1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bình luận khoa học về cạnh tranh không lành mạnh

31 1,4K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bình luận về Cạnh tranh không lành mạnh
Người hướng dẫn Ths, GV Luật Nguyễn Văn Huyên
Trường học Trường Cao Đẳng Kinh Tế Đối Ngoại
Chuyên ngành Luật Kinh Doanh
Thể loại bài luận
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 234,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ thời xa xưa, con người đã biết đến việc làm kinh tế nhưng chỉ dưới hình thức sơ khai như những hoạt động săn bắt, hái lượm rồi chiếm đoạt những sản phẩm tự nhiên mà người khác tìm kiếm được. Tiếp đến là xuất hiện nền kinh tế sản xuất tự cung tự cấp, tiến thêm một bước nữa là thực hiện nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp. Nhưng nền kinh tế này lại được thay thế bằng nền kinh tế thị trường sau ĐH Đảng lần thứ VI (12/1986). Có thể nói nền kinh tế thị trường là nền kinh tế tiến bộ và có nhiều ưu điểm nhất bởi sự đa dạng hóa sở hữu, đa thành phần kinh tế, đa chủ thể kinh doanh và đa lợi ích kinh tế. Cũng vì vậy mà cạnh tranh đã trở thành quy luật tất yếu và là nguồn động lực thúc đẩy kinh tế phát triển ngày càng mạnh mẽ. Nơi nào triệt tiêu cạnh tranh nơi đó triệt tiêu sự phát triển. Vì vậy, để có nhận thức đúng đắn về hành vi cạnh tranh lành mạnh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh em xin trình bày đề tài: “Bình luận về cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh trong kinh doanh”. Do thời gian ngắn và tầm hiểu biết còn hạn chế nên những tìm hiểu, bài nghiên cứu này chắc chắn còn nhiều thiếu sót, chưa phân tích sâu sắc vấn đề, kính mong thầy thông cảm và góp ý để bài viết được hoàn thiện hơn. Chân thành cảm ơn.

Trang 1

BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ ĐỐI NGOẠI



NHỮ THỊ DUNG

ĐỀ TÀI:

BÌNH LUẬN VỀ CẠNH TRANH LÀNH MẠNH

& CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH

TRONG KINH DOANH

GVHD: Ths, GV Luật NGUYỄN VĂN HUYÊN

Thành phố Hồ Chí Minh – 2013

Trang 2

Mục lục

A Đặt vấn đề 5

B Giải quyết vấn đề 6

1 Cơ sở pháp lý 6

1.1 Cạnh tranh 6

1.1 Cạnh tranh lành mạnh 7

1.1.1 Khái niệm 7

1.1.2 Biểu hiện 7

1.2 Cạnh tranh không lành mạnh 7

1.2.1 Khái niệm 7

1.2.2 Đặc điểm 7

1.2.3 Biểu hiện 8

2 Phân biệt hành vi cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh 18 2.1 Đặt tên hàng hóa của mình tương tự tên gọi hàng hóa cùng loại của đối thủ cạnh tranh .18

2.2 Bán hàng theo phương thức mua 1 tặng 1 (được hiểu là tặng loại hàng hóa cùng loại, cùng kích cỡ) 18

2.3 Trả lương gấp ba lần để tuyển dụng bằng được nhân viên tinh túy và sắc sảo của đối thủ cạnh tranh .19

2.4 Mua hàng hóa phế phẩm của đối thủ cạnh tranh để bán ào ạt ra thương trường (trong một thời điểm nhạy cảm) .20

2.5 Nói với khách hàng của mình về chất gây ung thư có trong hàng hóa của đối thủ cạnh tranh 21

2.6 Liên kết với đối thủ cạnh tranh khác để cạnh tranh quyết liệt với đối thủ còn lại trên thương trường 22

2.7 Bán công nghệ lạc hậu cho đối thủ cạnh tranh 22

3 Giải pháp 23

C KẾT THÚC VẤN ĐỀ 30

Trang 3

L ời nhận xét

Trang 4

L ời mở đầu

Từ thời xa xưa, con người đã biết đến việc làm kinh tế nhưng chỉ dưới hìnhthức sơ khai như những hoạt động săn bắt, hái lượm rồi chiếm đoạt những sản phẩm tựnhiên mà người khác tìm kiếm được Tiếp đến là xuất hiện nền kinh tế sản xuất tựcung tự cấp, tiến thêm một bước nữa là thực hiện nền kinh tế tập trung quan liêu baocấp Nhưng nền kinh tế này lại được thay thế bằng nền kinh tế thị trường sau ĐH Đảnglần thứ VI (12/1986)

Có thể nói nền kinh tế thị trường là nền kinh tế tiến bộ và có nhiều ưu điểmnhất bởi sự đa dạng hóa sở hữu, đa thành phần kinh tế, đa chủ thể kinh doanh và đa lợiích kinh tế Cũng vì v ậy mà cạnh tranh đã trở thành quy luật tất yếu và là nguồn độnglực thúc đẩy kinh tế phát triển ngày càng mạnh mẽ Nơi nào triệt tiêu cạnh tranh nơi đótriệt tiêu sự phát triển

Vì vậy, để có nhận thức đúng đắn về hành vi cạnh tranh lành mạnh và hành vi

cạnh tranh không lành mạnh em xin trình bày đề tài: “Bình luận về cạnh tranh lành

mạnh và cạnh tranh không lành mạnh trong kinh doanh”.

Do thời gian ngắn và tầm hiểu biết còn hạn chế nên những tìm hiểu, bài nghiêncứu này chắc chắn còn nhiều thiếu sót, chưa phân tích sâu sắc vấn đề, kính mong thầythông cảm và góp ý để bài viết được hoàn thiện hơn Chân thành cảm ơn

Trang 5

Có nhiều biện pháp cạnh tranh: cạnh tranh giá cả (giảm giá) hoặc cạnh tranh phigiá cả (khuyến mại, quảng cáo) hay cạnh tranh của một doanh nghiệp, một ngành, mộtquốc gia là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện về thị trường tự do và công bằng cóthể sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được đòi hỏi của thị trường,

đồng thời tạo ra việc làm và nâng cao được thu nhập thực tế

Cạnh tranh lành mạnh sẽ là động lực cho con người phát triển, từ đó tạo độnglực cho nền kinh tế phát triển Cạnh tranh đem đến cho người tiêu dùng nhiều lợi ích

như hàng hóa tốt hơn, giá mua rẻ hơn

Tuy nhiên, không phải tất cả các doanh nghiệp đều cạnh tranh với nhau mộtcách lành mạnh, trong xã hội ngày nay có rất nhiều doanh nghiệp vì sự sống còn, vìmuốn khẳng định vị trí của mình trên thương trường một cách nhanh chóng mà đã cónhiều “thủ đoạn” cạnh tranh không trong sáng

Trang 6

B Giải quyết vấn đề

1 Cơ sở pháp lý

Để hiểu rõ về các hành vi cạnh tranh lành mạnh và các hành vi cạnh tranh

không lành mạnh, trước hết ta cần làm rõ từng khái niệm và biểu hiện thế nào là cạnhtranh lành mạnh, cạnh tranh không lành mạnh và những hành vi nào được coi là hành

vi cạnh tranh không lành mạnh theo Luật Cạnh Tranh năm 2004

1.1 Cạnh tranh

Cạnh tranh là một khái niệm rất rộng, xuất hiện ở mọi lĩnh vực đời sống xã hội.Trong kinh tế, cạnh tranh liên quan đến mọi lĩnh vực của thị trường và mọi chủ thểkinh doanh

Theo từ điển kinh doanh của Anh năm 1992 thì: “Cạnh tranh là sự ganh đua, kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khác hàng về phía mình”.

Theo từ điển Tiếng Việt “Bách khoa tri thức phổ thông” thì: “Cạnh tranh là sự

ganh đua giữa các nhà sản xuất, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền

kinh tế nhằm tranh giành các điều kiện về tư liệu sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất”.

Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong nền sản xuất hàng hóa nói riêng và tronglĩnh vực kinh tế nói chung, là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần vào sựphát triển kinh tế Cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích, đặc biệt là đối với người tiêudung Vì vậy, người sản xuất tìm mọi cách để nâng cao năng suất,chất lượng sảnphẩm, dịch vụ, áp dụng tiến bộ hoa học kĩ thuật tiên tiến nhằm giảm giá thành, tăngkhả năng cạnh tranh, đáp ứng thị hiếu của người tiêu dung Chính vì vậy, cạnh tranh

làm cho người sản xuất năng động nhạy bén hơn, nắm bắt tốt hơn nhu cầu của thịtrường

Xét theo quy mô, cạnh tranh có thể chia thành các loại :

1 Cạnh tranh giữa những người bán với nhau

2 Cạnh tranh giữa những người mua với nhau

3 Cạnh tranh trong nội bộ ngành

Trang 7

Nhưng về bản chất, cạnh tranh trong kinh doanh tồn tại hai hành vi đó là cạnh

tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh

- Ngay thẳng, trung thực với đối thủ

- Không được xem đối thủ cạnh tranh là kẻ thù

- Cạnh tranh một cách trung thực (tuyệt đối không là kẻ cản trở, là vật cản đốivới sự thành công của người khác)

1.2 Cạnh tranh không lành mạnh

1.2.1 Khái niệm

Khoản 2 Điều 10 bis Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp địnhnghĩa cạnh tranh không lành mạnh như sau:

“Bất kì hành vi cạnh tranh nào đi ngược lại các thông lệ trung thực, thiện chí

trong công nghiệp hoặc trong thương mại đều là hành vi cạnh tranh không lành mạnh”.

Luật cạnh tranh Việt Nam năm 2004 đưa ra định nghĩa về cạnh tranh không

lành mạnh tại Khoản 4 Điều 3, Chương 1 như sau: “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc

Trang 8

- Hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại

đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc của

người tiêu dùng

1.2.3 Biểu hiện

Trước khi có Luật Cạnh Tranh, Luật Thương Mại năm 1997 cũng đã nghiêm cấm

các hành vi gây tổn hại đến lợi ích quốc gia và các hành được quy định trong Điều 8

sau đây:

1 Đầu cơ để lung đoạn thị trường

2 Bán phá giá để cạnh tranh

3 Dèm pha thương nhân khác

4 Ngăn cản, lôi kéo, mua chuộc, đe dọa nhân viên hoặc khách hàng của

thương nhân khác

5 Xâm phạm quyền về nhãn hiệu hàng hóa, các quyền khác về sở hữucông nghiệp của thương nhân khác

6 Các hành vi cạnh tranh bất hợp pháp khác

Kế thừa Luật Thương Mại năm 1997, Luật Cạnh Tranh ra đời năm 2004 đã quy

định những hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong Điều 39, Chương 3 bao gồm:

1 Chỉ dẫn gây nhầm lẫn;

2 Xâm phạm bí mật kinh doanh;

3 Ép buộc trong kinh doanh;

4 Gièm pha doanh nghiệp khác;

5 Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác;

6 Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh;

7 Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh;

8 Phân biệt đối xử của hiệp hội;

9 Bán hàng đa cấp bất chính;

10 Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác theo tiêu chí xác định tạiKhoản 4 Điều 3 của Luật này do Chính phủ quy định

Trang 9

Chỉ dẫn gây nhầm lẫn

Theo Điều 40 Luật Cạnh Tranh (Luật CT) 2004: “Cấm doanh nghiệp sử dụng

chỉ dẫn chứa đựng thông tin gây nhầm lẫn về tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý và các yếu tố khác theo quy định của Chính phủ để làm sai lệch nhận thức của khách hàng về hàng hoá, dịch vụ nhằm mục

đích cạnh tranh, cấm kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn

này” Quy định này có một số đặc điểm sau:

Thứ nhất: Chủ thể thực hiện hành vi phải là "doanh nghiệp" Tuy nhiên, không

đồng nghĩa hoàn toàn với khái niệm "doanh nghiệp" được quy định trong Luật Doanh

nghiệp năm 2005 (Luật DN 2005), doanh nghiệp, hiểu theo nghĩa của Luật CT 2004,rộng hơn so với Luật DN 2005 Theo đó, doanh nghiệp trong Luật CT 2004 không chỉbao gồm các tổ chức kinh doanh như quy định của Luật DN 2005, mà còn bao gồm cả

cá nhân kinh doanh, trong đó gồm cá nhân có đăng ký kinh doanh và cá nhân không cóđăng ký kinh doanh

Thứ hai: Phương thức thực hiện hành vi là xâm hại đến tên thương mại, khẩu

hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý… có trên sản phẩmhàng hoá, dịch vụ của đối thủ cạnh tranh

Với việc thiết kế dưới dạng các quy phạm cấm đoán, Luật CT 2004 không đưa

ra các dấu hiệu để nhận dạng các đối tượng bị xâm phạm này, do đó phải sử dụng phốihợp các quy phạm định nghĩa trong các văn bản pháp luật hiện hành khác có liên quan

để từ đó có cách hiểu thống nhất trong quá trình áp dụng Hiện nay, Luật Sở hữu trí tuệ

(Luật SHTT) 2005 và Quy chế ghi nhãn hàng hoá lưu thông trong nước và hàng hoáxuất khẩu, nhập khẩu (được ban hành kèm theo Quyết định số 178/1999/QĐ-TTg ngày30/8/1999 của Thủ tướng Chính phủ) mới có quy định các dấu hiệu nhận dạng đối vớimột số chỉ dẫn về tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bao bì Còn các chỉ dẫn khác trongLuật CT 2004, Luật SHTT 2005 như: biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh

đều không được giải thích ở bất cứ văn bản nào trong hệ thống pháp luật hiện hành của

Việt Nam

doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác

trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh Tên thương mại thông thường đều được

Trang 10

thể hiện cụ thể, rõ ràng có thể là tập hợp các chữ cái, có thể kèm theo chữ số, phát âm

được, có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với các chủ thể kinh

doanh khác trong cùng lĩnh vực kinh doanh Tên thương mại được sử dụng vào mục

đích kinh doanh bằng cách dùng nó để xưng danh trong các hoạt động kinh doanh, thể

hiện trong các giấy tờ giao dịch, biển hiệu, hàng hoá sản phẩm, bao bì hàng hoá vàquảng cáo

Tên thương mại có thể trùng hoàn toàn hoặc trùng một phần với nhãn hiệu hàng

hoá (ví dụ IBM, BMW, VW), song cần phân biệt nó với nhãn hiệu hàng hoá (ví dụ Bia

Hà Nội, Bia Sài Gòn…) hay xuất xứ hàng hoá (lụa Hà Đông, bánh đậu xanh Hải

Dương…) Tên thương mại, biển hiệu khác với nhãn hiệu sản phẩm Thông thường,

nhãn hiệu sản phẩm là công cụ để đánh dấu từng sản phẩm riêng lẻ được gắn liền vớisản phẩm đó, chỉ cho người tiêu dùng biết người sản xuất, ngày sản xuất, tính năngcông dụng của sản phẩm

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, những nội dung sau phải có trên nhãn

hiệu sản phẩm: tên hàng, tên và địa chỉ cơ sở sản xuất, định lượng sản phẩm, thànhphần cấu tạo, chỉ tiêu chất lượng chủ yếu, hướng dẫn bảo quản, sử dụng, ngày sảnxuất, thời hạn sử dụng Tên thương mại sau khi được đăng ký theo quy định sẽ trởthành sản nghiệp thương mại hoặc sẽ được bảo hộ theo quy định của pháp luật về sởhữu trí tuệ Là một bộ phận của sản nghiệp thương mại và là đối tượng bảo hộ quyền

sở hữu công nghiệp, tuy nhiên khác với quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dángcông nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý…được xác lập trên cơ sở quyết định cấp vănbằng bảo hộ, quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được thiết lập trên cơ

sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó

Như vậy, có thể thấy hành vi sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn về tên thương mại

là những hành vi sử dụng bất kỳ chỉ dẫn thương mại nào trùng hoặc tương tự với tên

thương mại của người khác cho cùng loại sản phẩm, dịch vụ hoặc cho sản phẩm, dịch

vụ tương tự, gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh

doanh dưới tên thương mại đó

Ví dụ: Công ty sản xuất mũ bảo hiểm xe máy Amoro kiện một số công ty trong

nước với lý do công ty này sử dụng sản phẩm gây nhầm lẫn Amaro, Amora,…

Trang 11

- Chỉ dẫn địa lý: (xuất xứ hàng hoá) là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có

nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể Như vậy, chỉdẫn địa lý là thông tin về nguồn gốc địa lý của hàng hoá, theo đó, mặt hàng này có tínhchất, chất lượng đặc thù dựa trên các điều kiện địa lý độc đáo, ưu việt, bao gồm cả yếu

tố tự nhiên, con người hoặc cả hai yếu tố đó

Cần khẳng định, chỉ dẫn địa lý không phải là nhãn hiệu và tên thương mại Chỉdẫn địa lý là tên địa lý (địa danh) của một nước, hoặc một địa phương, hoặc một khuvực (ví dụ Nha Trang, Phú Quốc, Đoan Hùng, v.v ) Chỉ dẫn địa lý thường được gắnvới những mặt hàng có tính chất hoặc chất lượng đặc thù mà tính chất và chất lượng

đặc thù này do các yếu tố độc đáo về địa lý, về con người của địa phương đó tạo nên

Xuất phát từ thực tế là tại một địa phương có thể có nhiều người cùng được hưởngnhững yếu tố độc đáo về tự nhiên và con người của địa phương mình đ ể sản xuấtnhững sản phẩm có tính chất, chất lượng đặc thù, nên bất kỳ cá nhân, pháp nhân nàosản xuất kinh doanh sản phẩm đặc biệt tại địa phương có yếu tố đặc trưng đều cóquyền nộp đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ chỉ dẫn địa lý Tên gọi xuất xứ (chỉ dẫn

địa lý) là quyền sở hữu công nghiệp tập thể và không thể được chuyển nhượng Mụcđích của việc bảo vệ chỉ dẫn địa lý trước hết là để bảo vệ lợi ích của các doanh nghiệp

có quyền sử dụng hợp pháp tên gọi xuất xứ và nhằm bảo vệ lợi ích của người tiêudùng Chỉ dẫn địa lý được gắn với hàng hoá, và uy tín của chỉ dẫn địa lý đó thực chấtkhông xuất phát từ năng lực của từng doanh nghiệp mà là tài sản phi vật chất chungcủa từng địa phương Cá nhân, tổ chức kinh doanh khai thác lợi ích kinh tế từ chỉ dẫn

địa lý có trên sản phẩm của mình nên chỉ có quyền sử dụng, không có quyền cấmngười khác sử dụng

Ví dụ: Công ty TNHH Young Titan (Đài Loan) đối với hai sản phẩm rượu

Wisky Royal Reserve Old 21 Rare Premium sản xuất tại Mỹ và rượu Wisky pha chếCrowley sản xuất tại Pháp với nhãn hiệu và bao bì là "Scotch Wisky" bằng tiếng Anh

và tiếng Trung Quốc Hoặc những chỉ dẫn địa lý có danh tiếng lâu năm trên thị trườngthế giới như Made in Japan, Made in USA, Made in Italy, Made in UK, Made in Korea

…cũng thư ờng bị lợi dụng sử dụng để gắn vào các sản phẩm được sản xuất tại ViệtNam, đánh vào tâm lý sính đồ ngoại của đa số người tiêu dùng Việt Nam Các sản

phẩm sử dụng chỉ dẫn địa lý gây nhầm lẫn này thường rất đa dạng từ quần áo, nồi cơm

điện cho đến mỹ phẩm, giày dép

Trang 12

- Bao bì: là vỏ bọc bao ngoài hàng hoá được gắn trực tiếp vào hàng hoá và

được bán cùng với hàng hoá Bao bì gồm bao bì chứa đựng và bao bì ngoài Theo đó,

bao bì chứa đựng là bao bì trực tiếp chứa dựng hàng hoá, tạo ra hình, khối cho hànghoá, hoặc bọc kín theo hình, khối của hàng hoá Bao bì ngoài là bao bì dùng chứa đựngmột hoặc một số bao bì chứa đựng hàng hoá

Ví dụ: Nước khoáng Lavie hiện đang có rất nhiều "anh em đồng hao" như:

Lavile, Lavige, La vise hay sản phẩm thuốc Decolgen (của Công ty dược phẩm

Philipines) đến nay đã có 7 nhãn hiệu tương tự: Decoagen, Debacongen,Devicongen… với mẫu mã viên thuốc cũng được dập hình thoi nổi giống hệt

Bên cạnh đó, chỉ dẫn gây nhầm lẫn còn bao gồm cả hành vi giả mạo hàng hoá,dịch vụ gây nhầm lẫn cho khách hàng

Ví dụ: Hiện nay 80% số phụ tùng xe máy bày bán trên thị trường có nguồn gốc

xuất xứ của các cơ sở sản xuất trong nước, nhưng lại được gắn thương hiệu ngoại.Theo Công ty Phạm & Associates (P&A) (Công ty được Honda thuê đảm nhận việcbảo vệ kiểu dáng công nghiệp), qua điều tra hiện có 17 chi tiết máy của Honda bị làmgiả, hoặc nhái trên thị trường

Thứ ba: Mục đích của hành vi là gây nên sự nhầm lẫn của khách hàng giữa

hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh với hàng hoá, dịch vụ củadoanh nghiệp mình Như vậy, hàng hoá, dịch vụ có sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn phảicùng trong một thị trường với hàng hoá, dịch vụ của đối thủ cạnh tranh hoặc cùng trênthị trường liên quan

 Xâm phạm bí mật kinh doanh: là hành vi của doanh nghiệp sử dụng các

thủ đoạn khác nhau nhằm đạt được một cách bất hợp pháp bí mật kinh doanh củadoanh nghiệp khác Thường được thể h iện dưới các hình thức như: tiếp cận, thu thậpthông tin thuộc bí mật bất hợp pháp, vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt, sử dụng

phương thức chống lại các biện pháp bảo mật của cơ quan nhà nước Và theo Luật CTnăm 2004 quy định tại Điều 41 như sau:

Điều 41 Xâm phạm bí mật kinh doanh

Cấm doanh nghiệp thực hiện các hành vi sau đây:

Trang 13

1 Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách chống lại cácbiện pháp bảo mật của người sở hữu hợp pháp bí mật kinh doanh đó;

2 Tiết lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh mà không được phép củachủ sở hữu bí mật kinh doanh;

3 Vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt, lợi dụng lòng tin của người cónghĩa vụ bảo mật nhằm tiếp cận, thu thập và làm lộ thông tin thuộc bí mật kinh doanhcủa chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó;

4 Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của người khác khi

người này làm thủ tục theo quy định của pháp luật liên quan đến kinh doanh, làm thủ

tục lưu hành sản phẩm hoặc bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của cơ quan

nhà nước hoặc sử dụng những thông tin đó nhằm mục đích kinh doanh, xin cấp giấyphép liên quan đến kinh doanh hoặc lưu hành sản phẩm

Ví dụ: Một doanh nghiệp tư nhân có bí quyết về bào chế dược liệu, nhờ đó sản phẩm

bán chạy trên thị trường Đối thủ cạnh tranh tìm cách lôi kéo nhân viên chủ chốt của doanh nghiệp này về làm việc cho mình bằng cách hứa hẹn trả lương cao Khi tuyển dụng được người nhân viên, đối thủ cạnh tranh đã thông qua người này nắm được bí quyết và ứng dụng sản xuất sản phẩm cạnh tranh t rên thị thường, gây thiệt hại cho chủ sở hữu bí mật kinh doanh, dẫn đến chiếm lĩnh thi phần của đối thủ cạnh tranh Trong vụ việc này, mặc dù hành động tiết lộ thông tin là của cá nhân người nhân viên chuyển việc, nhưng việc làm của đối thủ cạnh tranh vẫn cấu thành một hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

 Ép buộc trong kinh doanh: là việc doanh nghiệp ép buộc, đe dọa khách

hàng, đối tác kinh doanh của doanh nghiệp đối thủ không cho họ giao dịch hoặc phải

ngừng giao dịch với doanh nghiệp đó Và theo Luật CT năm 2004 quy định tại Điều

42 như sau:

Điều 42 Ép buộc trong kinh doanh

Cấm doanh nghiệp ép buộc khách hàng, đối tác kinh doanh của doanh nghiệpkhác bằng hành vi đe dọa hoặc cưỡng ép để buộc họ không giao dịch hoặc ngừng giaodịch với doanh nghiệp đó

Trang 14

Ví dụ: Đầu năm 2010, thị trường tài chính Việt Nam xuất hiện thực trạng

“ngân hàng chèn ép các doanh nghiệp” Theo quy định hiện hành, lãi suất cho vay và huy động không vượt quá 150% lãi suất cơ bản mà Ngân hàng Nhà nước công bố Với

lãi suất cơ bản 8% hiện nay, các ngân hàng chỉ được phép cho vay không quá 12% một năm Tuy nhiên nhiều doanh nghiệp cho biết họ phải vay với lãi suất cao hơn thế 3-4%, thậm chí lênh tới 6-7%.

 Gièm pha doanh nghiệp khác: là hành vi các doanh nghiệp trực tiếp

hoặc gián tiếp đưa ra những thông tin không trung thực gây ảnh hưởng xấu đến uy tín,tình trạng tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác Và theo Luật CT

năm 2004 quy định tại Điều 43 như sau:

Điều 43 Gièm pha doanh nghiệp khác

Cấm doanh nghiệp gièm pha doanh nghiệp khác bằng hành vi trực tiếp hoặcgián tiếp đưa ra thông tin không trung thực, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, tình trạngtài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó

Ví dụ: Nhiều doanh nghiệp quảng cáo sản phẩm của mình đồng thời đưa ra lời cảnh

báo với người tiêu dùng là sản phẩm của đối thủ cạnh tranh là hàng giả, hàng nhái…

 Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác: là hành vi của

doanh nghiệp trực tiếp hoặc gián tiếp cản trở, làm gián đoạn hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp khác Và theo Luật CT năm 2004 quy định tại Điều 44 như sau:

Điều 44 Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác

Cấm doanh nghiệp gây rối hoạt động kinh doanh hợp pháp của doanh nghiệpkhác bằng hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp cản trở, làm gián đoạn hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp đó

Ví dụ: Một số doanh nghiệp vận tải hành khách tại tỉnh X chặn đầu không cho xe

khách của một đối thủ cạnh tranh xuất bến dẫn đến tình trạng hành khách không được vận chuyển, ảnh hưởng đến trật tự công cộng và tắc nghẽn giao thông Hành vi trên bị coi là gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác theo Luật Cạnh tranh.

Trang 15

 Quảng cáo nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh là hoạt động

quảng cáo của doanh nghiệp hướng đến loại bỏ đối thủ cạnh tranh một cách bất hợppháp hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng nhằm tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệpmình Và theo Luật CT năm 2004 quy định tại Điều 45 như sau:

Điều 45 Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh

Cấm doanh nghiệp thực hiện các hoạt động quảng cáo sau đây:

1 So sánh trực tiếp hàng hoá, dịch vụ của mình với hàng hoá, dịch vụ cùng loạicủa doanh nghiệp khác;

2 Bắt chước một sản phẩm quảng cáo khác để gây nhầm lẫn cho khách hàng;

3 Đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về một trong các

nội dung sau đây:

a) Giá, số lượng, chất lượng, công dụng, kiểu dáng, chủng loại, bao bì, ngày sảnxuất, thời hạn sử dụng, xuất xứ hàng hoá, người sản xuất, nơi sản xuất, người gia công,

nơi gia công;

b) Cách thức sử dụng, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành;

c) Các thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn khác

4 Các hoạt động quảng cáo khác mà pháp luật có quy định cấm

Ví dụ: Về việc quảng cáo so sánh nói xấu đối thủ : Nệm KimDan

Vài năm trước, có chuyện công ty Kim Đan - là nhà sản xuất nệm cao su tự

nhiên lớn nhất tại TP HCM đã đăng quảng cáo trên 5 tờ báo lớn với nội dung như sau: “Đối với nệm lò xo, do tính chất không ưu việt của nguyên liệu sản xuất nên chất

lượng nệm sẽ giảm dần theo thời gian Nếu độ đàn hồi của lò xo cao, lò xo dễ bị gãy,

gây nguy hiểm cho người sử dụng.Đối với nệm nhựa tổng hợp poly -urethane (nệm mút xốp nhẹ) tính dẻo ưu việt nên không có độ đàn hồi, mau bị xẹp Chính vì những lý do

đó mà Kim đan hoàn toàn không sản xuất nệm lò xo cũng như nệm nhựa poly

-urethane Tất cả các sản phẩm của Kim Đan đều được làm từ 100% cao su thiên

nhiên, có độ bền cao và không xẹp lún theo thời gian ” Ngay sau khi mẫu quảng cáo

trên phát hành, 3 công ty sản xuất nệm lò xo v à nệm mút đã khởi kiện Kim Đan ra toà với lý do quảng cáo của Kim Đan không có căn cứ, gây thiệt hại đến uy tín sản phẩm của họ.

Ngày đăng: 28/04/2014, 21:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w