Xuất phát từ những mối nguy hại trực tiếp hoặc tiềm ẩn của chất thải y tế gâyra đối với môi trường và con người, cần có những biện pháp hữu hiệu để nâng caonhận thức của cộng đồng nói ch
Trang 1CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngày nay, vấn đề môi trường đang trở nên ngày càng trầm trọng, đe dọa trựctiếp đến sự tồn tại, phát triển của loài người đang được các quốc gia và cộng đồngtrên thế giới quan tâm Bởi lẽ ô nhiễm môi trường, sự suy thoái và những sự cố môitrường có ảnh hưởng trực tiếp không chỉ trước mắt mà còn ảnh hưởng về lâu dàicho các thế hệ mai sau Toàn thế giới đều đã nhận thức được rằng: phải bảo vệ môitrường, làm cho môi trường phát triển và ngày thêm bền vững
Dân số Việt Nam ngày càng gia tăng, kinh tế cũng phát triển, dẫn đến nhu cầukhám và điều trị bệnh gia tăng, số bệnh viện gia tăng Từ năm 1997 các văn bản vềquản lý chất thải bệnh viện được ban hành Theo niên giám thống kê năm 2007 có
956 bệnh viện tuyến huyện trở lên nhưng hầu hết chưa được quản lý theo một quychế chặt chẽ hoặc có xử lý nhưng theo cách đối phó hoặc chưa đúng Ô nhiễm môitrường do các hoạt động y tế mà thực tế là tình trạng xử lý kém hiệu quả các chấtthải bệnh viện
Hiện tại, chất thải bệnh viện đang trở thành vấn đề môi trường và xã hội cấpbách ở nước ta, nhiều bệnh viện trở thành nguồn gây ô nhiễm cho môi trường dân
cư xung quanh, gây dư luận trong cộng đồng
Bệnh viện Đa Khoa Khu Vực Hóc Môn (ĐKKVHM) đã được hình thành vàđang phát triển mạnh mẽ trong những năm qua khẳng định được vai trò quan trọngcủa mình trong quá trình phát triển chung của đất nước Nhờ những nỗ lực phấn đấukhông ngừng đó mà bệnh viện đã đạt được nhiều thành quả đáng kể trong công táckhám chữa bệnh, phòng bệnh và chăm lo sức khỏe cho người dân Bên cạnh nhữngthành quả đạt được thì, hiện nay, vấn đề nhức nhối tại bệnh viện là tình trạng ChấtThải Rắn Y Tế (CTRYT) thải ra với khối lượng khá lớn, đa phần là chất thải nguyhại mà hệ thống quản lý CTRYT thì còn thiếu sót
Trang 2Xuất phát từ những mối nguy hại trực tiếp hoặc tiềm ẩn của chất thải y tế gây
ra đối với môi trường và con người, cần có những biện pháp hữu hiệu để nâng caonhận thức của cộng đồng nói chung và nhân viên y tế nói riêng về những nguy cơ
đó, nâng cao năng lực tổ chức, trách nhiệm và từng bước hoàn thiện hệ thống quản
lý chất thải cũng như nâng cao chất lượng cảnh quan vệ sinh cho bệnh viện
Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả quản lý cụ thể hơn là CTRYT tại bệnh việnĐKKVHM, kết hợp với quá trình giám sát thực tế giúp tìm hiểu những thiếu sót còntồn tại trong công tác quản lý hiện nay của bệnh viện, góp phần làm tăng hiểu biết
và nâng cao ý thức cũng như chất lượng điều trị, giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn và giảmrủi ro bệnh nghề nghiệp cho nhân viên y tế Từ đó, nâng cao chất lượng quản lý rácthải y tế tại bệnh viện nói riêng và tại các phòng khám tư nhân, các trung tâm y tếnói chung hỗ trợ tốt hơn cho hệ thống quản lý chất thải hiện nay của huyện
Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài “đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý CTRYT tại bệnh viện ĐKKVHM, Tp.HCM” được lựa chọn.
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Mục tiêu chính của luận văn là bước đầu tìm hiểu mức độ ô nhiễm môi trườngchung và hiện trạng quản lý CTRYT của bệnh viện ĐKKVHM, kết hợp với việcnhận xét, đánh giá những mặt thuận lợi và tồn tại trong công tác quản lý hiện tại củabệnh viện, nhằm đưa ra những biện pháp để góp phần cải thiện và hạn chế ô nhiễmmôi trường của bệnh viện Cụ thể luận văn sẽ tập trung giải quyết các mục tiêu sau:
Đánh giá tổng hợp mức độ ô nhiễm môi trường chung và công tác quản lýCTRYT tại bệnh viện ĐKKVHM
Đề xuất biện pháp quản lý phù hợp trong hoạt động bảo vệ môi trường bệnhviện
1.3 NỘI DUNG THỰC HIỆN TRONG ĐỀ TÀI
Để đạt được các mục tiêu đề ra, đề tài cần thực hiện các nội dung sau :
Tìm hiểu thông tin về tình hình khám chữa bệnh của bệnh viện ĐKKVHM
Trang 3 Tìm hiểu công tác bảo vệ môi trường tại bệnh viện thông qua tài liệu liênquan hiện có và khảo sát, đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường chung tạibệnh viện.
So sánh các yêu cầu của qui định (từ Bộ Y tế và Bệnh viện) và hiện trạnghiện nay nhằm tìm ra các vấn đề quản lý còn bất cập
Đề xuất biện pháp quản lý CTRYT đối với bệnh viện dựa trên các vấn đề bấtcập đã phân tích ở trên
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.4.1 Phương pháp luận
Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn bệnh việngóp phần bảo vệ môi trường là nghiên cứu tương quan giữa các yếu tố “khái niệm,thành phần, nguyên nhân, tác hại của CTRYT – công tác quản lý và đề xuất giảipháp quản lý CTRYT của công ty Môi trường Đô thị nói chung Bệnh việnĐKKVHM nói riêng – sự hiểu biết, nhận thức về CTRYT của cán bộ công nhânviên trong toàn bệnh viện, đặc biệt là các bộ phận làm việc trực tiếp với CTRYT
“Từ đó rút ra kết luận và đề xuất giải pháp quản lý CTRYT đạt hiệu quả” Toàn bộquá trình nghiên cứu của đề tài được trình bày trong hình 1.1
Trang 4
Hình 1.1: Sơ đồ nghiên cứu
Đánh giá hiện trạng tại BVĐKKV
Hóc Môn:
• Ô nhiễm môi trường do CTRYT
• Công tác quản lý và kiểm soát ô nhiễm
CTRYT tại bệnh viện
• So sánh sự phù hợp với các yêu cầu và
tiêu chuẩn hiện có của Bộ Y tế và Bệnh
viện
Tổng hợp các giải pháp quản lý CTRYT trên thế giới và một số bệnh viện tại Việt Nam
Các vấn đề tồn tại trong công tác quản lý
CTRYT tại BVĐKKV Hóc Môn
Đề xuất các giải pháp quản lý môi
CTRYT tại BVĐK khu vực Hóc Môn
Trang 51.4.2 Phương pháp thực tế
Để thực hiện đề tài này, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau :a) Khảo cứu tài liệu
Tham khảo các tài liệu liên quan như :
- Quy chế quản lý chất thải y tế số 2575/BYT của Bộ y tế ban hành ngày12/05/2003 v/v tăng cường quản lý CTRYT
- Chỉ thị 09/2003/CT_UB của Ủy ban nhân dân Tp Hồ Chí Minh ngày12/05/2003 v/v tăng cường quản lý CTRYT
b) Khảo sát thực địa
Khảo sát, thu thập các hình ảnh, số liệu ở bệnh viện ĐKKV Hóc Môn.c) Phương pháp thống kê
Phương pháp thống kê nhằm thu thập và xử lý số liệu một cách tổng quan
về tình hình quản lý CTRYT tại bệnh viện ĐKKVHM Tp Hồ Chí Minh
So sánh, xác định độ tin cậy của số liệu, xử lý và tổng hợp số liệu
1.5 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài được xác định là bệnh viện ĐKKVHM, Tp
Hồ Chí Minh
1.6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỒ ÁN
1.6.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Báo cáo cung cấp số liệu điều tra thực tế về tình hình quản lý rác thải y tế tạibệnh viện, thực trạng về hệ thống quản lý CTRYT trong khu vực bệnh viện Trên cơ
sở đó phân tích những ưu và nhược điểm của hệ thống quản lý CTRYT, đồng thời
đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp giúp cho các nhà quản lý có cơ sở khoa học
để quản lý tốt hơn vấn đề CTRYT
Trang 61.6.2 Ý nghĩa thực tiễn của đồ án
Đề tài cung cấp những dữ liệu liên quan đến hiện trạng quản lý môi trường vàcác giải pháp như là một cơ sở để so sánh giữa các phòng khám đa khoa ở các khuvực khác với nhau
1.7 PHẠM VI CỦA ĐỀ TÀI
1.7.1 Về thời gian
Từ tháng 30/05/2011 đến 21/08/2011
1.7.2 Về phạm vi
Luận văn được giới hạn ở phạm vi như sau:
Phạm vi : Thị trấn Hóc Môn, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh.
Lĩnh vực đề cập: thông tin về CTRYT
1.7.3 Về nội dung
Đề tài tập trung tìm hiểu về hiện trạng quản lý chất thải y tế hiện nay tại bệnhviện ĐKKVHM Từ đó, đề xuất các biện pháp để nâng cao chất lượng công tácquản lý môi trường cho bệnh viện
1.7.4 Về số liệu
Các số liệu được sử dụng trong đề tài giới hạn trong khoảng thời gian khảo sáttình hình quản lý chất thải y tế của bệnh viện và các tài liệu thu thập được từ tư liệucủa bệnh viện, sách báo, internet trong thời gian thực hiện luận văn
1.8 CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
Bố cục gồm có sáu chương:
Chương 1: trình bày các vấn đề rủi ro liên quan đến CTRYT tại bệnh viện, mụctiêu mà đề tài hướng tới, phạm vi và đối tượng nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của
đề tài
Trang 7Chương 2: giới thiệu về CTRYT, tác hại của nó đối với môi trường và sức khỏecon người Kế hoạch quản lý CTRYT cũng như tình hình quản lý CTRYT tại ViệtNam nói riêng và Thế giới nói chung
Chương 3: đồ án trình bày tổng quan về bệnh viện ĐKKVHM, nguồn phát sinhCTRYT và công tác bảo vệ môi trường tại bệnh viện
Chương 4: đi sâu khảo sát thực tế, thu thập thông tin, số liệu, hình ảnh để đánhgiá tình hình ô nhiễm môi trường cũng như đánh giá rủi ro, sự cố các mặt kỹ thuậttrong công tác quản lý CTRYT tại bệnh viện Nêu lên những thuận lợi và khó khăntrong công tác quản lý
Chương 5: đề ra các biện pháp khắc phục phù hợp để nâng cao chất lượng côngtác quản lý CTRYT tại Bệnh viện ĐKKVHM
Chương 6: đưa ra kết luận và kiến nghị nhằm thúc đẩy công tác bảo vệ môitrường tại Bệnh viện ĐKKVHM đạt hiệu quả
Trang 8
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CTRYT
2.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÀNH Y TẾ
Y tế là một ngành có truyền thống lâu đời, sự kết hợp giữa y học cổ truyền và
y học hiện đại đã tạo nên đặc trưng cơ bản của ngành y tế
Ngành y tế là một ngành then chốt trong lĩnh vực đảm bảo cho con người vềmặt thể chất và là nghành độc lập có nhiều đối tượng (bệnh nhân) nhất, vì thế đây làngành có cơ sở hoạt động rộng khắp toàn quốc
Y tế là ngành có mối quan hệ mật thiết với xã hội và là ngành có vai trò quantrọng trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, giải quyết các hậu quả xãhội, an toàn lao động Vì thế, là một ngành luôn được quan tâm trong công tác bảo
vệ môi trường trong sạch
2.2 ĐẶC TRƯNG CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
2.2.1 Khái niệm về chất thải y tế
Chất thải y tế (CTYT) là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, từ các hoạtđộng khám chữa bệnh, chăm sóc, sét nghiệm, phòng bệnh, nghiên cứu, đào tạo.Chất thải y tế có thể ở dạng rắn, lỏng và khí
Chất thải y tế nguy hại là những chất có chứa các thành phần như: máu, dịch
cơ thể, các chất bài tiết, các bộ phận cơ thể, bơm kim tiêm và các vật sắc nhọn,dược phẩm, hóa chất, và các chất phóng xạ dung trong y tế Nếu những chất thảinày không được tiêu hủy sẽ nguy hại cho môi trường và sức khỏe con người
Trang 9Quản lý chất thải y tế là một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngành y tế
và các ngành khác có liên quan nhằm bảo vệ môi trường sống, bảo vệ sức khỏe chobản thân thầy thuốc, nhân viên y tế, người bệnh và cộng đồng
Chất thải y tế là một trong những lại chất thải nằm trong danh mục A của danhmục các chất thải nguy hại Chất thải y tế là một loại chất thải nguy hại, vì vậy việcquản lý chất thải y tế cần tuân thủ các quy định có liên quan đến quản lý chất thảinguy hại Do giới hạn đề tài chỉ tập trung vào CTRYT nên trong phần tiếp theo emchỉ trình bày các nội dung liên quan đến loại CTYT này
2.2.2 Thành phần của CTRYT
a Thành phần vật lý
Thành phần vật lý của CTRYT gồm các dạng sau:
Bông vải sợi: Gồm bông băng, gạc, quần áo, khăn lau, vải trải…
Giấy: Hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh
Nhựa: Hộp đựng, bơm tiêm, dây chuyền máu, túi đựng hàng
Thủy tinh: Chai lọ, ống tiêm, bơm tiêm thủy tinh, ống nghiệm
Nhựa: Hộp đựng, bơm tiêm, dây truyền máu, túi đựng
Kim loại: Dao kéo mổ, kim tiêm
b Thành phần hóa học
Thành phần hóa học gồm 2 loại sau:
Vô cơ: Hóa chất, thuốc thử…
Hữu cơ: Đồ vải sợi, phần cơ thể, thuốc…
c Thành phần sinh học: Máu, bệnh phẩm, bộ phận cơ thể bị cắt bỏ
Trang 102.2.3 Phân loại CTRYT
Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hóa học, sinh học và tính chất nguy hại, chất
thải trong các bệnh viện được Bộ Y tế phân thành 5 nhóm theo quy chế quản lýchất thải y tế chung trên toàn quốc:
Chất thải lây nhiễm
Chất thải hóa học nguy hại
Chất thải phóng xạ
Các bình chứa khí nén có áp suất
Chất thải thông thường
a Chất thải lây nhiễm
Theo quy định của Bộ y tế, chất thải lây nhiễm được chia thành các nhóm sau:
Nhóm A: chất thải nhiễm khuẩn, chứa mầm bệnh với số lượng, mật độ đủgây bệnh, bị nhiễm khuẩn bởi vi khuẩn, virus, ký sinh trùng, nấm…bao gồmcác vật liệu bị thấm máu, thấm dịch, chất bài tiết của người bệnh như gạc,bông, găng tay, bột bó gãy xương, dây truyền máu
Nhóm B: là các vật sắc nhọn: bơm tiêm, lưỡi, cán dao mổ, mảnh thủy tinh vỡ
và mọi vật liệu có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, dù chúng có được
b Chất thải hóa học nguy hại
Chất thải hóa học bao gồm các hóa chất có thể không gây nguy hại như đường, axit béo, axit amin, một số loại muối… và hóa chất nguy hại như Formaldehit, hóa
Trang 11chất quang học, các dung môi, hóa chất dùng để tiệt khuẩn y tế và dung dịch làm
sạch, khử khuẩn, các hóa chất dùng trong tẩy uế, thanh trùng…
Chất thải hóa học nguy hại gồm:
Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng
Formaldehit: Đây là hóa chất thường được sử dụng trong bệnh viện, nó được
sử dụng để làm vệ sinh, khử khuẩn dụng cụ, bảo quản bệnh phẩm hoặc khử
khuẩn các chất thải lỏng nhiễm khuẩn Nó được sử dụng trong các khoa giải phẫu bệnh, lọc máu, ướp xác…
Các chất quang hóa: Các dung dịch dùng để cố định phim trong khoaXquang
Các dung môi: Các dung môi dùng trong cơ sở y tế gồm các hợp chất củahalogen như metyl clorit, chloroform, các thuốc mê bốc hơi như halothane;
các hợp chất không chứa halogen như xylene, axeton, etyl axetat…
Các chất hoá học hỗn hợp: Bao gồm các dung dịch làm sạch và khử khuẩn
như phenol, dầu mỡ và các dung môi làm vệ sinh…
Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dínhthuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hóa trịliệu
Chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân
bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từtấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoachẩn đoán hình ảnh, xạ trị)
c Chất thải phóng xạ
Tại các cơ sở y tế, chất thải phóng xạ phát sinh từ các hoạt động chuẩn đoán,hóa trị liệu, và nghiên cứu Chất thải phóng xạ gồm: dạng rắn, lỏng và khí
Trang 12 Chất thải phóng xạ rắn bao gồm: Các vật liệu sử dụng trong các xét nghiệm,chuẩn đoán, điều trị như ống tiêm, bơm tiêm, kim tiêm, kính bảo hộ, giấy
thấm, gạc sát khuẩn, ống nghiệm, chai lọ đựng chất phóng xạ…
Chất thải phóng xạ lỏng bao gồm: Dung dịch có chứa chất phóng xạ phátsinh trong quá trình chuẩn đoán, điều trị như nước tiểu của người bệnh, các
chất bài tiết, nước súc rửa các dụng cụ có chất phóng xạ…
Chất thải phóng xạ khí bao gồm: Các chất khí thoát ra từ kho chứa chấtphóng xạ…
d Các bình chứa khí nén có áp suất
Nhóm này bao gồm các bình chứa khí nén có áp suất như bình đựng oxy, CO2, bình gas, bình khí dung, các bình chứa khí sử dụng một lần… Đa số các bình chứa khí nén này thường dễ nổ, dễ cháy nguy cơ tai nạn cao nếu không được tiêu hủy
đúng cách
e Chất thải thông thường
Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa họcnguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:
Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly)
Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thủytinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gãy xương kín.Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa họcnguy hại
Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu vật liệuđóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim
Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh trong bệnhviện
Trang 132.3 TÁC HẠI CỦA CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
2.3.1 Đối với môi trường
2.3.1.1 Đối với môi trường đất
Khi chất thải y tế được xử lý giai đoạn trước khi thải bỏ vào môi trường không
đúng cách thì các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại, các vi khuẩn có thể ngấm
vào môi trường đất gây nhiễm độc cho môi trường sinh thái, các tầng sâu trong đất,sinh vật kém phát triển… làm cho việc khắc phục hậu quả về sau lại gặp khó khăn
2.3.1.2 Đối với môi trường không khí
Chất thải bệnh viện từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều gây ranhững tác động xấu đến môi trường không khí Khi phân loại tại nguồn, thu gom,vận chuyển chúng phát tán bụi rác, bào tử vi sinh vật gây bệnh, hơi dung môi, hóachất vào không khí Ở khâu xử lý (đốt, chôn lấp) phát sinh ra các khí độc hại HX,NOx, đioxin, furan… từ lò đốt và CH4, NH3, H2S… từ bãi chôn lấp Các khí này nếu
không được thu hồi và xử lý sẽ gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của cộng đồng dân
cư xung quanh
2.3.1.3 Đối với môi trường nước
Khi chôn lấp chất thải y tế không đúng kỹ thuật và không hợp vệ sinh Đặcbiệt là chất thải y tế được chôn lấp chung với chất thải sinh hoạt có thể gây ô nhiễmnguồn nước ngầm
2.3.2 Đối với sức khỏe
2.3.2.1 Đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp CTRYT
Tất cả các cá nhân tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại là những người có nguy
cơ tiềm tàng, bao gồm những người làm việc trong các cơ sở y tế, những người ở ngoài các cơ sở y tế làm nhiệm vụ vận chuyển các chất thải y tế và những người trong cộng đồng bị phơi nhiễm với chất thải do hậu quả của sự sai sót trong khâu quản lý chất thải Dưới đây là những nhóm chính có nguy cơ cao:
Trang 14 Bác sĩ, y tá, hộ lý và các nhân viên hành chính của bệnh viện.
Bệnh nhân điều trị nội trú hoặc ngoại trú
Khách tới thăm hoặc người nhà bệnh nhân
Những công nhân làm việc trong các dịch vụ hỗ trợ phục vụ cho các cơ sởkhám chữa bệnh và điều trị, chẳng hạn như giặt là, lao công, vận chuyểnbệnh nhân…
Những người làm việc trong các cơ sở xử lý chất thải (tại các bãi đổ rác thải,các lò đốt rác) và những người bới rác, thu gom rác…
2.3.2.2 Tác động từ CTRYT
a Từ chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn
Các vật thể trong thành phần của CTRYT có thể chứa đựng một lượng rất lớn
bất kỳ tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm nào Một mối nguy cơ rất lớn
hiện nay đó là virus gây hội chứng suy giảm miễn dịch (HIV) cũng như các virus lây qua đường máu như viêm gan B, C có thể lan truyền ra cộng đồng qua con đường rác thải y tế Những virus này thường lan truyền qua vết tiêm hoặc các tổn thương do kim tiêm có nhiễm máu người bệnh Các tác nhân gây bệnh này có thể
xâm nhập vào cơ thể người thông qua các cách thức sau:
Qua da (qua một vết thủng, trầy sước hoặc vết cắt trên da)
Qua các niêm mạc (màng nhầy)
Qua đường hô hấp (do xông, hít phải)
Qua đường tiêu hoá
b Từ loại chất thải hoá chất và dược phẩm
Nhiều loại hoá chất và dược phẩm được sử dụng trong các cơ sở y tế là những
mối nguy cơ đe dọa sức khoẻ con người (các độc dược, các chất gây độc gen, chất
ăn mòn, chất dễ cháy, các chất gây phản ứng, gây nổ…) Các loại chất này thường
chiếm số lượng nhỏ trong chất thải y tế, với số lượng lớn hơn có thể tìm thấy khi
Trang 15chúng quá hạn, dư thừa hoặc hết tác dụng cần vứt bỏ Những chất này có thể gây
nhiễm độc khi tiếp xúc cấp tính và mãn tính, gây ra các tổn thương như bỏng, ngộ độc Sự nhiễm độc này có thể là kết quả của quá trình hấp thụ hóa chất hoặc dược phẩm qua da, qua niêm mạc, qua đường hô hấp hoặc đường tiêu hóa Việc tiếp xúc với các chất dễ cháy, chất ăn mòn, các hóa chất gây phản ứng (formaldehyd và các chất dễ bay hơi khác) có thể gây nên những tổn thương tới da, mắt hoặc niêm mạc đường hô hấp Các tổn thương phổ biến hay gặp nhất là các vết bỏng.
c Từ chất thải gây độc tế bào
Đối với các nhân viên y tế chịu trách nhiệm tiếp xúc và xử lý loại chất thải gây
độc gen, mức độ ảnh hưởng của những mối nguy cơ bị chi phối bởi sự kết hợp giữa bản chất của chất độc và phạm vi, khoảng thời gian tiếp xúc với chất độc đó Quá
trình tiếp xúc với các chất độc trong công tác y tế có thể xảy ra trong lúc chuẩn bị
hoặc trong quá trình điều trị bằng các thuốc đặc biệt hoặc bằng hóa trị liệu Những phương thức tiếp xúc chính là hít phải dạng bụi hoặc dạng phun sương qua đường
hô hấp; hấp thụ qua da; qua đường tiêu hóa do ăn phải thực phẩm nhiễm thuốc, hóa chất hoặc chất bẩn có tính độc Việc nhiễm độc qua đường tiêu hóa là kết quả của những thói quen xấu chẳng hạn như dùng miệng để hút ống pipet trong khi định lượng dung dịch Mối nguy hiểm cũng có thể xảy ra khi tiếp xúc với các loại dịch thể và các chất bài tiết của những bệnh nhân đang được điều trị bằng hóa trị liệu.
d Từ các chất thải phóng xạ
Loại bệnh gây ra do chất thải phóng xạ được xác định bởi loại chất thải và
phạm vi tiếp xúc Nó có thể là đau đầu, hoa mắt chóng mặt, buồn nôn và nhiều bất thường khác Bởi chất thải phóng xạ, cũng như loại chất thải dược phẩm, là một loại độc hại gen, nó cũng có thể ảnh hưởng đến các yếu tố di truyền Tiếp xúc với các nguồn phóng xạ có hoạt tính cao, ví dụ như các nguồn phóng xạ của các phương tiện chẩn đoán (máy Xquang, máy chụp cắt lớp…), có thể gây ra một loạt các tổn thương (chẳng hạn như phá huỷ các mô, từ đó đòi hỏi phải dẫn đến việc xử lý loại
bỏ hoặc cắt cụt các phần cơ thể)
Trang 16Các nguy cơ từ những loại chất thải có hoạt tính thấp có thể phát sinh do việcnhiễm xạ trên phạm vi bề mặt của các vật chứa, do phương thức hoặc khoảng thời
gian lưu giữ loại chất thải này Các nhân viên y tế hoặc những người làm nhiệm vụ thu gom và vận chuyển rác phải tiếp xúc với loại chất thải phóng xạ này là những người thuộc nhóm có nguy cơ cao.
2.4 QUẢN LÝ CTRYT
Quản lý chất thải y tế bắt đầu ngay từ quá trình sinh ra chất thải đến quá trình
xử lý, và khâu cuối cùng là thải bỏ chất thải
Khi phát sinh chất thải, chúng ta nghĩ đến các biện pháp để giảm lượng phátthải chất thải nguy hại nhất Sau xử lý, lượng chất thải thực sự phải thải bỏ cuốicùng cần được giải quyết để đảm bảo vệ sinh và an toàn
2.4.1 Giảm thiểu tại nguồn
Phương pháp làm giảm thiểu chất thải hiện tại đang được áp dụng là các hoạtđộng tái sinh, tái chế cũng như giảm thiểu tại nguồn Giảm thiểu tại nguồn là giảm
về số lượng hoặc độc tính của bất kỳ một chất thải y tế nào đi vào dòng chất thảitrước khi tái sinh, xử lý hoặc đưa vào môi trường Những cải tiến căn bản tronggiảm thiểu tại nguồn là:
Chọn nhà cung cấp hậu cần cho bệnh viện mà sản phẩm của họ ít phế thảihay giảm lượng CTRYT nguy hại phải xử lý đặc biệt
Sử dụng các biện pháp khử trùng tẩy uế cơ lý học nhiều hơn các biện pháphóa học sẽ giảm thiểu chất thải nguy hại
Giảm thiểu chất thải, nhất là trong công tác phân loại và khử trùng tẩy uế
2.4.1 Quản lý và kiểm soát ở bệnh viện
Việc quản lý và kiểm soát chất thải ở bệnh viện được thực hiện như sau:
Tập trung quản lý thống nhất các loại thuốc, hóa chất nguy hại
Trang 17 Giám sát sự luân chuyển lưu hành hóa chất, dược chất ngay từ khâu nhận,nhập kho, sử dụng và tiêu hủy thải bỏ.
2.4.2 Quản lý kho hóa chất, dược chất
Việc quản lý kho hóa chất và những dược phẩm cụ thể là:
Thường xuyên nhập hàng từng lượng nhỏ hơn là nhập quá nhiều một đợt dễdẫn tới thừa hay quá hạn
Sử dụng các lô hàng cũ trước, hàng mới dùng sau
Sử dụng toàn bộ thuốc, dược chất vật tư trong đợt, rồi mới chuyển sang đợtmới
Thường xuyên kiểm tra hạn sử dụng của các loại thuốc, dược chất, vật tư tiêuhao ngay từ khi nhập hàng cũng như trong quá trình sử dụng
2.4.3 Thu gom, phân loại và vận chuyển
Tách – Phân loại:
Điểm chủ yếu của biện pháp này là phân loại và tách ngay từ đầu một cáchchính xác chất thải y tế nguy hại và chất thải rắn thông thường Việc tách và phânloại chính xác chất thải y tế tạo điều kiện thuận lợi cho các quá trình tiếp theo như
quá trình vận chuyển và lưu giữ tại bệnh viện hay quá trình vận chuyển tới nơi tiêu
hủy và quá trình tiêu hủy
Việc tách và phân loại CTRYT đòi hỏi phải có thùng chứa, túi lót trong thùng
chứa được buột chặt chẽ, hộp đựng vật sắc nhọn Yêu cầu màu sắc phải thống nhấttheo quy định để dễ quản lý chất thải y tế đã được phân loại thu gom trong suốt quátrình lưu thông
Trang 18Bảng 2.1: Yêu cầu màu sắc, túi, thùng đựng và biểu tượng chỉ chất thải y tế
Loại chất thải Màu và đánh dấu nhãn Loại thùng, túi
Chất thải lây nhiễm cao Vàng, ký hiệu nhiễm
Thùng nhựa, túi nhựa bền
Vật sắc nhọn Vàng, đề chữ vật sắc nhọn Túi nhựa bền, hoặc hộp
giấy, chai nhựaChất thải y tế có động vị
phóng xạ
Đen, logo có bức xạ theoquy đinh
Hộp chì, kim loại có dánnhãn bức xạ
( Nguồn: Theo quy chế quản lý chất thải y tế của Bộ y tế, 2007)
Thu gom tại phòng khoa:
Nhân viên y tế phân loại, tách chất thải y tế ngay trong quá trình khám chữabệnh như thay băng, tiêm truyền Hoạt động này phải duy trì thường xuyên liên tục Nhân viên chịu trách nhiệm thu gom chất thải y tế từ các khoa chuyên môn tậptrung về thùng lưu chứa tập trung, sau đó vận chuyển về khu lưu giữ chất thải y tếnguy hại của bệnh viện
Chất thải phải được thu gom hàng ngày và chuyển về nơi lưu giữ chất thải củabệnh viện
Thùng túi đã chứa đầy chất thải, khi vận chuyển đi phải có nhãn ghi rõ chấtthải từ khoa, bệnh viện, ngày giờ
Phải có ngay thùng, túi chứa rác đặt ngay vào vị trí khi đã chuyển thùng cũ đi
Lưu chứa:
Trang 19Khu lưu giữ chất thải y tế xây dựng riêng, tách biệt với khu vực khám chữabệnh của bệnh viện.
Chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường phải lưu giữ trong các buồngriêng biệt
Thời gian lưu chứa như sau:
Tốt nhất là vận chuyển CTRYT nguy hại đi xử lý ngay trong ngày Thời gianlưu giữ chất thải trong các cơ sở y tế không quá 48 giờ
Lưu giữ chất thải trong nhà bảo quản lạnh hoặc thùng lạnh: thời gian lưu giữ
có thể đến 72 giờ
Vận chuyển:
Xe vận chuyển chất thải phải đảm bảo các tiêu chuẩn: có thành, có nắp, có đáykín, dễ cho chất thải vào, dễ lấy chất thải ra, dễ làm sạch, dễ tẩy uế, dễ làm khô
2.5 HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ CTRYT TRÊN THẾ GIỚI
VÀ TẠI VIỆT NAM
2.5.1 Trên thế giới
Trên thế giới, quản lý rác thải bệnh viện được nhiều quốc gia quan tâm và tiến
hành một cách triệt để từ rất lâu Về quản lý, một loạt những chính sách quy định,
đã được ban hành nhằm kiểm soát chặt chẽ loại chất thải này Các hiệp ước quốc tế,
các nguyên tắc, pháp luật và quy định về chất thải nguy hại, trong đó có cả chất thải
bệnh viện cũng đã được công nhận và thực hiện trên hầu hết các quốc gia trên thế
giới
Công ước Basel: Được ký kết bởi hơn 100 quốc gia, quy định về sự vận chuyển
các chất độc hại qua biên giới, đồng thời áp dụng, cả với chất thải y tế Công ướcnày đưa ra nguyên tắc chỉ vận chuyển hợp pháp chất thải nguy hại từ các quốc giakhông có điều kiện và công nghệ thích hợp sang các quốc gia có điều kiện vật chất
kỹ thuật để xử lý an toàn một số chất thải đặc biệt
Trang 20Nguyên tắc polluter pay: Nêu rõ mọi người, mọi cơ quan làm phát sinh chất
thải phải chụi trách nhiệm về pháp luật và tài chính trong việc đảm bảo an toàn và giữ cho môi trường trong sạch.
Nguyên tắc proximitry: Quy định rằng việc xử lý chất thải nguy hại cần được
tiến hành ngay tại nơi phát sinh càng sớm càng tốt Tránh tình trạng chất thải bị lưugiữ trong thời gian dài gây ô nhiễm môi trường
Xử lý chất thải bệnh viện, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế và khoa học côngnghệ, nhiều nước trên thế giới đã có những biện pháp khác nhau để xử lý loại rácthải nguy hại này
Các nước phát triển
Hiện tại trên thế giới ở hầu hết các quốc gia phát triển, trong các bệnh viện, cơ
sở chăm sóc sức khỏe, hay những công ty đặc biệt xử lý phế thải đều có thiết lập hệ thống xử lý loại phế thải y tế Đó là các loại lò đốt ở nhiệt độ cao tùy theo loại phế
thải từ 10000C đến trên 40000C Tuy nhiên phương pháp này hiện nay vẫn còn đang
tranh cãi về việc xử lý khí bụi sau khi đốt đã được thải hồi vào không khí
Các phế thải y tế trong khi đốt, thải hồi vào không khí có nhiều hạt bụi li ti và
các hóa chất độc hại phát sinh trong quá trình thiêu đốt như axit clohidric,đioxin/furan, và một số kim loại độc hại như thủy ngân, chì hoặc asen, cadmi Do
đó, tại Hoa kỳ vào năm 1996, đã bắt đầu có các điều luật về khí thải của lò đốt vàyêu cầu khí thải phải được giảm thiểu bằng hệ thống lọc hóa học và cơ học tùy theoloại phế thải
Ngoài ra còn có phương pháp khác để giải quyết vấn đề này đã được các quốc gia lưu tâm đến vì phương pháp đốt đã gây ra nhiều bất lợi do lượng khí độc hại
phát sinh thải vào không khí Đó là phương pháp nghiền nát phế thải và xử lý dưới
nhiệt độ và áp suất cao để tránh việc phóng thích khí thải.
Dựa theo phương pháp này rác thải y tế nguy hại được chuyển qua một máynghiền nát Phế thải đã được nghiền xong sẽ được chuyển qua một phòng hơi có
Trang 21nhiệt độ 138oC và áp suất 3,8 bar Ở điều kiện nhiệt độ và áp suất trên là điều kiệntối ưu cho hơi nước bão hòa Phế thải được xử lý trong vòng 40 – 60 phút Sau cùngphế thải rắn đã được xử lý sẽ được chuyển đến các bãi rác thông thường vì đã đạtđược tiêu chuẩn tiệt trùng Phương pháp này còn có ưu điểm là làm giảm được khốilượng phế thải vì được nghiền nát, chi phí ít tốn kém hơn lò đốt, cũng như khôngtạo ra khí thải vào không khí.
Cụ thể như hiện trạng quản lý chất thải y tế tại Vương Quốc Anh, năm 1992nước Anh đã đưa ra định nghĩa chất thải y tế như sau: bất kỳ chất thải nào mà gồmtoàn bộ hoặc một phần cơ thể người, mô động vật, máu hoặc dịch cơ thể, chất bàitiết, dược phẩm mà không an toàn có thể gây độc hại hay các loại rác thải từ cáchoạt động y tế, chất thải gây truyền nhiễm ảnh hưởng đối với người tiếp xúc với nó.Chất thải nằm trong định nghĩa này được chia thành các nhóm sau: mô người vàchất truyền nhiễm; các vật sắc nhọn; mầm bệnh và các chất thải từ phòng xétnghiệm; dược phẩm quá hạn; nước tiểu, phân và các chất tiết từ vệ sinh; chất thảicytotoxic; chất thải phóng xạ…
Về phần công nghệ tiêu hủy chất thải y tế hiện nay là dựa trên việc phân táchhợp lý CTRYT được xây dựng tại các cơ sở y tế, bệnh viện, phòng khám…có quyđịnh cụ thể và bắt buộc về mặt pháp lý trong việc quản lý chất thải
Thiêu hủy chất thải y tế là cách phổ biến nhất, kèm theo công đoạn xử lý sơ bộban đầu cho các thành phần độc hại đã qua khử trùng tại bệnh viện Trong thực tếkhông phải chất thải y tế nào cũng áp dụng công nghệ thiêu hủy, đôi khi sử dụngphương pháp chôn lấp cho loại chất thải rắn ít độc hại hơn
Tại các nước đang phát triển
Đối với các nước đang phát triển, việc quản lý môi trường nói chung vẫn cònrất lơ là, nhất là đối với phế thải bệnh viện Tuy nhiên, trong khoảng những năm
gần đây, các quốc gia như Ấn Độ, Trung Quốc đã bắt đầu chú ý đến việc bảo vệ môi trường, và có nhiều tiến bộ trong việc xây dựng các lò đốt ở bệnh viện Đặc biệt
ở Ấn Độ từ năm 1998, chính phủ đã ban hành luật về “Phế thải y tế: Lập thủ tục và
Trang 22Quản lý” Trong bộ luật này có ghi rõ ràng phương pháp tiếp nhận phế thải, phânloại phế thải, cùng việc xử lý và di dời đến các bãi rác… Do đó, vấn đề phế thải y tếđộc hại của quốc gia này đã được cải thiện rất nhiều.
Điển hình như việc quản lý chất thải ở miền nam Châu Phi, chất thải y tế đượcđịnh nghĩa bao gồm tất cả các loại chất thải sản sinh từ quá trình khám chữa bệnhcủa cơ sở y tế như bệnh viện đa khoa, trung tâm y tế và phòng thuốc Chất thải y tếđại diện cho một lượng nhỏ trong tổng khối lượng chất thải được phát sinh trongmột cộng đồng Tuy nhiên, lượng nhỏ chất thải y tế này có khả năng truyền bệnh vàhiện tại là nguy cơ gây ra bệnh nghề nghiệp cho các nhân viên của các cơ sở y tế,bệnh nhân và cộng đồng khi các chất thải không được quản lý đúng cách (Baveja, et
al, 2000; Silva, 2005)
Phân biệt chất thải y tế giữa rác thải y tế lây nhiễm và không lây nhiễm đượctiến hành theo quy định và tiêu chuẩn Tách các chất thải y tế và rác sinh hoạt đượcthực hiện một mức độ thỏa đáng
Về phần công nghệ tiêu hủy rác thải y tế thì phương pháp quản lý rác thải y tếđược thông qua nghiên cứu của Oweis et al (2005) Điều này bao gồm một chiếnlược cụ thể như sau:
Xem xét các nguyên tắc, thủ tục, quy định về quy chế quản lý của bệnh viện
để thực hiện đúng, đặc biệt là các nhân viên có liên quan đến việc quản lýchất thải y tế phát sinh tại bệnh viện
Chỉ tiêu quản lý tốt là tại các phòng ban khác nhau trong bệnh viện có cácquan sát viên ghi nhận lại tình hình phân loại, thu gom, bảo quản và xử lý Rác thải y tế sẽ được tổ chức thu gom và vận chuyển về nơi lưu giữ tạm thờicủa bệnh viện Nhân viên chịu trách nhiệm thu gom chất thải y tế được trang bịhoàn tất các thiết bị bảo hộ cá nhân
Bệnh viện có thể ký kết họp đồng vận chuyển các chất thải y tế với một công ty
tư nhân chịu trách nhiệm về quản lý chất thải Ngoài ra, nếu bệnh viện có khuôn
Trang 23viên rộng, trang thiết bị hiện tại thì sẽ trang bị hệ thống lò đốt và xây dựng bãi chônlấp chất thải ngay tại bệnh viện dưới sự giám sát chặt chẽ của các giám sát viên vàkhí thải từ lò đốt được xử lý đúng cách theo pháp lệnh quy định
2.5.2 Tại Việt Nam
Tình hình chung
Phần lớn các bệnh viện ở Việt Nam được xây dựng trong giai đọan đất nướccòn chưa phát triển, nhận thức về vấn đề môi trường chưa cao nên các bệnh việnđều không có hệ thống xử lý chất thải nghiêm túc, đúng quy trình kỹ thuật Cơ sởvật chất kỹ thuật để xử lý triệt để các loại chất thải độc hại còn bị thiếu thốn Bêncạnh đó, công tác quản lý còn lỏng lẻo và chưa có quy trình xử lý triệt để
Mặt khác, số lượng bệnh viện và cơ sở khám chữa bệnh rất lớn, lại thiếu vốn,nên số lượng bệnh viện đạt tiêu chuẩn môi trường còn rất ít Bảo vệ môi trường tạicác bệnh viện không chỉ là vấn đề của riêng các bệnh viện mà cần có sự quan tâmcủa Chính phủ và toàn xã hội
Trong những năm qua các cơ quan quản lý môi trường đã tổ chức nhiều đợttuyên truyền, vận động cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn, nhân viên y tế, bệnhnhân và thân nhân để thấy rõ trách nhiệm trong vấn đề thu gom, phân loại và xử lý
sơ bộ, giảm thiểu độc hại gây ra do chất thải y tế Tuy nhiên, nhận thức của cộngđồng về những nguy cơ tiềm ẩn trong chất thải y tế vẫn còn yếu
Chất thải y tế được các Công ty Môi trường Đô thị thu gom, xử lý hoặc được
xử lý bằng các lò đốt thô sơ, không đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường hoặc đượcngâm trong Formandehyt rồi tập trung chôn lấp tại các nghĩa trang, trong các khuônviên bệnh viện Rất nhiều loại chất thải lây nhiễm, độc hại được xả trực tiếp ra bãirác mà không qua bất kỳ một khâu xử lý cần thiết nào
Thấy rõ được yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện công tác quản lý chất thải y tếtại các cơ sở khám chữa bệnh của ngành, năm 1998 Bộ Y tế đã thành lập ban chỉ
Trang 24đạo xử lý chất thải bệnh viện với nhiệm vụ giúp Bộ trưởng trong công tác chỉ đạo,xây dựng quy hoạch hệ thống xử lý chất thải bệnh viện trong phạm vi toàn quốc Trên cơ sở đó, ngày 27/08/1999 Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành “Quy chế quản
lý chất thải y tế” (sau được điều chỉnh lại ngày 30/11/2007), đến năm 2002 BộTrưởng Bộ Y tế ban hành tiếp “Quy chế bảo vệ môi trường tại các cơ sở y tế”.Trong thời gian qua nhiều chương trình nghiên cứu thí điểm các lò đốt, chươngtrình xây dựng quy hoạch tổng thể hệ thống các lò đốt trên toàn quốc đã và đượctriển khai
Theo niên giám thống kê năm 2007, ngành y tế cả nước có 13.438 cơ sở khám
chữa bệnh với 136.542 giường bệnh, trong đó 956 bệnh viện từ tuyến huyện trở lên, khối y tế tư nhân có 1.631 cơ sở y tế từ phòng khám tới bệnh viện tư hoạt động Số lượng và mạng lưới y tế như vậy là lớn so với các nước trong khu vực, song vấn đề đảm bảo vệ sinh môi trường, xử lý chất thải tại các cơ sở từ trung ương tới địa phương còn quá yếu, hầu hết chưa có hệ thống xử lý rác thải, một vài nơi tuy có hoạt động nhưng chưa đạt yêu cầu kỹ thuật.
a) Quản lý rác
Hầu hết chất thải rắn ở các bệnh viện không được xử lý trước khi chôn lấp hoặcđốt Một số ít bệnh viện có lò đốt rác y tế song quá cũ, hoặc đốt lộ thiên gây ônhiễm môi trường
b) Phân loại chất thải y tế
Đa số các bệnh viện thực hiện phân loại chất thải ngay từ nguồn như ng việcphân loại còn phiến diện và kém hiệu quả do nhân viên chưa được đào tạo Việcphân loại chất thải, tất cả bệnh viện đều làm theo quy chế quản lý chất thải y tế của
Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 43/2007/QĐ-BYT
c) Thu gom chất thải y tế
Theo quy định, chất thải y tế và chất thải sinh hoạt đều được các hộ lý và ycông thu gom hàng ngày ngay tại khoa phòng Các đối tượng khác như bác sĩ, y tá
Trang 25còn chưa được huấn luyện để tham gia vào hoạt động quản lý chất thải y tế Tìnhtrạng chung là các bệnh viện không có đủ áo bảo hộ và các phương tiện bảo hộ kháccho nhân viên trực tiếp tham gia vào thu gom, vận chuyển và tiêu hủy chất thải.
d) Lưu trữ chất thải y tế
Hầu hết các điểm tập trung rác đều nằm trong khuôn viên bệnh viện, vệ sinhkhông đảm bảo, có nhiều nguy cơ gây rủi do vật sắc nhọn rơi vãi, nhiều côn trùngxâm nhập ảnh hưởng đến môi trường bệnh viên Một số nhà lưu giữ rác không cómái che, không có rào bảo vệ, vị trí gần nơi đi lại, những người không có nhiệm vụ
dễ xâm nhập
e) Vận chuyển chất thải ngoài cơ sở y tế
Hiện nay, hầu hết lượng rác thải ở Việt Nam đều được thu gom bởi công ty Môitrường Đô thị Chất thải bệnh viện sau khi được thu gom tới khu tập trung sẽ đượccông ty Môi trường đô thị thu gom tiếp trong khoảng thời gian một đến hai ngàymột lần và được vận chuyển đến bãi rác của thành phố để xử lý Tại đây, rác thảisinh hoạt được chôn lấp, CTRYT sẽ được thiêu đốt tại lò đốt đặt ở bãi rác
CHƯƠNG 3
Trang 26TỔNG QUAN VỀ BVĐKKV HÓC MÔN VÀ CÔNG TÁC
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI BỆNH VIỆN
3.1 GIỚI THIỆU VỀ BỆNH VIỆN ĐA KHOA KHU VỰC HÓC MÔN [4]
3.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Bệnh viện ĐKKVHM tọa lạc tại số 65/2B, Bà Triệu, thị trấn Hóc Môn, huyệnHóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh
Giới hạn khu đất như sau:
Phía Đông – Bắc : giáp đường Bà Triệu
Phía Đông – Nam: giáp Quốc lộ 22
Phía Tây – Nam: giáp khu dân cư
Phía Tây – Bắc: giáp khu dân cư
Hình 3.1: Bản đồ huyện Hóc
Môn và vị trí BVĐKKV Hóc Môn
( Nguồn: Công ty quảng cáo bất động
sản)
3.1.1.2 Điều kiện tự nhiên
Khu đất thuộc thị trấn Hóc Môn
nằm trong vùng khí hậu chung của
thành phố Hồ Chí Minh, thuộc đồng bằng Nam Bộ với nét đặc trưng chủ yếu là thờitiết gió mùa Khí hậu ở đây mang đầy đủ những đặc điểm của khí hậu miền Namvới sự phân chia hai mùa là mùa nắng và mùa mưa rõ rệt
Bệnh viện ĐKKVHM
Trang 27Nhiệt độ trung bình khoảng 28oC, giao động nhiệt độ cao nhất trong năm làkhoảng 37oC và thấp nhất là khoảng 24oC
Độ ẩm trung bình tại khu vực là 78% Các tháng mùa mưa có độ ẩm không khílớn hơn các tháng mùa nắng
Mỗi năm có hai mùa gió đi theo mùa nắng và mùa mưa Về mùa nắng, hướnggió chủ đạo là hướng Đông – Bắc, còn vào mùa mưa hướng gió chủ đạo là hướngTây – Nam
Mùa nắng trong khoảng từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, còn mùa mưa kéo dài
từ tháng 5 đến tháng 11, chiếm hơn 90% lượng mưa cả năm
3.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển
Bệnh viện ĐKKVHM thành lập sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đấtnước, là bệnh viện trực thuộc Sở y tế thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM) Đây làmột bệnh viện được kế thừa và phát triển từ Ban Dân Y của Ủy ban Nhân dân(UBND) cách mạng huyện Hóc Môn
Các mốc thời gian gắn liền với việc hình thành và phát triển của bệnh viện:
Từ năm 1976-1977: Bệnh viện có tên là Phòng Y Tế Huyện Hóc Môn
Năm 1978: Ngành y tế huyện Hóc Môn đã đổi tên bệnh viện lại là Phòng YTế
Từ năm 1979 – 1981: Từ Phòng Y Tế, bệnh viện lại có tên là Ban Y Tế ThểDục Thể Thao
Từ năm 1982 -1987: được đổi thành Phòng Y Tế
Từ năm 1988 – 1994: sau đó là Phòng Y Tế Huyện Hóc Môn
Ngày 28/06/1994: Phòng Y Tế Huyện Hóc Môn qua quá trình bàn giao giữaUBND huyện Hóc Môn và Sở y tế TP HCM thành Trung Tâm Y Tế HócMôn
Trang 28 Năm 2007: Từ Trung Tâm Y Tế Hóc Môn, UBND thành phố đã quyết định
về việc thành lập bệnh viện huyện Hóc Môn trực thuộc UBND huyện HócMôn
Năm 2008: UBND thành phố lại ký quyết định đổi tên bệnh viện và chínhthức thành lập bệnh viện ĐKKVHM trực thuộc Sở Y tế TP HCM
Năm 2009, UBND TP HCM quyết định xếp hạng hai cho bệnh việnĐKKVHM
Bệnh viện ĐKKVHM thành lập sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đấtnước, là bệnh viện trực thuộc Sở y tế TP HCM Đây là một bệnh viện được kế thừa
và phát triển từ Ban Dân Y của UBND cách mạng huyện Hóc Môn
Các mốc thời gian gắn liền với việc hình thành và phát triển của bệnh viện:
Từ năm 1976-1977: Bệnh viện có tên là Phòng Y Tế Huyện Hóc Môn
Năm 1978: Ngành y tế huyện Hóc Môn đã đổi tên bệnh viện lại là Phòng YTế
Từ năm 1979 – 1981: Từ Phòng Y Tế, bệnh viện lại có tên là Ban Y Tế ThểDục Thể Thao
Từ năm 1982 -1987: được đổi thành Phòng Y Tế
Từ năm 1988 – 1994: sau đó là Phòng Y Tế Huyện Hóc Môn
Ngày 28/06/1994: Phòng Y Tế Huyện Hóc Môn qua quá trình bàn giao giữaUBND huyện Hóc Môn và Sở y tế TP HCM thành Trung Tâm Y Tế HócMôn
Năm 2007: Từ Trung Tâm Y Tế Hóc Môn, UBND thành phố đã quyết định
về việc thành lập bệnh viện huyện Hóc Môn trực thuộc UBND huyện HócMôn
Năm 2008: UBND thành phố lại ký quyết định đổi tên bệnh viện và chínhthức thành lập bệnh viện ĐKKVHM trực thuộc Sở Y tế TP HCM
Trang 29 Năm 2009, UBND TP HCM quyết định xếp hạng hai cho bệnh việnĐKKVHM.
3.1.3 Cơ sở pháp lý thành lập và phát triển bệnh viện
Thực hiện chính sách đổi mới của Nhà nước để phù hợp với cơ chế kinh tế mớitrong lĩnh vực khám và chữa bệnh, yêu cầu cấp bách là phải tăng cường công tácquản lý bệnh viện, phải cụ thể hóa các chức năng nhiệm vụ, chức danh công tác và
cơ chế quản lý chuyên môn kỹ thuật của bệnh viện
Bệnh viện ĐKKVHM được thành lập trên cơ sở:
Quyết định số 724/QĐ-UB-NC của Ủy Ban Nhân Dân thành phố ngày14/03/1994 về bàn giao Phòng Y Tế Hóc Môn giữa Ủy ban Nhân dân huyệnHóc Môn và Sở y tế TP HCM thành Trung Tâm Y Tế Hóc Môn
Quyết định số 98/2007/QĐ-UBND của Ủy Ban Nhân Dân thành phố ngày26/07/2007 về thành lập bệnh viện Hóc Môn trực thuộc Ủy Ban Nhân Dânhuyện Hóc Môn
Quyết định 5524/QĐ-UBND của Ủy Ban Nhân Dân thành phố Hồ Chí minhngày 22/12/2008 về việc thành lập bệnh viện ĐKKVHM trực thuộc Sở y tế
TP HCM
Quyết định số 3749/QĐ-UBND của Ủy Ban Nhân Dân TP HCM ngày06/08/2009 về việc xếp hạng hai cho bệnh viện ĐKKVHM thành phố Hồ ChíMinh
Trang 30Tổ chức khám sức khỏe và chứng nhận sức khỏe theo Quy định của Nhà nước.
Có trách nhiệm giải quyết hầu hết các bệnh tật trong tỉnh và thành phố trực
thuộc Trung ương và các Ngành
Tổ chức khám giám định sức khỏe, giám định pháp y khi hội đồng giám định ykhoa tỉnh, thành phố hoặc cơ quan bảo vệ pháp luật trưng cầu
Chuyển người bệnh lên tuyến trên khi bệnh viện không đủ khả năng giải quyết
3.1.4.2 Đào tạo cán bộ y tế
Bệnh viện là cơ sở thực hành để đào tạo cán bộ y tế ở bậc đại học và trung học
Tổ chức đào tạo liên tục cho các thành viên trong bệnh viện và tuyến dưới nângcao trình độ chuyên môn
3.1.4.3 Nghiên cứu khoa học về y học và phòng bệnh
Trang 31Tổ chức nghiên cứu, hợp tác nghiên cứu các đề tài y học ở cấp Nhà nước, cấp
Bộ, hoặc cấp Cơ sở, chú trọng nghiên cứu về Y học cổ truyền kết hợp với Y họchiện đại và các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc
Nghiên cứu triển khai dịch tễ học cộng đồng trong công tác chăm sóc sức khỏeban đầu lựa chọn ưu tiên thích hợp trong địa bàn tỉnh, thành phố và các Ngành Kết hợp với bệnh viện tuyến trên và các bệnh viện chuyên khoa đầu ngành đểphát triển kỹ thuật của bệnh viện
Phối hợp với các cơ sở y tế dự phòng thực hiện thường xuyên nhiệm vụ phòngbệnh, phòng dịch
3.1.5 Quy mô và cơ cấu tổ chức của bệnh viện
Bệnh viện ĐKKVHM hoạt động với quy mô hiện tại 551 giường bệnh, theoquy định của Sở Y tế đối với bệnh viện hạng hai được bàn giao chỉ tiêu là 520giường bệnh gồm 510 cho nội trú và 10 giường lưu, thì hiện tại bệnh viện đã tăngcường thêm giường bệnh vượt chỉ tiêu cho phép 31 giường để phục vụ cho số lượngbệnh nhân ngày càng tăng tại bệnh viện
Là bệnh viện khu vực phục vụ cho cán bộ và nhân dân huyện Hóc Môn và cáctỉnh lân cận Bệnh viện có nhiều cán bộ, y bác sĩ có năng lực chuyên môn, du họcnước ngoài Với tổng số cán bộ hiện tại là 371 người, trong đó bác sĩ là 71 người,dược sĩ 23 người, điều dưỡng 165 người còn lại là nữ hộ sinh, kỹ thuật viên, hộ lý
và nhân viên khác
Cơ cấu tổ chức bệnh viện gồm: ban giám đốc, 4 phòng chức năng là: phòng kếhoạch tổng hợp, phòng tài chính hành chính quản trị, phòng tài chính kế toán điềudưỡng và các khoa lâm sàng - cận lâm sàng Hiện tại bệnh viện có 13 khoa lâm sàng
- cận lâm sàng như sau:
Các khoa lâm sàng (là khoa có giường bệnh và người bệnh ở lại bệnh việnđiều trị) gồm có 9 khoa là: khoa Nội, Ngoại, Sản, Nhi, Cấp cứu, Liên chuyên
Trang 32khoa (tai-mũi-họng, răng hàm mặt, mắt), Phẫu thuật - Gây mê hồi sức, Đôngy.
Các khoa cận lâm sàng ( là khoa không có người bệnh nằm điều trị) gồm có:khoa Khám bệnh, Xét nghiệm, Chẩn đoán hình ảnh và Dược
Ngoài ra bệnh viện còn có một cơ sở phòng khám khu vực 2 ở Xã TrungChánh, huyện Hóc Môn, Tp Hồ Chí Minh Bên cạnh đó, bệnh viện đang xin quyếtđịnh của Sở y tế thành phố chuẩn bị thành lập thêm một số khoa là khoa Y học cổtruyền, khoa Vật lý trị liệu-phục hồi chức năng…để hoàn thiện và nâng cao chấtlượng phục vụ, chăm lo sức khỏe cho người dân
(Nguồn: Tác giả, 2011)
3.1.6 Tình hình hoạt động y tế tại bệnh viện
Tình hình khám và chữa bệnh tại bệnh viện được trình bày trong bảng 3.1 sau đây
Bảng 3.1: Thống kê hoạt động y tế bệnh viện năm 2010 và tháng 7 năm 2011 Năm 2010 7 th – 2011
- Tổng số ngày điều trị: 114.359ngày
- Ngày điều trị trung bình: 5,46
Trang 33- Tổng số ngày điều trị: 29.376ngày.
- Ngày điều trị trung bình: 5,54ngày/ 1 bệnh nhân
- Công suất điều trị: 80,5%
Ngoại
chẩn
- Tổng số lượt khám: 619.902 lượt
- Tổng số bệnh nhân tử vong: 84
người, trong đó tử vong trước khi
vào bệnh viện là 71 người, tại các
- Nội soi: 1.134 lượt
- Điện tim: 15.894 lượt
- Siêu âm: 45.149 lượt
- Tổng số lượt khám: 303.869lượt
- Tổng số bệnh nhân tử vong: 65người, trong đó tử vong trước khivào bệnh viện là 47 người, tại cáckhoa là 18 người
- Tổng số phẫu thuật: 2.900 lượt
- Thủ thuật: 6.407 lượt
- Tổng số xét nghiệm: 315.083lượt
- Chụp X-quang: 24.395 lượt
- Nội soi: 691 lượt
- Điện tim: 12.627 lượt
- Siêu âm: 29.945 lượt
( Nguồn: Báo cáo tình hình hoạt đông khám và chữa bệnh tại bệnh viện, 2011)
3.2 NGUỒN PHÁT SINH CTRYT TẠI BỆNH VIỆN
Trang 34Nguồn phát sinh và thành phần chất thải tại bệnh viện rất đa dạng Nhưng nhìnchung, toàn bộ lượng chất thải y tế tại bệnh viện được phát sinh từ các hoạt động
khám và chữa bệnh, sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân, người thân thăm bệnh và
tất cả các nhân viên, cán bộ y tế Bệnh viện ĐKKVHM chưa có khoa điều trị ung
bướu nên về phần chất thải phóng xạ không có Vì vậy, rác thải bệnh viện thường
phát sinh từ những hoạt động chủ yếu sau:
CTRYT phát sinh từ các khâu khám và chữa bệnh như bông băng, túi nhựa,kim tiêm, dao mổ, phim chụp X-quang, dược phẩm, bệnh phẩm, găng tay cao
su, chai lọ…
Chất thải rắn sinh hoạt từ quá trình sinh hoạt hằng ngày của nhân viên y tế,bệnh nhân, người thăm nuôi như: giấy vụn, vỏ đồ hộp, thức ăn thừa, rau, vỏtrái cây, carton, thủy tinh, gỗ, tro…
Nhìn chung, việc phân loại và xác định nguồn thải của bệnh viện tóm tắt nhưsau:
Bảng 3.2: Phân loại và xác định nguồn phát sinh chất thải
Trang 35Loại chất thải rắn Nguồn phát sinh chất thải
Chất thải sinh hoạt Từ nhà bếp, văn phòng làm việc của
nhân viên y tế, căn tin, ở các phòngbệnh…
Chất thải lâm
sàng
Chất thảikhông sắcnhọn
Từ quá trình khám chữa bệnh: bông bănghay bất kỳ dụng cụ nào có thấm máu,chất bài tiết của bệnh nhân…
Từ phòng mổ: các cơ quan bộ phận cơthể bệnh nhân sau khi phẫu thuật, bột bóthấm máu của bệnh nhân…
Vật sắc nhọn
Các ống kim tiêm, dây truyền dịch, daokéo hay các dụng cụ sắc nhọn sử dụngtrong quá trình khám chữa bệnh và trongkhi phẫu thuật
Ống đựng mẫu bệnh phẩm
Chất thải hóa học nguy hại
Các hóa chất, dược phẩm quá hạn, chụp
X quang…
(Nguồn: Tác giả, 2011)
3.3 VIỆC THỰC HIỆN CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI BỆNH VIỆN
Các văn bản liên quan đang được triển khai tại bệnh viện Nhằm xem xét tính
phù hợp của các qui trình quản lý CTR hiện tại với các văn bản pháp luật có liênquan, trong phần này sẽ tóm lược các quy chế và văn bản pháp luật trong công tácquản lý và xử lý CTRYT
3.3.1 Quy chế bệnh viện (phụ lục 1)
Quy chế bệnh viện đề ra các quy định cụ thể về xử lý và kiểm soát nghiêm ngặtchất thải tại bệnh viện, vì đây là nguồn gây ô nhiễm môi trường vừa là nguồn gâybệnh Ngoài ra, các cấp lãnh đạo có trách nhiệm tổ chức thực hiện, giám sát và xây
Trang 36dựng các văn bản để hướng mọi viên chức, cá nhân thực hiện xử lý chất thải theoquy định đúng kỹ thuật.
3.3.2 Quy chế Bộ Y tế (phụ lục 2)
Theo quy chế “Bảo vệ Môi trường tại các cơ sở y tế” của Bộ Y tế nêu rõ vai tròchỉ đạo công tác quản lý bảo vệ môi trường, quyền và trách nhiệm của Ban chỉ đạohoặc từng tổ chức cá nhân trong việc đảm bảo các điều kiện an toàn vệ sinh, đề xuấtcác biện pháp xử lý để bảo vệ môi trường trong ngành Y tế
3.3.3 Các văn bản quy chế quản lý chất thải (phụ lục 3)
Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế về
việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế Quy chế này quy định về hoạt độngquản lý chất thải y tế, quyền và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc thựchiện quản lý chất thải y tế (tiêu chuẩn dụng cụ bao bì đựng và vận chuyển, phânloại, thu gom, lưu giữ… CTR tại các cơ sở y tế)
Quyết định số 1895/QĐ-BYT ngày 19/09/1997 ban hành Quy chế bệnh việntrong đó có quy chế công tác xử lý chất thải, thì khoa chống nhiễm khuẩn bệnh việnchịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và giám sát việc xử lý chất thải trong toàn bệnhviện
Thông tư liên tịch số 2237/1999/TTLT-BKHCNMT-BYT ngày 28/12/1999hướng dẫn việc thực hiện an toàn bức xạ trong y tế Đối với chất thải rắn: các vậtliệu rắn bị nhiễm bẩn phóng xạ: ống tiêm, thuỷ tinh vỡ, được thu gom trong cácbao bì bằng chất dẻo, bao bì này được đặt trong thùng bằng kim loại, thùng đượcđóng mở bằng chân Hàng ngày bao bì được đưa vào một trong hai bể cách biệt nhưđối với chất thải lỏng Các bể này được xây cất tại một nơi riêng biệt, được che chắn
và bảo vệ để chờ phân rã phóng xạ đến mức nhỏ hơn quy định, sau đó được thải ramôi trường như rác thường
Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg ngày 16/07/1999 của Thủ tướng Chính phủ vềviệc ban hành Quy chế quản lý chất thải nguy hại Quy chế này quy định việc quản
Trang 37lý chất thải nguy hại trong suốt quá trình từ phát sinh đến thu gom, vận chuyển, lưugiữ, xử lý và tiêu hủy CTNH nhằm ngăn ngừa và giảm tối đa việc phát sinh các tácđộng nguy hại đối với môi trường và sức khoẻ con người.
3.3.4 Kiểm soát nhiễm khuẩn tại bệnh viện
Khái niệm nhiễm khuẩn bệnh viện dựa theo tiêu chuẩn CDC (Center for DiseaseControl - Trung tâm kiểm soát dịch bệnh), theo các tiêu chí của CDC, người mắcbệnh nhiễm khuẩn này trong thời gian nằm viện :
Không có bất cứ biểu hiện, ủ bệnh lúc nhập viện
Nhiễm khuẩn xuất hiện tối thiểu 48 giờ sau khi vào viện
Chẩn đoán dựa vào lâm sàng, cận lâm sàng
Nhiễm khuẩn mắc phải trong bệnh viện hay còn gọi là nhiễm khuẩn bệnh viện
là một trong những thách thức và mối quan tâm hàng đầu hiện nay của các cơ sở y
tế Nhiễm khuẩn bệnh viện có thể được xem như là bệnh gây ra bởi bệnh viện vìđây là những nhiễm khuẩn mắc phải trong thời gian bệnh nhân nằm viện Nhữngnghiên cứu cho thấy rằng nhiễm khuẩn bệnh viện làm tăng tỉ lệ tử vong, kéo dàithời gian nằm viện, tăng việc sử dụng kháng sinh, tăng đề kháng kháng sinh và chiphí thời gian điều trị
Hoạt động kiểm soát và chống nhiễm khuẩn tại bệnh viện hiện nay đều do Tổchống nhiễm khuẩn nằm trong phòng chức năng Tài chính hành chính – quản trị củabệnh viện chịu trách nhiệm Cơ cấu tổ chức nhằm quản lý tất cả các hoạt động trongbệnh viện bao gồm kiểm soát nhiễm khuẩn, ngăn ngừa ô nhiễm, quy trình thực hànhtiệt khuẩn, khử khuẩn, quy trình vệ sinh, công tác quản lý chất thải Nhiệm vụ của
Tổ chống nhiễm khuẩn tại bệnh viện như sau:
Tổ chống nhiễm khuẩn có nhiệm vụ giám sát, điều tra nhiễm khuẩn bệnhviện, thông qua việc kiểm tra các phòng khoa, kiểm tra hồ sơ bệnh nhân, xemlại các kết quả xét nghiệm và tình hình bệnh nhân khi mới nhập viện
Trang 38 Sẵn sàng trả lời những thắc mắc về chống nhiễm khuẩn cho các khoa phòng
và phát hiện những điểm yếu hoặc không an toàn trong các biện pháp phòngchống nhiễm khuẩn mà các khoa phòng đang áp dụng thực hiện
Xây dựng, kiểm tra và áp dụng những chính sách, quy trình chống nhiễmkhuẩn nhằm duy trì sự tuân thủ theo quy chế chống nhiễm khuẩn tại các khoaphòng
Tổng kết và thông báo những biện pháp phòng ngừa và kiểm soát nhiễmkhuẩn cho tất cả các nhân viên y tế có liên quan
Theo dõi phơi nhiễm do bệnh nghề nghiệp cho nhân viên y tế Triển khainhững điều tra đặc biệt để phát hiện dịch bệnh trong bệnh viện, phối hợp báocáo các bệnh án lây nhiễm cao đến Sở Y tế hoặc Bộ Y tế
Vì vậy trước tình trạng có thể làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn, bệnh viện đã cóbiện pháp chống nhiễm khuẩn chuyên sâu, tổ chức công tác kiểm soát nhiễm khuẩnbệnh viện hoàn chỉnh, triển khai các biện pháp chống nhiễm khuẩn nhằm giảm mứctối đa nhiễm khuẩn bệnh viện cũng như cho cả nhân viên y tế với mục đích chungnhất là nâng cao chất lượng khám và chữa bệnh Chương trình thực hiện chất lượngtốt chăm sóc vào trong những thực hành lâm sàng Cho nên nhiễm khuẩn bệnh việnthực hiện tốt sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cho bệnh viện, hỗ trợ cho công tác quản lýtoàn bệnh viện tốt hơn, thân thiện với môi trường
3.3.5 Công tác vệ sinh tại bệnh viện
Bệnh viện là nơi hội tụ nhiều mầm bệnh nguy hiểm, có nguy cơ lây nhiễm cao.Muốn hạn chế các nguy cơ cho con người và môi trường, đảm bảo sức khỏe vàkhông gian sinh hoạt thông thoáng, bệnh viện cần phải làm tốt tất cả các mặt côngtác vệ sinh bệnh viện, giữ cho bệnh viện luôn sạch đẹp Làm tốt công tác vệ sinhbệnh viện sẽ đem lại lợi ích cho nhiều đối tượng cụ thể như:
Bệnh nhân đến khám và chữa bệnh hay người thăm nuôi tại bệnh viện
Nhân viên y tế phục vụ người bệnh trong bệnh viện