1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bình luận khoa học về tài phán thương mại trong quá trình VN hội nhập KTQT

42 347 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bình luận khoa học về tài phán thương mại trong quá trình VN hội nhập KTQT
Tác giả Minh Thị Dung
Người hướng dẫn Ths, GV Luật Nguyễn Văn Huyên
Trường học Trường Cao Đẳng Kinh Tế Đối Ngoại
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bối cảnh Việt Nam gia nhập các tổ chức Thương mại quốc tế, quan hệ thương mại quốc tế ngày càng mở rộng, khả năng phát sinh tranh chấp càng lớn, không chỉ các dịch vụ pháp lý mà cả Nhà nước cũng phải bước vào những vấn đề pháp lý không quen thuộc. Việc giải quyết tốt những tranh chấp phát sinh là một trong những yếu tố thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế và hội nhập, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh an toàn, bình đẳng, tạo tâm lý tốt cho các nhà kinh doanh và đầu tư. Pháp luật Việt Nam nói chung cũng như pháp luật thương mại Việt Nam nói riêng đã quy định nhiều hình thức giải quyết tranh chấp như: thương lượng, hòa giải, tòa án hay trọng tài. Với những quy định của pháp luật hiện hành đã góp phần giải quyết các tranh chấp trong quan hệ thương mại một cách nhanh chóng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế và xu thế hội nhập quốc tế như vậy, tranh chấp cũng ngày càng nhiều với tính chất và mức độ ngày càng phức tạp. Trước tình hình đó, việc lựa chọn phương thức nào để giải quyết tranh chấp có tầm quan trọng đặc biệt bởi nó có thể quyết định mức độ thiệt hại của doanh nghiệp một khi thương vụ bị đổ bể. Hiện nay, không có phương thức giải quyết tranh chấp nào chiếm vị thế tuyệt đối cả. Tuy nhiên, căn cứ vào những ưu điểm vượt trội của trọng tài thì phương thức này đang được các doanh nghiệp lựa chọn, đặc biệt là đối với các tranh chấp có yếu tố nước ngoài. Từ thực tiễn trên, tôi đã chọn đề tài: tài “Bình luận khoa học về tài phán thương mại trong quá trình Việt Nam hội nhập Kinh tế Quốc Tế” làm đề tài cho tiểu luận của mình.

Trang 2

Lời mở đầu 4

I Tính cấp thiết của đề tài 4

II Mục đích nghiên cứu đề tài 4

III Phương pháp nghiên cứu 4

IV Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 5

V Nội dung 5

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ CÁC PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI 6

I Thương lượng 6

II Hòa giải 6

III Trọng tài thương mại 6

IV Tòa án 7

CHƯƠNG II.GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 8

I Khái quát về trọng tài thương mại 8

1 Khái niệm trọng tài thương mại 8

2 Đặc điểm của trọng tài thương mại 8

3 Một số ưu điểm và hạn chế của trọng tài thương mại 9

4 Các hình thức tổ chức trọng tài 10

II Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng trọng tài theo pháp luật hiện hành 12

1 Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài 12

2 Thẩm quyền của trọng tài thương mại 12

3 Trình tự giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài 13

CHƯƠNG III.THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 16

I Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam 16

1 Vài nét về Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam 16

2 Quy chế giải quyết tranh chấp ở Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam .21

Trang 3

Nam 26

2 Đương sự trong tranh chấp 27

3. Thực trạng giải quyết tranh chấp tại Trung tâm trọng tài quốc tế ViệtNam .28

4 Những thuận lợi, khó khăn trong hoạt động giải quyết tranh chấp ởTrung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam 29III Mối quan hệ giữa cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọngtài và toà án 34

1 Hoạt động hỗ trợ của toà án đối với trọng tài 34

2 Hoạt động giám sát của toà án đối với trọng tài 35

CHƯƠNG IV.MỘT SỐ BẤT CẬP TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH

CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 38

I Một số bất cập trong việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng

tài thương mại 38

II Đề xuất giải pháp 39TÀI LIỆU THAM KHẢO 42

Trang 4

I Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh Việt Nam gia nhập các tổ chức Thương mại quốc tế, quan hệthương mại quốc tế ngày càng mở rộng, khả năng phát sinh tranh chấp càng lớn,không chỉ các dịch vụ pháp lý mà cả Nhà nước cũng phải bước vào những vấn đềpháp lý không quen thuộc Việc giải quyết tốt những tranh chấp phát sinh là một trongnhững yếu tố thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế và hội nhập, góp phần xây dựngmôi trường kinh doanh an toàn, bình đẳng, tạo tâm lý tốt cho các nhà kinh doanh

và đầu tư

Pháp luật Việt Nam nói chung cũng như pháp luật thương mại Việt Nam nói

riêng đã quy định nhiều hình thức giải quyết tranh chấp như: thương lượng, hòa giải,

tòa án hay trọng tài Với những quy định của pháp luật hiện hành đã góp phần giảiquyết các tranh chấp trong quan hệ thương mại một cách nhanh chóng, bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của các đương sự Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh

tế và xu thế hội nhập quốc tế như vậy, tranh chấp cũng ngày càng nhiều với tính chất

và mức độ ngày càng phức tạp Trước tình hình đó, việc lựa chọn phương thức nào đểgiải quyết tranh chấp có tầm quan trọng đặc biệt bởi nó có thể quyết định mức độ thiệthại của doanh nghiệp một khi thương vụ bị đổ bể

Hiện nay, không có phương thức giải quyết tranh chấp nào chiếm vị thế tuyệt

đối cả Tuy nhiên, căn cứ vào những ưu điểm vượt trội của trọng tài thì phương thứcnày đang được các doanh nghiệp lựa chọn, đặc biệt là đối với các tranh chấp có yếu tố

nước ngoài Từ thực tiễn trên, tôi đã chọn đề tài: tài “Bình luận khoa học về tài phán

thương mại trong quá trình Việt Nam hội nhập Kinh tế Quốc Tế” làm đề tài cho tiểu

luận của mình

II Mục đích nghiên cứu đề tài

Đề tài hướng tới mục đích là làm sáng tỏ các quy định của pháp luật hiện hành

về phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh - thương mại mà chủ yếu là bằngtrọng tài, nêu lên thực trạng, bất cập của pháp luật, từ đó đưa ra một số kiến nghị đểhoàn thiện hơn pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài

III Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được thực hiện trên cơ sở vận dụng các quan điểm của Đảng và

Nhà nước về kinh tế và pháp luật kết hợp với phương pháp duy vật biện chứng và duy

vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê Nin Ngoài ra, tiểu luận còn sử dụng phương pháptổng hợp, đối chiếu, so sánh phương pháp hệ thống gắn với quá trình nghiên cứu thựctiễn về trọng tài

Trang 5

mại 2003 và Luật trọng tài thương mại 2010 (LTTTM 2010) (có hiệu lực từ ngày01/01/2011).

Trọng tài và đề xuất giải pháp

Phần kết luận

Trang 6

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ CÁC PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT

TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI

I Thương lượng

Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp thông qua việc các bên

tranh chấp cùng nhau bàn bạc, dàn xếp để tháo gỡ những bất đồng phát sinh nhằm loại

bỏ tranh chấp mà không cần có sự giúp hay phán quyết của bên thứ ba

Thương lượng được thực hiện bởi cơ chế tự giải quyết thông qua việc các bên

tranh chấp gặp nhau bàn bạc, thỏa thuận để tự giải quyết những bất đồng phát sinh màkhông cần có sự hiện diện của bên thứ ba, quá trình thương lượng không chịu sự ràngbuộc của các nguyên tắc pháp lý, việc thực thi kết quả thương lượng hoàn toàn phụthuộc vào sự tự nguyện của mỗi bên tranh chấp mà không có bất kỳ cơ chế pháp lý nàobảo đảm việc thực thi đối với thỏa thuận của các bên trong quá trình thương lượng

Quá trình thương lượng để giải quyết tranh chấp thương mại có thể được thựchiện bằng nhiều cách thức: thương lượng trực tiếp, gián tiếp hoặc kết hợp cả hai Việclựa chọn cách thức thương lượng nào phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh của các bên

II Hòa giải

Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp với sự tham gia của bên thứ balàm trung gian hòa giải để hỗ trợ, thuyết phục các bên tranh chấp tìm kiếm các giảipháp nhằm loại trừ tranh chấp đã phát sinh

Phương thức hòa giải khác thương lượng ở chỗ có sự tham gia của nhân tốtrung gian Người trung gian này không có vai trò quyết định trong việc giải quyết

tranh chấp mà chỉ là người hỗ trợ, giúp đỡ cho các bên trong việc tìm ra giải pháp tốtnhất để giải quyết tranh chấp, còn việc giải quyết tranh chấp vẫn là do các bên quyết

định Hòa giải cũng không chịu sự chi phối của bất kỳ một thủ tục tố tụng pháp lý nào

mà do các bên tranh chấp tự quyết định Kết quả của quá trình hòa giải thành cũng chỉ

là sự thỏa thuận của các bên có tranh chấp và việc thực hiện thỏa thuận này cũng hoàntoàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của các bên mà không có bất kỳ một quyết định pháp

lý nào

III Trọng tài thương mại

Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp có tính chất tài phán phi chínhphủ do các đương sự thỏa thuận lựa chọn để giải quyết tranh chấp thương mại Trọngtài chính là bên trung gian thứ ba được các bên tranh chấp chọn ra để giúp các bên giảiquyết những xung đột, bất đồng giữa họ trên cơ sở đảm bảo quyền tự định đoạt của cácbên Cũng giống như thương lượng và hòa giải, phương thức trọng tài bắt nguồn từ sựthỏa thuận của các bên trên cơ sử tự nguyện Để đưa tranh chấp ra trọng tài giải quyếtcác bên phải có thoả thuận trọng tài Sau khi xem xét sự việc, trọng tài có thể đưa raphán quyết có giá trị cưỡng chế thi hành đối với các bên Nhằm khuyến khích các bên

sử dụng Trọng tài trong giải quyết các tranh chấp thương mại và các tranh chấp khác,nhà nước đã ban hành một đạo luật mới về trọng tài thương mại - Luật Trọng tài thương

Trang 7

mại 2010 để thay thế Pháp lệnh Trọng tài Thương mại 2003 trên cơ sở kế thừa nhữngchế định tiến bộ, phù hợp kết hợp với những quy định mới, hoàn chỉnh hơn.

Trọng tài thương mại tồn tại dưới 2 hình thức: trọng tài vụ việc (ad-hoc) vàtrọng tài thường trực

IV Tòa án

Tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp tại cơ quan xét xử nhân danhquyền lực Nhà nước, được tiến hành theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ Bản án hoặcphán quyết của Tòa án về vụ tranh chấp nếu không có sự tự nguyện tuân thủ sẽ được

đảm bảo thực hiện bằng sự cưỡng chế của Nhà nước

Ở nước ta, tranh chấp thương mại chủ yếu thuộc thẩm quyền giải quyết của

Tòa kinh tế Tố tụng giải quyết tranh chấp thuộc tố tụng dân sự Tố tụng dân sự hiện

hành được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự đã được Quốc hội thông qua ngày

15/06/2004 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2005

Trang 8

CHƯƠNG II GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG

TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

I Khái quát về trọng tài thương mại

1 Khái niệm trọng tài thương mại

Theo cuốn “Từ điển kinh tế thị trường từ A đến Z”: “Trọng tài là một cách giảiquyết bất đồng trong quan hệ công nghiệp mà không cần đưa ra pháp luật hay đình

công”

Theo Hội đồng trọng tài Mỹ (AAA): “Trọng tài là cách thức giải quyết tranhchấp bằng cách đệ trình vụ tranh chấp cho một số người khách quan xem xét giảiquyết và họ sẽ đưa ra quyết định cuối cùng, có giá trị bắt buộc các bên tranh chấp phải

thi hành”

Theo Khoản 1 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại (TTTM) 2010 quy định:

“Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận vàđược tiến hành theo quy định của Luật này”

Mặc dù có khá nhiều định nghĩa khác nhau về trọng tài, song nhìn chung hiệnnay Trọng tài thương mại được nhìn nhận dưới hai góc độ:

Thứ nhất, trọng tài là một hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt

động thương mại, được thực hiện bởi Hội đồng trọng tài hoặc một trọng tài viên duy

nhất với tư cách là bên thứ ba độc lập nhằm giải quyết tranh chấp bằng việc đưa ra mộtphán quyết trên cơ sở sự thỏa thuận của các bên tranh chấp và có hiệu lực bắt buộc đốivới các bên

Thứ hai, trọng tài là một cơ quan giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt

động thương mại, được thành lập tự nguyện bởi các trọng tài viên để giải quyết tranh

chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại theo yêu cầu của các bên tranhchấp

2 Đặc điểm của trọng tài thương mại

Với tư cách là một hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động

thương mại, trọng tài có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, trọng tài là một hình thức giải quyết tranh chấp có sự tham gia của bên

thứ ba - một trọng tài viên duy nhất hoặc Hội đồng trọng tài

Thứ hai, trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua một thủ tục tố

tụng chặt chẽ

Thứ ba, kết quả của việc giải quyết tranh chấp tại trọng tài là phán quyết do

trọng tài tuyên đối với các đương sự của vụ tranh chấp

Trang 9

Với tư cách là một cơ quan giải quyết tranh chấp, trọng tài có những đặc điểmsau:

Một là, trọng tài là tổ chức xã hội - nghề nghiệp do các trọng tài viên tự thành lập

nên để giải quyết tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại

Hai là, quyền lực của trọng tài không tự nhiên mà có mà xuất phát từ sự thỏa

thuận của các chủ thể tranh chấp đối với trọng tài

Ba là, phán quyết của trọng tài vừa là sự kết hợp giữa ý chí, sự thỏa thuận của

các bên, vừa mang tính tài phán của cơ quan có thẩm quyền xét xử Tuy nhiên, dotrọng tài không phải là cơ quan xét xử của Nhà nước như tòa án nên phán quyết trọngtài không mang tính quyền lực Nhà nước

Như vậy, với tư cách là một cơ quan tài phán, trọng tài tồn tại độc lập, song

song với tòa án và có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp khi được các bên đương sựlựa chọn

3 Một số ưu điểm và hạn chế của trọng tài thương mại

Thứ nhất, so với tòa án, trọng tài có những ưu điểm nổi bật như: Giải quyết

tranh chấp bằng trọng tài đảm bảo tối đa quyền tự do thỏa thuận của các bên; đảm bảo

được bí mật kinh doanh của các bên nhờ nguyên tắc "xét xử kín"; quyết định trọng tài

có giá trị chung thẩm, không bị kháng cáo, kháng nghị trong khi bản án, quyết địnhcủa tòa án có thể phải trải qua nhiều thủ tục xem xét khác nhau, điều này giúp tiếtkiệm chi phí về thời gian cũng như tiền bạc cho các bên tranh chấp; quyết định trọng

tài được thi hành ngay, đáp ứng yêu cầu khôi phục nhanh những tổn thất về hàng hóa,

tiền bạc của các nhà kinh doanh Ngoài ra, trọng tài còn có rất nhiều ưu điểm khác

như: tính chuyên môn cao; thủ tục giải quyết tranh chấp đơn giản đáp ứng yêu cầu

giải quyết tranh chấp nhanh chóng của các đương sự

Thứ hai, trọng tài có những ưu điểm vượt trội mà thương lượng, hòa giải không

có, như: Trọng tài luôn có hẳn một khung pháp luật điều chỉnh, trong đó Pháp lệnh

trọng tài thương mại 2003 được coi là trung tâm, và trong thời gian tới sẽ có thêm Luật

TTTM 2010 điều chỉnh; trọng tài lại được sự đảm bảo, hỗ trợ về mặt pháp lý của tòa

án, trong khi đó hoạt động thương lượng, hòa giải ở nước ta hiện nay hoàn toàn mang

tính tự phát, theo truyền thống

Mặc dù có những ưu điểm vượt trội so với các phương thức giải quyết tranh chấp

khác nhưng phương thức trọng tài vẫn tồn tại một số hạn chế nhất định, đó là:

So với tòa án, quyết định trọng tài có giá trị chung thẩm không bị kháng cáo,kháng nghị nên các bên khó có cơ hội phát hiện và khắc phục những sai sót trong quátrình giải quyết tranh chấp như ở tòa án; do việc giải quyết tại trọng tài đã có sự xuấthiện của bên thứ ba nên việc giữ bí mật của vụ tranh chấp không thể bằng thương

lượng; chi phí để giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là khá cao, điều này cũng là một

hạn chế lớn vì không phải chủ thể nào cũng có thể đáp ứng được

Trang 10

Tóm lại, giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài tuy có một số hạn chế,song với những ưu điểm nổi trội của nó, có thể khẳng định đây là phương thức giảiquyết đơn giản, gọn nhẹ, linh hoạt, hiệu quả rất phù hợp với nền kinh tế thị trườnghiện nay, đáp ứng nhanh chóng, kịp thời nhu cầu giải quyết tranh chấp của các doanhnghiệp.

4 Các hình thức tổ chức trọng tài

a Trọng tài vụ việc (trọng tài ad - hoc)

Trọng tài ad - hoc là thể loại trọng tài được các bên thành lập ra chỉ để giảiquyết một vụ tranh chấp cụ thể, sau khi vụ tranh chấp đã đư ợc giải quyết xong thìtrọng tài ad - hoc tự giải thể Do đó, trọng tài ad - hoc còn được gọi là trọng tài vụviệc, trọng tài đặc biệt, trọng tài đặc nhiệm

Hình thức trọng tài này có đặc điểm là không có trụ sở cố định như trọng tài

thường trực, không lệ thuộc vào bất kỳ quy tắc xét xử nào Trong các vụ tranh chấp sử

dụng trọng tài ad - hoc, thì các bên thường thống nhất có một trọng tài viên

Trọng tài ad - hoc có một số đặc điểm sau:

- Quyền lựa chọn trọng tài viên của các bên đương sự hoặc của người thứ bakhông bị giới hạn vào một danh sách có sẵn như ở hình thức trọng tài thường trực

- Các bên đương sự có toàn quyền trong việc xác lập quy chế tố tụng: về tổchức hội đồng trọng tài, quá trình tố tụng Nghĩa là các bên tranh chấp có thể tự định

đoạt các cách thiết lập hội đồng trọng tài và thủ tục giải quyết thích ứng với tính chất

từng vụ tranh chấp Đương sự không bị ràng buộc bởi các quy định pháp lý về tố tụngchừng nào đảm bảo được nguyên tắc xét xử khách quan trong trường hợp của họ Đặc

điểm này giúp chúng ta phân biệt trọng tài ad - hoc với trọng tài thường trực

Như vậy, tính chất tố tụng của trọng tài ad - hoc khá đơn giản, thời gian tiến

hành tố tụng có thể nhanh chóng và ít tốn kém Tuy nhiên, trên thực tế, trọng tài ad hoc chỉ thích hợp với những tranh chấp nhỏ giữa các bên đương sự có am hiểu về luậtpháp và có kinh nghiệm tranh tụng Trọng tài ad - hoc phụ thuộc rất nhiều vào thiệnchí và sự hợp tác của các bên Nếu các bên không thực tình muốn giải quyết vụ tranhchấp để đi tới một giải pháp tối ưu thì trọng tài ad - hoc sẽ rất khó làm việc Bởi lẽ,trọng tài ad - hoc không có quy tắc tố tụng riêng

-b Trọng tài thương trực

Trọng tài thường trực là trọng tài có tổ chức được thành lập để hoạt động một

cách thường xuyên, có trụ sở, điều lệ và có quy tắc xét xử riêng Trọng tài thường trực

giống trọng tài ad - hoc ở khả năng lựa chọn trọng tài viên nhưng lại có hạn chế hơn làchỉ được lựa chọn trong số các trọng tài viên của trung tâm trọng tài - mà số lượng cáctrọng tài viên trong danh sách này thường rất hạn chế

Trang 11

Ban trọng tài có thể là một trọng tài viên duy nhất được chọn trong số trọng tàiviên của trung tâm trọng tài hoặc có thể là ba trọng tài (mỗi bên chọn ra một trọng tài

viên và hai người này sẽ chọn một trọng tài thứ ba làm chủ tịch hội đồng trọng tài)

Trọng tài thường trực có quy tắc tố tụng được quy định chặt chẽ, được công bố

công khai Các bên đương sự buộc phải tuân theo các quy chế xét xử của từng trung

tâm trọng tài, bất luận là những quy định phức tạp và bất hợp lý như thế nào Tuynhiên, trên thực tế, điều này rất hãn hữu Bởi các trung tâm trọng tài muốn tồn tại, bêncạnh chất lượng trọng tài viên thì quy chế tố tụng của từng trung tâm trọng tài phải rấtlinh hoạt, có khả năng đáp ứng đòi hỏi các nhà kinh doanh trong giải quyết tranhchấp, có như vậy mới thu hút được được khách hàng Lợi thế lớn nhất của trọng tài

thường trực là có sẵn các bộ quy tắc tố tụng trọng tài Các bên đương sự chỉ cần thoả

thuận áp dụng các bộ quy tắc này là đủ, không cần mất công tạo lập ra các bộ quy tắcmới Điều này rất thuận lợi cho các nhà doanh nghiệp Nếu họ không muốn có điều gìbất lợi cho mình thì họ chọn trọng tài thường trực với bộ quy tắc có sẵn

Các tổ chức trọng tài thường trực đều độc lập và không có quan hệ gì với nhautrong việc giải quyết các tranh chấp kinh tế, không phụ thuộc vào nhau về đều bình

đẳng trước sự lựa chọn của các bên tranh chấp Việc lựa chọn tổ chức trọng tài cũngnhư trọng tài viên hoàn toàn phụ thuộc vào sự thoả thuận của các bên tranh chấp

Trọng tài thường trực thường được thành lập tại các tổ chức, các hiệp hội, cácphòng thương mại và công nghiệp ở các nước Trong vòng 20 năm qua đã diễn ra một

"phong trào" thành lập các tổ chức trọng tài quốc tế Khó có thể lập được một cách đầy

đủ các tổ chức trọng tài trên thế giới nhưng ít nhất cũng có khoảng hơn 100 tổ chức

trọng tài quốc tế Tiêu biểu như: trọng tài La - Hay thành lập năm 1907, toà trọng tàiquốc tế của phòng thương mại quốc tế Paris (ICC) thành lập năm 1919, toà trọng tàiquốc tế London (LCIA) thành lập năm 1899, Hiệp hội trọng tài Hoa Kỳ (AAA) thànhlập năm 1928 Trung tâm trọng tài kinh tế Trung Quốc (CIETAC) thành lập năm 1954,Trung tâm trọng tài quốc tế Hồng Kông (HKIAC) thành lập năm 1985

Toà án trọng tài quốc tế ICA của phòng thương mại quốc tế ICC là trọng tài

được biết đến nhiều nhất ICA được thành lập năm 1923 tại Paris với mục đích banđầu là trợ giúp các nước Châu Âu là giảm tối đa có thể các tranh chấp kinh tế thương

mại để mau chóng ổn định kinh tế phục vụ công cuộc hàn gắn sau chiến tranh thế giớilần thứ nhất Hiện nay, ICA là trọng tài chuyên trách chuyên giải quyết các tranh chấp

thương mại phát sinh trong hợp đồng giữa các pháp nhân, thể nhân có quốc tịch khácnhau ICA luôn đứng đầu thế giới về giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bởi vì

ICA có thể giải quyết các tranh chấp trực tiếp bằng hầu hết các thứ tiếng trên thế giớinên tranh chấp được giải quyết nhanh chóng kịp thời và giảm chi phí cho các bên tranhtụng

Trung tâm quốc tế giải quyết tranh chấp về đầu tư ICSID là tổ chức do ngânhàng tái thiết và phát triển quốc tế thành lập 1966 tại Washington trên cơ sở công ước

về giải quyết tranh chấp giữa nhà nước và pháp nhân, thể nhân nước khác Cũng như

Trang 12

ICC, ICSID được xem là một trong những cơ quan trọng tài quốc tế ưa dùng nhất hiện

nay trên thế giới Mặc dù ICSID chủ yếu giải quyết tranh chấp thuộc lĩnh vực đầu tưquốc tế song trên thực tế, ICSID thực hiện hai nhiệm vụ Một là giải quyết tranh chấpkinh tế thương mại phát sinh trong hợp đồng đầu tư quốc tế Hai là đẩy mạnh đầu tưquốc tế giữa các nước, các vùng, khu vực và thế giới

Tóm lại, trọng tài vụ việc và trọng tài thường trực là hai hình thức trọng tài

được sử dụng phổ biến trên thế giới Mỗi hình thức đều có những ưu điểm và hạn chế

riêng bắt nguồn từ chính bản chất của nó Tùy từng vụ việc cụ thể, các bên tranh chấp

sẽ quyết định hình thức trọng tài nào là phù hợp hơn để giải quyết tranh chấp chomình

II Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng trọng tài theo pháp luật hiện hành

1 Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài

Theo quy định tại Điều 4 Luật TTTM 2010 (có hiệu lực từ 01/01/2011) có 5

nguyên tắc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng trọng tài, cụ thể:

Thứ nhất, trọng tài viên phải tôn trọng thoả thuận của các bên nếu thỏa thuận

đó không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội

Thứ hai, trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư và tuân theo quy định

của pháp luật

Thứ ba, Các bên tranh chấp đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ Hội đồng

trọng tài có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình

Thứ tư, giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài được tiến hành không công khai,

trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác

Thứ năm, phán quyết trọng tài là chung thẩm.

Tất cả những nguyên tắc giải quyết tranh chấp mà Luật TTTM 2010 đặt ra đềunhằm mục đích giúp các bên tranh chấp có thể giải quyết tranh chấp một cách nhanhchóng, chính xác và hiệu quả đảm bảo tốt nhất nhu cầu về một cơ chế giải quyết tối ưucho các doanh nghiệp

2 Thẩm quyền của trọng tài thương mại

Về nguyên tắc, tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài nếu trước hoặc sau khixảy ra tranh chấp các bên có thỏa thuận trọng tài Tuy nhiên, không phải mọi tranhchấp có thỏa thuận trọng tài đều thuộc thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài.Trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thươngmại Nghĩa là, một tranh chấp sẽ thuộc thẩm quyền của trọng tài thương mại khi có đủ

hai điều kiện:

Trang 13

a Giữa các bên tranh chấp phải có thỏa thuận trọng tài và thỏa thuận trọng tài có hiệu lực

Khoản 1 Điều 16 Luật TTTM 2010 quy định: " Thỏa thuận trọng tài có thể đượcxác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏathuận riêng "

Khoản 2 Điều 16 của Luật này cũng có quy định: " Thoả thuận trọng tài phải

được xác lập dưới dạng văn bản" Ngoài ra, một số hình thức thỏa thuận khác cũngđược coi là xác lập dưới dạng văn bản như: telegram, fax, telex, thư điện tử; thỏa thuậnthông qua trao đổi thông tin bằng văn bản giữa các bên; thỏa thuận được luật sư, công

chứng viên ghi chép lại bằng văn bản theo yêu cầu, các văn bản thể hiện thỏa thuậntrọng tài như hợp đồng, chứng từ, điều lệ công ty ; và một số hình thức thỏa thuậnkhác mà pháp luật cho phép

b Tranh chấp được gửi đến trọng tài thương mại phải là tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại

Các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại được quy định tại khoản 3

Điều 2 của Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003, cụ thể: "Hoạt động thương mại là việc

thực hiện một hay nhiều hanh vi thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm muabán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý thương mại, ký gửi; thuê, chothuê, thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; li-xăng; đầu tư, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm;

thăm dò, khai thác; vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển,đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật"

3 Trình tự giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài

a Nộp đơn và thụ lý đơn

Khoản 1 Điều 30 Luật TTTM 2010 có quy định: "Trường hợp giải quyết tranhchấp tại Trung tâm trọng tài, nguyên đơn phải làm đơn khởi kiện gửi đến Trung tâmtrọng tài Trường hợp vụ tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài vụ việc, nguyên

đơn phải làm đơn khởi kiện và gửi cho bị đơn"

Đơn kiện phải chứa đựng các nội dung chủ yếu theo quy định tại khoản 2 Điều

30 của Luật này

Nguyên đơn có thể sửa đổi, bổ sung, rút đơn kiện trước khi Hội đồng xét xử raquyết định trọng tài " Nếu các bên không có thoả thuận khác hoặc quy tắc tố tụng củaTrung tâm trọng tài không có quy định khác, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận

được đơn khởi kiện, các tài liệu kèm theo và chứng từ nộp tạm ứng phí trọng tài,

Trung tâm trọng tài phải gửi cho bị đơn bản sao đơn khởi kiện của nguyên đơn vànhững tài liệu theo quy định tại khoản 3 Điều 30 của Luật này" (Điều 32 Luật TTTM2010)

Trang 14

Về nguyên tắc, tố tụ ng trọng tài chỉ bắt đầu khi có đơn kiện của nguyên đơn và

đơn phải được gửi khi vụ tranh chấp còn thời hiệu khởi kiện Điều 31 Luật TTTM

2010 quy định: "Trường hợp tranh chấp được giải quyết tại Trung tâm trọng tài, nếucác bên không có thỏa thuận khác, thì thời điểm bắt đầu tố tụng trọng tài được tính từkhi Trung tâm trọng tài nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn" và "Trường hợptranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài vụ việc, nếu các bên không có thoả thuậnkhác, thì thời điểm bắt đầu tố tụng trọng tài được tính từ khi bị đơn nhận được đơnkhởi kiện của nguyên đơn" Điều 33 Luật này quy định về thời hiệu khởi kiện như sau:

"Trừ trường hợp luật chuyên ngành có quy định khác, thời hiệu khởi kiện theo thủ tụctrọng tài là 02 năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm"

b Thành lập và hoạt động của Hội đồng trọng tài

Việc thành lập Hội đồng trọng tài dựa trên nguyên tắc tôn trọng quyền tự dothỏa thuận của các bên tham gia trọng tài Về cách thức thành lập Hội đồng trọng tài

được quy định khá cụ thể tại Điều 39 Luật TTTM 2010 Theo đó, "Thành phần Hộiđồng trọng tài có thể bao gồm một hoặc nhiều Trọng tài viên theo sự thỏa thuận củacác bên Trường hợp các bên không có thỏa thuận về số lượng Trọng tài viên thì Hộiđồng trọng tài bao gồm ba trọng tài viên" Điều 40, Điều 41 Luật TTTM 2010 cũngquy định khá cụ thể về cách thức thành lập Hội đồng trọng tài tại trung tâm trọng tài

và Hội đồng trọng tài vụ việc Nếu theo quy định tại Điều 40, việc thành lập Hội đồngtrọng tài tại trung tâm trọng tài có thể có sự giúp đỡ của Chủ tịch trung tâm trọng tàithì theo quy định tại Điều 41, việc thành lập Hội đồng trọng tài vụ việc do các bênthành lập có thể có sự giúp đỡ của tòa án trong việc giúp các bên chọn, chỉ định trọngtài viên

Sau khi đã chọn trọng tài viên, các bên mới phát hiện ra trọng tài viên do mình

chọn thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 ®iều 42 thì có quyền yêucầu trọng tài viên này từ chối vụ tranh chấp Việc thay đổi trọng tài viên được tiếnhành theo thủ tục quy định tại các khoản 2,3,4,5,6,7 Điều 42 của Luật này

Sau khi thành lập, Hội đồng trọng tài nghiên cứu hồ sơ, thực hiện những hoạt

động cụ thể để xác minh sự việc nếu thấy cần thiết, thu thập chứng cứ (Điều 30 Pháp

lệnh trọng tài thương mại 2003, Luật TTTM 2010 không quy định)

Trong quá trình tố tụng trọng tài, các bên có khiếu nại để xem xét thỏa thuậntrọng tài, thẩm quyền của Hội đồng trọng tài (Điều 43 Luật TTTM 2010) Các bên cóthể hòa giải hoặc yêu cầu Hội đồng trọng tài hòa giải, có quyền yêu cầu áp dụng mộthoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định tại các Điều 48, 49, 50, 51, 52,

53 Luật TTTM 2010 Bị đơn có quyền kiện lại nguyên đơn về những vấn đề có liên

quan đến vụ tranh chấp (Điều 36 Luật TTTM 2010)

Trang 15

c Phiên họp giải quyết tranh chấp và phán quyết trọng tài

Điều 55 Luật này quy định: "Phiên họp giải quyết tranh chấp được tiến hành

không công khai, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác Các bên có thể trực tiếphoặc uỷ quyền cho người đại diện tham dự phiên họp giải quyết tranh chấp; c ó quyềnmời người làm chứng, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Trong trườnghợp có sự đồng ý của các bên, Hội đồng trọng tài có thể cho phép những người kháctham dự phiên họp giải quyết tranh chấp" Về trường hợp vắng mặt của các bên đượcquy định cụ thể tại điều 56 của Luật này

Kết thúc quá trình giải quyết tranh chấp, Hội đồng trọng tài phải đưa ra đượcphán quyết trọng tài Phán quyết trọng tài phải được đưa ra trên cơ sở xem xét, cânnhắc các chứng cứ, tài liệu của vụ việc và phải tuân thủ quy định tại Điều 60: “Hội

đồng trọng tài ra phán quyết trọng tài bằng cách biểu quyết theo nguyên tắc đa số.Trường hợp biểu quyết không đạt được đa số thì phán quyết trọng tài được lập theo ý

kiến của Chủ tịch Hội đồng trọng tài" "Phán quyết trọng tài được ban hành ngay tạiphiên họp hoặc chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày kết thúc phiên họp cuối cùng" "Phánquyết trọng tài là chung thẩm và có hiệu lực kể từ ngày ban hành"

Bên không đồng ý với phán quyết trọng tài có quyền làm đơn gửi đến Tòa án

cấp tỉnh nơi Hội đồng trọng tài ra phán quyết trọng tài, để yêu cầu hủy phán quyếttrọng tài (Điều 69)

d Thi hành phán quyết trọng tài

Phán quyết của trọng tài được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành

án dân sự Trường hợp hết thời hạn thi hành m à bên phải thi hành phán quyết không tựnguyện thi hành và cũng không yêu cầu hủy phán quyết trọng tài thì bên được thi hànhphán quyết trọng tài có quyền làm đơn yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩmquyền thi hành phán quyết trọng tài; còn đối với p hán quyết của trọng tài vụ việc, bên

được thi hành có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi

hành phán quyết trọng tài sau khi phán quyết được đăng ký theo quy định tại Điều 62của Luật này

Tóm lại, thủ tục giải quyết tranh chấp bằng trọng tài khá đơn giản, theo mộttrình tự được quy định cụ thể, rõ ràng trong các văn bản pháp luật và các quy định này

được các trung tâm trọng tài cụ thể hóa vào Quy tắc tố tụng của trung tâm mình, đảm

bảo cho các bên tranh chấp có thể tìm hiểu một cách dễ dàng hơn Mặc dù còn một sốbất cập cần sửa đổi phù hợp hơn với thực tiễn nước ta, song không thể phủ nhận rằng

so với tòa án - cơ quan tài phán công, thủ tục tố tụng trọng tài đơn giản, thuận tiện

hơn nhiều

Trang 16

CHƯƠNG III THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG

TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

Giải quyết tranh chấp thương mại bằng con đường tài phán trọng tài hiện nay

tương đối phổ biến và mạng tính chất quốc tế phục vụ cho quan hệ kinh tế Quốc tế hết

sức đa dạng, đây là một hình thức có nhiều ưu thế trên thế giới

Để đảm bảo hiệu quả cho hoạt động trọng tài nhiều nước đã ký hiệp định về

trọng tài và tham gia công ước quốc tế về việc công nhận và cho thi hành phán quyếtcủa trọng tài nước ngoài

I Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam

1 Vài nét về Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam.

a Lịch sử hình thành và phát triển.

Hội đồng trọng tài Ngoại thương và Hội đồng trọng tài Hàng Hải.

Vào những năm đầu của thập kỷ 60, ngoài toà án, thì Hội đồng trọng tài Ngoại

thương (30/4/1963) và Hội đồng trọng tài Hàng Hải (5/10/1964) là những tổ chức

chính trong việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh Quốc tế ở nước ta Hội đồngtrọng tài Ngoại thương và Hội đồng trọng tài Hàng Hải được gia nhập vào phòngThương Mại & Công Nghiệp (TM & CN) Việt Nam Phòng TM & CN Việt Nam làmột tổ chức phi Chính phủ bao gồm các thành viên ở các thành phần kinh tế của Việt

Nam Nhưng Hội đồng trọng tài Ngoại thương và Hội đồng trọng tài Hàng Hải lại hoạtđộng theo những điều lệ do Nhà nước phê chuẩn và chịu sự giám sát của Nhà nước

Hội đồng trọng tài Ngoại thương giải quyết tranh chấp thông qua trọng tài đốivới những tranh chấp pháp sinh từ các hợp động kinh tế, thương mại giữa các tổ chứcViệt Nam và pháp nhân, thể nhân nước ngoài

Hội đồng trọng tài Hàng Hải giải quyết tranh chấp phát sinh liên quan đến vậnchuyển bằng đường biển như: thuê tàu chuyến, vận chuyển hàng hoá Quốc tế, giaonhận hàng hoá, cứu hộ, đâm va tàu biển hoặc giữa tầu biển và tầu sông ở các quốc giakhác nhau và bảo hiểm hàng hoá

Hội đồng trọng tài Ngoại thương và Hội đồng trọng tài Hàng Hải không giảiquyết các tranh chấp dân sự hay các tranh chấp kinh tế trong nước Các Trọng tài viêncủa Hội đồng trọng tài Ngoại thương và Hội đồng trọng tài Hàng Hải do phòng Côngnghiệp chọn và phải là công dân Việt Nam Các Trọng tài viên được chọn là những

người thông hiểu về pháp luật Việt Nam và Quốc tế cũng như hiểu biết về kinh

nghiệm về các lĩnh vực như thương mại, vận chuyển hàng hoá, tài chính, ngân hàng,bảo hiểm và quan hệ kinh tế đối ngoại

Trong thời gian đó, vì nhiều lý do khác nhau, mà các tranh chấp đưa đến trọngtài giải quyết còn hạn chế, số vụ được giải quyết ra phán quyết còn ít hơn Các hoạt

Trang 17

động khác nói chung và hoạt động hoà giải nói riêng, cho đến tận giữa những năm

1980 chủ yếu vẫn là với các nước Xã Hội Chủ Nghĩa giới hạn trong lĩnh vực viện trợ

thương mại và viện trợ phát triển

Từ giữa thập kỷ 80, số vụ tranh chấp đưa ra trọng tài tăng nhanh, trung bình là

20 vụ/năm trong giai đoạn 1988 - 1992 với khoảng 85% tranh chấp liên quan đến cáchợp đồng thương mại Quốc tế, bảo hiểm và các vấn đề liên quan đến vận tải Quốc tế

Cả Hội đồng trọng tài Ngoại thương và Hội đồng trọng tài Hàng Hải đều rất íttham gia và liên hệ với các cuộc hội thảo với các tổ chức trọng tài nước ngoài, chẳnghạn như Toà án Trung tâm Quốc tế bên cạnh phòng Thương mại Quốc tế hay Trungtâm trọng tài (TTTT) Quốc tế Singapore

Hội đồng trọng tài Ngoại thương và Hội đồng trọng tài Hàng Hải là hai tổchức tiền thân của TTTT quốc tế Việt Nam bên cạnh phòng TM & CN Việt Nam.Những hạn chế trên dần trở thành những trở ngại và phát sinh những mặt bất cập trongviệc giải quyết các tranh chấp Quốc tế Chính vì thế sự tồn tại duy nhất một TTTTQuốc tế ở Việt Nam với quy chế hoạt động mới là điều cần thiết

Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam

Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam là một tổ chức phi Chính phủ đượcthành lập bên cạn phòng TM & CN Việt Nam theo Quyết định số 204/TTg của Thủ

tướng Chính phủ ngày 28/4/1993 trên cơ sở hợp nhất Hội đồng trọng tài Ngoại thương

và Hội đồng trọng tài Hàng Hải

Sự tồn tại một Trung tâm trọng tài quốc tế duy nhất ở Việt Nam nhằm tránhnhững vấn đề mâu thuẫn rắc rối trong xét xử thỉnh thoảng xảy ra giữa Hội đồng trọngtài Ngoại thương và Hội đồng trọng tài Hàng Hải cũng như để thống nhất điều hành bổ

sung đội ngũ trọng tài Quốc tế của Việt Nam

Trong tình hình mới của nền kinh tế đất nước mở cửa và hội nhập với thế giới,Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam đã được phép mở rộng và cập nhật quy tắc hoạt

động trọng tài cho phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam và các quy tắc trọng tài Quốc tếđang phổ biến trên thế giới Hoạt động xét xử của TTTT Quốc tế Việt Nam không chỉ

giới hạn những tranh chấp trong lĩnh vực thương mại và vận tải quốc tế mà được mởrộng sang cả các lĩnh vực khác như: đầu tư nước ngoài, du lịch, tín dụng, ngân hàng,chuyển giao công nghệ, bảo hiểm, các vấn đề kinh doanh quốc tế và thương mại quốc

tế khác

Khác với Hội đồng trọng tài Ngoại thương và Hội đồng trọng tài Hàng Hải,TTTT quốc tế Việt Nam có quan hệ khá rộng rãi với các hiệp hội, tổ chức kinh tế trênthế giới, đẩy mạnh một bước trong hợp tác quốc tế TTTT quốc tế Việt Nam tham giavào nhiều hội thảo quốc tế về trọng tài như hội thảo thường niên của đoàn luật sưChâu Á Thái Bình Dương ở Singapore năm 1994, ở Hoa Kỳ năm 1995, Hội thảo Quốc

tế của Trung tâm giải quyết tranh chấp về đầu tư - thương mại Quốc tế, Hội thảo của

Trang 18

Toà án trọng tài Quốc tế bên cạnh phòng Thương mại Quốc tế, và Hội thảo của Hiệphội trọng tài Hoa Kỳ Đặc biệt TTTT quốc tế Việt Nam còn thiết lập quan hệ được vớimột số luật sư hàng đầu về lĩnh vực trọng tài trên thế giới.

Sự phát triển trên đã đem lại một thế giới mới cho TTTT quốc tế Việt Nam cóthêm kiến thức và kinh nghiệm trong thực tế từ các tổ chức trọng tài Quốc tế khácnhằm tạo khả năng cho Trung tâm trong việc giải quyết những tranh chấp ngày mộtphức tạp khi nền kinh tế đang trong giai đoạn phát triển mạnh Tuy nhiên, cũng cầnphải nhấn mạnh đến tiềm lực nội bộ của Trung tâm: đó là đội ngũ trọng tài viên trong

nước và cả Quốc tế cùng với một cơ cấu tổ chức hiệu quả

b Cơ cấu tổ chức của TTTT quốc tế Việt Nam

TTTT quốc tế Việt Nam có Chủ tịch và hai Phó chủ tịch do các trọng tài viêncủa Trung tâm bầu ra Chủ tịch và Phó chủ tịch Trung tâm có nhiệm kỳ 4 năm

Thư ký thường trực của Trung tâm (do Chủ tịch chỉ định)

Các trọng tài viên trong danh sách trọng tài viên của Trung tâm Các trọng tàiviên cũng có nhiệm kỳ 4 năm và sau đó có thể được bầu lại Các trọng tài viên do Uỷ

ban thường trực của Phòng TM & CN Việt Nam lựa chọn, họ là những người có kiến

thức và kinh nghiệm trong các lĩnh vực pháp luật, ngoại thương, đầu tư, tài chính,ngân hàng, vận tải, bảo hiểm Các trọng tài viên cũng có nhiệm kỳ 4 năm, và sau đócũng có thể được bầu lại Các trọng tài viên nước ngoài cũng có thể được chọn vào làtrọng tài viên của trung tâm Hiện nay Trung tâm đã có 30 trọng tài viên và chưa cótrọng tài viên nước ngoài

c Các hoạt động của TTTT quốc tế Việt Nam

TTTT Quốc tế Việt Nam là một tổ chức phi Chính phủ hoạt động với nhữngnhiệm vụ chính là tiến hành hoà giải các tranh chấp thuộc thẩm quyền theo quy chếriêng của Trung tâm Song, TTTT Quốc tế Việt Nam - một tổ chức tập hợp những

chuyên gia hàng đầu về kinh tế và thương mại Quốc tế của Việt Nam đã không dừng

lại ở đây, mà đã tham gia tích cực vào nhiều hoạt động khác Mục đích là dần nâng cao

được chất lượng xét xử, đóng góp vào việc cải thiện môi trường pháp luật và hành lang

pháp lý của nước ta, hỗ trợ cho các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia vào kinhdoanh Quốc tế…

Để thực hiện mục đích đó, TTTT quốc tế Việt Nam đã và đang t ham gia vào

những hoạt động sau:

TTTT quốc tế Việt Nam với tư cách là tổ chức trọng tài đầu tiên và trong mộtthời gian dài là tổ chức trọng tài phi Chính phủ duy nhất ở Việt Nam đã tham gia tíchcực vào hoạt động xây dựng chính sách và pháp luật kinh tế thông qua hai hình thức

Trang 19

là: trực tiếp góp ý trực tiếp và góp ý gián tiếp thông qua phòng TM & CN Việt Nam,hoặc bằng các hoạt động độc lập của các trọng tài viên.

Mối quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa TTTT Quốc tế Việt Nam với các tổ chức,

cơ quan nghiên cứu và hoạch định chính sách, các luật sư trong và ngoài nước cũngnhư xuất phát từ hoạt động kinh tế của TTTT quốc tế Việt Nam đã góp phần không

nhỏ vào chất lượng những ý kiến của TTTT quốc tế Việt Nam đưa ra TTTT quốc tếViệt Nam có một hội đồng nghiên cứu khoa học pháp lý luôn tích cực nghiên cứunhằm nâng cao kiên thức, chất lượng các góp ý của Trung tâm

Trung tâm đã góp ý, kiến nghị về môi trường hoạt động của trọng tài như

nghiên cứu kiến nghị với các cơ quan Nhà nước để Việt Nam tham gia Công ước NewYork - 1958, Pháp lệnh công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài tạiViệt Nam; Nghị định 116/CP của Chính phủ qui định hoạt động của các TTTT kinh tế;tham gia góp ý vào những dự án luật liên quan đến hoạt động kinh doanh Và sắp tới,TTTT quốc tế Việt Nam sẽ tham gia với tư cách là thành viên của Ban soạn thảo liênngành pháp lệnh trọng tài do Hội luật gia Việt Nam chủ trì

Trung tâm có sự hợp tác chặt chẽ với các Bộ, ngành, các trường đại học và cácViện nghiên cứu, không chỉ trong hoạt động chuyên ngành mà còn cả trong hoạt độngnghiên cứu khoa học và trao đổi thông tin: đặc biệt với các cơ quan như Bộ Tư Pháp,Toà án nhân dân tối cao, Hội luật gia Việt Nam, Trường đại học Tổng hợp Hà Nội(khoa Luật)…Qua đó đã từng bước tạo được sự kết hợp hoạt động thực tiễn với hoạt

động xây dựng chính sách pháp luật

Hợp tác Quốc tế của TTTT quốc tế Việt Nam đã và đang giúp ho ạt động trọngtài ở Việt Nam hội nhập với khu vực và thế giới Trung tâm đã ký ba thoả thuận hợptác với các tổ chức trọng tài của hợp Hàn Quốc, Singapore, Verssaile (Pháp) cùng phốihợp với đoàn luật sự Châu Á Thái Bình Dương để tổ chức hội thảo Quốc tế lớn vềtrọng tài tại thành phố Hồ Chí Minh, tham gia nhiều hội thảo chuyên ngành của các

nước và Quốc tế; nhiều khóa học về trọng tài trong và ngoài nước

Các trọng tài viên và các chuyên gia của Trung tâm đã tham gia và làm diễngiải tại nhiều hội thảo, qua đó cung cấp thông tin cho hàng ngàn đối tượng khác nhau

từ sinh viên, các nhà kinh doanh đến các nhà nghiên cứu về hoạt động của Trung tâmcũng như các bài h ọc rút ra từ thực tiễn Một số chuyên viên, trọng tài viên của Trungtâm còn tham gia viết giáo trình và các bài giảng cho các doanh nghiệp; viết bài đăngbáo cho các tạp chí trong và ngoài nước, qua đó giới thiệu về sự phát triển của phápluật Việt Nam, về hoạt động của Trung tâm, đồng thời chỉ ra những bất cập hiện hành,kiến nghị với Nhà nước để có những sửa đổi bổ sung Điều này đã góp phần hạn chế

Trang 20

những sơ xuất trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng, hạn chế những tổn thấthoặc giúp cho việc giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng.

Khả năng chuyên môn cao của các trọng tài viên, cộng tác viên của các trungtâm còn được sử dụng vào việc tư vấn pháp lý, giúp cho các doanh nghiệp trong và

ngoài nước thực hiện đúng pháp luật, bảo vệ được quyền lợi và lợi ích của họ; giúp họ

giải quyết nhanh chóng, tiết kiệm khi phát sinh tranh chấp

Vì đây là hoạt động quan trọng nhất của Trung tâm, đó cũng làm nhi ệm vụ cơbản nhất của TTTT Quốc tế Việt Nam, nên sẽ được đề cập chi tiết hơn ngay trongphần sau về quy chế, các trọng tài viên, phí trọng tài… là những yếu tố cần thiết đểtrung tâm thực hiện nhiệm vụ này

d Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam

Điều 3, Điều lệ của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam quy định thẩm

quyền của trung tâm là giải quyết bất kỳ tranh chấp nào khi:

 Một trong các bên tranh chấp là thể nhất hoặc pháp nhân nước ngoài hoặc

tất cả các bên là thể nhân hoặc pháp nhân nước ngoài

 Khi trước hoặc sau khi tranh chấp phát sinh các bên thoả thuận đưa tranh

chấp ra Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam, hoặc khi theo một Hiệp định quốc tế họ

có nghĩa vụ phải làm như vậy

Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam không chỉ giải quyết các tranh chấp vềHợp đồng ngoại thương và hàng hải thương mại quốc tê như Hội đồng trọng tài hànghải và Hội đồng trọng tài ngoại thương trước đây, mà còn các tranh chấp pháp sinh từcác hợp đồng về đầu tư, du lịch, vận tải quốc tế, bảo hiểm, chuyển giao công nghệ, tíndụng và thanh toán quốc tế

Trong quá trình hoạt động đã phát sinh nhu cầu của các doanh nghiệp trong

nước muốn đưa tranh chấp từ các hợp đồng nội ra yêu cầu Trung tâm trọng tài quốc tế

Việt Nam giải quyết Để đáp ứng nhu cầu đó, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số114/TTg ngày 16/02/1996 cho phép mở rộng thẩm quyền giải quyết của Trung tâmgiải quyết các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ kinh doanh trong nước

Trên đây là những cơ sở pháp lý để Trung tâm xây dựng quy tắc tố tụng trọngtài trong nước và quy tắc tố tụng trọng tài quốc tế Nhìn chung, hai bộ quy tắc này làtương tự nhau, chỉ khác nhau ở một vài điểm do tính đặc thù của các quan hệ quốc tế

Là một nhà kinh doanh khi đưa tranh chấp ra giải quyết ở một Trung tâm trọng

tài nào đó, nhất thiết phải quan tâm, tìm hiểu về quy tắc giải quyết tranh chấp của

Trung tâm đó Nguyên tắc thoả thuận trong giải quyết tranh chấp thông qua thủ tục

Trang 21

trọng tài đảm bảo cho các bên quyền tự do lựa chọn Trung tâm trọng tài cũng như thủtục giải quyết tranh chấp.

2 Quy chế giải quyết tranh chấp ở Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam

a Đơn yêu cầu trọng tài

Theo Điều 4 của quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt

Nam, thủ tục tố tụng trọng tài bắt đầu bằng một đơn kiện do nguyên đơn nộp cho

Trung tâm Đơn phải bao hàm các nội dung dưới đây:

a Họ tên và địa chỉ của nguyên đơn và bị đơn

b Các yêu cầu của nguyên đơn, có trình bày sự việc kèm theo bằng chứng c.Những căn cứ pháp lý mà nguyên đơn dựa vào đó để đi kiện

d Trị giá vụ kiện

e Trọng tài viên mà nguyên đơn chọn trong danh sách trọng tài viên củaTrung tâm hoặc đề nghị của nguyên đơn với Chủ tịch Trung tâm chỉ định trọng tàiviên cho mình

Đơn kiện và các giấy tờ kèm theo phải nộp bải chính và một số bản sao đủ để

gửi cho các trọng tài viên và cho bị đơn, mỗi người một bản Đơn kiện trong một vụtranh chấp quốc tế bằng tiếng nước ngoài thì viết bằng một thứ tiếng nước ngoài thìviết bằng một thứ tiếng được sử dụng rộng rãi trong giao dịch quốc tế như tiếng Anh,Pháp, Nga

Khi gửi đơn kiện nguyên đơn phải ứng trước toàn bộ dự phí trọng tài tính theobiểu phí trọng tài, phí tổn trọng tài của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam

Khi nguyên đơn đã nộp dự phí, vụ kiện sẽ được đưa ra giải quyết

b Bản tự bào chữa của bị đơn.

Sau khi nhận được đơn yêu cầu trọng tài, thư ký của Trung tâm phải thông báocho bị đơn và gửi cho bị đơn bản sao đơnkiện và các tài liệu kèm theo cùng với bảnquy tắc tố tụng, biểu phí trọng tài và danh sách trọng tài viên của Trung tâm Đồngthời, bị đơn được yêu cầu gửi cho Trung tâm bản tự bào chữa của mình kèm theo cácbằng chứng trong vòng 45 ngày đối với tranh chấp trong nước và 60 ngày đối vớitranh chấp quốc tế kể từ ngày nhận được bản sao đơn kiện của nguyên đơn

c Lựa chọn và chỉ định của trọng tài viên.

Khi tranh chấp đưa ra Trung tâm, tranh chấp có thể do một trọng tài viên duynhất hoặc một hội đồng gồm ba trọng tài viên giải quyết tuỳ theo thoả thuận của cácbên

Trường hợp tranh chấp do một trọng tài viên giải quyết, thì các bên có thể

cùng nhau chọn trọng tài viên duy nhất đó Nếu không nhất trí được với nhau thì các

Ngày đăng: 26/04/2014, 22:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Pháp lệnh Trọng tài thương mại Việt Nam 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh Trọng tài thương mại Việt Nam
Năm: 2003
8. ThS Nguyễn Thị Khế (chủ biên), Luật thương mại và giải quyết tranh chấp thương mại, NXB Tài chính, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật thương mại và giải quyết tranh chấpthương mại
Nhà XB: NXB Tài chính
1. Luật trọng tài thương mại năm 2010 Khác
2. Bộ luật Thương mại năm 2005 Khác
3. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 Khác
5. Giáo trình Tư pháp Quốc tế, Đại luật Luật Hà Nội Khác
6. Giáo trình Luật Kinh tế Quốc tế, Đại học Luật Hà Nội Khác
7. Nghị định Chính Phủ số 63/2011/NĐ-CP ngày 28/07/2011, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật trọng tài thương mại Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Biểu đồ thể hiện các loại hình tranh chấp ở ra Trung tâm trọng - Bình luận khoa học về tài phán thương mại trong quá trình VN hội nhập KTQT
Hình 1. Biểu đồ thể hiện các loại hình tranh chấp ở ra Trung tâm trọng (Trang 27)
Hình 2. Biểu đồ thể hiện các bên liên quan trong các vụ kiện tranh chấp tại Trung tâm trọng tài quốc tế VN từ năm 1993 đến năm 2013 - Bình luận khoa học về tài phán thương mại trong quá trình VN hội nhập KTQT
Hình 2. Biểu đồ thể hiện các bên liên quan trong các vụ kiện tranh chấp tại Trung tâm trọng tài quốc tế VN từ năm 1993 đến năm 2013 (Trang 28)
Hình 3. Biểu đồ thể hiện số vụ tranh chấp thương mại từ năm 1993 đến - Bình luận khoa học về tài phán thương mại trong quá trình VN hội nhập KTQT
Hình 3. Biểu đồ thể hiện số vụ tranh chấp thương mại từ năm 1993 đến (Trang 29)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w