Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN NGỌC HOÀNG
Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP
QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA
KHOA TỈNH LẠNG SƠN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Khóa học : 2010 – 2014
Người hướng dẫn :TS Trần Văn Điền
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình đại học và viết đề tài này, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quí thầy cô trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đặc biệt là những thầy cô đã tận tình dạy bảo cho tôi suốt thời gian học tập tại trường
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến Tiến Sĩ: Trần Văn Điền đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn tôi hoàn thành đề tài tốt nghiệp
Tôi xin gửi lời biết ơn đến quý anh, chị cán bộ Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Lạng Sơn đã nhiệt tình hướng dẫn tôi, cũng như có những ý kiến đóng góp giúp tôi hoàn thiện đề tài này
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiện đề tài bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên, không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp quí báu của quý thầy cô và các bạn
Lạng Sơn, tháng 08 năm 2014
Sinh viên
NGUYỄN NGỌC HOÀNG
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2
1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 3
1.3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 CƠ SỞ NGHIÊN CỨU 4
2.1.1 Cơ sở pháp lý 4
2.1.2 Cơ sở thực tiễn 5
2.2 TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ CTRYT TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM 6
2.2.1 Trên thế giới 6
2.2.2 Tại Việt Nam 10
2.3.2 Nguồn phát sinh chất thải y tế từ hoạt động của bệnh viện 16
2.3.3 Phân loại chất thải rắn y tế 17
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 20
3.2 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN TIẾN HÀNH 20
3.3 NỘI DUNG 20
3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
4.1 VÀI NÉT VỀ BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH LẠNG SƠN VÀ CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI BỆNH VIỆN 24
Trang 54.1.1 Giới thiệu chung về bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn 24
4.1.1.1 Thông tin chung 24
4.1.1.2 Tóm tắt quá trình hoạt động của bệnh viện cấp cứu – khám – chữa bệnh 25
4.1.2 Nguồn phát sinh CTRYT tại bệnh viện 25
4.1.3 Thành phần chất thải rắn y tế tại bệnh viện 27
4.1.4 Ảnh hưởng của chất thải y tế đến môi trường xung quanh và sức khỏe con người 27
4.1.4.1 Ảnh hưởng đến môi trường xung quanh 27
4.1.4.2 Ảnh hưởng của chất thải rắn đến sức khỏe 28
4.1.5 Công tác bảo vệ môi trường tại bệnh viện 28
4.1.5.1 Kiểm soát nhiễm khuẩn tại bệnh viện 28
4.1.5.2 Công tác vệ sinh tại bệnh viện 29
4.1.5.3 Công tác quản lý CTRYT tại bệnh viện 31
4.1.5.4 Công tác xử lý CTRYT trong bệnh viện 33
4.2 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CTRYT TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH LẠNG SƠN 34
4.2.1 Nhận xét chung về tình hình vệ sinh môi trường tại bệnh viện 34
4.2.2 Đánh giá công tác kiểm soát CTRYT tại bệnh viện 35
4.2.2.1 Đánh giá công tác quản lý hành chính đối với CTRYT 35
4.2.2.2 Đánh giá các mặt kỹ thuật trong việc quản lý CTRYT 37
4.2.3 Phân tích sự không phù hợp theo quy định của Bộ Y tế về công tác quản lý CTRYT tại bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn 47
4.3 ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC VÀ NÂNG CAO CÔNG TÁC QUẢN LÝ CTRYT TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH LẠNG SƠN 50
4.3.1 Xây dựng hệ thống quản lý môi trường tại bệnh viện 50
4.3.1.1 Cơ cấu tổ chức 50
Trang 64.3.1.2 Nhiệm vụ của Ban môi trường 51
4.3.2 Nâng cao hoạt động bảo vệ môi trường tại bệnh viện 51
4.3.2.1 Hệ thống quản lý hành chính (giải quyết vấn đề A, bảng 4.4) 52
4.3.2.2 Cải thiện vệ sinh môi trường bệnh viện 53
4.3.2.3 Nâng cao nhận thức về công tác bảo vệ môi trường 54
4.3.3 Cải thiện công tác quản lý CTR tại bệnh viện 57
4.3.3.1 Giảm thiểu chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn (giải quyết vấn đề B, bảng 4.4) 57
4.3.3.2 Hoàn thiện hệ thống trang thiết bị lưu giữ, thu gom và vận chuyển CTRYT (giải quyết vấn đề C, E, bảng 4.4) 59
4.3.3.3 Xây dựng lại nhà chứa rác (giải quyết vấn đề D) 61
4.3.4 Giải pháp xử lý chất thải y tế tại bệnh viện (giải quyết vấn đề F, bảng 4.4) 62 4.3.5 Giải pháp cho công tác bảo vệ môi trường bệnh viện 62
4.3.5.1 Quản lý tốt nội vi 63
4.3.5.2 Giải pháp kinh tế 63
4.3.5.3 Giải pháp về mặt kỹ thuật 63
4.3.5.4 Giải pháp kêu gọi đầu tư 64
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65
5.1 KẾT LUẬN 65
5.2 KIẾN NGHỊ 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
PHỤ LỤC 70
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Các loại chất thải rắn đặc thù phát sinh từ hoạt động 17
của các bệnh viện 17
Bảng 4.1: Phân loại và xác định nguồn phát sinh chất thải 26
Bảng 4.2: Lượng CTR từ năm 2010 → 7 tháng đầu năm 2014 39
tại bệnh viện 39
Bảng 4.3: Lượng CTR bình quân từ năm 2010 – 2014 tại bệnh viện 39
Bảng 4.4: So sánh các yêu cầu của quy định từ Bộ Y tế và Bệnh viện 48
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Biểu đồ thể hiện lượng CTR tại bệnh viện từ năm 2010 - 2014 40
Hình 4.2: Phân loại CTRYT phát sinh trực tiếp trong quá trình 42
khám chữa bệnh 42
Hình 4.3: Vật liệu sử dụng chứa chất thải của bệnh viện 43
Hình 4.4: Lối vận chuyển CTRYT tại bệnh viện 44
Hình 4.5: Phương tiện vận chuyển CTRYT tại bệnh viện 44
Hình 4.6: Nhà lưu giữ CTRYT tại bệnh viện 46
Hình 4.7: Hệ thống quản lý bảo vệ môi trường 50
Hình 4.8: Thùng chứa rác y tế tại khoa phòng và vận chuyển về 61
nhà chứa rác 61
Hình 4.9: Thùng đựng vật sắc nhọn trong bệnh viện 61
Trang 9và cộng đồng trên thế giới quan tâm Bởi lẽ ô nhiễm môi trường, sự suy thoái
và những sự cố môi trường có ảnh hưởng trực tiếp không chỉ trước mắt mà còn ảnh hưởng về lâu dài cho các thế hệ mai sau Toàn thế giới đều đã nhận thức được rằng: phải bảo vệ môi trường, làm cho môi trường phát triển và ngày thêm bền vững
Dân số Việt Nam ngày càng gia tăng, kinh tế cũng phát triển, dẫn đến nhu cầu khám và điều trị bệnh gia tăng, số bệnh viện gia tăng Từ năm 1997 các văn bản về quản lý chất thải bệnh viện được ban hành Theo niên giám thống kê năm 2007 có 956 bệnh viện tuyến huyện trở lên nhưng hầu hết chưa được quản lý theo một quy chế chặt chẽ hoặc có xử lý nhưng theo cách đối phó hoặc chưa đúng Ô nhiễm môi trường do các hoạt động y tế mà thực tế là tình trạng xử lý kém hiệu quả các chất thải bệnh viện
Hiện tại, chất thải bệnh viện đang trở thành vấn đề môi trường và xã hội cấp bách ở nước ta, nhiều bệnh viện trở thành nguồn gây ô nhiễm cho môi trường dân cư xung quanh, gây dư luận trong cộng đồng
Bệnh viện Đa Khoa Tỉnh Lạng Sơn đã được hình thành và đang phát triển mạnh mẽ trong những năm qua khẳng định được vai trò quan trọng của mình trong quá trình phát triển chung của đất nước Nhờ những nỗ lực phấn đấu không ngừng đó mà bệnh viện đã đạt được nhiều thành quả đáng kể trong công tác khám chữa bệnh, phòng bệnh và chăm lo sức khỏe cho người dân Bên cạnh những thành quả đạt được thì, hiện nay, vấn đề nhức nhối tại bệnh
Trang 10viện là tình trạng Chất Thải Rắn Y Tế (CTRYT) thải ra với khối lượng khá lớn, đa phần là chất thải nguy hại mà hệ thống quản lý CTRYT thì còn thiếu sót
Xuất phát từ những mối nguy hại trực tiếp hoặc tiềm ẩn của chất thải y
tế gây ra đối với môi trường và con người, cần có những biện pháp hữu hiệu
để nâng cao nhận thức của cộng đồng nói chung và nhân viên y tế nói riêng
về những nguy cơ đó, nâng cao năng lực tổ chức, trách nhiệm và từng bước hoàn thiện hệ thống quản lý chất thải cũng như nâng cao chất lượng cảnh quan vệ sinh cho bệnh viện
Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả quản lý cụ thể hơn là CTRYT tại bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn, kết hợp với quá trình giám sát thực tế giúp tìm hiểu những thiếu sót còn tồn tại trong công tác quản lý hiện nay của bệnh viện, góp phần làm tăng hiểu biết và nâng cao ý thức cũng như chất lượng điều trị, giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn và giảm rủi ro bệnh nghề nghiệp cho nhân viên y tế Từ đó, nâng cao chất lượng quản lý rác thải y tế tại bệnh viện nói riêng và tại các phòng khám tư nhân, các trung tâm y tế nói chung hỗ trợ tốt hơn cho hệ thống quản lý chất thải hiện nay của huyện
Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi triển khai nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện
đa khoa tỉnh Lạng Sơn”
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
• Đánh giá tổng hợp mức độ ô nhiễm môi trường chung và công tác quản lý CTRYT tại bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn
• Đề xuất biện pháp quản lý phù hợp trong hoạt động bảo vệ môi trường bệnh viện
Trang 111.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Báo cáo cung cấp số liệu điều tra thực tế về tình hình quản lý rác thải y
tế tại bệnh viện, thực trạng về hệ thống quản lý CTRYT trong khu vực bệnh viện Trên cơ sở đó phân tích những ưu và nhược điểm của hệ thống quản lý CTRYT, đồng thời đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp giúp cho các nhà quản lý có cơ sở khoa học để quản lý tốt hơn vấn đề CTRYT
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài cung cấp những dữ liệu liên quan đến hiện trạng quản lý môi trường và các giải pháp như là một cơ sở để so sánh giữa các phòng khám đa khoa ở các khu vực khác với nhau
Trang 12PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 CƠ SỞ NGHIÊN CỨU
2.1.1 Cơ sở pháp lý
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn quản lý chất thải rắn y tế dựa trên hệ thống các văn bản pháp luật sau đây [9]:
Luật bảo vệ môi trường được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005
Nghị định số: 80/2006/NĐ-CP ngày 09/08/2006 của Thủ tướng chính phủ về hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường
Căn cứ nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/08/2006 của chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường
Quyết định 43/2007/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế ngày 30/11/2007
về quản lý chất thải bệnh viện
Quyết định 2575/1999/QĐ-BYT ban hành ngày 27 tháng 8 năm 1999
về quản lý rác thải bệnh viện
Các tiêu chuẩn, quy chuẩn về môi trường
Dựa trên những văn bản pháp luật trên và đặc biệt là theo Quy chế quản
lý chất thải y tế của Bộ Y tế ban hành kèm theo quyết định số BYT, bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn đã ban hành văn bản qui định về việc thực hiện phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải y tế tại bệnh viện
43/2007/QĐ-và những cá nhân hay khoa nào vi phạm sẽ bị trừ 43/2007/QĐ-vào lương thưởng 43/2007/QĐ-và thành tích thi đua Do đó, quy định này được áp dụng và thi hành nghiêm túc tại bệnh viện
Trang 132.1.2 Cơ sở thực tiễn
Những ảnh hưởng của chất thải rắn y tế đối với môi trường
a Đối với môi trường
Đối với môi trường đất
Khi chất thải y tế được xử lý giai đoạn trước khi thải bỏ vào môi trường không đúng cách thì các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại, các vi khuẩn
có thể ngấm vào môi trường đất gây nhiễm độc cho môi trường sinh thái, các tầng sâu trong đất, sinh vật kém phát triển… làm cho việc khắc phục hậu quả
về sau lại gặp khó khăn
Đối với môi trường không khí
Chất thải bệnh viện từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều gây
ra những tác động xấu đến môi trường không khí Khi phân loại tại nguồn, thu gom, vận chuyển chúng phát tán bụi rác, bào tử vi sinh vật gây bệnh, hơi dung môi, hóa chất vào không khí Ở khâu xử lý (đốt, chôn lấp) phát sinh ra các khí độc hại Hx, NOx, đioxin, furan… từ lò đốt và CH4, NH3, H2S… từ bãi chôn lấp Các khí này nếu không được thu hồi và xử lý sẽ gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của cộng đồng dân cư xung quanh
Đối với môi trường nước
Khi chôn lấp chất thải y tế không đúng kỹ thuật và không hợp vệ sinh Đặc biệt là chất thải y tế được chôn lấp chung với chất thải sinh hoạt có thể gây ô nhiễm nguồn nước ngầm
b Đối với sức khỏe con người
Đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp CTRYT
Tất cả các cá nhân tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại là những người
có nguy cơ tiềm tàng, bao gồm những người làm việc trong các cơ sở y tế, những người ở ngoài các cơ sở y tế làm nhiệm vụ vận chuyển các chất thải y
tế và những người trong cộng đồng bị phơi nhiễm với chất thải do hậu quả
Trang 14của sự sai sót trong khâu quản lý chất thải Dưới đây là những nhóm chính có nguy cơ cao:
•Bác sĩ, y tá, hộ lý và các nhân viên hành chính của bệnh viện
•Bệnh nhân điều trị nội trú hoặc ngoại trú
•Khách tới thăm hoặc người nhà bệnh nhân
•Những công nhân làm việc trong các dịch vụ hỗ trợ phục vụ cho các
cơ sở khám chữa bệnh và điều trị, chẳng hạn như giặt là, lao công, vận chuyển bệnh nhân…
•Những người làm việc trong các cơ sở xử lý chất thải (tại các bãi đổ rác thải, các lò đốt rác) và những người bới rác, thu gom rác…
2.2 TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ CTRYT TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM
2.2.1 Trên thế giới
Trên thế giới,quản lý rác thải bệnh viện được nhiều quốc gia quan tâm
và tiến hành một cách triệt để từ rất lâu Về quản lý,một loạt những chính sách quy định, đã được ban hành nhằm kiểm soát chặt chẽ loại chất thải này Các hiệp ước quốc tế, các nguyên tắc, pháp luật và quy định về chất thài nguy hại, trong đó có cả chất thải bệnh viện cũng đã được công nhận và thực hiện trên hầu hết các quốc gia trên thế giới
Công ước basel: được kí kết bởi hơn 100 quốc gia, quy định về sự vận
chuyển các chất độc hại qua biên giới, đồng thời áp dụng, với cả chất thải y
tế Công ước này đưa ra nguyên tắc chỉ vận chuyển hợp pháp chất thải nguy hại từ các quốc gia không có điều kiện và phương tiện thích hợp sang các quốc gia có điều kiện vật chất kĩ thuật để xử lý an toàn một số chất đặc biệt
Trang 15Nguyên tắc polluter pay: Nêu rõ mọi người, mọi cơ quan làm phát sinh
chất thải phải chịu trách nhiệm về pháp luật và tài chính trong việc bảo đảm
an toàn và giữ cho môi trường trong sạch
Nguyên tắc proximitry: Quy định rằng việc xử lý chất thải nguy hại cần
được tiến hành ngay tại nơi phát sinh càng sớm càng tốt Tránh tình trạng chất thải bị lưu giữ trong thời gian dài ngày gây ô nhiễm môi trường
Xử lý chất thải bệnh viện, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế và khoa học công nghệ, nhiều nước trên thế giới đã có những biện pháp khác nhau để xử
lý loại rác thải nguy hại này
Các phế thải y tế trong khi đốt, thải vào trong không khí có nhiều hạt bụi li ti và các hóa chất độc hại phát sinh trong quá trình thiêu đốt axit clohidric, dioxin, furan và một số kim loại độc hại như thủy ngân, chì, asen, cadimi Do đó tại Hoa Kỳ vào năm 1996, đã bắt đầu có các điều luật về khí thải của lò đốt và yêu cầu khí thải phải được giảm thiểu bằng hệ thống lọc hóa học và cơ học tùy vào loại phế thải
Ngoài ra còn có phương pháp khác để giải quyết vấn đề này đã được các quốc gia lưu tâm đến vì phương pháp đốt gây ra nhiều bất lợi do lượng khí độc hại phát sinh và thải vào không khí Đó là phương pháp nghiền nát phế thải và xử lý dưới nhiệt độ và áp suất cao để tránh việc phóng thích khí thải
Trang 16Dựa theo phương pháp này rác thải y tế nguy hại được chuyển qua một máy nghiền nát Phế thải nghiền xong được chuyển qua một phòng hơi có nhiệt độ 138oC áp suất là 3,8 bar Ở điều kiện trên là tối ưu cho hơi nước bão hòa Phế thải được xử lý trong vòng 40 đến 60 phút Sau cùng phế thải được
xử lý sẽ được chuyển đến các bãi rác thông thường vì đã đạt được tiêu chuẩn tiệt trùng Phương pháp này có ưu điểm làm giảm khối lượng phế thải vì đã được nghiền nát, chi phí thấp hơn lò đốt rác cũng như không tạo ra khí thải vào môi trường
Về công nghệ tiêu hủy chất thải y tế hiện nay là dựa trên việc phân tách hợp lý CTRYT được xây dựng tại các cơ sở y tế, bệnh viện, phòng khám… có quy định cụ thể và bắt buộc về mặt pháp lý trong việc quản lý chất thải
Thiêu hủy chất thải y tế là cách phổ biến nhất kèm theo công đoạn xử
lý sơ bộ ban đầu cho các thành phần độc hại đã qua khử trùng tại bệnh viện Trong thực tế không phải chất thải y tế nào cũng áp dụng công nghệ thiêu hủy, đôi khi sử dụng phương pháp chôn lấp cho loại chất thải rắn ít độc hại hơn
Tại các nước đang phát triển
Đối với các nước đang phát triển, việc quản lý môi trường nói chung rất
lơ là, nhất là đối với phế thải bệnh viện Tuy nhiên trong những năm gần đây các quốc gia như Ấn Độ, Trung Quốc đã bắt đầu chú ý đến việc bảo vệ môi trường và có nhiều tiến bộ trong việc xây dựng lò đốt rác ở bệnh viện Đặc biệt ở Ấn Độ từ năm 1998 chính phủ đã ban hành luật về “ phế thải y tế: lập thủ tục và quản lý” Trong bộ luật này ghi rõ ràng phương pháp tiếp nhận phế thải, phân loại phế thải, cùng việc xử lý di dời đến các bãi rác…Do đó vấn đề phế thải y tế độc hại của quốc gia được cải thiện rất nhiều
Điển hình như việc quản lý chất thải ở các nước miền nam Châu Phi, chất thải y tế được định nghĩa bao gồm tất cả các loại chất thải sản sinh ra từ quá trình khám chữa bệnh của các cơ sở y tế như bệnh viện, trung tâm y tế,
Trang 17Phân biệt rác thải y tế giữa rác thải lây nhiễm và không lây nhiễm được tiến hành theo quy định và tiêu chuẩn Tách các chất thải y tế và rác thải sinh hoạt được thực hiện đúng cách
Về công nghệ tiêu hủy chất thải y tế thì phương pháp quản lý rác thải y
tế được thông qua nghiên cứu của oweis et al (2005) Điều này bao gồm một chiến lược cụ thể như sau:
• Xem xét các nguyên tắc, thủ tục, quy định về quy chế quản lý của bệnh viện để thục hiện đúng, đặc biệt là các nhân viên quản lý chất thải y tế phát sinh từ bệnh viện
• Chi tiêu quản lý tốt là tại các phòng ban khác nhau tại bệnh viện có các quan sát viên ghi nhận lại tình hình thu gom, phân loại, bảo quản và xử lý
Rác thải y tế sẽ được tổ chức thu gom và vận chuyển về nơi lưu trữ tạm thời của bệnh viện Nhân viên chịu trách nhiệm thu gom chất thải y tế được trang bị hoàn tất thiết bị bảo hộ cá nhân
Bệnh viện có thể ký hợp đồng vận chuyển rác thải y tế với một công ty
tư nhân chịu trách nhiệm về quản lý chất thải Ngoài ra bệnh viện có khuôn viên rộng, trang bị hiện đại sẽ trang bị hệ thống lò đốt rác và bãi chôn lấp ngay tại bệnh viện dưới sự giám sát chặt chẽ của các giám sát viên và khí thải thải từ lò đốt được xử lý đúng quy định
Trang 18Mặt khác số lượng bệnh nhân và cơ sở y tế rất lớn, lại thiếu vốn nên số lượng bệnh viện đạt tiêu chuẩn môi trường rất ít Bảo vệ môi trường tại bệnh viện không chỉ là vấn đề của riêng các bệnh viện mà cần có sự quan tâm của chính phủ và toàn xã hội
Trong những năm qua các cơ quan quản lý môi trường đã tổ chức nhiều đợt tuyên truyền, vận động cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn, nhân viên y
tế, bệnh nhân và nhân thân để thấy rõ trách nhiệm trong vấn đề thu gom, phân loại và xử lý sơ bộ, giảm thiểu độc hại gây ra do chất thải y tế Tuy nhiên nhận thức của cộng đồng về nguy cơ tiềm ẩn trong chất thải y tế còn yếu
Chất thải y tế được Công ty Môi trường Đô thị thu gom xử lý hoặc được xử lý bằng lò đốt thô sơ, không đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường hoặc được ngâm trong Formandehit rồi được tập trung chôn lấp tại các nghĩa trang, trong các khuôn viên bệnh viện Rất nhiều loại chất lây nhiễm độc hại được
xả trực tiếp ra bãi rác mà không qua bất kỳ khâu xử lý nào
Thấy rõ được yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện công tác quản lý chất thải y tế tại các cơ sở khám chữa bệnh tại nghành, năm 1998 Bộ Y tế đã thành lập ban chỉ đạo xử lý chất thải bệnh viện với nhiệm vụ giúp Bộ trưởng trong công tác chỉ đạo xây dựng quy hoạch hệ thống xử lý chất thải bệnh viện trong phạm vi toàn quốc
Trang 19Theo niên giám thống kê năm 2007 nghành y tế cả nước có 13.438 cơ
sở khám chữa bệnh với 136.452 giường bệnh, trong đó có 956 bệnh viện tuyến huyện trở lên Khối y tế tư nhân có 1.631cơ sở từ phòng khám đến bệnh viện tự hoạt động Số lượng và mạng lưới y tế như vậy là cao so với các nước trong khu vực, nhưng vấn đề đảm bảo vệ sinh môi trường từ trung ương đến địa phương còn rất yếu, hầu hết chưa có hệ thống xử lý rác thải, một số nơi
có nhưng hoạt động chưa đúng yêu cầu kỹ thuật [1]
Quản lý chất thải y tế
Ở nước ta CTYT đã được quản lý bằng hệ thống các văn bản pháp luật, nhưng việc thực hiện chưa nghiêm túc theo quy định, hầu hết CTYT ở các bệnh viện chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn trước khi thải ra môi trường Nhiều bệnh viện không có hệ thống thu gom, xử lý nước thải, hoặc có thì nhiều hệ thống cống rãnh đã bị hư hỏng, xử lý xuống cấp; rác thải không được phân loại, chôn lấp thủ công hoặc đốt thủ công tại chỗ Thực trạng như sau [3], [4], [11], [15]:
Về quản lý rác thải:
Kết quả điều tra năm 2002 của Bộ Y tế tại 294 bệnh viện trong cả nước cho thấy 94,2% bệnh viện phân loại CTYT tại nguồn phát sinh, chỉ có 5,8% bệnh viện chưa thực hiện Các bệnh viện tuyến trung ương, tuyến tỉnh, bệnh viện tư nhân thực hiện phân loại CTYT ngay tại nguồn tốt hơn các bệnh viện tuyến huyện và bệnh viện ngành Có 93,9% bệnh viện thực hiện tách riêng vật sắc nhọn ra khỏi CTYT, hầu hết các bệnh viện sử dụng chai nhựa, lọ truyền
Trang 2012
đã dùng để đựng kim tiêm Nhưng qua kiểm tra thực tế, việc phân loại CTYT
ở một số bệnh viện chưa chính xác, làm giảm hiệu quả của việc phân loại chất thải 85% bệnh viện sử dụng mã màu trong việc phân loại, thu gom và vận chuyển chất thải
Kết quả nghiên cứu tại 6 bệnh viện đa khoa tỉnh của Đinh Hữu Dung (2003) cho thấy: cả 6 bệnh viện đều phân loại chất thải rắn ngay tại nguồn phát sinh nhưng chưa có bệnh viện nào phân loại rác đúng theo Quy chế của Bộ Y
tế và việc phân loại phụ thuộc vào hình thức xử lý hiện có của bệnh viện
Kết quả thanh tra, kiểm tra của Bộ Y tế (2004) về CTYT ở 175 bệnh viện tại 14 tỉnh, thành phố, cho thấy số bệnh viện có thùng chứa chất thải chiếm 76%, có bể chứa rác chiếm 9,6%, có nắp đậy thùng rác hoặc mái che
bể chứa rác chiếm 43%, rác được để riêng biệt chiếm 19,3% trong tổng số bệnh viện, nơi chứa rác thải đảm bảo vệ sinh chiếm 35,5%; 29% bệnh viện chôn CTR trong bệnh viện; có 3,2% bệnh viện vừa chôn, vừa đốt trong bệnh viện Hầu hết các CTR trong bệnh viện đều không được xử lý trước khi đem đốt hoặc chôn Một số ít bệnh viện có lò đốt CTYT nhưng lại quá cũ kỹ và gây ô nhiễm môi trường
Kết quả kiểm tra của Bộ Y tế (2007) tại 4 bệnh viện Hà Nội, Bệnh viện Lao và bệnh phổi Trung ương được đánh gía là bệnh viện quản lý rác thải tốt nhất trong 4 bệnh viện được kiểm tra nhưng Đoàn kiểm tra đã phát hiện trong buồng bệnh chỉ có thùng đựng rác sinh hoạt thiếu thùng chứa đờm của bệnh nhân Ở Bệnh viện Việt Đức tất cả rác thải đều chứa chung trong một loại túi đựng rác màu vàng
Theo báo cáo của Bộ Y tế (2009), năm 2006, tỷ lệ bệnh viện thực hiện phân loại CTYT là 95,6% và thu gom hàng ngày là 90,9% Phương tiện thu gom CTYT như túi, thùng đựng chất thải, xe đẩy rác, nhà chứa rác còn thiếu
và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn theo yêu cầu của Quy chế quản
Trang 21hở và 42,3% vừa kín vừa hở
Kết quả điều tra tại 6 bệnh viện đa khoa tỉnh (2003): cả 6 bệnh viện đều
có hệ thống cống thoát nước thải nhưng chất lượng cống khác nhau, có bệnh viện hệ thống cống nổi nhưng không có nắp đậy, nước thải bệnh viện không được xử lý (bệnh viện Yên Bái), hoặc xử lý một phần (bệnh viện Quảng Nam, Cần Thơ), hoặc đã xử lý toàn bộ (bệnh viện Phú Thọ, Quảng Ngãi, Đồng Tháp) nhưng tất cả đều đổ nước thải ra cống thoát nước chung [11]
Theo báo cáo của Bộ Y tế (2009), năm 2006, tỷ lệ bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải tuyến Trung ương là 71%, tuyến tỉnh là 46%, tuyến huyện là 30% và bệnh viện tư nhân là 85% Tính chung tỷ lệ bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải là 37% và chỉ có khoảng 30% trong số này đạt tiêu chuẩn cho phép Hiện cả nước còn có gần 640 bệnh viện cần được trang bị hệ thống xử lý nước thải, số bệnh viện cần cải tạo lại hệ thống xử lý nước thải khoảng 220 bệnh viện [3]
Biện pháp xử lý chất thải y tế
Về xử lý chất thải rắn y tế:
Hình thức xử lý chất thải rắn trong bệnh viện ở nước ta rất đa dạng, phụ thuộc vào quy mô, điều kiện của từng bệnh viện
Trang 2214
Theo báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam (2004) [1], Việt Nam đã xây dựng được 43 lò đốt CTYT hiện đại, nâng công suất xử lý lên 28.840 kg/ngày Công suất thiết kế của một lò đốt khoảng 40kg/h - 50 kg/h Tuy nhiên đại đa số các lò đốt chưa sử dụng hết công suất, khi so sánh tổng công suất của các lò đốt với lượng CTYT phát sinh, đã cho thấy, các lò đốt được lắp đặt
đã đáp ứng đủ khối lượng phát sinh tại thời điểm Qua đó đã chứng tỏ rằng vẫn còn một khối lượng lớn CTYT phát sinh chưa được thu gom và xử lý đúng cách Thực trạng như sau:
- Thiêu đốt chất thải rắn y tế:
+ Thiêu đốt CTYT bằng lò đốt rác hiện đại: Tại Hà Nội và Thành phố
Hồ Chí Minh đã xử lý CTYT tập trung với công nghệ nhập của nước ngoài Một số bệnh viện đã lắp đặt lò đốt chất thải y tế Hoval MZ2 của Thuỵ Sĩ đảm bảo an toàn về môi trường Theo báo cáo của Bộ Y tế (2009), cả nước đã có gần 200 lò đốt CTYT (chiếm 73,3%) Trong số các bệnh viện có lò đốt, ở tuyến trung ương có 5/5 hoạt động thường xuyên và có bảo dưỡng định kỳ theo đúng quy định; tuyến tính là 79/106 lò Nhưng chưa có một nghiên cứu thống kê cụ thể nào về các loại lò đốt hiện đang hoạt động tại các bệnh viện ở Việt Nam và hiệu quả xử lý của các lò đốt thiết kế và chế tạo trong nước và cũng chưa có số liệu về số lò đốt đạt tiêu chuẩn khí thải Thiết kế cơ bản của các lò đốt hiện có đều thiếu hệ thống xử lý khí thải, gây ô nhiễm môi trường, công suất lò đốt sử dụng chưa hợp lý [3]
+ Thiêu đốt CTYT bằng lò thủ công hoặc đốt ngoài trời: Hiện nay, phần lớn các bệnh viện trong cả nước, nhất là bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến huyện thiêu đốt CTYT bằng các lò đốt thủ công không có hệ thống xử lý khí thải hoặc đốt ngoài trời Nghiên cứu 6 bệnh viện tuyến tỉnh năm 2003 cho thấy: chỉ có 2/6 bệnh viện xử lý rác bằng lò đốt chuyên dụng, còn 4/6 bệnh
Trang 23thải nhiễm khuẩn; 44,3% bệnh viện chôn rác thải vật sắc nhọn; 44,2% bệnh viện chôn rác thải từ phòng xét nghiệm, 50% bệnh viện chôn lấp rác thải
là hoá chất và dược phẩm) Tình trạng thiếu đất để chốn lấp CTYT đang trở nên phổ biến, nhiều bệnh viện phải chôn đi chôn lại nhiều lần trong khu đất bệnh viện Theo báo cáo của Bộ Y tế (2009), đến năm 2006, cả nước vẫn còn 26,7% bệnh viện đang thực hiện chôn lấp CTYT hoặc đốt thủ công ngoài trời, chủ yếu tập trung ở các bệnh viện tuyến huyện và một số bệnh viện tuyến tỉnh [3]
Về xử lý nước thải bệnh viện:
Một số bệnh viện như Bệnh viện đa khoa và Bệnh viện Lao Tuyên Quang; Bệnh viện C và Bệnh viện Lao và bệnh phổi Thái Nguyên; Bệnh viện
đa khoa tỉnh Sơn La, Trung tâm Y tế huyện Lương Tài - Bắc Ninh đang áp dụng công nghệ xử lý nước thải bệnh viện theo phương pháp lọc sinh học ngập nước cải tiến hoặc phương pháp lọc sinh học nhỏ giọt
Về xử lý khí thải bệnh viện
Chỉ có một số bệnh viện lớn có hệ thống xử lý khí thải hoặc có hotte hút hơi khí độc tại các khoa/ phòng Xét nghiệm, X quang, còn đa phần các bệnh viện chưa có hệ thống xử lý khí thải
Trang 2416
2.3 SƠ LƯỢC VỀ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
2.3.1 Một số khái niệm về chất thải rắn y tế
Theo QCVN02:2008/BTNMT Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về khí thải
lò đốt chất thải rắn y tế ta có:
Chất thải rắn y tế là vật chất ở thể rắn thải ra từ các cơ sở y tế, bao
gồm chất thải rắn y tế thông thường và chất thải rắn y tế nguy hại
Theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT về việc ban hành quy chế quản
lý chất thải y tế, quy định [2]:
Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ
sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường
Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức
khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy an toàn
Quản lý chất thải y tế là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban
đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải y tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện
Xử lý ban đầu là quá trình khử khuẩn hoặc tiệt khuẩn các chất thải có
nguy cơ lây nhiễm cao tại nơi chất thải phát sinh trước khi vận chuyển tới nơi lưu giữ hoặc tiêu hủy
Xử lý và tiêu hủy chất thải là quá trình sử dụng các công nghệ nhằm
làm mất khả năng gây nguy hại của chất thải đối với sức khỏe con người và môi trường
2.3.2 Nguồn phát sinh chất thải y tế từ hoạt động của bệnh viện
Nguồn phát sinh CTYT chủ yếu là: bệnh viện, các cơ sở y tế khác như: trung tâm vận chuyển cấp cứu, phòng khám sản phụ khoa, nhà hộ sinh, phòng khám ngoại trú, trung tâm lọc máu… các trung tâm xét nghiệm và nghiên cứu
Trang 25Chất thải sinh hoạt Các chất thải ra từ nhà bếp, các khu nhà hành
chính, các loại bao gói…
Chất thải chứa các vi
trùng gây bệnh
Các phế thải từ phẫu thuật, các cơ quan nội tạng của người sau khi mổ xẻ và của các động vật sau quá trình xét nghiệm, các gạc bông lẫn máu mủ của bệnh nhân…
2.3.3 Phân loại chất thải rắn y tế
Chất thải trong các cơ sở y tế tại Việt Nam: được phân thành 5 loại theo điều 5 và 6 quy chế Quản lý chất thải y tế số 43/2007/QĐ/BYT
• Chất thải lây nhiễm:
- Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của
Trang 26- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong các phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm
- Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người; rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm
•Chất thải hóa học nguy hại:
Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng Chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế (Phụ lục 1 ban hành kèm theo Quy chế quản lý chất thải y tế số 43/2007/QĐ/BYT)
Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hóa trị liệu (Phụ lục 2 ban hành kèm theo Quy chế quản lý chất thải y tế số 43/2007/QĐ/BYT)
Chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị)
•Chất thải phóng xạ:
Chất thải phóng xạ: Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát sinh từ các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất
Danh mục thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu dùng trong chẩn đoán
và điều trị ban hành kèm theo Quyết định số 33/2006/QĐ-BYT ngày 24 tháng
10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế
Trang 2719
•Bình chứa áp suất:
Bao gồm bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí dung Các bình này dễ gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt
•Chất thải thông thường:
Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:
- Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly)
- Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thủy tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương kín Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại
- Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim
- Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh
Trang 2820
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.3.1 Khái quát về bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn
Khái quát vài nét về bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn như:
- Lịch sử hình thành
- Vị trí, chức năng và nhiệm vụ chính của bệnh viện
- Cơ sở hạ tầng
- Quy mô giường bệnh
- Cơ cấu tổ chức và tình hình nhân sự
3.3.2 Hiện trạng chất thải rắn tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn
Hiện trạng chất thải rắn tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn cập đến các nội dung sau:
- Nguồn phát sinh CTYT từ hoạt động của bệnh viện
Trang 2921
- Khối lượng phát sinh:
+ Tổng lượng CTRYT của bệnh viện qua các năm
- Thành phần CTRYT của bệnh viện
- Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế phát sinh tại Bệnh viện đến môi trường xung quanh và sức khỏe con người
3.3.3 Tình hình quản lý chất thải rắn của bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn
- Đánh giá công tác quản lý và xử lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện
- Tình hình phân loại, hoạt động thu gom CTRYT tại bệnh viện
- Hoạt động vận chuyển CTRYT tại bệnh viện
- Lưu giữ CTRYT tại bệnh viện
- Xử lý CTRYT
3.3.4Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý,
xử lý rác thải bệnh viện
3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài này, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau :
Nghiên cứu tài liệu và số liệu thứ cấp
Tham khảo các tài liệu liên quan như :
- Quy chế quản lý chất thải y tế số 2575/BYT của Bộ y tế ban hành ngày 12/05/2003 v/v tăng cường quản lý CTRYT
- Bộ Y tế (2008), tang cường triển khai thực hiện quản lý và xử lý chất thải y tế Công văn số 7164/BYT-KCB ngày 20/10/2008, Bộ Y tế, Hà Nội
- Bộ Y tế (2009), “Kế hoạch bảo vệ môi trường ngành y tế giai đoạn 2009
– 2015” Quyết định số 1783/QĐ-BYT ngày 28/5/2009, Bộ Y tế, Hà Nội
- Bộ Y tế (2009), Vệ sinh môi trường Dịch tễ (tập 1), Nhà xuất bản Y học, Hà Nội
Trang 3022
- Bộ Y tế Quy chế quản lý chất thải y tế, Bộ y tế, Ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT, Hà Nội, 2007
- Bộ Y tế - Tổ chức Y tế Thế giới, tháng 3 năm 2005, Hội nghị đánh
giá thực hiện quy chế quản lý chất thải y tế, chống nhiễm khuẩn bệnh viện
- Bộ Y tế, năm 1998, Quy chế bệnh viện, Nhà xuất bản Y học Hà Nội
- Các báo cáo về xử lý môi trường và CTRYT của bệnh viện và Sở Y tế Lạng Sơn
- Số liệu thống kê về môi trường và xử lý chất thải hàng năm của Bệnh viện
Thu thập thông tin sơ cấp
Phương pháp phỏng vấn trực tiếp phỏng vấn y bác sỹ, cán bộ nhân viên, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân trong bệnh viện, các hộ gia đình sống xung quanh bệnh viện để xác định ảnh hưởng của CTRYT phát sinh tại bệnh viện đến môi trường xung quanh và sức khỏe con người
Phương pháp quan sát thực tế
Quan sát, thu thập các hình ảnh, số liệu ở bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn :
- Quan sát, xem xét công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải và chất thải rắn tại bệnh viện
- Chụp lại hình ảnh trong các quá trình thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải và chất thải rắn tại bệnh viện
Phương pháp chuyên gia
Hình thức thực hiện phương pháp này thông qua các buổi gặp gỡ, trao đổi với các cán bộ chuyên môn tại bệnh viện
Phương pháp thống kê
Phương pháp thống kê nhằm thu thập và xử lý số liệu một cách tổng quan về tình hình quản lý CTRYT tại bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn Tp Lạng Sơn So sánh, xác định độ tin cậy của số liệu, xử lý và tổng hợp số liệu
Trang 3224
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 VÀI NÉT VỀ BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH LẠNG SƠN VÀ CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI BỆNH VIỆN
4.1.1 Giới thiệu chung về bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn
4.1.1.1 Thông tin chung
Tên đơn vị: Bệnh viện đa khoa trung tâm tỉnh Lạng Sơn
Địa chỉ: Đường Nhị Thanh – Phường Tam Thanh – Thành phố Lạng Sơn – Tỉnh Lạng Sơn
Diện tích mặt bằng: 30.000m2 chia làm 2 khu A và B
Giới hạn khu đất như sau:
- Phía Đông giáp khu dân cư
- Phía Tây giáp khu đồi nghĩa trang thành phố Lạng Sơn
- Phía Nam giáp khu dân cư
- Phía bắc giáp khu dân cư
Loại hình bệnh viện: nhà nước
Tình hình khám chữa bệnh: Hàng ngày lưu lượng người vào trong bệnh viện trên 3.000 người, trong đó:
- Bệnh nhân nội trú: trung bình 500 người
1971 đến năm năm 1973 xây dựng, năm 1980 bệnh viện đi vào hoạt động từ
đó đến nay bệnh viện đã cải tạo, tu bổ nâng cấp với tổng số 03 lần, xây thêm
Trang 3325
02 khu nhà, một khu nhà 3 tầng và một khu nhà 6 tầng với tổng diện tích cả 2 khu nhà A và B là 30.000m2, là bệnh viện hạng II với quy mô 450 giường bệnh Có 29 khoa, phòng 6 phòng chức năng, 15 khoa lâm sàng, 8 khoa cận lâm sàng [9]
4.1.1.2 Tóm tắt quá trình hoạt động của bệnh viện cấp cứu – khám – chữa bệnh [10]:
- Tiếp nhận tất cả các trường hợp người bệnh từ ngoài vào hoặc từ các
cơ sở y tế chuyển đến cấp cứu, khám bệnh chữa bệnh nội trú hay ngoại trú
- Tổ chức khám sức khỏe và chứng nhận sức khỏe theo quy định của nhà nước
- Có trách nhiệm giải quyết toàn bộ bệnh thông thường về nội khoa
và các trường hợp cấp cứu về ngoại khoa
- Tổ chức giám định sức khỏe, khám giám định pháp y khi hội đồng giám định y khoa tỉnh hoặc cơ quan bảo vệ pháp luật yêu cầu
- Tổ chức chuyển người bệnh lên tuyến trên khi vượt quá khả năng của bệnh viện
4.1.2 Nguồn phát sinh CTRYT tại bệnh viện
Nguồn phát sinh và thành phần chất thải tại bệnh viện rất đa dạng Nhưng nhìn chung, toàn bộ lượng chất thải y tế tại bệnh viện được phát sinh
từ các hoạt động khám và chữa bệnh, sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân, người thân thăm bệnh và tất cả các nhân viên, cán bộ y tế Bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn chưa có khoa điều trị ung bướu nên về phần chất thải phóng xạ không có Vì vậy, rác thải bệnh viện thường phát sinh từ những hoạt động chủ yếu sau [10]:
Trang 3426
• CTRYT phát sinh từ các khâu khám và chữa bệnh như bông băng, túi nhựa, kim tiêm, dao mổ, phim chụp X-quang, dược phẩm, bệnh phẩm, găng tay cao su, chai lọ…
• Chất thải rắn sinh hoạt từ quá trình sinh hoạt hằng ngày của nhân viên y tế, bệnh nhân, người thăm nuôi như: giấy vụn, vỏ đồ hộp, thức ăn thừa, rau, vỏ trái cây, carton, thủy tinh, gỗ, tro…
Nhìn chung, việc phân loại và xác định nguồn thải của bệnh viện tóm tắt như sau:
Bảng 4.1: Phân loại và xác định nguồn phát sinh chất thải
Loại chất thải rắn Nguồn phát sinh chất thải
Chất thải sinh hoạt
Từ nhà bếp, văn phòng làm việc của nhân viên y tế, căng tin, ở các phòng bệnh…
Chất thải lâm
sàng
Chất thải không sắc nhọn
- Từ quá trình khám chữa bệnh: bông bang hay bất kỳ dụng cụ nào có thấm máu, chất bài tiết của bệnh nhân…
quang…
Trang 3527
4.1.3 Thành phần chất thải rắn y tế tại bệnh viện
Thành phần và lượng rác thải y tế tại bệnh viện phát sinh phụ thuộc chủ yếu vào hoạt động chuyên môn và quản lý, số lượng giường bệnh và số bệnh nhân nằm điều trị Qua điều tra tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn cho thấy CTR bao gồm các loại bệnh phẩm gồm các tế bào, các mô bị cắt bỏ trong phẫu thuật, tiểu thuật, các găng tay, bông băng có dính máu mủ, Sau đó là các chất thải do dụng cụ phục vụ như kim tiêm, ống thuốc, dao mổ, lọ xét nghiệm, túi oxy Hiện tại bệnh viện chia CTRYT thành 5 loại: chất thải lây nhiễm, chất thải hóa học nguy hại, bình áp suất, chất thải thông thường và chất thải tái chế Tuy nhiên, bình áp suất chiếm tỷ lệ rất nhỏ và bệnh viện chỉ
sử dụng các bình đựng oxy, CO2, gas, agon, bình khí dung và được thu gom riêng sau đó trả lại nhà sản xuất Vì vậy bình áp suất không phải là đối tượng quan tâm nhiều trong hoạt động quản lý chất thải của bệnh viện CTR phát sinh tại Bệnh viện không có chất thải phóng xạ Điều này được lý giải là do hiện bệnh viện chưa áp dụng biện pháp xạ trị trong điều trị ung thư và các bệnh khác [10]
4.1.4 Ảnh hưởng của chất thải y tế đến môi trường xung quanh và sức khỏe con người
4.1.4.1 Ảnh hưởng đến môi trường xung quanh
Do công tác quản lý chất thải rắn tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn khá tốt nên không gây ảnh hưởng nhiều đến môi trường xung quanh, tác động chủ yếu ở môi trường không khí Khí thải bệnh viện phát sinh trong quá trình vận hành lò đốt tiêu hủy chất thải rắn y tế nguy hại Theo lý thuyết, rác có độ
ẩm quá 40% rất khó đốt, nếu quá trình đốt không đủ nhiệt độ, khí thải ra không phải là sự đốt cháy hoàn toàn thì sẽ trở nên độc hại hơn là không đốt Thực tế bệnh viện sử dụng công nghệ lò đốt đạt tiêu chuẩn Chất thải được đốt ở buồng sơ cấp, sau đó, toàn bộ lượng khí ở buồng ớ cấp được chuyển đến
Trang 3628
buồng thứ cấp, khí ở đây được đốt đi đốt lại nhiều lần trước khi thải ra môi trường; hơn nữa lò đốt được bố trí ở phía Tây bệnh viện, cách xa khu vực điều trị và trồng nhiều cây xanh trong bệnh viện Nguồn nước sinh hoạt trong bệnh viện cũng như khu vực xung quanh bệnh viện cũng được đảm bảo
4.1.4.2 Ảnh hưởng của chất thải rắn đến sức khỏe
Thông qua việc quan sát thực tế và tổng hợp các nghiên cứu đã cho thấy tất cả mọi cá nhân tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại dù trong hay ngoài
bệnh viện đều có nguy cơ tiềm ẩn gặp rủi ro từ chất thải y tế
Đối với cán bộ nhân viên, bệnh nhân trong bệnh viện cũng như các hộ dân sống xung quanh bệnh viện, kết quả khảo sát cho thấy, hiện nay chưa có những biểu hiện ảnh hưởng của rác thải tới sức khỏe của họ Một trong những
lý do có được kết quả đó là do công tác tuyên truyền và hướng dẫn cán bộ y
tế, bệnh nhân của bệnh viện trong công tác quản lý chất thải rắn đã được thực hiện tương đối tốt
4.1.5 Công tác bảo vệ môi trường tại bệnh viện
4.1.5.1 Kiểm soát nhiễm khuẩn tại bệnh viện
Hoạt động kiểm soát và chống nhiễm khuẩn tại bệnh viện hiện nay đều
do Tổ chống nhiễm khuẩn nằm trong phòng chức năng Tài chính hành chính – quản trị của bệnh viện chịu trách nhiệm Cơ cấu tổ chức nhằm quản lý tất cả các hoạt động trong bệnh viện bao gồm kiểm soát nhiễm khuẩn, ngăn ngừa ô nhiễm, quy trình thực hành tiệt khuẩn, khử khuẩn, quy trình vệ sinh, công tác quản lý chất thải Nhiệm vụ của Tổ chống nhiễm khuẩn tại bệnh viện như sau:
• Tổ chống nhiễm khuẩn có nhiệm vụ giám sát, điều tra nhiễm khuẩn bệnh viện, thông qua việc kiểm tra các phòng khoa, kiểm tra hồ sơ bệnh nhân, xem lại các kết quả xét nghiệm và tình hình bệnh nhân khi mới nhập viện
Trang 3729
• Sẵn sàng trả lời những thắc mắc về chống nhiễm khuẩn cho các khoa phòng và phát hiện những điểm yếu hoặc không an toàn trong các biện pháp phòng chống nhiễm khuẩn mà các khoa phòng đang áp dụng thực hiện
• Xây dựng, kiểm tra và áp dụng những chính sách, quy trình chống nhiễm khuẩn nhằm duy trì sự tuân thủ theo quy chế chống nhiễm khuẩn tại các khoa phòng
• Tổng kết và thông báo những biện pháp phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn cho tất cả các nhân viên y tế có liên quan
• Theo dõi phơi nhiễm do bệnh nghề nghiệp cho nhân viên y tế Triển khai những điều tra đặc biệt để phát hiện dịch bệnh trong bệnh viện, phối hợp báo cáo các bệnh án lây nhiễm cao đến Sở Y tế hoặc Bộ Y tế
Vì vậy trước tình trạng có thể làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn, bệnh viện đã có biện pháp chống nhiễm khuẩn chuyên sâu, tổ chức công tác kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện hoàn chỉnh, triển khai các biện pháp chống nhiễm khuẩn nhằm giảm mức tối đa nhiễm khuẩn bệnh viện cũng như cho cả nhân viên y tế với mục đích chung nhất là nâng cao chất lượng khám và chữa bệnh Chương trình thực hiện chất lượng tốt chăm sóc vào trong những thực hành lâm sàng Cho nên nhiễm khuẩn bệnh viện thực hiện tốt sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cho bệnh viện, hỗ trợ cho công tác quản lý toàn bệnh viện tốt hơn, thân thiện với môi trường
4.1.5.2 Công tác vệ sinh tại bệnh viện
Bệnh viện là nơi hội tụ nhiều mầm bệnh nguy hiểm, có nguy cơ lây nhiễm cao Muốn hạn chế các nguy cơ cho con người và môi trường, đảm bảo sức khỏe và không gian sinh hoạt thông thoáng, bệnh viện cần phải làm tốt tất
cả các mặt công tác vệ sinh bệnh viện, giữ cho bệnh viện luôn sạch đẹp Làm tốt công tác vệ sinh bệnh viện sẽ đem lại lợi ích cho nhiều đối tượng cụ thể như [16]:
Trang 3830
• Bệnh nhân đến khám và chữa bệnh hay người thăm nuôi tại bệnh viện
• Nhân viên y tế phục vụ người bệnh trong bệnh viện
• Người dân sống xung quanh chịu ảnh hưởng của chất thải bệnh viện
• Lợi ích của vệ sinh môi trường bệnh viện sẽ tạo nên những bước thuận lợi trong hoạt động, thể hiện các mặt sau:
- Tạo ra môi trường thuận lợi cho việc điều trị bệnh tật và phục hồi sức khỏe của người bệnh, tạo một cảm giác an toàn, thoải mái khi đến khám
và chữa bệnh
- Hạn chế các tai biến trong điều trị và nguy cơ lây nhiễm chéo
- Đảm bảo an toàn lao động nghề nghiệp cho tất cả nhân viên làm việc trong bệnh viện tránh bị mắc các bệnh nghề nghiệp do phải tiếp xúc với môi trường bị ô nhiễm
- Tạo điều kiện để ứng dụng các kỹ thuật, công nghệ y học mới vŕo phục vụ công tác khám vŕ chữa bệnh tại bệnh viện
- Nêu tấm gương tốt về vệ sinh phòng bệnh cho bệnh nhân và người nhà của họ, góp phần giáo dục vệ sinh và nhận thức cho mọi người
Vì vậy, công tác vệ sinh tại bệnh viện là vấn đề ưu tiên, giữ cho bệnh viện luôn sạch, cải thiện môi trường bệnh viện trong lành, xanh - sạch - đẹp Dựa theo quy chế quản lý bệnh viện của Bộ Y tế, công tác bảo vệ môi trường,
vệ sinh tại bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn luôn được Ban lãnh đạo quan tâm
và thực hiện:
• Ban lãnh đạo bệnh viện luôn đóng vải trò chỉ đạo, tiên phong hướng dẫn các thành viên bao gồm các trưởng khoa của mỗi khoa trong bệnh viện, đại diên công đoàn tham gia, bác sĩ, nữ hộ sinh…thực hiện tốt công tác giữ vệ sinh chung trong sinh hoạt
Trang 3931
• Xây dựng kế hoạch hành động, hướng dẫn thực hiện, sơ kết tổng kết công tác bảo vệ môi trường, kiểm tra và báo cáo chất lượng môi trường tại bệnh viện
• Trật tự vệ sinh tại các phòng khoa và buồng bệnh theo đúng quy chế bệnh viện, có nội quy hướng dẫn tất cả mọi người trong bệnh viện thực hiện
4.1.5.3 Công tác quản lý CTRYT tại bệnh viện
Quản lý chất thải bệnh viện là một trong những khâu quan trọng trong việc bảo vệ môi trường bệnh viện vì lượng chất thải phát sinh hàng ngày khá lớn và chứa nhiều thành phần độc hại Quá trình quản lý tốt là thực hiện song song hệ thống quản lý hành chính và kỹ thuật trong quản lý chất thải y tế tại bệnh viện Vì vậy quản lý CTRYT nguy hại là các hoạt động kiểm soát chất thải nguy hại trong suốt quá trình từ khi chất thải phát sinh đến xử lý ban đầu, thu gom, vận chuyển và tiêu hủy cuối cùng