Xuất phát từ những mối nguy hại trực tiếp hoặc tiềm ẩn của chất thải y tế gây ra đối với môi trường và con người, cần có những biện pháp hữu hiệu để nâng cao nhận thức của cộng đồng nói
Trang 1PHIẾU GIAO ĐỀ TÀI ĐỒ ÁN/ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
1 Họ và tên sinh viên: Lê Hoàng Thúy An MSSV: 1151080035 Lớp: 11DMT02
Ngành : Môi trường
Chuyên ngành : Kỹ thuật môi trường
2 Tên đề tài : Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Thanh Bình-tỉnh Đồng Tháp
3 Các dữ liệu ban đầu : Thông tin về chất thải rắn y tế, các đặc điểm chung, hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Thanh Bình
4 Các yêu cầu chủ yếu :
- Tìm hiểu rõ hơn về công tác quản lý chất thải rắn y tế thông qua các số liệu thu thập và thông tin về hệ thống thu gom, vận chuyển chất thải rắn y tế tại bệnh viện
Đa khoa huyện Thanh Bình
- Đánh giá tình hình ô nhiễm môi trường và công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Thanh Bình
- Đề xuất các biện pháp khắc phục và nâng cao công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Thanh Bình
5 Kết quả tối thiểu phải có:
1) Tổng quan về chất thải rắn y tế và tổng quan về bệnh viện Đa khoa huyện Thanh Bình
2) Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Thanh Bình 3) Đánh giá tình hình ô nhiễm môi trường và công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Thanh Bình hiện nay
4) Đề xuất giải pháp cải thiện
Ngày giao đề tài: 25/5/2015 Ngày nộp báo cáo: 22/8/2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đồ án này là kết quả nghiên cứu của cá nhân được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Th.S Nguyễn Trung Dũng
Các số liệu, những kết luận được nghiên cứu trình bày trong đồ án này hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong đồ án đã được ghi rõ nguồn gốc
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
TP.HCM, tháng 8 năm 2015
Tác giả
Lê Hoàng Thúy An
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đối với thầy cô khoa Công nghệ sinh học - Thực phẩm - Môi trường đã giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập tại trường
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy hướng dẫn của mình là Th.S Nguyễn Trung Dũng đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong quá trình làm đồ án
Đồng thời em cũng xin chân thành cảm ơn bệnh viện Đa khoa huyện Thanh Bình - tỉnh Đồng Tháp đã tạo điều kiện và nhiệt tình hướng dẫn em trong quá trình làm đồ án tốt nghiệp và giúp em học được nhiều kinh nghiệm thực tiễn
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn gia đình và tất cả bạn bè đã luôn tạo điều kiện, quan tâm, giúp đỡ động viên em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành đồ án tốt nghiệp
TP.HCM, tháng 8 năm 2015
Tác giả
Lê Hoàng Thúy An
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2.Mục tiêu của đề tài 2
3.Nội dung thực hiện trong đề tài 3
4.Phương pháp nghiên cứu 3
4.1.Phương pháp luận 3
4.2.Phương pháp thực tế 4
5.Đối tượng nghiên cứu 4
6.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đồ án 4
6.1.Ý nghĩa khoa học của đề tài 4
6.2.Ý nghĩa thực tiễn của đồ án 4
7.Phạm vi đề tài 5
7.1.Về thời gian 5
7.2.Về phạm vi 5
7.3.Về nội dung 5
7.4.Về số liệu 5
8.Cấu trúc đồ án 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ 7
1.1.Khái quát về ngành y tế 7
1.2.Tổng quan về chất thải rắn y tế 7
1.2.1.Khái niệm về chất thải y tế 7
1.2.2.Thành phần của CTRYT 8
1.2.3.Phân loại CTRYT 8
1.2.4.Khối lượng chất thải phát sinh 11
Trang 51.3.Tác hại của chất thải rắn y tế 14
1.3.1.Đối với môi trường 14
1.3.1.1.Đối với môi trường đất 14
1.3.1.2.Đối với môi trường không khí 14
1.3.1.3.Đối với môi trường nước 14
1.3.2.Đối với sức khỏe con người 15
1.3.2.1.Đối tượng chịu ành hưởng trực tiếp CTRYT 15
1.3.2.2.Tác động từ CTRYT 15
1.4.Hiện trạng quản lý và xử lý CTRYT trên Thế Giới và tại Việt Nam 17
1.4.1.Trên thế giới 17
1.4.2.Tại Việt Nam 21
1.5.Quản lý CTRYT 23
1.5.1.Giảm thiểu tại nguồn 23
1.5.2.Quản lý và kiểm soát ở bệnh viện 23
1.5.3.Quản lý kho hóa chất, dược chất 24
1.5.4.Phân loại, thu gom và vận chuyển 24
CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN THANH BÌNH 27
2.1 Giới thiệu về bệnh viện đa khoa huyện Thanh Bình 27
2.1.1.Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 27
2.1.1.1.Vị trí địa lý 27
2.1.1.2.Điều kiện tự nhiên 29
2.1.2.Lịch sử hình thành và phát triển 30
2.1.3.Cơ sở pháp lý thành lập và phát triển bệnh viện 30
2.1.4.Chức năng của bệnh viện 30
2.1.4.1.Cấp cứu-khám bệnh-chữa bệnh 30
2.1.4.2.Đào tạo cán bộ y tế 31
2.1.4.3.Nghiên cứu khoa học về y học và phòng bệnh 31
2.1.5.Quy mô và cơ cấu tổ chức của bệnh viện 31
2.1.6.Tình hình hoạt động y tế tại bệnh viện 32
Trang 62.2.Nguồn phát sinh CTRYT tại bệnh viện 33
2.3.Việc thực hiện công tác bảo vệ môi trường tại bệnh viện 35
2.3.1.Đối với nước thải 35
2.3.2.Đối với chất thải rắn 36
2.3.2.1.Quy chế bệnh viện 36
2.3.2.2.Quy chế bộ y tế 36
2.3.2.3.Các văn bản quy chế quản lý chất thải 37
2.3.2.4.Kiểm soát nhiễm khuần tại bệnh viện 38
2.3.2.5.Công tác vệ sinh tại bệnh viện 39
2.3.2.6.Công tác quản lý CTRYT tại bệnh viện 41
2.3.2.7.Công tác xử lý CTRYT trong bệnh viện 42
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CTRYT TẠI BỆNH VIỆN ĐKHTB 44
3.1.Nhận xét chung về tình hình vệ sinh môi trường của bệnh viện 44
3.2.Đánh giá công tác kiểm soát CTRYT tại bệnh viện 45
3.2.1.Đánh giá công tác quản lý hành chính đối với CTRYT 45
3.2.1.1.Kiểm tra, giám sát và chỉ đạo công tác quản lý CTRYT 46
3.2.1.2.Đảm bảo an toàn trong công tác quản lý CTRYT 47
3.2.2.Đánh giá các mặt kỹ thuật trong việc quản lý CTRYT 48
3.2.2.1.Công tác quản lý lượng chất thải rắn phát sinh tại bệnh viện 48
3.2.2.2.Công tác phân loại và thu gom chất thải rắn tại nguồn phát sinh 51
3.2.2.3.Công tác vận chuyển CTRYT 54
3.2.2.4.Nhà lưu giữ CTRYT 57
3.2.2.5.Xử lý CTRYT 59
3.2.2.6.Trang thiết bị lưu giữ, thu gom và vận chuyển CTRYT 60
3.3.Phân tích sự không phù hợp theo quy định của Bô Y tế về công tác quản lý CTRYT tại bệnh viện ĐKHTB 60
CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC VÀ NÂNG CAO CÔNG TÁC QUẢN LÝ CTRYT TẠI BỆNH VIỆN ĐKHTB 64
4.1.Xây dựng hệ thống quản lý môi trường tại bệnh viện 64
Trang 74.1.1.Cơ cấu tổ chức 64
4.1.2.Nhiệm vụ của Ban môi trường 65
4.2.Nâng cao hoạt động bảo vệ môi trường tại bệnh viện 66
4.2.1.Hệ thống quản lý hành chánh 66
4.2.1.1.Hoàn thiện công tác quản lý hành chính đối với chất thải 66
4.2.1.2.Kiểm soát ô nhiễm do chất thải 67
4.2.1.3.Tăng cường pháp chế đối với các trường hợp vi phạm 67
4.2.2.Cải thiện vệ sinh môi trưởng bệnh viện 68
4.2.3.Nâng cao nhận thức về công tác bảo vệ môi trường 68
4.2.3.1.Giáo dục cộng đồng 69
4.2.3.2.Nâng cao năng lực tổ chức 70
4.3.Cải thiện công tác quản lý CTR tại bệnh viện 72
4.3.1.Giảm thiểu chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn 72
4.3.2.Hoàn thiện hệ thống trang thiết bị lưu giữ, thu gom và vận chuyển CTRYT 73
4.3.3.Xây dựng lại nhà chứa rác 77
4.4.Giaỉ pháp xử lý chất thải y tế tại bệnh viện 79
4.5.Giaỉ pháp cho công tác bảo vệ môi trường bệnh viện 80
4.5.1.Quản lý tốt nội vi 80
4.5.2.Giải pháp kinh tế 80
4.5.3.Xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường 81
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82
1.Kết luận 82
2.Kiến nghị 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 1
Phụ lục A 1
Phụ lục B 7
Phụ lục C 19
Trang 8BVĐKHTB Bệnh viên Đa khoa huyện Thanh Bình
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Lượng chất thải thay đổi theo từng nước 12
Bảng 1.2: Lượng chất thải thay đổi theo từng loại bệnh viên 13
Bảng 1.3: Lượng chất thải thay đổi theo các bộ phận khác nhau trong cùng bệnh viện 13
Bảng 1.4: Lượng chất phát sinh theo tuyến bệnh viện 14
Bảng 1.5: Yêu cầu màu sắc, túi, thùng đựng và biểu tượng chỉ chất thải y tế 25
Bảng 2.1: Diện tích các hạng mục bệnh viện ĐK huyện Thanh Bình 28
Bảng 2.2: Thống kê hoạt động y tế tại bệnh viện năm 2014 32
Bảng 2.3: Phân loại và xác định nguồn phát sinh chất thải 34
Bảng 3.1: Số lượng thùng thu gom chất thải trong bệnh viện 49
Bảng 3.2: Lượng CTR từ năm 2010 đến năm 2014 tại bệnh viện 49
Bảng 3.3: Lượng CTR từ năm 2010 năm 2014 tại bệnh viện 50
Bảng 3.4: Khía cạnh môi trường của bệnh viện so với quy định của Bộ Y tế 61
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Bệnh viện ĐK huyện Thanh Bình 27
Hình 2.2: Bản đồ tỉnh Đồng Tháp và bệnh viện ĐK huyện Thanh Bình 29
Hình 2.3: Sơ đồ xử lý nước thải bệnh viện ĐK huyện Thanh Bình 36
Hình 2.4: Quy trình quản lý CTRYT bệnh viện ĐK huyện Thanh Bình 41
Hình 3.1: Biểu đồ thể hiện lượng CTR tại bệnh viện từ năm 2010 - 2014 50
Hình 3.2: Phân loại CTRYT phát sinh trực tiếp trong quá trình khám chữa bệnh 53
Hình 3.3: Vật liệu sử dụng chứa chất thải của bệnh viện 54
Hình 3.4: Lối vận chuyển CTRYT tại bệnh viện 55
Hình 3.5: Phương tiện vận chuyển CTRYT tại bệnh viện 56
Hình 3.6: Nhà lưu giữ CTRYT tại bệnh viện ĐK huyện Thanh Bình 58
Hình 4.1: Hệ thống quản lý bảo vệ môi trường 65
Hình 4.2: Thùng đựng rác thải tái chế 75
Hình 4.3: Thùng chứa rác y tế tại khoa phòng và vận chuyển về nhà chứa rác 76
Hình 4.4: Thùng đựng vật sắc nhọn và túi đựng chất thải trong bệnh viện 77
Hình 4.5: Mô hình nhà lưu giữ rác của bệnh viện 78
Trang 11
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, vấn đề môi trường đang trở nên ngày càng trầm trọng, đe dọa trực tiếp đến sự tồn tại, phát triển của loài người đang được các quốc gia và cộng đồng trên thế giới quan tâm Bởi lẽ ô nhiễm môi trường, sự suy thoái và những sự cố môi trường có ảnh hưởng trực tiếp không chỉ trước mắt mà còn ảnh hưởng đến quá trình phát triển bền vững của một quốc gia Toàn thế giới đều đã nhận thức được rằng: Phải bảo vệ
môi trường, làm cho môi trường phát triển và ngày thêm bền vững
Dân số Việt Nam ngày càng tăng, kinh tế cũng phát triển, dẫn đến nhu cầu khám và điều trị bệnh gia tăng, số bệnh viện gia tăng Mức độ đáp ứng nhu cầu chữa trị tính chung trong cả nước tăng lên rõ rệt trong những năm gần đây, năm 2005 là 17,7 giường bệnh/1 vạn dân, đến năm 2009 là 22 giường bệnh/1 vạn dân (Tổng cục thống
kê, 2011) Việc tăng số lượng giường bệnh thực tế là do tăng nhu cầu về khám chữa bệnh đồng nghĩa với việc tăng khối lượng chất thải y tế cần phải xử lý Từ năm 1997 các văn bản về quản lý chất thải bệnh viện được ban hành Theo niên giám thống kê năm 2007 có 956 bệnh viện tuyến huyện trở lên nhưng hầu hết chưa được quản lý theo một quy chế chặt chẽ hoặc có xử lý nhưng theo cách đối phó hoặc chưa đúng
Hiện tại, chất thải bệnh viện đang trở thành vấn đề môi trường cấp bách ở nước ta, nhiều bệnh viện trở thành nguồn gây ô nhiễm cho môi trường dân cư xung quanh, gây
dư luận trong cộng đồng
Bệnh viện Đa khoa huyện Thanh Bình (ĐKHTB) đã được hình thành và đang phát triển mạnh mẽ trong những năm qua, khẳng định được vai trò quan trọng của mình trong quá trình phát triển chung của đất nước Nhờ những nỗ lực phấn đấu không ngừng đó mà bệnh viện đã đạt được nhiều thành quả đáng kể trong công tác khám chữa bệnh, phòng bệnh và chăm lo sức khỏe cho người dân Bên cạnh những thành quả đạt
Trang 12được thì hiện nay, vấn đề nhức nhối tại bệnh viện là tình trạng chất thải rắn y tế (CTRYT) thải ra với khối lượng khá lớn Theo nghiên cứu điều tra mới nhất của Cục Khám chữa bệnh-Bộ Y tế và Viện Kiến trúc, Quy hoạch Đô thị và Nông thôn-Bộ Xây dựng, năm 2009 - 2010, tổng lượng chất thải rắn (CTR) y tế trong toàn quốc khoảng
100 - 140 tấn/ngày, trong đó có 16 - 30 tấn/ngày là CTR y tế nguy hại Lượng CTR trung bình là 0,86 kg/giường/ngày, trong đó CTR y tế nguy hại tính trung bình là 0,14 - 0,2 kg/giường/ngày Đa phần là chất thải nguy hại mà hệ thống quản lý CTRYT thì còn thiếu sót
Xuất phát từ những mối nguy hại trực tiếp hoặc tiềm ẩn của chất thải y tế gây ra đối với môi trường và con người, cần có những biện pháp hữu hiệu để nâng cao nhận thức của cộng đồng nói chung và nhân viên y tế nói riêng về những nguy cơ đó, nâng cao năng lực tổ chức, trách nhiệm và từng bước hoàn thiện hệ thống quản lý chất thải cũng như nâng cao chất lượng cảnh quan vệ sinh cho bệnh viện
Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả quản lý cụ thể hơn là CTRYT tại bệnh viện ĐKHTB, kết hợp với quá trình giám sát thực tế giúp tìm hiểu những thiếu sót còn tồn tại trong công tác quản lý hiện nay của bệnh viện, góp phần làm tăng hiểu biết và nâng cao ý thức cũng như chất lượng điều trị, giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn và giảm rủi ro bệnh nghề nghiệp cho nhân viên y tế Từ đó, nâng cao chất lượng quản lý rác thải y tế tại bệnh viện nói riêng và tại các phòng khám tư nhân, các trung tâm y tế nói chung Hỗ trợ tốt hơn cho hệ thống quản lý chất thải hiện nay của huyện
Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài “Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa huyện Thanh Bình-tỉnh Đồng Tháp” được lựa chọn
2 Mục tiêu của đồ án
Mục tiêu chính của đồ án là bước đầu tìm hiểu mức độ ô nhiễm môi trường chung
và hiện trạng quản lý CTRYT của bệnh viện ĐKHTB, kết hợp với việc nhận xét, đánh
Trang 13giá mặt thuận lợi và những tồn tại trong công tác quản lý hiện tại của bệnh viện, nhằm đưa ra những biện pháp để góp phần cải thiện và hạn chế ô nhiễm môi trường của bệnh
viện Cụ thể đồ án sẽ tập trung giải quyết các mục tiêu sau:
- Đánh giá tổng hợp mức độ ô nhiễm môi trường chung và công tác quản lý CTRYT tại bệnh viện ĐKHTB
- Đề xuất biện pháp quản lý phù hợp trong hoạt động bảo vệ môi trường bệnh viện
3 Nội dung thực hiện trong đề tài
Để đạt được các mục tiêu đề ra, đề tài cần thực hiện các nội dung sau :
- Giới thiệu tổng quan về chất thải y tế
- Tình hình quản lý CTRYT trên Thế giới và Việt Nam
- Tìm hiểu thông tin về tình hình khám chữa bệnh của bệnh viện ĐKHTB
- Tìm hiểu công tác bảo vệ môi trường tại bệnh viện thông qua tài liệu liên quan hiện có và khảo sát, đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường chung tại bệnh viện
- So sánh các yêu cầu của qui định (từ Bộ Y tế và Bệnh viện) và hiện trạng hiện nay nhằm tìm ra các vấn đề quản lý còn bất cập
- Đề xuất biện pháp quản lý CTRYT đối với bệnh viện dựa trên các vấn đề bất cập đã phân tích ở trên
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn bệnh viện góp phần bảo vệ môi trường là nghiên cứu tương quan giữa các yếu tố “khái niệm, thành phần, nguyên nhân, tác hại của CTRYT-công tác quản lý và đề xuất giải pháp quản lý CTRYT của công ty Môi trường Đô thị nói chung Bệnh viện ĐKHTB nói riêng-sự hiểu biết, nhận thức về CTRYT của cán bộ công nhân viên (CNV) trong toàn bệnh viện, đặc
Trang 14biệt là các bộ phận làm việc trực tiếp với CTRYT “Từ đó rút ra kết luận và đề xuất giải pháp quản lý CTRYT đạt hiệu quả”
Tiến hành các chuyến khảo sát thực tế tại bệnh viện
Phát phiếu thăm dò cho các đối tượng như: Cán bộ chuyên môn, hộ lý, nhân viên thu gom, bệnh nhân để đưa ra được ý kiến chung nhất
- Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia
- Phương pháp thống kê
5 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài được xác định là bệnh viện ĐKHTB-tỉnh Đồng Tháp
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đồ án
6.1 Ý nghĩa khoa học của đồ án
Đề tài cung cấp số liệu điều tra thực tế về tình hình quản lý rác thải y tế tại bệnh viện, thực trạng về hệ thống quản lý CTRYT trong khu vực bệnh viện Trên cơ sở đó phân tích những ưu và nhược điểm của hệ thống quản lý CTRYT, đồng thời đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp giúp cho các nhà quản lý có cơ sở khoa học để quản lý tốt hơn vấn đề CTRYT
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của đồ án
Trang 15Đề tài cung cấp những dữ liệu liên quan đến hiện trạng quản lý môi trường và các giải pháp như là một cơ sở để so sánh giữa các bệnh viện đa khoa (ĐK) ở các khu vực khác với nhau
7 Phạm vi đề tài
7.1 Về thời gian
Từ ngày 25/5 đến 22/8/2015
7.2 Về phạm vi
Đề tài được giới hạn ở phạm vi như sau:
Phạm vi : Bệnh viện ĐK huyện Thanh Bình, Thị trấn Thanh Bình, huyện Thanh
Bình, tỉnh Đồng Tháp
Lĩnh vực đề cập: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu quản lý CTRYT, chưa áp dụng
cho các đối tượng chất thải khác
7.3 Về nội dung
Đề tài tập trung tìm hiểu về hiện trạng quản lý chất thải y tế hiện nay tại bệnh viện
ĐKHTB Từ đó, đề xuất các biện pháp để nâng cao chất lượng công tác quản lý môi
trường cho bệnh viện
7.4 Về số liệu
Các số liệu được sử dụng trong đề tài giới hạn trong khoảng thời gian khảo sát tình hình quản lý chất thải y tế của bệnh viện và các tài liệu thu thập được từ tư liệu của bệnh viện, sách báo, internet trong thời gian thực hiện đề tài
8 Cấu trúc đồ án
Đồ án bao gồm phần Mở đầu, Kết luận Kiến nghị và 4 chương với nội dung như sau:
Trang 16
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
Nội dung của Chương 1: Giới thiệu về CTRYT, tác hại của nó đối với môi trường
và sức khỏe con người Kế hoạch quản lý CTRYT cũng như tình hình quản lý CTRYT trên Thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng
CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN THANH BÌNH
Nội dung chương 2: Sơ lược về Bệnh viện ĐKHTB, nguồn phát sinh CTRYT và
công tác bảo vệ môi trường tại bệnh viện
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG
TÁC QUẢN LÝ CTRYT TẠI BỆNH VIỆN ĐKHTB
Nội dung chương 3: Đi sâu khảo sát thực tế, thu thập thông tin, số liệu, hình ảnh để
đánh giá tình hình ô nhiễm môi trường cũng như đánh giá rủi ro, sự cố các mặt kỹ thuật trong công tác quản lý CTRYT tại bệnh viện Nêu lên những thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý
CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC VÀ NÂNG CAO CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐKHTB
Nội dung chương 4: Đề ra các biện pháp khắc phục phù hợp để nâng cao chất
lượng công tác quản lý CTRYT tại Bệnh viện ĐKHTB
Trang 17CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
có cơ sở hoạt động rộng khắp toàn quốc
Y tế là ngành có mối quan hệ mật thiết với xã hội và là ngành có vai trò quan trọng trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, giải quyết các hậu quả xã hội,
an toàn lao động Vì thế, là một ngành luôn được quan tâm trong công tác bảo vệ môi trường trong sạch
1.2 Tổng quan về chất thải rắn y tế
1.2.1 Khái niệm về chất thải y tế
Chất thải y tế (CTYT) là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, từ các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, xét nghiệm, chẩn đoán, các hoạt động trong công tác phòng bệnh, hoạt động nghiên cứu và đào tạo về y sinh
học Chất thải y tế có thể ở dạng rắn, lỏng và khí
Chất thải y tế nguy hại là những chất có chứa các thành phần như: Máu, dịch cơ
thể, các chất bài tiết, các bộ phận cơ thể, bơm kim tiêm và các vật sắc nhọn, dược phẩm, hóa chất và các chất phóng xạ dùng trong y tế Nếu những chất thải này không được tiêu hủy sẽ nguy hại cho môi trường và sức khỏe con người
Trang 18Quản lý chất thải y tế là một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngành y tế và các ngành khác có liên quan nhằm bảo vệ môi trường sống, bảo vệ sức khỏe cho bản thân thầy thuốc, nhân viên y tế, người bệnh và cộng đồng
Chất thải y tế là một trong những loại chất thải nằm trong danh mục A của danh mục các chất thải nguy hại (CTNH) Chất thải y tế là một loại chất thải nguy hại, vì vậy việc quản lý chất thải y tế cần tuân thủ các quy định có liên quan đến quản lý chất thải nguy hại Do giới hạn đề tài chỉ tập trung vào CTRYT nên trong phần tiếp theo em chỉ trình bày các nội dung liên quan đến loại CTYT này
1.2.2 Thành phần của CTRYT
a Thành phần vật lý
- Thành phần vật lý của CTRYT gồm các dạng sau:
Bông vải sợi: Gồm bông băng, gạc, quần áo, khăn lau, vải trải…
Giấy: Hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh
Nhựa: Hộp đựng, bơm tiêm, dây truyền máu, túi đựng hàng
Thủy tinh: Chai lọ, ống tiêm, bơm tiêm thủy tinh, ống nghiệm
Kim loại: Dao kéo mổ, kim tiêm
b Thành phần hóa học
- Thành phần hóa học gồm 2 loại sau:
Vô cơ: Hóa chất, thuốc thử…
Hữu cơ: Đồ vải sợi, phần cơ thể, thuốc…
c Thành phần sinh học: Máu, bệnh phẩm, bộ phận cơ thể bị cắt bỏ
1.2.3 Phân loại CTRYT
- Ở Việt Nam, theo quy chế quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế ban hành, chất thải y
tế được phân thành 5 nhóm chất thải chính bao gồm:
Trang 19 Chất thải lây nhiễm
Chất thải hóa học nguy hại
Chất thải phóng xạ
Các bình chứa khí nén có áp suất
Chất thải thông thường
a Chất thải lây nhiễm
- Theo quy định của Bộ Y tế, chất thải lây nhiễm được chia thành các nhóm sau:
Nhóm A: Chất thải nhiễm khuẩn: Chứa mầm bệnh với số lượng, mật độ đủ gây bệnh, bị nhiễm khuẩn bởi vi khuẩn, virus, ký sinh trùng, nấm…bao gồm các vật liệu bị thấm máu, thấm dịch, chất bài tiết của người bệnh như gạc, bông, găng tay, bột bó gãy xương, dây truyền máu
Nhóm B: Là các vật sắc nhọn: Bơm tiêm, lưỡi, cán dao mổ, mảnh thủy tinh
vỡ và mọi vật liệu có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, dù chúng có được sử dụng hay không sử dụng
Nhóm C: Chất thải nguy cơ lây nhiễm phát sinh từ phòng xét nghiệm: Găng tay, lam kính, ống nghiệm, bệnh phẩm sau khi xét nghiệm, túi đựng máu…
Nhóm D: Là các mô cơ quan người-động vật, mô cơ thể (nhiễm khuẩn hay không nhiễm khuẩn), chân tay, nhau thai, bào thai…
b Chất thải hóa học nguy hại
Chất thải hóa học bao gồm các hóa chất có thể không gây nguy hại như đường, axit béo, axit amin, một số loại muối… và hóa chất nguy hại như Formaldehit, hóa chất quang học, các dung môi, hóa chất dùng để tiệt khuẩn y tế và dung dịch làm sạch, khử
khuẩn, các hóa chất dùng trong tẩy uế, thanh trùng…
- Chất thải hóa học nguy hại gồm:
Trang 20 Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng
Formaldehit: Đây là hóa chất thường được sử dụng trong bệnh viện, nó
được sử dụng để làm vệ sinh, khử khuẩn dụng cụ, bảo quản bệnh phẩm hoặc khử khuẩn các chất thải lỏng nhiễm khuẩn Nó được sử dụng trong các khoa giải phẫu bệnh, lọc máu, ướp xác…
Các chất quang hóa: Các dung dịch dùng để cố định phim trong khoa Xquang
Các dung môi: Các dung môi dùng trong cơ sở y tế gồm các hợp chất của
halogen như metyl clorit, chloroform, các thuốc mê bốc hơi như halothane,
các hợp chất không chứa halogen như xylene, axeton, etyl axetat…
Các chất hoá học hỗn hợp: Bao gồm các dung dịch làm sạch và khử khuẩn như phenol, dầu mỡ và các dung môi làm vệ sinh…
Chất gây độc tế bào, gồm: Vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hóa
trị liệu
Chất thải chứa kim loại nặng: Thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân
bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa
chẩn đoán hình ảnh, xạ trị)
c Chất thải phóng xạ
Tại các cơ sở y tế, chất thải phóng xạ phát sinh từ các hoạt động chuẩn đoán, hóa trị liệu, và nghiên cứu Chất thải phóng xạ gồm: Dạng rắn, lỏng và khí
Chất thải phóng xạ rắn bao gồm: Các vật liệu sử dụng trong các xét nghiệm,
chuẩn đoán, điều trị như ống tiêm, bơm tiêm, kim tiêm, kính bảo hộ, giấy
thấm, gạc sát khuẩn, ống nghiệm, chai lọ đựng chất phóng xạ…
Trang 21 Chất thải phóng xạ lỏng bao gồm: Dung dịch có chứa chất phóng xạ phát
sinh trong quá trình chẩn đoán, điều trị như nước tiểu của người bệnh, các
chất bài tiết, nước súc rửa các dụng cụ có chất phóng xạ…
Chất thải phóng xạ khí bao gồm: Các chất khí thoát ra từ kho chứa chất
phóng xạ…
d Các bình chứa khí nén có áp suất
Nhóm này bao gồm các bình chứa khí nén có áp suất như bình đựng oxy, CO2,
bình gas, bình khí dung, các bình chứa khí sử dụng một lần…đa số các bình chứa khí nén này thường dễ nổ, dễ cháy nguy cơ tai nạn cao nếu không được tiêu hủy đúng
cách
e Chất thải thông thường
Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học
nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:
Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách
ly)
Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thủy tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gãy xương kín Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học
không nguy hại
Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: Giấy, báo, tài liệu, vật liệu
đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim
Chất thải ngoại cảnh: Lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh trong bệnh
viện
1.2.4 Khối lượng chất thải phát sinh
Khối lượng chất thải y tế không chỉ thay đổi theo từng khu vực địa lý, mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khách quan khác như:
Trang 22 Cơ cấu bệnh tật bình thường, dịch bệnh, thảm hoạ đột xuất
Loại và qui mô bệnh viện, phạm vi cứu chữa
Số lượng bệnh nhân khám, chữa bệnh, tỷ lệ bệnh nhân điều trị nội trú và ngoại trú
Điều kiện kinh tế xã hội của khu vực
Phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, điều trị và chăm sóc
Số lượng người nhà được phép đến thăm bệnh nhân
Tham khảo tài liệu nước ngoài cho thấy khối lượng chất thải rắn y tế cũng được ước lượng trên cơ sở số giường bệnh và hệ số phát thải phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thay đổi theo mức thu nhập, thay đổi theo loại bệnh viện, mức phát thải khác nhau theo các khoa, phòng chuyên môn được thể hiện trong các bảng 1.1, 1.2,1.3,1.4
Bảng 1.1: Lượng chất thải thay đổi theo từng nước
Chất thải bệnh viện nói chung (kg/giường bệnh/ngày)
Chất thải y tế nguy hại (kg/giường bệnh/ngày)
Nước thu nhập trung
(Nguồn: “Môi trường bệnh viện nhìn từ góc độ quản lý an toàn chất thải” – Cục Bảo vệ
Môi Trường (2004))
Trang 23Bảng 1.2: Lượng chất thải thay đổi theo từng loại bệnh viện
Nguồn phát sinh Lượng chất thải theo từng bệnh viện
(kg/giường bệnh/ngày)
(Nguồn: “Môi trường bệnh viện nhìn từ góc độ quản lý an toàn chất thải” – Cục Bảo vệ
Môi Trường (2004))
Bảng 1.3: Lượng chất thải thay đổi theo các bộ phận khác nhau trong cùng bệnh viện
Các bộ phận khác trong bệnh viện Lượng chất thải (kg/giường bệnh/ngày)
(Nguồn: “Môi trường bệnh viện nhìn từ góc độ quản lý an toàn chất thải” – Cục Bảo vệ
Môi Trường (2004))
Ở một số nước trên thế giới có hệ thống y tế giống Việt Nam là có bệnh viện tuyến Trung ương, tuyến tỉnh và tuyến huyện thì hệ số phát thải chất thải rắn y tế cũng dao động khá lớn về tổng lượng thải cũng như tỷ lệ chất thải nguy hại
Trang 24Bảng 1.4: Lượng chất thải phát sinh theo tuyến bệnh viện
(Nguồn: “Môi trường bệnh viện nhìn từ góc độ quản lý an toàn chất thải” – Cục Bảo vệ
Môi Trường (2004))
1.3 Tác hại của chất thải rắn y tế
1.3.1 Đối với môi trường
1.3.1.1 Đối với môi trường đất
Khi chất thải y tế được xử lý giai đoạn trước khi thải bỏ vào môi trường không
đúng cách thì các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại, các vi khuẩn có thể ngấm vào
môi trường đất gây nhiễm độc cho môi trường sinh thái, các tầng sâu trong đất, sinh vật kém phát triển… làm cho việc khắc phục hậu quả về sau lại gặp khó khăn
1.3.1.2 Đối với môi trường không khí
Chất thải bệnh viện từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều gây ra
những tác động xấu đến môi trường không khí Khi phân loại tại nguồn, thu gom, vận chuyển chúng phát tán bụi rác, bào tử vi sinh vật gây bệnh, hơi dung môi, hóa chất vào không khí Ở khâu xử lý (đốt, chôn lấp) phát sinh ra các khí độc hạiHX, NOx, đioxin, furan… từ lò đốt và CH4, NH3, H2S… từ bãi chôn lấp Các khí này nếu không được thu hồi và xử lý sẽ gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của cộng đồng dân cư xung quanh
1.3.1.3 Đối với môi trường nước
Tuyến bệnh viện Tổng lượng chất thải y tế
Trang 25Khi chôn lấp chất thải y tế không đúng kỹ thuật và không hợp vệ sinh Đặc biệt là chất thải y tế được chôn lấp chung với chất thải sinh hoạt có thể gây ô nhiễm nguồn nước ngầm
1.3.2 Đối với sức khỏe con người
1.3.2.1 Đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp CTRYT
Tất cả các cá nhân tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại là những người có nguy
cơ tiềm tàng, bao gồm những người làm việc trong các cơ sở y tế, những người ở ngoài các cơ sở y tế làm nhiệm vụ vận chuyển các chất thải y tế và những người trong cộng đồng bị phơi nhiễm với chất thải do hậu quả của sự sai sót trong khâu quản lý chất thải Dưới đây là những nhóm chính có nguy cơ cao:
Bác sĩ, y tá, hộ lý và các nhân viên hành chính của bệnh viện
Bệnh nhân điều trị nội trú hoặc ngoại trú
Khách tới thăm hoặc người nhà bệnh nhân
Những công nhân làm việc trong các dịch vụ hỗ trợ phục vụ cho các cơ sở
khám chữa bệnh và điều trị, chẳng hạn như giặt là, lao công, vận chuyển
bệnh nhân…
Những người làm việc trong các cơ sở xử lý chất thải (tại các bãi đổ rác thải, các lò đốt rác) và những người bới rác, thu gom rác…
1.3.2.2 Tác động từ CTRYT
a Từ chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn
Các vật thể trong thành phần của CTRYT có thể chứa đựng một lượng rất lớn
bất kỳ tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm nào Một mối nguy cơ rất lớn hiện
nay đó là virus gây hội chứng suy giảm miễn dịch (HIV) cũng như các virus lây qua đường máu như viêm gan B, C có thể lan truyền ra cộng đồng qua con đường rác thải y
tế Những virus này thường lan truyền qua vết tiêm hoặc các tổn thương do kim tiêm
Trang 26có nhiễm máu người bệnh Các tác nhân gây bệnh này có thể xâm nhập vào cơ thể người thông qua các cách thức sau:
Qua da (qua một vết thủng, trầy sước hoặc vết cắt trên da)
Qua các niêm mạc (màng nhầy)
Qua đường hô hấp (do xông, hít phải)
Qua đường tiêu hoá
b Từ loại chất thải hoá chất và dược phẩm
Nhiều loại hoá chất và dược phẩm được sử dụng trong các cơ sở y tế là những
mối nguy cơ đe dọa sức khoẻ con người (các độc dược, các chất gây độc gen, chất ăn mòn, chất dễ cháy, các chất gây phản ứng, gây nổ…) Các loại chất này thường chiếm
số lượng nhỏ trong chất thải y tế, với số lượng lớn hơn có thể tìm thấy khi chúng quá hạn, dư thừa hoặc hết tác dụng cần vứt bỏ Những chất này có thể gây nhiễm độc khi tiếp xúc cấp tính và mãn tính, gây ra các tổn thương như bỏng, ngộ độc Sự nhiễm độc này có thể là kết quả của quá trình hấp thụ hóa chất hoặc dược phẩm qua da, qua niêm mạc, qua đường hô hấp hoặc đường tiêu hóa Việc tiếp xúc với các chất dễ cháy, chất
ăn mòn, các hóa chất gây phản ứng (formaldehyd và các chất dễ bay hơi khác) có thể
gây nên những tổn thương tới da, mắt hoặc niêm mạc đường hô hấp Các tổn thương
phổ biến hay gặp nhất là các vết bỏng
c Từ chất thải gây độc tế bào
Đối với các nhân viên y tế chịu trách nhiệm tiếp xúc và xử lý loại chất thải gây
độc gen, mức độ ảnh hưởng của những mối nguy cơ bị chi phối bởi sự kết hợp giữa bản chất của chất độc và phạm vi, khoảng thời gian tiếp xúc với chất độc đó Quá trình
tiếp xúc với các chất độc trong công tác y tế có thể xảy ra trong lúc chuẩn bị hoặc trong
quá trình điều trị bằng các thuốc đặc biệt hoặc bằng hóa trị liệu Những phương thức tiếp xúc chính là hít phải dạng bụi hoặc dạng phun sương qua đường hô hấp; hấp thụ
Trang 27qua da, qua đường tiêu hóa do ăn phải thực phẩm nhiễm thuốc, hóa chất hoặc chất bẩn
có tính độc Việc nhiễm độc qua đường tiêu hóa là kết quả của những thói quen xấu chẳng hạn như dùng miệng để hút ống pipet trong khi định lượng dung dịch Mối nguy hiểm cũng có thể xảy ra khi tiếp xúc với các loại dịch thể và các chất bài tiết của những bệnh nhân đang được điều trị bằng hóa trị liệu
d Từ các chất thải phóng xạ
Loại bệnh gây ra do chất thải phóng xạ được xác định bởi loại chất thải và phạm
vi tiếp xúc Nó có thể là đau đầu, hoa mắt chóng mặt, buồn nôn và nhiều bất thường khác Bởi chất thải phóng xạ, cũng như loại chất thải dược phẩm, là một loại độc hại gen, nó cũng có thể ảnh hưởng đến các yếu tố di truyền Tiếp xúc với các nguồn phóng
xạ có hoạt tính cao, ví dụ như các nguồn phóng xạ của các phương tiện chẩn đoán (máy Xquang, máy chụp cắt lớp…), có thể gây ra một loạt các tổn thương (chẳng hạn như phá huỷ các mô, từ đó đòi hỏi phải dẫn đến việc xử lý loại bỏ hoặc cắt cụt các phần cơ
thể)
Các nguy cơ từ những loại chất thải có hoạt tính thấp có thể phát sinh do việc nhiễm xạ trên phạm vi bề mặt của các vật chứa, do phương thức hoặc khoảng thời gian
lưu giữ loại chất thải này Các nhân viên y tế hoặc những người làm nhiệm vụ thu gom
và vận chuyển rác phải tiếp xúc với loại chất thải phóng xạ này là những người thuộc nhóm có nguy cơ cao
1.4 Hiện trạng quản lý và xử lý CTRYT trên Thế giới và Việt Nam
1.4.1 Trên thế giới
Trên thế giới, quản lý rác thải bệnh viện được nhiều quốc gia quan tâm và tiến hành một cách triệt để từ rất lâu Về quản lý, một loạt những chính sách quy định đã được ban hành nhằm kiểm soát chặt chẽ loại chất thải này Các hiệp ước quốc tế, các
nguyên tắc, pháp luật và quy định về chất thải nguy hại, trong đó có cả chất thải bệnh
viện cũng đã được công nhận và thực hiện trên hầu hết các quốc gia trên thế giới
Trang 28Công ước Basel: Được ký kết bởi hơn 100 quốc gia, quy định về sự vận chuyển
các chất độc hại qua biên giới, đồng thời áp dụng cả với chất thải y tế Công ước này đưa ra nguyên tắc chỉ vận chuyển hợp pháp chất thải nguy hại từ các quốc gia không có điều kiện và công nghệ thích hợp sang các quốc gia có điều kiện vật chất kỹ thuật để
xử lý an toàn một số chất thải đặc biệt
Nguyên tắc polluter pay: Nêu rõ mọi người, mọi cơ quan làm phát sinh chất thải
phải chịu trách nhiệm về pháp luật và tài chính trong việc đảm bảo an toàn và giữ cho môi trường trong sạch
Nguyên tắc proximitry: Quy định rằng việc xử lý chất thải nguy hại cần được tiến
hành ngay tại nơi phát sinh càng sớm càng tốt Tránh tình trạng chất thải bị lưu giữ trong thời gian dài gây ô nhiễm môi trường
Xử lý chất thải bệnh viện, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế và khoa học công nghệ, nhiều nước trên thế giới đã có những biện pháp khác nhau để xử lý loại rác thải nguy hại này
Các nước phát triển
Hiện tại trên thế giới ở hầu hết các quốc gia phát triển, trong các bệnh viện, cơ sở chăm sóc sức khỏe, hay những công ty đặc biệt xử lý phế thải đều có thiết lập hệ thống xử lý loại phế thải y tế Đó là các loại lò đốt ở nhiệt độ cao tùy theo loại phế thải từ
10000C đến trên 40000C Tuy nhiên phương pháp này hiện nay vẫn còn đang tranh cãi
về việc xử lý khí bụi sau khi đốt đã được thải hồi vào không khí
Các phế thải y tế trong khi đốt, thải hồi vào không khí có nhiều hạt bụi li ti và các hóa chất độc hại phát sinh trong quá trình thiêu đốt như axit clohidric, đioxin/furan,
và một số kim loại độc hại như thủy ngân, chì hoặc asen, cadimi Do đó, tại Hoa Kỳ vào năm 1996, đã bắt đầu có các điều luật về khí thải của lò đốt và yêu cầu khí thải phải được giảm thiểu bằng hệ thống lọc hóa học và cơ học tùy theo loại phế thải
Trang 29Ngoài ra còn có phương pháp khác để giải quyết vấn đề này đã được các quốc gia lưu tâm đến vì phương pháp đốt đã gây ra nhiều bất lợi do lượng khí độc hại phát
sinh thải vào không khí Đó là phương pháp nghiền nát phế thải và xử lý dưới nhiệt độ
và áp suất cao để tránh việc phóng thích khí thải
Dựa theo phương pháp này rác thải y tế nguy hại được chuyển qua một máy nghiền nát Phế thải đã được nghiền xong sẽ được chuyển qua một phòng hơi có nhiệt
độ 138oC và áp suất 3,8 bar Ở điều kiện nhiệt độ và áp suất trên là điều kiện tối ưu cho hơi nước bão hòa Phế thải được xử lý trong vòng 40 - 60 phút Sau cùng phế thải rắn
đã được xử lý sẽ được chuyển đến các bãi rác thông thường vì đã đạt được tiêu chuẩn tiệt trùng Phương pháp này còn có ưu điểm là làm giảm được khối lượng phế thải vì được nghiền nát, chi phí ít tốn kém hơn lò đốt, cũng như không tạo ra khí thải vào
không khí
Cụ thể như hiện trạng quản lý chất thải y tế tại Vương Quốc Anh, năm 1992 nước Anh đã đưa ra định nghĩa chất thải y tế như sau: Bất kỳ chất thải nào mà gồm toàn bộ hoặc một phần cơ thể người, mô động vật, máu hoặc dịch cơ thể, chất bài tiết, dược phẩm mà không an toàn có thể gây độc hại hay các loại rác thải từ các hoạt động y tế, chất thải gây truyền nhiễm ảnh hưởng đối với người tiếp xúc với nó Chất thải nằm trong định nghĩa này được chia thành các nhóm sau: Mô người và chất truyền nhiễm; các vật sắc nhọn; mầm bệnh và các chất thải từ phòng xét nghiệm; dược phẩm quá hạn; nước tiểu, phân và các chất tiết từ vệ sinh; chất thải cytotoxic; chất thải phóng xạ…
Về phần công nghệ tiêu hủy chất thải y tế hiện nay là dựa trên việc phân tách hợp lý CTRYT được xây dựng tại các cơ sở y tế, bệnh viện, phòng khám…có quy định
cụ thể và bắt buộc về mặt pháp lý trong việc quản lý chất thải
Thiêu hủy chất thải y tế là cách phổ biến nhất, kèm theo công đoạn xử lý sơ bộ ban đầu cho các thành phần độc hại đã qua khử trùng tại bệnh viện Trong thực tế
Trang 30không phải chất thải y tế nào cũng áp dụng công nghệ thiêu hủy, đôi khi sử dụng phương pháp chôn lấp cho loại chất thải rắn ít độc hại hơn
Tại các nước đang phát triển
Đối với các nước đang phát triển, việc quản lý môi trường nói chung vẫn còn rất
lơ là, nhất là đối với phế thải bệnh viện Tuy nhiên, trong khoảng những năm gần đây, các quốc gia như Ấn Độ, Trung Quốc đã bắt đầu chú ý đến việc bảo vệ môi trường, và
có nhiều tiến bộ trong việc xây dựng các lò đốt ở bệnh viện Đặc biệt ở Ấn Độ từ năm
1998, chính phủ đã ban hành luật về “Phế thải y tế: Lập thủ tục và Quản lý” Trong bộ luật này có ghi rõ ràng phương pháp tiếp nhận phế thải, phân loại phế thải, cùng việc xử lý và di dời đến các bãi rác… do đó, vấn đề phế thải y tế độc hại của quốc gia này
đã được cải thiện rất nhiều
Điển hình như việc quản lý chất thải ở miền nam Châu Phi, chất thải y tế được định nghĩa bao gồm tất cả các loại chất thải sản sinh từ quá trình khám chữa bệnh của
cơ sở y tế như bệnh viện đa khoa, trung tâm y tế và phòng thuốc Chất thải y tế đại diện cho một lượng nhỏ trong tổng khối lượng chất thải được phát sinh trong một cộng đồng Tuy nhiên, lượng nhỏ chất thải y tế này có khả năng truyền bệnh và hiện tại là nguy cơ gây ra bệnh nghề nghiệp cho các nhân viên của các cơ sở y tế, bệnh nhân và cộng đồng khi các chất thải không được quản lý đúng cách (Baveja, et al, 2000; Silva, 2005) [9]
Phân biệt chất thải y tế giữa rác thải y tế lây nhiễm và không lây nhiễm được tiến hành theo quy định và tiêu chuẩn Tách các chất thải y tế và rác sinh hoạt được thực hiện một mức độ thỏa đáng
Trang 31Về phần công nghệ tiêu hủy rác thải y tế thì phương pháp quản lý rác thải y tế được thông qua nghiên cứu của Oweis et al (2005) [9] Điều này bao gồm một chiến lược cụ thể như sau:
Xem xét các nguyên tắc, thủ tục, quy định về quy chế quản lý của bệnh viện
để thực hiện đúng, đặc biệt là các nhân viên có liên quan đến việc quản lý chất thải y tế phát sinh tại bệnh viện
Chỉ tiêu quản lý tốt là tại các phòng ban khác nhau trong bệnh viện có các quan sát viên ghi nhận lại tình hình phân loại, thu gom, bảo quản và xử lý Rác thải y tế sẽ được tổ chức thu gom và vận chuyển về nơi lưu giữ tạm thời của bệnh viện Nhân viên chịu trách nhiệm thu gom chất thải y tế được trang bị hoàn tất các thiết bị bảo hộ cá nhân
Bệnh viện có thể ký kết hợp đồng vận chuyển các chất thải y tế với một công ty
tư nhân chịu trách nhiệm về quản lý chất thải Ngoài ra, nếu bệnh viện có khuôn viên rộng, được đầu tư kinh phí sẽ trang bị hệ thống lò đốt và xây dựng bãi chôn lấp chất thải ngay tại bệnh viện dưới sự giám sát chặt chẽ của các giám sát viên và khí thải từ lò đốt được xử lý đúng cách theo pháp lệnh quy định
1.4.2 Tại Việt Nam
Tình hình chung
Phần lớn các bệnh viện ở Việt Nam được xây dựng trong giai đọan đất nước còn chưa phát triển, nhận thức về vấn đề môi trường chưa cao nên các bệnh viện đều không
có hệ thống xử lý chất thải nghiêm túc, đúng quy trình kỹ thuật Cơ sở vật chất kỹ thuật
để xử lý triệt để các loại chất thải độc hại còn bị thiếu thốn Bên cạnh đó, công tác quản
lý còn lỏng lẻo và chưa có quy trình xử lý triệt để
Mặt khác, số lượng bệnh viện và cơ sở khám chữa bệnh rất lớn, lại thiếu vốn, nên số lượng bệnh viện đạt tiêu chuẩn môi trường còn rất ít Bảo vệ môi trường tại các
Trang 32bệnh viện không chỉ là vấn đề của riêng các bệnh viện mà cần có sự quan tâm của Chính phủ và toàn xã hội
Trong những năm qua các cơ quan quản lý môi trường đã tổ chức nhiều đợt tuyên truyền, vận động cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn, nhân viên y tế, bệnh nhân
và thân nhân để thấy rõ trách nhiệm trong vấn đề thu gom, phân loại và xử lý sơ bộ, giảm thiểu độc hại gây ra do chất thải y tế Tuy nhiên, nhận thức của cộng đồng về những nguy cơ tiềm ẩn trong chất thải y tế vẫn còn yếu
Chất thải y tế được các công ty Môi trường Đô thị thu gom, xử lý hoặc được xử
lý bằng các lò đốt thô sơ, không đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường hoặc được ngâm trong Formandehyt rồi tập trung chôn lấp tại các nghĩa trang, trong các khuôn viên bệnh viện Rất nhiều loại chất thải lây nhiễm, độc hại được xả trực tiếp ra bãi rác mà không qua bất kỳ một khâu xử lý cần thiết nào
Thấy rõ được yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện công tác quản lý chất thải y tế tại các cơ sở khám chữa bệnh của ngành, năm 1998 Bộ Y tế đã thành lập ban chỉ đạo xử lý chất thải bệnh viện với nhiệm vụ giúp Bộ trưởng trong công tác chỉ đạo, xây dựng quy hoạch hệ thống xử lý chất thải bệnh viện trong phạm vi toàn quốc
Trên cơ sở đó, ngày 27/08/1999 Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành “Quy chế quản
lý chất thải y tế” (sau được điều chỉnh lại ngày 30/11/2007), đến năm 2002 Bộ Trưởng
Bộ Y tế ban hành tiếp “Quy chế bảo vệ môi trường tại các cơ sở y tế” Trong thời gian qua nhiều chương trình nghiên cứu thí điểm các lò đốt, chương trình xây dựng quy hoạch tổng thể hệ thống các lò đốt trên toàn quốc đã và được triển khai
Theo niên giám thống kê năm 2013, ngành y tế cả nước có 13.562 cơ sở khám chữa bệnh với 136.864 giường bệnh, trong đó 956 bệnh viện từ tuyến huyện trở lên, khối y tế tư nhân có 2.034 cơ sở y tế từ phòng khám tới bệnh viện tư hoạt động Số lượng và mạng lưới y tế như vậy là lớn so với các nước trong khu vực, song vấn đề
Trang 33đảm bảo vệ sinh môi trường, xử lý chất thải tại các cơ sở từ trung ương tới địa phương còn quá yếu, hầu hết chưa có hệ thống xử lý rác thải, một vài nơi tuy có hoạt động nhưng chưa đạt yêu cầu kỹ thuật.
1.5 Quản lý CTRYT
Quản lý chất thải y tế bắt đầu ngay từ quá trình sinh ra chất thải đến quá trình xử
lý, và khâu cuối cùng là thải bỏ chất thải
Khi phát sinh chất thải, chúng ta nghĩ đến các biện pháp để giảm lượng phát thải chất thải nguy hại nhất Sau xử lý, lượng chất thải thực sự phải thải bỏ cuối cùng cần được giải quyết để đảm bảo vệ sinh và an toàn
1.5.1 Giảm thiểu tại nguồn
Phương pháp làm giảm thiểu chất thải hiện tại đang được áp dụng là các hoạt động tái sinh, tái chế cũng như giảm thiểu tại nguồn Giảm thiểu tại nguồn là giảm về
số lượng hoặc độc tính của bất kỳ một chất thải y tế nào đi vào dòng chất thải trước khi tái sinh, xử lý hoặc đưa vào môi trường Những cải tiến căn bản trong giảm thiểu tại nguồn là:
Chọn nhà cung cấp hậu cần cho bệnh viện mà sản phẩm của họ ít phế thải hay giảm lượng CTRYT nguy hại phải xử lý đặc biệt
Sử dụng các biện pháp khử trùng tẩy uế cơ lý học nhiều hơn các biện pháp
hóa học sẽ giảm thiểu chất thải nguy hại
Giảm thiểu chất thải, nhất là trong công tác phân loại và khử trùng tẩy uế
1.5.2 Quản lý và kiểm soát ở bệnh viện
Việc quản lý và kiểm soát chất thải ở bệnh viện được thực hiện như sau:
Tập trung quản lý thống nhất các loại thuốc, hóa chất nguy hại
Giám sát sự luân chuyển lưu hành hóa chất, dược chất ngay từ khâu nhận,
nhập kho, sử dụng và tiêu hủy thải bỏ
Trang 341.5.3 Quản lý kho hóa chất, dược chất
Việc quản lý kho hóa chất và những dược phẩm cụ thể là:
Thường xuyên nhập hàng từng lượng nhỏ hơn là nhập quá nhiều một đợt dễ dẫn tới thừa hay quá hạn
Sử dụng các lô hàng cũ trước, hàng mới dùng sau
Sử dụng toàn bộ thuốc, dược chất vật tư trong đợt, rồi mới chuyển sang đợt mới
Thường xuyên kiểm tra hạn sử dụng của các loại thuốc, dược chất, vật tư
tiêu hao ngay từ khi nhập hàng cũng như trong quá trình sử dụng
1.5.4 Phân loại, thu gom và vận chuyển
- Tách – Phân loại:
Điểm chủ yếu của biện pháp này là phân loại và tách ngay từ đầu một cách chính xác chất thải y tế nguy hại và chất thải rắn thông thường Việc tách và phân loại chính xác chất thải y tế tạo điều kiện thuận lợi cho các quá trình tiếp theo như quá trình vận chuyển và lưu giữ tại bệnh viện hay quá trình vận chuyển tới nơi tiêu hủy và quá trình tiêu hủy
Việc tách và phân loại CTRYT đòi hỏi phải có thùng chứa, túi lót trong thùng
chứa được buột chặt chẽ, hộp đựng vật sắc nhọn Yêu cầu màu sắc phải thống nhất theo quy định để dễ quản lý chất thải y tế đã được phân loại thu gom trong suốt quá trình lưu thông
Trang 35Bảng 1.5: Yêu cầu màu sắc, túi, thùng đựng và biểu tượng chỉ chất thải y tế
( Nguồn: Quy chế quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế, 2007)
- Thu gom tại phòng khoa:
Nhân viên y tế phân loại, tách chất thải y tế ngay trong quá trình khám chữa bệnh như thay băng, tiêm truyền Hoạt động này phải duy trì thường xuyên liên tục Nhân viên chịu trách nhiệm thu gom chất thải y tế từ các khoa chuyên môn tập trung về thùng lưu chứa tập trung, sau đó vận chuyển về khu lưu giữ chất thải y tế nguy hại của bệnh viện
Chất thải phải được thu gom hàng ngày và chuyển về nơi lưu giữ chất thải của bệnh viện
Loại chất thải Màu và đánh dấu nhãn Loại thùng, túi
Chất thải lây nhiễm cao Vàng, ký hiệu nhiễm
Thùng nhựa, túi nhựa bền
Túi nilon, thùng chứa, kim loại
Trang 36Thùng túi đã chứa đầy chất thải, khi vận chuyển đi phải có nhãn ghi rõ chất thải
từ khoa, bệnh viện, ngày giờ
Phải có ngay thùng, túi chứa rác đặt ngay vào vị trí khi đã chuyển thùng cũ đi
Thời gian lưu chứa như sau:
Tốt nhất là vận chuyển CTRYT nguy hại đi xử lý ngay trong ngày Thời gian lưu giữ chất thải trong các cơ sở y tế không quá 48 giờ
Lưu giữ chất thải trong nhà bảo quản lạnh hoặc thùng lạnh: Thời gian lưu giữ
có thể đến 72 giờ
- Vận chuyển:
Xe vận chuyển chất thải phải đảm bảo các tiêu chuẩn: Có thành, có nắp, có đáy kín, dễ cho chất thải vào, dễ lấy chất thải ra, dễ làm sạch, dễ tẩy uế, dễ làm khô
Trang 37CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI
BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN THANH BÌNH
2.1 Giới thiệu về bệnh viện Đa khoa huyện Thanh Bình
2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Trang 38Bảng 2.1: Diện tích các hạng mục bệnh viện ĐK huyện Thanh Bình
(Nguồn: Bệnh viện Đa khoa huyện Thanh Bình, 2015)
- Bệnh viện Đa khoa huyện Thanh Bình có vị trí tiếp giáp như sau:
Tây Bắc: Cách thành phố Cao lãnh 25km
Tây Nam: Cách biên giới CamPuChia khoảng 55km
Bệnh viện nằm ở vị trí địa lý khá thuận lợi cho người dân các xã trong huyện
đến khám và điều trị bệnh, có quốc lộ 30 đi qua và các đường liên xã tạo nên hệ thống giao thông thuận lợi cho việc vận chuyển người bệnh
Trong suốt bốn năm liền bệnh viện luôn đạt danh hiệu bệnh viện suất sắc toàn diện và cũng liên tục ba năm liền đạt lá cờ đầu thi đua toàn tỉnh Đây là điều kiện thuận lợi để bệnh viện tiếp tục phát huy tốt vai trò bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân huyện nhà Bên cạnh đó bệnh viện còn hỗ trợ kỹ thuật cho 13 xã, thị trấn trong huyện Ngoài ra bệnh viện cũng được sự quan tâm hỗ trợ kỹ thuật từ tuyến trên như: Bệnh viện Hữu Nghị tỉnh Đồng Tháp
Trang 39Hình 2.2: Bản đồ tỉnh Đồng Tháp và bệnh viện ĐK huyện Thanh Bình
(Nguồn: Sở TNMT tỉnh Đồng tháp, google map, 2015)
2.1.1.2 Điều kiện tự nhiên
Khu đất thuộc thị trấn Thanh Bình nằm trong vùng khí hậu chung của Đồng bằng sông Cửu Long, thuộc Đồng bằng Nam Bộ với nét đặc trưng chủ yếu là thời tiết gió mùa Khí hậu ở đây mang đầy đủ những đặc điểm của khí hậu miền Nam với sự phân chia hai mùa là mùa nắng và mùa mưa rõ rệt
Nhiệt độ trung bình khoảng 28oC, giao động nhiệt độ cao nhất trong năm là khoảng 37oC và thấp nhất là khoảng 24oC
Độ ẩm trung bình tại khu vực là 78% Các tháng mùa mưa có độ ẩm không khí lớn hơn các tháng mùa nắng
Mỗi năm có hai mùa gió đi theo mùa nắng và mùa mưa Về mùa nắng, hướng gió chủ đạo là hướng Đông-Bắc, còn vào mùa mưa hướng gió chủ đạo là hướng Tây- Nam
Mùa nắng trong năm khoảng từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, còn mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, chiếm hơn 90% lượng mưa cả năm
Trang 402.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển
Bệnh viện Đa khoa huyện Thanh Bình (BVĐKHTB) được thành lập năm 1978 Trước đây được gọi là Trung tâm y tế huyện Thanh Bình, trong đó gồm có BVĐKHTB phụ trách công tác khám và điều trị bệnh cho bệnh nhân và Đội vệ sinh phòng dịch-sốt rét huyện Thanh Bình phụ trách công tác phòng chống dịch bệnh
BVĐKHTB luôn phát huy và hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của bệnh viện
Tổ chức bộ máy của cơ quan từ trước đến nay có nhiều sự thay đổi hoạt động, ngày càng phát triển mạnh mẽ và không ngừng tiến bộ như: Trang thiết bị y tế, dụng cụ y tế, trang thiết bị tin học được trang bị hiện đại hơn, cơ sở hạ tầng khoa, phòng được nâng cấp khang trang hơn
BVĐKHTB là cơ quan hành chính sự nghiệp của Nhà nước Là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế Đồng Tháp (SYTĐT) có trách nhiệm khám bệnh, chữa bệnh cho nhân dân trong huyện hoặc một số huyện trong tỉnh
2.1.3 Cơ sở pháp lý thành lập và phát triển bệnh viện
Sau khi được chia tách, BVĐKHTB được thành lập và hoạt động theo quyết định số 11/QĐ-SYT-TCCB ngày 04 tháng 01 năm 2006 của Sở Y tế tỉnh Đồng Tháp
2.1.4 Chức năng của bệnh viện
Có trách nhiệm giải quyết hầu hết các bệnh tật trong huyện
Tổ chức khám giám định sức khỏe, giám định pháp y khi hội đồng giám định
y khoa tỉnh, thành phố hoặc cơ quan bảo vệ pháp luật trưng cầu