹ đạo nhằm đảm bảo giữ gìn an ninhtrật tự xã hội và những định hướng xã hội đã lựa chọn Pháp luật quy định chuẩnmực hành vi của các chủ thể nước ngoài tham gia vào hoạt động bán lẻ, do vậy nóxác lập hệ thống các quan hệ quản lý cơ bản trong lĩnh vực này Pháp luật đồng thời

là công cụ nhằm tạo môi trường kinh doanh, tự do cạnh tranh lành mạnh cho cácchủ thể tham gia vào hoạt động bán lẻ Qua đó giúp các cơ sở bán lẻ nước ngoàiphát triển, đồng thời đảm bảo điều kiện tự do, bình đẳng trong kinh doanh

1.2.2.2 Tác động đến hoạt động kinh doanh của các cơ sở bán lẻ nước ngoài

Bằng các công cụ quản lý, Nhà nước tác động đến hoạt động kinh doanh củacác cơ sở bán lẻ nước ngoài, nhằm mục đích định hướng các cơ sở bán lẻ nướcngoài đảm bảo mọi hoạt động, đảm bảo chất lượng sản phẩm, không bán các hànghóa không rõ nguồn gốc xuất xứ, vi phạm bản quyền, không đảm bảo vệ sinh antoàn thực phẩm, đồng thời không ngừng đào tạo, nâng cao chất lượng nhân sự,nhằm phục vụ khách hàng một cách tốt nhất, phát triển hệ thống logistics, áp dụngcông nghệ thông tin, không ngừng nâng chất lượng dịch vụ, hướng đến sự phát triểncủa hoạt động bán lẻ, phục vụ tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng, tạo môi trườngcạnh tranh bình đẳng

1.2.2.3 Tác động đến hoạt động tự kiểm tra, kiểm soát của các doanh nghiệp

Bên cạnh tác động đến việc thành lập cơ sở bán lẻ nước ngoài và tác động đếnhoạt động kinh doanh của cơ sở bán lẻ nước ngoài, Nhà nước còn quản lý nhằm tácđộng đến hoạt động tự kiểm tra, kiểm soát của các doanh nghiệp Những quy địnhnghiêm về xử phạt khi xảy ra vi phạm trong việc quản lý của các cơ sở bán lẻ yêucầu các doanh nghiệp phải tự nỗ lực trong việc tự kiểm tra, kiểm soát hoạt động củamình, tránh gây ra các ảnh hưởng tiêu cực như không đảm bảo chất lượng hàng hóa,quy định về an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường,… tránh xảy ra vi phạm nghiêmtrọng như tình trạng chuyển giá, trốn thuế, gây thất thu ngân sách, tạo ra sự cạnhtranh không lành mạnh với các doanh nghiệp trong nước, tác động không tốt đếnmôi trường đầu tư,…

Trang 38

1.3 Kinh nghiệm quản lý Nhà nước của một số thành phố trong và ngoài nước để phát triển các cơ sở bán lẻ

1.3.1 Kinh nghiệm của Thái Lan

Thái Lan là một trong những quốc gia có chính sách mở cửa thông thoángnhất trong khu vực Đông Nam Á với chủ trương thu hút đầu tư nước ngoài vànhững chính sách hỗ trợ cụ thể của Nhà nước đối với các doanh nghiệp bán lẻ trongnước,… Có thể thấy, hệ thống bán lẻ của Thái Lan được hiện đại hoá theo xu hướng

mở cửa vào nền kinh tế thế giới Hiện nay, đã có rất nhiều tập đoàn đa quốc gia đãxây dựng các cơ sở bán lẻ tại Thái Lan mang thương hiệu như Makro Cash & Carry(Đức), Tesco Lotus (Anh), Big C (Pháp), Carrefour (Pháp),… Tuy nhiên, các tậpđoàn nước ngoài này đe doạ sự sống còn của các cơ sở bán lẻ truyền thống và hiệnđại còn nhỏ bé của Thái Lan bởi việc nắm giữ tới 80% doanh số bán qua loại hìnhbán lẻ hàng hoá hiện đại ở Thái Lan,

Vì vậy, Chính phủ Thái Lan vận dụng nhiều phương thức quản lý khác nhaunhư việc xem xét và điều chỉnh lại chính sách thu hút đầu tư nước ngoài trong lĩnhvực bán lẻ nhằm đối phó với sự phát triển nhanh chóng của các chuỗi bán lẻ xuyênquốc gia Cụ thể Thái Lan đã triển khai như sau:

- Thông qua dự Luật liên quan tới việc quy hoạch và phân vùng đô thị (vàotháng 3/2003) Theo đó, việc mở cơ sở bán lẻ mới có diện tích hơn 1.000m2 phảicách trung tâm thành phố ít nhất 15km và cách nơi giao nhau ít nhất 500m, đồngthời phía trước phải xây thụt vào 70m, còn bên cạnh thụt vào 20m; và phải dành ra30% diện tích đất để trồng cây xanh Việc thành lập các cơ sở bán lẻ phải được sựtán thành của hội đồng gồm đại diện những người kinh doanh và chính quyền địaphương Các quy định mới được áp dụng đối với 73 trong số 75 tỉnh của Thái Lan

và không áp dụng với Bangkok Thái Lan hy vọng thông qua các quy định này cóthể hạn chế sự bành chướng của các cơ sở bán lẻ nước ngoài tại Thái Lan

- Đưa ra quy định hạn chế chỉ cho các tập đoàn nước ngoài được mở từng cửa hàng mà không cho hình thành chuỗi cửa hàng để chi phối thị trường

- Trong khi chưa ban hành Luật mới về quản lý thị trường bán lẻ, để bảo vệ

Trang 39

các nhà bán lẻ trong nước Thái Lan đã thành lập Công ty Thương mại liên minh bán

lẻ (ART) đóng vai trò như một “cơ quan trung ương” giúp các nhà bán lẻ quy mônhỏ trong việc môi giới đặt hàng và bán lẻ hàng hóa với giá cạnh tranh Bên cạnh đóThái Lan còn hỗ trợ việc thành lập Hiệp hội bán buôn và bán lẻ với các thành viên

là các nhà bán buôn, bán lẻ quy mô nhỏ nhằm giảm chi phí cho các thành viên thông

qua việc phối hợp cùng nhau đặt những lô hàng lớn (Lê Thị Thu Hiền, 2011).

1.3.2 Kinh nghiệm của thành phố Bắc Kinh- Trung Quốc

Trong những năm 1994-1996, Bắc Kinh đã có chính sách khuyến khích mởsiêu thị Khi đó, phương thức kinh doanh Siêu thị còn mới, kinh nghiệm chưa có, vìthế Thành phố Bắc Kinh phải hỗ trợ cho thương nhân về thuê địa điểm, hỗ trợ vềthuế, hỗ trợ về khoản vay, phí cho thuê ở mức tối thiểu để thương nhân có thể thuêđược địa điểm Đến năm 2001, khi Trung Quốc trở thành thành viên của WTO vàthực hiện tự do hoá thị trường bán lẻ theo cam kết WTO Trung Quốc đã ban hànhnhững sửa đổi chính sách mới nhất liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài vàocác ngành thương mại, bao gồm bán lẻ Các chính sách mới đã dỡ bỏ toàn bộ cáchạn chế, hứa hẹn một thị trường mở cửa và bình đẳng đối với các nhà bán lẻ quốc

tế Do đó, đã có nhiều các nhà bán lẻ nước ngoài đầu tư tại Bắc Kinh và chiếm thịphần khá lớn tạo nên sự cạnh tranh với các nhà bán lẻ nội địa Bắc Kinh cũng đã cónhiều cơ chế chính sách để quản lý tốt đối với các cơ sở bán lẻ nước ngoài này

nhằm tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng (Lê Thị Thu Hiền,

2011).

Hiện nay, tại Bắc Kinh những hình thức kinh doanh theo kiểu cửa hàng báchhóa hoặc cửa hàng chuyên doanh đã tương đối cũ Hiện nay, những hình thức kinhdoanh như ST, TTTM, ST dạng kho hàng là những hình thức kinh doanh mới Đốivới những hình thức kinh doanh mới này, Thành phố đều có những quy hoạchtương ứng Đối với các siêu thị quy mô lớn, mang tính chất tổng hợp thành phố cóchính sách cho phát triển có mức độ Tại Thành phố Bắc Kinh, hình thức kinhdoanh theo dạng ST tổng hợp quy mô lớn đã bão hòa Chính vì vậy, thành phố BắcKinh đã phải áp dụng các biện pháp khống chế phát triển hình thức kinh doanh STtổng hợp quy mô lớn Thành phố Bắc Kinh cũng có chính sách khuyến khích phát

Trang 40

triển ST chuyên doanh như ST bán đồ điện, cơ điện, ST chuyên về thực phẩm, ST

chuyên về đồ dùng gia đình,…(Lê Thị Thu Hiền, 2011).

1.3.3 Kinh nghiệm của Thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh là Trung tâm kinh tế lớn và năng động nhất cả nước,trong những năm qua, Thành phố Hồ Chí Minh luôn là địa phương dẫn đầu cả nước

về thu hút đầu tư nước ngoài nói chung và đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực bán lẻnói riêng Theo "Đề án phát triển hệ thống bán buôn, bán lẻ trên địa bàn thành phốđến năm 2015, tầm nhìn 2020", Thành phố Hồ Chí Minh sẽ giảm dần số chợ, pháttriển thêm 95 ST và 140 TTTM Thành phố Hồ Chí Minh hiện có khoảng 100

TTTM, hơn 100 ST và 240 chợ truyền thống (Thiên An, 2019).

Hiện diễn biến cuộc đua giành thị phần bán lẻ cho thấy, phần lớn tập trung ởphân khúc ST, chuỗi CHTL Đối với các cơ sở bán lẻ nước ngoài, những năm gầnđây là thời điểm tăng đột biến về số lượng Nhiều thương hiệu bán lẻ toàn cầu đầu

tư hoặc tìm hiểu cơ hội đầu tư như Bs Mart, Wal-Mart, Carrefour, Tesco, Circile K,

BS Mart, Trong đó Hệ thống Bs Mart (Thái Lan) tính đến 5/7/2019 có hơn 150

cửa hàng (Theo Người Đồng Hành, 2019) Tính đến ngày 31/7/2019, Circle K (Mỹ)

đã khẳng định tên tuổi với 302 cửa hàng trên cả nước (Hệ thống Circle K, 2019).

Các hệ thống bán lẻ trên chủ yếu tập trung tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội.Tại Thành phố Hồ Chí Minh một số doanh nghiệp Việt Nam cũng có nhiều cơ sởbán lẻ có thương hiệu như: Saigon Co.op đã phát triển được 98 siêu thị Co.op Mart,

258 cửa hàng thực phẩm Co.op Food, 3 đại siêu thị Co.opXtra , có khả năng phục

vụ hơn 300.000 lượt mua sắm mỗi ngày (Tấn Thanh, 2018); Tập đoàn Vingroup đã

khai trương 10 TTTM Vincom tại Thành phố Hồ Chí Minh trở thành điểm đến mua

sắm, vui chơi và ẩm thực hàng ngày cho người dân (tính đến 31/7/2019) (Vincom,

2019).

Thành phố Hồ Chí Minh đã đưa ra những quan điểm chính sách cụ thể để thuhút ĐTNN nói chung và trong lĩnh vực bán lẻ nói riêng vào Thành phố nhằm phục

vụ cho quá trình phát triển kinh tế của địa phương Những chính sách này dựa trên

ba yếu tố đó là: một là sẽ đặc biệt ưu đãi đối với những ngành khuyến khích khi kêu

Ngày đăng: 08/04/2023, 15:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 - Tỷ lệ lựa chọn mua sắm đối với hệ thống ST, TTTM qua điều tra người tiêu dùng thường xuyên đến mua sắm - Nguyen thi huong   k22   msv60340102   2019
Bảng 2.1 Tỷ lệ lựa chọn mua sắm đối với hệ thống ST, TTTM qua điều tra người tiêu dùng thường xuyên đến mua sắm (Trang 48)
Bảng 2.2 - Danh mục các trung tâm thương mại ưu tiên đầu tư - Nguyen thi huong   k22   msv60340102   2019
Bảng 2.2 Danh mục các trung tâm thương mại ưu tiên đầu tư (Trang 56)
Bảng 2.3 – Danh mục các trung tâm mua sắm ưu tiên đầu tư - Nguyen thi huong   k22   msv60340102   2019
Bảng 2.3 – Danh mục các trung tâm mua sắm ưu tiên đầu tư (Trang 57)
Bảng 2.4 - Danh mục các siêu thị ưu tiên đầu tư - Nguyen thi huong   k22   msv60340102   2019
Bảng 2.4 Danh mục các siêu thị ưu tiên đầu tư (Trang 58)
Bảng 2.5 – Quy hoạch số lượng, quy mô của mạng lưới siêu thị và trung tâm thương mại đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 - Nguyen thi huong   k22   msv60340102   2019
Bảng 2.5 – Quy hoạch số lượng, quy mô của mạng lưới siêu thị và trung tâm thương mại đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 (Trang 59)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w